Confusion des langues.
Sự hiệp một của loài người được bày tỏ rõ ràng nhất, có lẽ là qua các bản viết Môi-se. Lời tuyên bố chung: “Vậy, Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài… Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” (Sáng 1:27), lời tuyên bố này có hạn chế về lối thành công, bởi truyện chép sau về sự dựng nên Ê-va (Sáng 2:22). Sử gia thánh dường như coi tiếng nói duy nhứt là một kết quả của sự hợp nhất loài người. Không có sự giải nghĩa về căn nguyên tiếng nói, song khi loài người vừa được dựng nên thì biết nói ngay. Dầu không chép có tiếng nói khác nhau trước Nước lụt hay không, nhưng nếu có thì sự hợp nhất tiếng nói được lập lại trong gia đình Nô-ê.
Có những nguyên nhân rối loạn đã làm tiêu hủy hai điều hợp nhất của loài người là sự sống chung và tiếng nói. Khi loài người hết sức thử tìm cách để khỏi bị chia rẽ bằng cách lập một tòa nhà lớn làm trung tâm, và một thành dùng làm kinh đô của cả thế gian. Mưu định ấy bị thất bại, vì Đức Giê-hô-va xen vào, quyết định “làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia” (Sáng 11:7). Kết quả của sự lộn xộn tiếng nói là dân sự từ đó phải tản lạc khắp mặt đất, và kỷ niệm về biến động lớn đó được giữ lại bằng tên Ba-bên. Xem bài Tháp Ba-bên. Trong bia khắc tại Borsippa của Nê-bu-cát-nết-sa có ngụ ý đến sự lộn xộn tiếng nói: “Ta nói về sự khác, tức là tòa nhà nầy, nhà của Bảy Sự Sáng Trái Đất, là bia kỷ niệm cổ nhứt của Borsippa: một vua trước đã xây cất nó (họ tưởng xây 42 đời trước), song vua đó đã không làm hoàn thành. Từ một thời rất cổ, dân sự đã bỏ, không để lại một lời nào. Từ thời đó, cơn động đất và sấm đã tản mát đất sét nung dưới mặt trời của nhà đó: gạch lớp vỏ ngoài đã vỡ tan, và đất ở trong cũng tản ra từng đống.”
Không cần phải tin rằng sự đoán phạt Ngài đã khiến mất hoặc ngừng lại tiếng nói của dân xây tháp Ba-bên. Phép lạ đó có thể giải nghĩa rằng: Chúa lấy những sự khác nhau và tiếng nói theo thời gian mở mang luôn đến nỗi sanh ra các thứ tiếng khác, và khiến cho những việc đó xảy ra ngay một lúc. Có lẽ những yếu tố của tiếng nói cứ còn tồn tại, nhưng bản chất của tiếng nói đã thay đổi bởi những lối đọc khác nhau và bởi thêm thành ngữ mới vào, thì dường như mất hết. Sự lộn xộn tiếng nói và sự tản mát các dân được nói đến như hai biến động đồng thời với nhau. Sự phân tán các họ hàng khác nhau thành những chi phái và dân tộc riêng biệt, cùng đi đôi với sự phân tán tiếng nói thành những thổ ngữ và các tiếng; như vậy, Sáng 10:1-, tùy theo thứ tự của lịch sử là sau các biến động được kể trong đoạn 11.
Bảng kê của Môi-se không có ý tả về phương pháp tản lạc, song quyết rằng việc đó đã xảy ra rồi, nên thuật lại những sự quan hệ về chủng tộc giữa các dân nói đến ở đó. Những sự liên quan đó được tỏ ra bằng một gia phổ; dầu vậy, tánh cách gia phổ của tài liệu đó là rõ ràng. Sự sắp đặt chung của biểu kê đó như sau: Gia phổ bắt đầu từ dòng dõi của ba con trai của Nô-ê là Sem, Cham và Gia-phết. Dòng dõi Sem được mô tả cuối cùng trong Sáng 10:1- hầu cho sự liên tiếp với truyện chép sau khỏi bị đứt quãng; và dòng dõi Cham ở trước dòng dõi Sem, để tỏ ra dòng dõi hai người đó có quan hệ chặt chẽ với nhau hơn là dòng dõi Gia-phết.
1. Danh sách dòng dõi Gia-phết gồm có 14 tên, trong đó bảy dân tộc độc lập và bảy dân tộc còn lại liên quan với nhau như sau: (1) Gô-me, về chủng tộc liên lạc với dân Cimmerii, Cimbri và Cymry; và về địa dư với Crimée (bán đảo trên Biển Đen). Liên quan với Gô-me có ba tên sau đây: a) Ách-kê-na b) Ri-phát c) Tô-ga-ma (2) Ma-gốc, người Scythes. (3) Ma-đai, người Médie. (4) Gia-van, người Ioniens, là tên chung chỉ về nòi giống Hy-lạp, có quan hệ với bốn tên sau: a) Ê-li-sa b) Ta-rê-si c) Kít-tim d) Đô-đa-nim.
(5) Tu-banh. (6) Mê-siếc. (7) Ti-ra.
2. Danh sách dòng dõi Cham gồm có 30 tên, trong đó bốn dân tộc độc lập, và các dân tộc còn lại liên quan với nhau như sau: (1) Cúc, chia hai nhánh, nhánh phía Tây hoặc ở Phi châu là Aethiopia, Keesh thuộc Ai-cập cổ, và nhánh phía Đông, hoặc Á châu liên quan với những tên chi phái Cossaei, miền Cissia, và tỉnh Khuziatan. Liên quan với Cúc có: a) Sê-ba b) Ha-vi-la c) Sáp-ta d) Ra-ê-ma cũng có liên quan với: d1) Sê-ba d2) Đê-đan đ) Sáp-tê-ca e) Nim-rốt (2) Mích-ma-im, tức hai Misrs, là Thượng và Hạ lưu Ai-cập, có bảy tên liên quan: a) Lu-đim b) A-na-mim c) Lê-ha-bim d) Náp-tu-him đ) Bát-ru-sim e) Cách-lu-him g) Cáp-tô-rim (3) Phút (4) Ca-na-an, đây không cần nói đến địa thế. Liên quan với Ca-na-an có mười một tên: a) Si-đôn, là thành danh tiếng của xứ Phê-ni-xi. b) Hếch, hoặc người Hê-tít trong Kinh Thánh. c) Người Giê-bu-sít, thuộc Giê-bu hay Giê-ru-sa-lem. d) Người A-mô-rít. đ) Người Ghi-rê-ga-sít. e) Người Hê-vít. g) Người A-rê-kít. h) Người Si-nít. i) Người A-va-đít. k) Người Xê-ma-rít. l) Người Ha-ma-tít.
3. Danh sách dòng dõi Sem gồm có 25 tên, trong đó năm dân tộc độc lập, và các dân tộc còn lại quan hệ như sau: (1) Ê-lam. (2) A-su-rơ. (3) A-bác-sát, cũng có liên quan: a) Sê-lách; con Sê-lách là: 1a) Hê-be; và hai con Hê-be là: (a) Bê-léc (b) Giốc-tan, với mười ba con của Giốc-tan: b1) A-mô-đát b2) Sê-lép b3) Ha-sa-ma-vết b4) Giê-rách b5) Ha-đô-ram
b6) U-xa
b7) Điếc-la
b8) Ô-banh
b9) A-bi-ma-ên
b10) Sê-ba
b11) Ô-phia
b12) Ha-vi-la
b13) Giô-báp
(4) Lút.
(5) A-ram, cũng có quan hệ với:
a) U-sơ
b) Hu-lơ
c) Ghê-te
d) Mách
Cũng có một tên trong biểu kê (Sáng 10:14) nguyên văn Hê-bơ-rơ là Pelishtim, bản quốc văn dịch là Phi-li-tin, ở trong phần dòng dõi Cham, nhưng không nói trực tiếp là dòng dõi Cham. Vậy, số tổng cộng trong biểu kê gồm có Phi-li-tin là 70, mà các giáo phụ tính là 72.