I, II Chronicles. I, II Chroniques. I. Tên.– Trong bản Hê-bơ-rơ gọi là “Những Lời, ” hoặc “Những Công việc Hằng Ngày.” Trong bản Septante là Paraleiponena, tức “Những phần sót lại phụ thêm” cho I, II, Các-Vua.
II. Tác giả.Phần lớn hai sách Sử ký dường như là do E-xơ-ra thâu góp tài liệu mà chép; ấy là theo lời truyền khẩu của người Do-thái. Chứng cớ trong sách chỉ về thời gian chép cũng phù hợp với lời truyền khẩu đó. Cũng có người nói: Tác giả mấy đoạn cuối sách Các Vua, ở xứ Giu-đa và chết trong đời Nê-bu-cát-nết-sa; tác giả phần cuối sách Sử ký, ở Ba-by-lôn và sống sót cho đến dòng vua Ba-tư bắt đầu. So IISử 36:9-23 và Exơ 1:1- với IICác 24:1-; 25:1-. Vì tác giả sách Sử ký và E-xơ-ra không chép những tiểu tiết về Giê-hô-gia-kim và Sê-đê-kia hoặc có gì xảy ra trong Giu-đa sau khi Đền thờ bị thiêu hủy, nhưng chỉ nói về những sự dạy dỗ thuộc linh bởi sự sụp đổ Giê-ru-sa-lem, và lập tức nói đến việc dân sự từ Ba-by-lôn trở về. Một người ở trong Ba-by-lôn có thể biết rất nhiều về chiếu chỉ của vua Si-ru, những lễ vật cho các phu tù Giu-đa, sự đem những khí dụng Đền thờ ra, cân nặng bao nhiêu, tên quan thủ quỹ Canh-đê, là Mít-rê-đát, và tên của Xô-rô-ba-bên bằng tiếng Canh-đê là Sết-ba-xa. Vì những cớ đó Lord A. Hervey đoán rằng Đa-ni-ên, ở tại Ba-by-lôn đời Nê-bu-cát-nết-sa và sau ở dưới triều các vua Ba-tư, nhớ rất rõ các lời tiên tri của Giê-rê-mi và than thở về sự bại hoại của dân, là người viết đoạn chót sách Sử ký và Exơ 1:1-; như Giê-rê-mi chép phần cuối sách II Các vua. So với các khúc nầy; Đa 5:2, 23; 9:2; 5-8; 1:3, 7, 11. Phần cuối sách IISử và Exơ 1:1- bổ trợ vào lỗ hổng giữa Đa 9:1- và 10:1-. E-xơ-ra nhờ phần nầy cứ chép tiếp lịch sử từ chỗ mà sách Sử ký chấm hết.
III. Mục đích.– Dường như tác giả thấy lịch sử Cựu Ước chép trước chưa đủ, và không chú trọng về chức thầy tế lễ Đền thờ như đáng phải có, do vậy đã quyết định chép Sử ký nầy. Chắc tác giả muốn gìn giữ những sự việc đã xảy ra trong lịch sử mà người ta có thể quên mất nếu không được ghi lại, chẳng những về sự thờ phượng trong Đền thờ, nhưng cũng về nhiều sự khác nữa. Vậy, Đức Chúa Trời soi dẫn tác giả chép những điều lịch sử còn thiếu sót hoặc về Đền thờ, hoặc về các gia phổ. Tác giả coi việc mình làm không phải là thế cho những sách chép trước, cho nên không cần chép lại mấy tiểu tiết đã có rồi nhưng chỉ phụ thêm vào, để với sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi, làm cho lịch sử chép đến thời mình, được đầy đủ hơn.
Lúc các phu tù từ Ba-by-lôn trở về, có một việc rất khó là chia xứ theo các gia phổ để hiệp với chính thể Y-sơ-ra-ên. Vả lại, sự thờ phượng trong Đền thờ rất quan trọng, vì sự liên lạc dân Y-sơ-ra-ên, phải nhờ những người Lê-vi đang ở tại Giê-ru-sa-lem, và nhờ vào việc dân sự nộp phần mười và trái đầu mùa. Bởi đó, cần phải sắp đặt các gia phổ người Lê-vi để sắp đặt các ban thứ thầy tế lễ, người canh giữ cửa, và người ca hát, v.v… Cũng cần sắp đặt các gia phổ dân sự để có thể chia cơ nghiệp tương xứng với họ, và dựa vào đó nộp phần mười. Vậy, ta thấy các gia phổ có phần quan trọng trong sách Sử ký mà tác giả chép trong những tình cảnh đó. Xô-rô-ba-bên và sau là E-xơ-ra với Nê-hê-mi hết sức lo để lập lại sự thờ phượng trong Đền thờ, và thúc giục dân sự giữ tinh thần một quốc gia.
IV. Tài liệu.– Hiệp với tài liệu, sách Sử ký có thể chia làm ba phần: Phần thứ nhứt là phần sơ lược, gồm có nhiều gia phổ với các sự kiện và biến động về gia phổ (ISử 1:1–9:1-) phần thứ hai là truyện về vua Đa-vít lên ngôi và cai trị (ISử 10:1–29:1-). Phần thứ ba là truyện về các biến động dưới đờICác kế vị Đa-vít trong dòng đó.
Những gia phổ khởi đầu với A-đam (ISử 1:1), và lan rộng đến các thời sau hết của Cựu Ước (ISử 9:1-; so Nê 11:1- và các tên sau cùng ở trong hàng gia phổ, như trong ISử 3:19, tt. Những biến động, những sự kiện xảy ra trong lịch sử đều có liên quan với gia phổ. Có mấy chục biến động như thế. Trong số đó, có biến động nhắc lại từ những phần của Cựu Ước mà người chép Sử ký lấy nguồn từ đó; như truyện Nim-rốt: “là người khởi đầu làm anh hùng trên đất, ” hoặc trong thời Bê-lét, “đất đã chia ra, ” hoặc những tiểu tiết về các vua xứ Ê-đôm (ISử 1:10, 19, 43 tt; so Sáng 10:8, 25; 36:31 tt). Mấy truyện khác mà người chép Sử ký đã lấy nguồn ngoài Cựu Ước: thí dụ truyện Gia-bê, hoặc truyện những người Si-mê-ôn kéo đến đánh người Ma-ô-nít và người A-ma-léc còn sót lại (ISử 4:9, 10, 38-43).
Truyện trong Sử ký về đời Đa-vít trị vì cũng tự chia làm ba phần:– Phần thứ nhứt (ISử 10:1–21:1-), các đoạn này bao gồm: sự chết của Sau-lơ, tôn vua Đa-vít làm vua trên mười hai chi phái, các người đồng công, các chiến trận, sự thỉnh hòm giao ước trở về Giê-ru-sa-lem, lời hứa lớn cho Đa-vít, tai vạ dẫn đến sự mua sân đạp lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít. — Phần thứ hai (ISử 22:1–29:22 a) nói đến một sự kiện đặc biệt, và những sự sửa soạn cho sự kiện đó: ấy là việc tôn Sa-lô-môn lên làm vua, tại nơi hội họp đông công chúng (ISử 23:1; 28:1 tt). Những sự sửa soạn gồm có sự sắp đặt cho địa điểm, các vật liệu để sau xây cất Đền thờ, và sự tổ chức người Lê-vi, thầy tế lễ, người ca hát, kẻ giữ cửa, quan cai, để hầu việc trong Đền thờ và trong nước. — Phần thứ ba (ISử 29:22b-30) là một truyện vắn tắt về sự tôn Sa-lô-môn làm vua “lần thứ nhì” (so ICác 1:1-) với sự tóm tắt và những trưng dẫn đến đời Đa-vít trị vì. Lịch sử của các vua kế tiếp Đa-vít như chép trong IISử không cần kể ở đây.
V. Nguồn các tài liệu.– Các nguồn tài liệu của trước giả là những gia phổ rút ra trong các đời khác nhau, và trong đời trị vì riêng khi các gia phổ được chép. Như vậy, gia phổ của Sê-san (ISử 2:34-41) tận cùng với một đời đồng thời vua Ê-xê-chia. Gia phổ của các thầy tế lễ thượng phẩm (ISử 6:1-15) chắc được chép trong kỳ phu tù; gia phổ trong câu 50-53, và các gia phổ của Hê-man và A-sáp (33-39, v.v.), trong đời của Đa-vít hoặc trong đời Sa-lô-môn; gia phổ của các con A-xên (ISử 8:38) trong thời Ê-xê-chia; gia phổ của các con trai Xô-rô-ba-bên trong đời E-xơ-ra (ISử 3:19-24). Những nguồn tư liệu đó phải là rất cổ, vì người soạn sách lấy những truyện từ các vua xứ Ê-đôm trước khi Sau-lơ trị vì, sự tàn sát con trai của Ép-ra-im bởi người Gát (7:21; 8:13), lời chú thích về các con trai của Sê-la và sự cai trị của họ trên đất Mô-áp (4:21, 22). Những khúc chép về gia phổ của Giô-tham và Giê-rô-bô-am có lẽ được gồm lại từ những bản viết đồng thời, những tiểu tiết như về người Ru-bên và người Gát (5:1-22). Khúc chép trong 9:1-34 được rút từ các truyện chép sau khi từ Ba-by-lôn trở về; cũng xem IISử 36:20. Trong E-xơ-ra (2:1-; 4:1-) những bản viết được sử dụng còn muộn hơn nữa, tức thời các Pseudo-Smerdis hoặc Ạt-ta-xét-xe.
Như vậy, dường như hai sách Sử ký được soạn bởi một văn sĩ, từ các bản chép của các niên hiệu khác nhau còn lưu lại khi sách Sử ký được soạn: a) Các sách của Sa-mu-ên, đấng tiên kiến; của Na-than, đấng tiên tri; và của Gát, đấng tiên kiến (ISử 29:29), cung cấp những tin tức về đời trị vì của Đa-vít. “Sách của Na-than, ” và “sách tiên tri của A-hi-gia, người Si-lô.” b) “Sách dị tượng của Giê-đô, đấng tiên kiến” (IISử 9:29) về đời của Sa-lô-môn. c) “Sách truyện (midrash, “giải nghĩa”) của tiên tri Y-đô” về “các công sự của A-bi-gia, d) “Sách Y-đô, đấng tiên kiến, luận về gia phổ, và lời Sê-ma-gia, đấng tiên tri, ” về các công việc của Rô-bô-am (12:15). đ) “Sách của các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên” (25:26; 27:7; 32:32; 33:18), “những lời của các đấng tiên kiến” (33:19; dịch là truyện Hô-xai về mấy đời trị vì sau).
e) “Truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni” (20:34) về công việc trong đời Giô-sa-phát trị vì. g) “Sách dị tượng của đấng tiên tri Ê-sai ” (26:22; 32:32), chép về đời trị vì của Ô-xia và Ê-xê- chia. Ngoài ra còn có các bản chép của quốc gia: Sách Sử ký” (Nê 12:23) bắt đầu vào đời vua Đa-vít (ISử 27:24). “Các Sử ký của vua Đa-vít” có lẽ là một với sách của Sa-mu-ên, của Na-than; và của Gát nói ở trên. “Sách hành trạng của Sa-lô-môn” (ICác 11:41) cũng vậy. Từ “Sách Sử ký các vua của Giu-đa” hoặc “của Y-sơ-ra-ên” (ICác 14:28; 15:7) cứ tiếp cho đến đời Giê-hô-gia-kim trị vì (IICác 24:5; IISử 36:8), hai soạn giả các sách Các Vua và Sử ký đều rút từ những khúc đúng như nhau trong cả hai. Các sổ ghi chép gia phổ (Nê 7:5) cũng cung cấp nhiều tài liệu.
VI. Sử ký chia làm hai quyển.– Người ta thường nói I, IISử vốn là một quyển trong bản Hê-bơ-rơ, song chia làm hai là theo bản Septante. Song thật ra, nếu tính số sách Cựu Ước Hê-bơ-rơ là 22 hay 24 quyển thì Sử ký là một quyển, nếu tính là 39 như có hiện nay thì Sử ký chia làm hai quyển.
VII. Những điều đặc biệt.– Những điều đặc biệt trong I, IISử như sau nầy: Danh sách các chiến sĩ đến cùng Đa-vít tại Xiếc-lác, và những người đến Hếp-rôn để tôn Đa-vít làm vua (ISử 12:1-) Đa-vít sửa soạn để sau xây Đền thờ (22:1-). Trật tự các người Lê-vi và thầy tế lễ (23:1–26:1-), của đạo binh và quan cai (27:1-). Đa-vít dạy cách công khai về Đền thờ (28:1-; 29:1-). Các đồn lũy của Rô-bô-am và sự đón tiếp các thầy tế lễ từ khắp nước Y-sơ-ra-ên (IISử 11:1-). A-bi-gia thắng Giê-rô-bô-am, vua Y-sơ-ra-ên (13:1-). A-sa làm nước mình mạnh mẽ và thắng đạo binh đông của Xê-rách, người Ê-thi-ô-bi (14:1-); nhờ lời tiên tri A-xa-ria, A-sa bỏ sự thờ hình tượng (15:1-); Ha-na-ni quở trách A-sa vì nhờ Sy-ri hơn Đức Giê-hô-va (16:1-) Giô-sa-phát đặt những cơ binh nơi các thành bền vững của Giu-đa và Ép-ra-im, phá dỡ các nơi cao và thần tượng A-sê-ra khỏi Giu-đa, và sai các quan trưởng và người Lê-vi dạy dỗ trong các thành xứ Giu-đa về “sách Luật pháp của Đức Giê-hô-va” (17:1–18:1-); bị quở trách bởi Giê-hu, con trai Ha-na-ni, đấng tiên kiến, và bởi Ê-li-ê-xe, con trai Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, vì cớ Giô-sa-phát đã đồng minh vớICác vô đạo của Y-sơ-ra-ên, những lời răn bảo các quan xét; sự chiến thắng các đạo quân của Mô-áp và Am-môn đồng minh với nhau (19:1-; 20:1-). Giô-ram thờ hình tượng nên bị hình phạt (21:1-). Sự bội đạo của Giô-ách, và tội giết Xa-cha-ri vì đã quở trách mình, khi Giê-hô-gia-đa, cha của Xa-cha-ri, đã qua đời (24:1-). A-ma-xia sửa soạn giao chiến; sự thờ tượng (25:1-). Ô-xia được đắc thắng cùng với đạo binh (26:1-). Giô-tham thắng dân Am-môn, “vì người đi đường chánh đáng trước mặt Đức Giê-hô-va” (27:1-). Ê-xê-chia cải cách và truyền giữ Lễ Vượt Qua; sự giàu có người (29:1–31:1-). Ma-na-se bị dẫn qua Ba-by-lôn, ăn năn, được lập lại (33:1-). Hết thảy những việc kể trên rất phù hợp với mục đích của một người tìm cách lập lại chính thể của người Do-thái về tôn giáo và công dân, khi từ phu tù về; và ta biết ấy là trọng trách của E-xơ-ra.
I, IISử với E-xơ-ra và Nê-hê-mi hợp thành vòng xích cuối cùng của các gia phổ Cựu Ước, sau có chép đến lần nữa trong Tân Ước, (Mat 1:1-).Cũng gợi ý tiên tri về Đấng Mê-si (ISử 17:17): “Chúa… có đoái xem tôi theo hàng (Luật pháp) người cao trọng;” và 5:2; “Giu-đa trổi hơn anh em mình, và bởi người mà ra vua chúa, ” ấy chỉ về tiên tri thuộc Đấng Mê-si (Sáng 49:8-10; ISử 28:4).
VIII. Chứng cớ chép sách Sử ký là đúng.– I, IISử tỏ ra chép đúng bởi những chứng cớ tự nhiên như thấy trong ISử 2:13-17, tại đó không chép A-bi-ga-in là con gái của Y-sai; song chỉ là chị em của Đa-vít: vì nàng là con gái của Na-hách, không phải Y-sai, nên chỉ là chị em cùng cha khác mẹ với Đa-vít. Cũng chép lại chính những lời thuộc các bản được dùng đến :”cho đến ngày nay”, dầu những lời này không hiệp với thời soạn giả, (ISử 4:42; IISử 5:9).Cũng có câu Kinh Thánh khác chứng quyết điều chép trong I, II Sử ký: so IISử 31:1-6 với Ês 22:8-11; IISử 20:1- với Thi 48:1-; 83:1-; Giôên 3:1-. Ý nghĩa của tên các thầy thông giáo (trước khi từ phu tù trở về) tỏ ra hy vọng quốc gia vào hồi đó (ISử 3:19, 20): Ha-na-nia (ơn Đức Giê-hô-va); Bê-rê-kia (phước Đức Giê-hô-va); Ha-na-đia (sự thương xót Đức Giê-hô-va); Du-sáp-Hê-sết (sự thương xót trở lại). A-cúp và Tanh-môn chép trong ISử 9:17, 18 cũng chép trong Nê 12:25, 26 là kẻ canh giữ cửa, … về đời Nê-hê-mi… về đời E-xơ-ra, làm thầy tế lễ và văn sĩ.” Vậy, mỗi lời gợi ý đó hiệp với niên hiệu và trước giả của hai sách Sử ký như nói trên.
IX. Trật tự trong Cựu Ước.– Trong những bản Kinh Thánh in bằng tiếng Hê-bơ-rơ, I, IISử theo sau sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi, và là sách chót trong Cựu Ước công nhận của người Hê-bơ-rơ. Vậy, trong đời Đấng Christ dường như thứ tự là như vậy, vì chép Xa-cha-ri là tiên tri cuối cùng được nói đến là người bị giết (Mat 23:35; Lu 11:51; so IISử 24:20-22).
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho sách ISử như sau nầy:
Hai sách Sử ký (giống hai sách Các Vua) chỉ là một trong bản Cựu ước công nhận của người Do-thái. Cả hai sách chép những sự kiện xảy ra trong thời gian từ khi Sau-lơ qua đời cho đến lúc dân Giu-đa bị bắt làm phu tù. Có lẽ cả hai được chép trong khi làm phu tù ở tại Ba-by-lôn, khác với hai sách Các Vua vì chép đầy đủ hơn về Giu-đa, và vì không chép nhiều về tiểu tiết. Phước lành cho dân Chúa trên đất liên quan với nền quân chủ của Đa-vít có lẽ là nghĩa bóng của hai sách nầy.
I. Sử ký chia làm ba phần: (I) Gia phổ chính thức (1:1-9:44). (II) Từ sự chết của Sau-lơ đến khi Đa-vít lên ngôi (10:1-12:40). (III). Từ Đa-vít lên ngôi cho đến khi người qua đời (13:1-29:30).
Ngoài các gia phổ (1:1–9:1-), những biến động chép trong ISử bao gồm một thời gian 41 năm (theo Ussher).
Tiến sĩ Scofield cũng viết tiểu dẫn cho IISử như sau nầy:
Sách nầy chép tiếp lịch sử đã bắt đầu trong I Sử ký. Sách chia ra mười tám phần, theo các đời trị vì từ Sa-lô-môn cho đến khi bị bắt làm phu tù; chép sự chia nước Đa-vít trong đời Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am, và tỏ dấu sự bội đạo càng ngày càng thêm, đứt quãng tạm thời bởi những cuộc cải cách dưới đời A-sa. 14:1–16:1-; Giô-sa-phát, 17:1-19, Giô-ách, 24:1-; Ê-xê-chia, 19:1–22:1-; và Giô-si-a, 34:1-; 35:1-. Song địa vị thuộc linh của dân sự, trong thời tốt nhứt, được mô tả trong Ês 1:1–5:1-.