Sin. Péché.
- Định nghĩa.–Nguyên văn Kinh Thánh có mấy lời mô tả tội lỗi, như Hê-bơ-rơ: Chata (Hy-lạp: hamartano) “dừng lại chưa đạt đến mục đích thật của mình, ” “thiếu mất sự vinh hiển Đức Chúa Trời” (Rô 3:23), nghĩa văn tự: “bắn sai đích.” Aven: “hư không, ” “không ra gì”; như “đám mây không nước” (Giu 12, so Châm 22:8; Giê 2:5; Rô 8:20). Pesha’: “loạn nghịch” cùng Đức Chúa Trời (Châm 10:12a). Rasha’: “gian ác, ” giống ra’ash: “không yên lặng được” (Ês 57:20, 21); “sao đi lạc” (Giu 13) Ma’al: “dời đổi làm trái nghĩa vụ, ” “làm mất lẽ thật” (ISử 10:13). Asham: “lỗi” dẫn đến hình phạt và cần chuộc tội. Aval: “dữ, ” “làm trái ngược.” ‘Amal: “làm việc nhọc nhằn” (Ha 2:13). ‘Avah: “cong quẹo” “làm hư tánh nết.” Shagah: “sai lầm.” ‘Abar: “phạm tội bởi giận dữ.” “Phạm tội tức là trái luật pháp, và sự tội lỗi tức là trái luật pháp, ” tức là không vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời. (I Giăng 3:4).
Tội lỗi là một sự suy đồi căn nguyên của điều thiện, chớ không phải là một sự thực hữu được dựng nên và sanh ra từ ban đầu; không phải bởi công việc của Đấng Tạo hóa, nhưng là bởi con người thiếu bổn phận (Truyền 7:29). Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương, nên sự thánh khiết là sự giống Ngài, là sự yêu mến Ngài và các vật Ngài dựng nên, và là sự hợp với ý muốn Ngài. Ích kỷ là nguồn gốc tội của con người, nó lập bản ngã và ý muốn bản ngã thế cho Đức Chúa Trời và ý muốn Ngài. Căn nguyên tội lỗi loài người không phải ra từ loài người, song từ sự lừa dối của quỉ Sa-tan, nên loài người có thể được cứu chuộc. Nguyên tội như một tật bịnh từ thủy tổ phạm tội lưu truyền lại về sau (Thi 51:5). Tội của các nước, bị phạt trong đời nay vì đời sau không còn (Châm 14:34). Trái lại, sự phạt tội cá nhân trong đời nay có ý bào chữa, sửa dạy, và ngăn cản, và đời sau sẽ có sự báo ứng theo luật pháp.
- Cựu Ước luận về tội.–1. Tội trong đời các tổ phụ.– Từ khi A-đam cố ý trái mạng lịnh Đức Chúa Trời, bị sa ngã thì đã mở đường cho uy quyền và thế lực của tội lỗi tràn khắp thế gian. Nhơn việc Ca-in giết A-bên, tội càng bày tỏ rõ rệt (Sáng 4:7). Ban đầu, Đức Chúa Trời phán cùng loài người, tức là Ngài ban mạng lịnh răn điều ác, khuyên điều thiện, và yên ủi loài người rằng về sau sẽ có hy vọng lại được phước (Sáng 3:15). Kế đó, vì loài người đầy dẫy tội lỗi đến nỗi Đức Chúa Trời phải hối hận về sự dựng nên loài người ở thế gian, bèn muốn tuyệt diệt hết cho rồi (Sáng 6:5-7). Tội lỗi của loài người đã đến thế, Đức Chúa Trời phải dùng một phương cách mới đối phó với con người, tức là lựa chọn một người công bình, dạy dỗ, và lập giao ước với người đó. Người được lựa chọn đầu tiên là Nô-ê. Vì riêng chỉ có Nô-ê đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong khi mọi người đắm đuối trong vòng tội lỗi (Sáng 6:9). Nhờ phương pháp lập giao ước, người ta được giao thông với Đức Chúa Trời và cũng dần dần tỉnh biết, dầu không thiếu gì kẻ ở ngoài giao ước làm theo luân lý (Sáng 12:18; 20:9). Nhưng xét việc Áp-ra-ham thì biết đức tin là nguồn gốc sự được “nổi danh.” Áp-ra-ham có đức tin nên được kể là công bình (Rô 4:9). Xét cớ sự công bình của Áp-ra-ham, vì ông không bị việc ngoài khuấy rối, và vì đặt nền tảng ở sự vững lòng tin lời Chúa hứa sẽ nên trọn. Giô-sép đã chống cự cơn cám dỗ, chẳng những vì sợ mất lòng tin cậy của chủ, song thực ra còn biết rõ rằng nghe theo sự cám dỗ là điều ác lớn và phạm tội cùng Đức Chúa Trời (Sáng 39:9). Như vậy, ta biết Cựu Ước cho tội lỗi là nguyên nhân phân rẽ giữa loài người và Đức Chúa Trời. Còn việc làm tội lỗi là tại người ta.
- Luật Môi-se.– Từ khi con người có lòng hối cải cho đến lúc ban bố luật pháp ở núi Si-na-i, đó là một thời gian để con người nhận biết tội. Vì luật pháp có hai mục đích cốt yếu: một là sự đặt lời răn cấm con người phạm tội (Xuất 20:20); hai là lập điều lệ cho con người được giao thông với Đức Chúa Trời. Luật lệ về Thầy tế lễ và người Lê-vi bước từ chỗ đơn giản đến chỗ sâu sắc bao nhiêu, thì trái lại các danh từ tội đã không giảm bớt lại càng nhiều thêm. Như Xuất 34:7 đặt cho một tội ba danh từ: “điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi.” Ý đó dầu khó chia rõ ràng, nhưng rốt lại đã tỏ ra dân sự không xứng đáng trước mặt Đức Chúa Trời. Hết thảy những điều lệ cốt khiến cho người dân biết Đức Chúa Trời là thánh thiện, nên trở về cùng Ngài, trái lại họ đều phạm tội hết. Như tội của A-can không nặng ở sự tham lam, nhưng ở chỗ tự tiện chiếm lấy những vật thuộc Đức Chúa Trời (Giô 7:1, 11, 13).
- Phục truyền.– Đọc sách Phục truyền luật lệ ký, càng biết rõ nguyên động lực của sự vâng theo mạng lịnh Chúa là lớn, nghĩa là lấy sự yêu Chúa và yêu người làm yếu tố chính của đạo đức (Phục 6:5; 10:12; 11:13; 30:16). Nguồn gốc sự yêu thương đó thật ra từ chỗ Chúa yêu thương các tổ phụ (Phục 4:37; 7:7, 8; 10:15). Người xưa coi việc giữ điều răn là giữ giao ước. Người nào giữ thì được phước, khỏi bị diệt (Phục 4:23, 24, 30; 6:15). Về sau tội lỗi của con người càng nặng thêm, thì ân điển của Chúa cũng ngày một dư dật. Mạng linh oai nghiêm của Chúa không ngoài mục đích đem đến sự ích lợi và giữ sự sống cho nhân dân (Phục 10:13; 6:24). Vậy nên, trong sự yêu thương của Chúa đối với loài người ắt có điều răn cấm để con người biết rằng trái mạng lịnh Ngài thì có hại đến sự sống. Vì yêu điều lành, ghét điều dữ, đó là quan niệm chung cho cả con người và Đức Chúa Trời (Phục 10:18, 19; Lê 19:33, 34).
- Sử ký.– Sách Sử ký cho thấy không tội nào nặng bằng tội thờ tà thần. Sách Các quan xét hằng nói nhân dân chính vì tội đó mà gặp tai vạ; nhưng kịp khi họ biết hối cải thì liền được hạnh phước, vui vẻ. Sách I, IISa không nói nhiều đến thói tục như thế. Tánh nết Sau-lơ dầu yếu đuối, song trong nước ngày càng tấn tới. Vua Đa-vít vì trước sau thờ phượng Đức Chúa Trời có một không hai, nên nước được hưng thịnh. Sách Các-vua, luận về vua thiện hoặc ác tùy theo ở sự vua có ngăn cấm dân thờ hình tượng hay không. Như luận về các vua ở nước phía Bắc thường nói “…theo tội của Giê-rô-bô-am, … gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm” (IICác 3:3; 10:29; 13:2; 14:24). Trong buổi già yếu, vua Sa-lô-môn không đi theo đường lối của cha mình là Đa-vít đến nỗi về sau nước phải phân chia (ICác 11:9-13). A-háp dầu cường thạnh, nhưng gieo tai vạ cho đời sau (ICác 16:31). Xét vua Đa-vít có hai tội: thứ nhất là chiếm vợ của U-ri, tội thứ hai là tự ý tu bộ dân. Đa-vít dầu được tha thứ, song chính thân vua vẫn chịu hình phạt và cũng liên lụy đến dân chúng (IISa 12:1-; 15:1-; 24:1-). Duy có điều khó hiểu là Kinh Thánh có chép: “Ngài giục lòng Đa-vít nghịch cùng chúng” (IISa 24:1; so Xuất 4:21; Quan 9:23; ISa 16:14). Có khi Đức Chúa Trời dùng điều ác của con người để bày tỏ oai quyền và ơn Ngài, như việc Giô-sép bị các anh bán (Sáng 50:20), và Gióp bị thử thách (Gióp 1:6-12; 2:1-7). Đó là vấn đề xưa nay vẫn khó giải quyết. Song sách Sử ký chép rằng: “Sa-tan dấy lên muốn hại cho Y-sơ-ra-ên, bèn giục Đa-vít lấy số Y-sơ-ra-ên” (ISử 21:1). Gia-cơ cũng nói: “Chớ có ai đương bị cám dỗ nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi” (Gia 1:13-17).
- Các tiên tri Cựu Ước.– Sự dạy dỗ cần yếu là đạo các tiên tri rao truyền. Thế kỷ thứ VIII T.C., những tiên tri đồng thời với nhau có A-mốt, Ô-sê, Mi-chê và Ê-sai. Bấy giờ điều ác rõ hơn hết của dân ngoại là tà dâm, và cậy mạnh hiếp yếu. Sự dữ đó lan tràn khắp nước Y-sơ-ra-ên. Trong đời Giê-rô-bô-am II trị vì, nước phía Bắc đã mất hết đạo đức rồi. Chẳng những dân chúng không thôi mà ngay đến tiên tri và thầy tế lễ cũng vậy (Am 3:11; 6:1-7; 2:7, 8; Ôs 4:9; 8:7, 8; 5:1; Mi 1:5, 11). Vậy nên, A-mốt và Ô-sê kể ra những tội: không công bình, tham lam, khinh gạt kẻ nghèo đều phạm tới cơn giận công bình của Chúa (Ôs 12:7, 8; Am 4:1; 8:4-7). Ê-sai và Mi-chê cũng quở trách về việc làm trái đạo đức (Ês 5:8; 1:16, 17; Mi 2:2; 3:1-4). Tóm lại, bốn tiên tri đó đều lấy bác ái làm bản tánh của Đức Chúa Trời. Các tiên tri dầu nghiêm trách về tội trái giao ước, nghịch mạng Chúa, song cũng kêu gọi người ta ăn năn hối lỗi, nhờ ơn Chúa sẽ được tha thứ (Ês 1:18, 19; Mi 7:18; Ôs 6:1; Am 9:11). Nhờ sự từng trải của Giô-na, ta biết Chúa cai trị các nước, lấy công bình làm mực thước. Ngay những dân ở ngoài giao ước cũng có thể xưng tội, ăn năn, chớ chẳng phải chỉ hạn chế cho dân Y-sơ-ra-ên mà thôi.
Bấy giờ, các tiên tri hay nói về một nước phạm tội và ăn năn. Đến đời Giê-rê-mi thì luận nhiều về tội cá nhân. Tiên tri thường thở dài mà nói: (Giê 2:1-; 8:7; 35:14-17; 32:32), cũng hằng nói đến tâm lý cá nhân (Giê 5:23; 7:24; 17:9; 32:19) rằng: “Từ tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nấy đều làm sự gian dối” (Giê 5:1; 8:6, 10). Có khi Giê-rê-mi vì thế mà tuyệt vọng (Giê 13:23). Đến năm về già, nhờ sự từng trải cảnh ngộ, Giê-rê-mi lớn lên về tri thức thuộc linh được biết để giải thoát con đường thế lực của tội lỗi, cần phải được Đức Chúa Trời ban cho lòng mới. Giê-rê-mi phát ra ý nghĩ về tội một cách cảm động. Như vậy, từ nhỏ đến lớn, ai biết Chúa có thể được tha tội và hưởng ơn phước của Ngài (Giê 24:7; 31:33, 34; 32:39, 40).
Nối theo ý đó, Ê-xê-chi-ên mở rộng ra rằng: Người ta làm điều thiện hay ác, cha con cũng không quan hệ lẫn nhau, ai nhận lấy riêng phần nấy; sự thưởng phạt cũng vậy. Lời đó rất giống lời Giê-rê-mi (Êxê 18:1-20; Giê 31:29, 30). Lý luận dầu như vậy, song Cựu Ước vẫn cho rằng tội của cá nhân cũng làm liên lụy tới dân chúng, vì cả hai là một (Ês 64:6). Người ta dầu thiện cũng không tránh khỏi tội lỗi dân sự đã mắc.
- Thi-thiên.– Thi-thiên được làm ra dẫu vào những thời kỳ trước sau khác nhau, nhưng cùng với đạo các tiên tri vẫn giống và làm chứng lẫn cho nhau. Về những tội mà các tiên tri vẫn cảnh cáo, quở trách, tác giả Thi-thiên vẫn nhận thẳng, không chối hoặc tội của cá nhân hay của dân chúng. Lại lấy sự xưng tội và hối cải làm yếu chỉ của Thi-thiên. Song vẫn gọi tội là sự trái luật pháp, làm ngăn trở tình yêu thương của Đức Chúa Trời, đến nỗi Ngài che mặt không ban ơn.
- Châm Ngôn.– Châm Ngôn luận rằng: Sự khôn ngoan, tri thức là gốc đạo đức của con người, phải hay trái là ở sự từng trải của người, rồi đem chia ra mà phân biệt việc làm của con người. Châm Ngôn thường nói người khôn ngoan tự biết giữ theo đường phải; kẻ ngu dại chỉ quanh quẩn trong vòng tối tăm, tự chuốc lấy tội. Không hề nói đến sự ăn năn tội và hướng về điều thiện. Lại nói không ai là không dính dấp tội lỗi (Châm 20:9). Trong việc làm, cứ chọn điều nào Chúa đẹp lòng làm mực thước (Châm 10:1–24:1-).
- Gióp.– Điều tác giả sách Gióp nghiên cứu là: tội lỗi có quan hệ với khổ đau như thế nào? Luận tội không phải ở nghi văn là ngọn, song thật ở luân lý: gốc từ tâm tánh, phát ra ý nghĩ vậy. Từ Gióp 32:1–37:1-; có Ê-li-hu luận rằng sự khổ sở chẳng những là hình phạt dành cho tội lỗi, mà còn cần thiết để sửa đổi người ta. Đoạn cuối luận rằng cuối cùng Gióp đã khôi phục được hạnh phước; như vậy hợp với lý giải về sự báo ứng thông thường.
III. Tân Ước luận về tội.–1. Ba sách Tin lành đầu.– Cựu Ước luận về tội thế nào, thì Ma-thi-ơ cũng luận thể ấy. Duy Ma-thi-ơ nói mục đích rất cần yếu của Chúa Jêsus là cứu dân mình khỏi tội (Mat 1:21). Giăng Báp Tít đi trước dọn đường, mở mang lòng dân, khiến cho họ biết rằng phải hối cải mới được tha tội (Mác 1:4). Còn ơn đặc biệt Chúa Jêsus ban cho thì khiến ai nấy thay đổi mà bỏ điều ác. Đó là điều Giăng chưa hề làm (Công 3:26; 5:31). Chúa Jêsus ngoài việc luận về tha tội, ít nói đến tội. Điều Ngài hằng nói đến trong bài giảng trên núi thường ra từ mười điều răn, nhưng Ngài phân tích sâu hơn, và nhắm ngay tận trong lòng (Mat 5:21-48). Vì việc ăn năn tội là ở trong lòng, chớ không ở ngoài mặt (Lu 11:38-42). Vậy, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si giả hình làm lành chỉ mong người ta biết đến; Chúa Jêsus phải quở trách họ cách nặng nề (Mat 23:4-28; Mác 12:38-40; Lu 20:46, 47; xem Mat 6:1; 5:20). Ngài lại nói tội rất nặng đó là khinh lờn Đức Thánh Linh, sẽ mắc tội đời đời (Mác 3:29). Còn như việc cố ý cám dỗ kẻ không lỗi sa vào tội lỗi thì càng thuộc về tội hãm người vào tội (Mác 9:42). Hạng người đó thà rằng không sống còn hơn. Xét ví dụ người Pha-ri-si và kẻ thâu thuế cầu nguyện thì biết: muốn được ơn tha tội, trước hết phải nhận tội (Lu 18:13). Người Pha-ri-si không biết lẽ đó nên khó thay đổi được (Lu 9:41). Thấy ai không làm việc nên làm, Chúa Jêsus hằng quở trách, Ngài lại đặt thí dụ để rõ thêm: Khi tà ma ra khỏi rồi nếu không cầu xin Đức Thánh Linh ngự vào thì “số phận người đó lại xấu hơn trước” (Mat 12:43-45; Lu 11:24-26). Ngài phán với người bị phán xét trong ngày sau rốt rằng: “Hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa” (Mat 25:45). Về nghĩa nầy, Ngài cũng hằng đặt thí dụ để minh chứng như Mat 25:1-30; Lu 16:19-31.
- Phao-lô.– Phao-lô được sai đến dân ngoại truyền đạo, cần phải nói rõ cho họ biết nguồn gốc của tội lỗi. Sứ đồ thường lấy chính mình làm gương, nhận mình là đầu của hàng tội nhân (ICôr 15:9; Rô 7:18-25; ITi 1:13, 15), và cho thấy ơn Chúa đáng tin cậy để con người nhận được sự cứu rỗi (IICôr 12:9). Điều quan trọng mà Phao-lô giảng dạy đó là: ân điển của Đức Chúa Trời dành cho loài người là qua việc Đấng Christ con Đức Chúa Trời đã giáng thế, khiến loài người được tha tội, tiếp nhận, và xưng công bình. Đó là Tin lành cho khắp thế gian.
- a) Làm chứng Tin lành có liên quan đến tất cả mọi ngườ– Phao-lô bắt đầu làm chứng rằng hết thảy loài người đều mắc tội, dân ngoại mất đi lương tâm biết phân biệt điều phải điều quấy (Rô 2:15). Người Do-thái dầu có luật pháp song vẫn chưa hưởng ích lợi. Bởi vì họ chỉ nhờ nghi thức bề ngoài, đến nỗi mọi người đều phạm tội (Rô 2:17-29; 3:23; 5:12) nhưng ơn cứu rỗi thì “chẳng nhận biết chi hết” (Rô 3:22; 5:20).
- b) Mọi người đều phạm tội chứng tỏ rằng tội của A-đam làm lụy đến người đời (Rô 5:12, 18). Vì mọi người đều phải chết, là kết quả của tộ Bởi vì, một khi tội lỗi đã vào thế gian thì khiến mọi người đều lây tánh ác.
- c) Trong lòng có tội, tức là trong xác thịt có (Rô 7:18). Xác thịt ta đều bị tội lỗi chiếm cứ, rốt lại không có sức để làm điều lành. Vậy nên, tín đồ phải đóng đinh xác thịt và tình dục vào thập giá (Ga 5:24; ICôr 9:27). Chi thể trước đây là nô lệ cho sự gian ác, nay dâng cho Chúa để phục theo sự công bình.
- d) Luật pháp không đủ sức trị tội, và nhờ luật pháp người ta biết tộ Bởi luật pháp đến, tội lỗi sanh ra (Rô 3:20; 7:7-9). Bởi đó người ta biết sự yếu đuối của mình và quyền lực của tội lỗi (ICôr 15:56).
đ) Quyền lực của tội lỗi dầu lớn dường ấy, vẫn không làm cho con người mất hy vọng được giải thoát. Khi một người đồng chết với Đấng Christ là đoạn tuyệt với tội lỗi, và không bị tội lỗi sai khiến nữa. Bởi vậy, càng tỏ công lao của Đấng Christ có thể khôi phục điều thiện của con người vốn có từ ban đầu (Rô 6:2-14; Êph 2:1-7). Phao-lô hằng ví sánh tín đồ đời nay với quân lính đi ra trận: nai nịt, giữ mình, mặc giáp, cầm khí giới. Vậy, chúng ta biết rằng việc chống cự với tội lỗi không hề ngừng cho đến khi nước thiên đàng đã vững lập, bấy giờ mới được bình an đời đời (Êph 6:11-17; ICôr 9:27; IICôr 6:7; 10:4; Rô 13:12).
- Giăng.– a) Thơ tín của Giăng nói tội lỗi tức là trái nghịch với luật pháp. Đấng Christ xuống thế gian cốt để trừ diệt tội lỗi (I Giăng 3:4, 5, 8; xem Giăng 1:29). Mục đích Giăng viết thơ là để cho con người khỏi phạm tội (I Giăng 2:1). Ai phạm tội thì có Đức Chúa Jêsus làm của lễ chuộc tội (I Giăng 2:1, 2). Một mặt nói tín đồ Đấng Christ không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời (I Giăng 3:9; 5:18). Lại vì tín đồ hằng ở trong Chúa, ma quỉ chẳng làm hại được (I Giăng 3:6; 5:18; xem Giăng 17:12; 10:28). Còn kẻ nào phạm tội thì không thấy, không biết Đức Chúa Trời, nên gọi là thuộc về ma quỉ (I Giăng 3:6-8). Ý Giăng cho rằng tội lỗi trái hẳn với sự sống Đấng Christ; tín đồ nên vâng theo ý Chúa, chống cự mọi điều ác, thì tội sẽ lìa khỏi mình. Nếu phạm lần nữa, tức là trái nghịch, thì ngăn trở sự giao thông giữa mình và Chúa.
- b) Sách Tin lành Giăng luận rằng tội lớn hơn hết tức là không tin Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời (Giăng 1:11; 3:18). Vì sách Giăng luận nhiều về chức vụ Chúa Cứu Thế ở Giê-ru-sa-lem, bị phần nhiều người Do-thái chán bỏ, ấy chính vì cớ họ đã chán bỏ Đức Chúa Trời (Giăng 15:24). Lần cuối cùng Chúa phán cùng môn đồ rằng: Đức Thánh Linh sẽ quở trách người ta vì không tin (Giăng 16:8, 9). Do đó, chúng ta thấy Chúa Jêsus luận tội lại càng sâu rộng, thiết thực hơn người xư Bởi vì Đấng họ bội nghịch là Cha thương xót lại là Chúa thánh sạch (Lu 15:18; xem Mat 5:48). Song Chúa Jêsus thường lấy ân điển đối đãi với người co tội; tình yêu của Ngài đằm thắm, mặn mà (Giăng 4:17, 18; 8:11). Người làm môn đồ Chúa cũng nên bắt chước lòng nhơn lành tha thứ của Ngài mà đối đãi với anh em mắc tội (Giăng 7:24; xem Mat 7:1; Gia 2:13). Giăng lại nêu cao phẩm cách cũng như đức tánh siệu việt của Chúa Jêsus để làm gương sáng cho môn đồ, như Chúa phán cùng kẻ nghịch rằng: “Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng?” Giăng 8:46.
- 4. Gia-cơ.– Gia-cơ luận về tội rằng: “Lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác, tội ác đã trọn sanh ra sự chết” (Gia 1:14, 15). Lại nói: “Chính Ngài cũng không cám dỗ Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình” (Gia 1:12-15). Gia-cơ là người Do-thái trang nghiêm, thận trọng, rất tán thành luật pháp, nên nói: “Phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy” (Gia 2:10). Lại nói: “Tây vị người ta thì phạm tội” (Gia 2:9), vì luân lý lấy tình yêu thương làm cốt yếu, nếu tây vị thì không có yêu thương nữa. Đã không có sự yêu thương tức là phạm tội rồi. Cuối thơ Gia cơ khuyên nên cầu nguyện cho kẻ đau ốm, tìm kiếm kẻ lầm lạc cách xa lẽ thật (Gia 5:14-20), tỏ ra Hội Thánh là một đoàn thể, liên lạc với nhau bằng tình yêu thương. Sức cầu nguyện của các tín đồ có thể làm kẻ đau được lành, kẻ có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, đó là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi.
- Thơ Hê-bơ-rơ.– Thơ nầy cho rằng con người phạm tội lỗi là vì người ta xa cách hẳn Chúa, nên thường luận về điều Cựu Ước chưa nên trọn trong Đấng Christ, như chép: “Bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, … chúng ta hãy… đến gần Chúa” (Hêb 10:20-22). Vì Chúa Jêsus đã dâng mình Ngài một lần đủ cả để chuộc tội người (Hêb 9:12; 10:10). Rốt cuộc, lương tâm người ta không còn biết tội nữa (Hêb 10:2). Đó là chứng cớ rõ ràng Cựu Ước không thể trừ tội được (Hêb 10:11; 9:9). Kẻ có lòng dữ và chẳng tin thì còn gì nguy hiểm hơn nữa (Hêb 3:12).
Lúc bấy giờ, người Hê-bơ-rơ sợ bị bắt bớ quá đỗi, nên lìa bỏ đạo Đấng Christ, trở lại theo đạo Do-thái, nên tác giả thơ nầy lấy những lời đặc biệt răn họ, như “đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa, ” “giày đạp con Đức Chúa Trời” (Hêb 6:6; 10:29). Lại bảo cho biết sự thử thách họ phải chịu: Khổ sở không hẳn là kết quả của tội; “Đức Chúa Trời vì chúng ta mà sửa phạt, để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài” (Hêb 12:10). Tóm lại, lẽ gốc của sự khổ sở từ xưa vẫn mầu nhiệm và khó hiểu rồi. Duy Chúa Jêsus đã nêu gương sáng cho muôn đời, như có chép: “Đấng đã vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục” (Hêb 12:2), “bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hêb 4:15), lại “nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành” (Hêb 2:10). Xem bài “Chuộc Tội.”
Tiến sĩ Scofield chú thích về tội như sau nầy:
Ês 14:12.– Tội khởi sự trong vũ trụ. Xem bài Sa-tan.
Giăng 12:31.– Tội của các tín đồ đã bị đoán xét rồi. Xem bài Sự Phán Xét.
Giăng 13:10.– Bức tranh ẩn ở dưới hình ảnh chỉ về một người phương Đông từ nhà tắm công cộng trở về nhà mình. Chắc chắn có bị dơ, cần được rửa sạch, song không phải cả mình. Cũng vậy, tín đồ đã được sạch trước luật pháp khỏi mọi tội “một lần đủ cả” (Hêb 10:1-12), song bao giờ cũng cần đem mọi tội hằng ngày xưng ra với Chúa Cha, hầu cho được ở trong sự thông công không đứt quãng với Chúa Cha và Chúa Con (I Giăng 1:1-10). Huyết của Đấng Christ hằng vẫn trả cho mọi điều luật pháp đòi về lỗi của tín đồ, song tín đồ luôn cần được khỏi bị ô uế bởi tội. Xem Êph 5:25-27; IGiăng 5:6. Về nghĩa bóng, trật tự của sự đến gần sự hiện diện Đức Chúa Trời, trước nhứt là bàn thờ bằng đồng dâng của lễ, và kế đến chậu rửa tay (Xuất 40:6, 7). Cũng xem trật tự trong Xuất 30:17-21. Đấng Christ không thể giao thông với tín đồ ô uế, song Ngài có thể sẽ làm cho người tinh sạch.
Lê 13:2.– Phung được kể như tội, vì: (1) Ở trong huyết. (2) Phát ra ngoài bằng những chứng dơ dáy gớm ghiếc. (3) Loài người không có phương pháp chữa lành. Khi ứng dụng cho dân Đức Chúa Trời, thì hiệp với nghĩa bóng đó là “tội”, đòi phải “tự xét lấy mình” (ICôr 11:31); và “những tội” buộc phải xưng ra và được tinh sạch (I Giăng 1:9).
Rô 5:21.– “Tội” trong Rô 6:1-; 7:1- là bản tánh khác với “những tội” là những sự tỏ ra của bản tánh đó. So IGiăng 1:8 với IGiăng 1:10, tại đó cũng tỏ ra có phân biệt như vậy.
Rô 5:12.– Chữ “cho nên” chỉ ngược tới Rô 3:19-23, và có thể coi như là bàn tiếp về tội lỗi phổ thông, trước đã bị đứt quãng (Rô 3:24-5:11), Bởi khúc về sự xưng công bình và các kết quả.
Rô 5:12.– “Vì mọi người đều phạm tội.” Tội thứ nhứt gây nên sự hư hại đạo đức của cả nhân loại. Phép luận chứng rất đơn sơ. (1) Sự chết là phổ thông (câu 12, 14), mọi người đều chết: con trẻ vô tội, người đạo đức, người có tôn giáo, đều chết với kẻ xấu nết. Vì có kết quả phổ thông ắt cũng phải có một nguyên nhân phổ thông. Nguyên nhân đó là địa vị tội lỗi phổ thông (câu 12:2). Song địa vị phổ thông đó chắc cũng có một duyên cớ. Thật vậy, kết quả của tội A-đam là “mọi người khác đều thành ra kẻ có tội (câu 19).– “Bởi chỉ một tội mà sự đoán phạt rải khắp hết thảy mọi người” (câu 18). (2) Đây không chỉ về tội cá nhân. “Từ A-đam cho đến Môi-se, sự chết đã cai trị” (câu 14), dầu vì không có luật pháp thì không kể tội cho cá nhân (câu 13). Bởi đó từ Sáng 4:7 đến Xuất 29:14 không chép về của lễ chuộc tội lần nào. Kế đó, vì sự chết của thân thể từ A-đam cho đến Môi-se không phải là bởi công việc tội lỗi của những kẻ chết đó (câu 13), nên cứ theo đó thì biết là bởi một địa vị tội lỗi phổ thông, hoặc bản tánh, và vì địa vị đó được xưng là từ A-đam truyền lại. (3) Địa vị đạo đức của người vấp ngã được tả trong suốt Kinh Thánh (Sáng 6:5; ICác 8:46; Thi 14:1-3; 39:5; Giê 17:9; Mat 18:11; Mác 7:20, 23; Rô 1:21; 2:1-; 3:9-19:7:24; 8:7; Giăng 3:6; ICôr 2:14; IICôr 3:14; 4:4; Ga 5:19-21; Êph 2:1-3, 11, 12; 4:18-22; Cô 1:21; Hêb 3:13; Gia 4:14). Xem ICôr 15:22.
Sáng 4:7.– Bằng tiếng Hê-bơ-rơ dùng chung một lời để chỉ “tội lỗi” và “của lễ chuộc tội, ” vậy chú trọng một cách lạ lùng về sự đồng nhứt hoàn toàn của tội lỗi tín đồ và của lễ chuộc tội tín đồ (so Giăng 3:14 với IICôr 5:21). Ở đây cả hai nghĩa hiệp nhau, “Tội lỗi rình đợi trước cửa” cũng là “một của lễ chuộc tội sụm gối nơi cửa trại.” “Nơi nào tội đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn” (Rô 5:20). Của lễ của A-bên tỏ ra trước cũng có sự dạy dỗ (so Sáng 3:20), vì ấy là “bởi đức tin” (Hêb 11:4), và đức tin là tin lời Đức Chúa Trời phán; bởi vậy của lễ không huyết của Ca-in là từ chối phương cách của Ngài. Song Đức Giê-hô-va còn khuyên Ca-in lần cuối cùng (Sáng 4:7) phải đem của lễ cần thiết.
Lê 4:3.– Của lễ chuộc tội, là chính Đấng Christ gánh vác tội lỗi, hoàn toàn thế cho và vì tín đồ, không phải như trong của lễ có mùi thơm trong sự trọn lành Ngài. Ấy là sự chết Đấng Christ như mô tả trong Ês 53:1-; Thi 22:1-; Mat 26:28; IIPhi 2:24; 3:18. Song nên chú ý (Lê 6:24-30), sự thánh khiết của Đấng “trở nên tội lỗi vì chúng ta” (IICôr 5:21) được giữ gìn bằng cách nào. Những của lễ chuộc tội là đền tội, thay thế, linh nghiệm (Lê 4:12, 29, 35), và có ý làm trọn luật pháp bởi của lễ thay thế.
Rô 3:23.– Tội. Tóm tắt. Những ý văn tự của các lời Hê-bơ-rơ và Hy-lạp dịch khác nhau “tội” hoặc “tội nhân, ” v.v…, bày tỏ bản tánh thật của tội bằng nhiều cách khác nhau. Tội là trái phép, một sự vượt qua luật pháp, là giới hạn của Đức Chúa Trời giữa thiện và ác (Thi 51:1; Lu 15:29); gian ác là công việc tự mình sai lầm, bất luận cấm tỏ tường hay không; sai lầm, sự xây bỏ điều phải (Thi 51:9; Rô 3:23) sai trật đích, khuyết điểm không đạt đến khuôn mẫu của Đức Chúa Trời; lỗi là xen ý riêng mình vào trong phạm vi của phép tắc Đức Chúa Trời (Êph 2:1); vô luật pháp hoặc sự phản nghịch (ITi 1:9); vô tín, không tin đến Đức Chúa Trời (Giăng 16:9). Tội phát nguyên từ Sa-tan (Ês 14:12-14); vào thế gian bởi A-đam (Rô 5:12), và là phổ thông, chỉ riêng Đấng Christ được ngoại trừ (Rô 3:23; IIPhi 2:22); tội dẫn đến những án phạt chết về thuộc linh và thuộc thể (Sáng 2:17; 3:19; Êxê 18:4, 20; Rô 6:23); và không có phương cách nào cất bỏ tội lỗi đi, trừ ra sự chết làm tế lễ chuộc tội của Đấng Christ mà loài người được hưởng bởi đức tin (Hêb 9:26; Công 4:12; 13:38, 39). Tội có thể tóm tắt bằng ba mặt:– một công việc: phạm hoặc thiếu sự vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời đã tỏ ra; –một địa vị: không có sự công bình; –một bản tánh: thù nghịch với Đức Chúa Trời.