Light. La Lumière.
I. Căn nguyên.– Bước thứ nhứt trong cuộc Sáng tạo, lời Đức Chúa Trời phán: “Phải có sự sáng” (Sáng 1:3). Lúc đó, sự sáng có lẽ giống như Bắc cực quang (aurore boréale) soi thấu qua “sự mờ tối ở trên mặt vực” của đất “vô hình và trống không.” Sự thâu lại sự sáng sau hết (ngày thứ tư của cuộc Sáng tạo, Sáng 1:14) trong mặt trời, các ngôi sao, và các thái dương hệ. Đem phương pháp sáng tạo từ chỗ khởi đầu đến điểm hoàn thành như là điều kiện cần thiết của mọi sinh vật. Như vậy, căn nguyên của sự sáng được giải nghĩa trong ý định và trong chính bản thể của Đức Chúa Trời mà Thánh Giăng định nghĩa không phải chỉ là Tác giả của sự sáng, song bằng một nghĩa gồm tóm hết là chính sự sáng: “Đức Chúa Trời là sự sáng” (I Giăng 1:5).
II. Nghĩa rộng.– Suốt Kinh Thánh thường dùng “sự sáng” về ý nghĩa rực rỡ để làm hình bóng và đồng nghĩa của mọi sự sáng láng và chói lòa trong sự sống, trí khôn, đạo đức và thuộc linh của người và thiên sứ. Còn Đức Chúa Trời vĩnh viễn, vì cớ sự thánh khiết và sự trọn lành của Ngài, được tả như là Đấng “ở nơi sự sáng không thể đến gần được” (ITi 6:16). Mọi ý nghĩa của sự sáng, từ sự sáng trong cõi thiên nhiên đến sự vinh hiển trong thiên đàng, đều có trong Kinh Thánh.
1. Sự sáng tự nhiên.– Sự sáng ban ngày (Sáng 1:5) của “các vì sáng trong khoảng không” (Sáng 1:14, 18; Thi 74:16;Thi 136:7; Thi 148:3; Truyền 12:2; Khải 22:5). Những nét đặc sắc là: đẹp đẽ, chiếu sáng, và ích lợi. Sự Sáng “khiến lòng vui vẻ” (Châm 15:30). “Ánh sáng thật là êm dịu” (Truyền 11:7). Nếu không có ánh sáng, người ta vấp ngã và không làm gì (Giăng 11:9, 10). Sự sáng là điều người ta trông đợi một cách tha thiết (Gióp 30:26 so Thi 130:6). Sự sống vui ve, hoạt động và mọi phước lành đều nhờ sự sáng.
Tại xứ Pha-lê-tin, dân cư quan niệm sự sáng và sự sống đồng nghĩa với nhau cũng như sự tối đồng nghĩa với sự chết. Ấy là vì, ban ngày tại xứ đó đầy dẫy ánh sáng mặt trời, và nhờ sự sáng để tính một ngày từ buổi hoàng hôn hôm trước đến buổi hoàng hôn ngày sau, “người đi ra, đến công việc mình, và làm cho đến chiều tối” (Thi 104:23). Sự tối và sự sáng thình lình đổi với nhau lúc mặt trời mọc và lặn tại xứ Pha-lê-tin rõ ràng hơn các xứ phương Bắc. Cho nên dễ hiểu rằng khi xưa có người tại xứ này thờ mặt trời như thần ban sự sáng và vui mừng, Gióp nói sự cám dỗ về tội đó trong 31:25-28, “Tôi có thấy mặt trời chiếu sáng, và mặt trăng mọc lên soi tỏ, v.v.”. Sự ưa ánh sáng đó được bày tỏ trong cả Tân Cựu Ước mỗi khi dùng sự sáng để chỉ những điều người khác hết lòng giúp đỡ mình, và bởi cách dùng như thế ta thấy những hình ảnh rất đẹp, rất hay trong Kinh Thánh. 2. Sự sáng nhân tạo.– Khi sự sáng tự nhiên thiếu, người ta thường tìm hoặc sáng chế một sự sáng tạm thời để thay thế, mặc dầu ánh sáng đó lu mờ hoặc chưa trọn vẹn. Người Hê-bơ-rơ xưa thường dùng “dầu” thắp sáng (Xuất 25:6; 35:8; Lê 24:2), và đèn (Xuất 35:14; Mat 5:15). “Có nhiều đèn trong phòng cao” tại Trô-ách là nơi “Phao-lô cứ giảng luôn cho đến nửa đêm” (Công 20:8). Xem Giê 25:10.
3. Sự sáng bởi phép lạ.– Tai vạ thứ chín là Chúa khiến sự tối tăm rất dày trong ba ngày tại xứ Ai-cập đến nỗi dân đó không thấy nhau và không làm việc gì được, còn “trong chốn Y-sơ-ra-ên ở thì cò ánh sáng” (Xuất 10:23). Ta không thể biết rõ Chúa làm như thế nào, song biết chắc phương pháp giữ dân Y-sơ-ra-ên trong sự sáng là siêu phàm. Chúa làm “trụ lửa” soi sáng ban đêm cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập thật là một phép lạ (Xuất 13:21; 14:20; Thi 78:14); “Ngài dẫn dắt họ… trọn ban đêm bằng ánh sáng lửa.” Khi Chúa Jêsus hóa hình, “mặt Ngài sáng lòa… áo Ngài trắng như ánh sáng, ” cũng là siêu phàm (Mat 17:2). “Ánh sáng lớn, ” “thình lình… từ trên trời… soi sáng chung quanh.” Phao-lô lúc đi đường Đa-mách cũng thế (Công 22:6 so 9:3). Trong mấy phép lạ nầy, sự sáng siêu phàm chẳng những chỉ bóng về sự sáng thuộc linh bề trong, song một phần cũng dùng để tỏ ra hoặc dọn đường cho sự từng trải thuộc linh đó.
4. Sự sáng về trí khôn, đạo đức thuộc linh.– Những đặc tính về sự sáng tự nhiên cũng được tỏ ra trong đời sống bề trong của con người. Ít nói có thể được coi như có sự sáng về trí khôn (Châm 12:23; Châm 18:13; Châm 29:20; Châm 10:13; Châm 10:19) vì có ý tốt đẹp và cũng thuận hiệp với các sự từng trải, tình hình và cảnh ngộ của đời sống thuộc linh. Vì cớ đó, Kinh Thánh đã nhiều lần dùng “sự sáng” theo nghĩa bóng. Dầu lấy từ cõi thiên nhiên nhưng sự sáng được dùng để mô tả những sự thực thuộc linh. Giáo dục thế gian hay phân biệt giữa sự hiểu biết về phần trí thức và thuộc linh, nhưng Kinh Thánh ít khi như thế, vì Kinh Thánh xét con người về mặt thuộc linh. Dầu vậy, trong Kinh Thánh, có một vài câu chỉ về sự sáng nói đến sự hiểu biết hoặc trí khôn do bởi lời dạy của Chúa, như “sự giãi bày lời Chúa soi sáng cho” (Thi 119:130) và “Luật pháp là ánh sáng” (Châm 6:23). Tại đây, sự dạy dỗ gồm sự sáng cho đạo đức cũng như cho trí khôn. “Có kẻ thù nghịch với ánh sáng” và “chúng nó chẳng biết ánh sáng” (Gióp 24:13, 16) liên quan tới thái độ đạo đức của con người đối với lẽ thật. Ês 5:20 mô tả một đạo đức lộn xộn và mờ tối vì không thể phân biệt giữa sự sáng và sự tối. Phần lớn, khi Kinh Thánh đề cập đến sự sáng thì nói đến sự sống, sự sáng và sự sống luôn đi đôi với nhau. Sự sáng là kết quả của sự cứu rỗi “Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi” (Thi 27:1). “Sự sáng” dùng cách nói bóng thứ nhứt liên quan với sự sống thuộc linh, gồm cả sự sáng trong mọi phần của linh hồn: trí thức, lương tâm, lý trí, ý muốn. Trong cõi đạo đức, sự sáng soi các phần đó là nhờ hoàn toàn vào ánh sáng thiên thượng. “Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng” (Thi 36:9). “Sự sống là sự sáng của loài người” (Giăng 1:4).
III. Sự sáng là một đặc tính của sự thánh khiết. Do đó, là một đặc tính thuộc phạm vi cá nhân. Là một thuộc tính của Đức Chúa Trời. Từ nơi Đức Chúa Trời soi ra.
1. Đức Chúa Trời.– “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu” (I Giăng 1:5). Sự tối tăm là hình bóng phổ thông của địa vị tội lỗi và sự chết, sự sáng là hình bóng và tỏ bày sự thánh khiết. “Sự sáng của Y-sơ-ra-ên trở nên lửa, Đấng Thánh nó sẽ trở nên ngọn đèn” (Ês 10:17). Đức Chúa Trời, bởi ân điển và sự hiện diện Ngài, đối với ta là “nơi sáng láng lạ lùng” (IIPhi 2:9). Sự vinh quang về sự thánh khiết và sự hiện diện Ngài là “sự sáng đời đời của các người được chuộc ở trên trời” (Ês 60:19; Khải 21:23, 24; 22:5).
2. Đấng Christ.– Ngôi lời vĩnh viễn (Logos, Giăng 1:1), là Đấng phán: “Phải có sự sáng” (Sáng 1:3), là “sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời” (Hêb 1:3), “là sự sáng soi sáng mọi người” (Giăng 1:9). Như Đấng Mê-si được dự ngôn, Ngài “làm sự sáng cho các dân ngoại” (Ês 42:6; 49:6). Khi Đấng Christ ra đời thì làm ứng nghiệm lời tiên tri (Lu 2:32). Chúa Jêsus tự xưng mình là “sự sáng của thế gian” (Giăng 8:12; 9:5; 12:46). Sự sáng Ngài là “Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong xác thịt” (ITi 3:16), và “Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” (Giăng 1:1). Chúa Jêsus như Logos bày tỏ đời đời Đức Chúa Trời, như một lời bày tỏ một tư tưởng. Bản thể của Ngài có ba phần: Sự sống (Giăng 5:26; 6:57; zóé). Sự yêu thương (I Giăng 4:8, agápe); sự sáng (I Giăng 1:5, phós). Vậy Đấng Christ đã bày tỏ ra là ba phần đó hiệp nhất với nhau, không chia được và làm thành sự vinh hiển của “Con một đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14). Vì tỏ ra là Đấng ban sự sống, thì Đấng Christ trở nên sự sáng của loài người (Giăng 1:4). Đức Chúa Trời đã “làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng ta, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jêsus Christ” (IICôr 4:6), và sự cứu rỗi đó được gọi là “sự vinh hiển chói lói của Tin lành Đấng Christ” (4:4). Vậy Đấng Christ là Đấng chiếu sáng, là Chúa Cứu thế (Êph 4:14).
3. Những người nhận lấy và chiếu sự sáng của Đức Chúa Trời. Đấng Christ đã gọi họ là “sự sáng” hoặc “những sự sáng” (so Giăng 5:35; Mat 5:14; Lu 16:8; Giăng 12:36; Êph 5:8), và phải “chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phil 2:15). Xưa, người Do-thái theo luật pháp tưởng lầm mình “làm sự sáng cho kẻ ở nơi tối tăm” (Rô 2:19).
4. Hội Thánh.– Si-ôn phải sáng lòa, “vì sự sáng mình đã đến” (Ês 60:1), và dân ngoại phải đến sự sáng đó (60:3). Sứ mạng Si-ôn soi sáng thế gian được chỉ bóng bởi U-rim của bảng đeo ngực thầy tế lễ thượng phẩm xưa chỉ về sự sáng, và Thu-mim về lẽ thật. Trong thời đại ân điển, Hội Thánh Đấng Christ phải soi sáng càng nhiều hơn bởi sự sáng Đức Chúa Trời là Đấng Christ. Bảy Hội Thánh Tiểu-A-si mà Giăng bởi Đức Thánh Linh tỏ ra như là bảy chơn đèn vàng, và các kẻ hầu việc như là bảy ngôi sao, tất cả đều sáng soi bằng sự sáng của Khải thị Tin lành. Trong Ê-phê-sô. Đấng Christ là Đấng soi sáng thế gian, là Đầu của Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài, mà bởi thân thể đó sự vinh hiển Ngài sẽ được bày tỏ khắp thế gian “để cho mọi người biết” (Êph 3:9, 10). “Nguyện Ngài được vinh hiển trong Hội Thánh” (câu 21), Hội Thánh đem sự vinh hiển dâng cho Đức Chúa Trời vì bày tỏ vinh hiển Ngài cho người ta.
IV. Các hình bóng.– Sự sáng chỉ bóng về: (1) Con mắt (Mat 6:22; Lu 11:34). (2) Sự tỉnh thức như trong thí dụ về mười người nữ đồng trinh. (3) Sự binh vực, “mặc lấy áo giáp sáng láng” (Rô 13:12), là áo của một đời sống thánh khiết. (4) là phạm vi tín đồ hằng ngày bước đi, là “cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng” (Cô 1:12) (5) Trên trời, vì cơ nghiệp đó gồm thế giới trên cao, “Chiên Con là ngọn đèn của thành” (Khải 21:23). (6) Thịnh vượng (Êxơ 8:16; Gióp 30:26; so 18:5).
(7) Sự vui vẻ (Gióp 3:20, Thi 97:11; 112:4). (8) Ơn Chúa (Thi 4:6; 44:3; 89:15), và ơn vua (Châm 16:15) (9) Sự sống (Thi 13:3); 49:19; Giăng 1:4).
V. Các thành ngữ.– (1) “Trái của sự sáng láng” (Êph 5:9) ở tại mọi điều nhơn từ, công bình và thành thật. (2) “Người sáng láng trong Chúa” (Êph 5:8), ấy tỏ ra nguồn của sự sáng (so Ês 2:5). (3) “Cơ nghiệp các thánh đồ trong sự sáng” (Cô 1:12) là một sự từng trải hiện tại từ trên trời. (4) “Cha sáng láng” (Gia 1:17) chỉ về Đấng dựng nên các ngôi sao. (5) “Nơi sáng láng lạ lùng” (IIPhi 2:9) là sự sáng của sự hiện diện và sự thông công của Đức Chúa Trời. (6) “Đi trong sự sáng” (I Giăng 1:7). (7) “Ở trong sự sáng” (I Giăng 2:10). (8) “Sự vinh hiển chói lói của Tin lành Đấng Christ, ” là “sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời” (IICôr 4:4, 6).
Tiến sĩ Scofield chú thích về sự sáng:
Sáng 1:16.– “Vì sáng lớn” là hình bóng về Đấng Christ, “Mặt trời công bình” (Mal 4:2) Ngài sẽ lấy tính cách đó hiện ra lúc tái lâm. Về phần đạo đức, thế gian hiện nay ở giữa sự tối tăm và sáng láng (Sáng 1:2 và 1:16 Êph 6:12; Công 26:18; IIPhi 2:9). Không thấy mặt trời, song có sự sáng. Đấng Christ là sự sáng đó (Giăng 1:4, 5, 9), song “soi trong tối tăm” mà chỉ hiểu bởi đức tin thôi. Như “Mặt trời công bình, ” Ngài sẽ trừ đuổi mọi sự tối tăm. Về thời đại, Hội Thánh ở trong chỗ của “vì sáng nhỏ, ” là mặt trăng phản chiếu ánh sáng mặt trời không thấy được. Các ngôi sao (Sáng 1:16) là cá nhân mỗi tín đồ, là “những vì sáng” (Phil 2:15, 16) Xem Giăng 1:5.
I Giăng 1:7.– “Đi trong sự sáng” được cắt nghĩa bởi câu 8-10. “Hết thảy mọi sự… được tỏ ra bởi sự sáng” (Êph 5:13). Sự hiện diện của Đức Chúa Trời cho biết về tội trong bản tánh con người (I Giăng 1:8), và về những tội lỗi trong sự sống (câu 9, 10). Đi trong sự sáng là thành thật xưng cả hai điều đó. Huyết của Đấng Christ là phương pháp của Đức Chúa Trời. Tại cây thập tự, (“tội” bị đoán phạt (Rô 8:3), và “những tội lỗi” được cất đi (Hêb 9:26). “Trong sự sáng” nghĩa là công nhận những điều nầy, và có lòng tin nơi Đấng Christ bị đóng đinh và đó là phương thuốc công hiệu.