Singh, Sundar

SINGH, SUNDAR

(1889-1929)

Sundar Singh là một người Ấn độ ra đời trong một gia đình quyền quí cao sang. Ông sanh tại thành phố Rempur, năm 1889. Ông Singh sớm được nghe Tin Lành cứu độ của Chúa Giê-xu do các nhà truyền giáo đến Ấn độ vào cuối thế kỷ 19 rao giảng. Ông cũng có dịp tốt theo học văn hóa và những giáo lý của Chúa ở các trường Tin Lành do các nhà truyền giáo thành lập. Nhưng vì bức tường thành tôn giáo và chủng tộc, ông không muốn đội trời chung với Cơ Đốc nhân, dĩ nhiên cũng thù ghét Thánh Kinh và Chúa Giê-xu hết sức mãnh liệt.

Tuy nhiên do bản tánh ưa suy tư quan tâm đến vấn đề siêu hình; cũng như khao khát nhu cầu giải thoát cho linh hồn, năm 14 tuổi Sundar Singh đã quyết định tuyệt thực và cắt bỏ giao tiếp với mọi người, tự biệt giam mình trong phòng riêng ba ngày ba đêm để giải quyết dứt điểm nan đề bức xúc ấy. Dầu chàng đã cương quyết loại bỏ Chúa Giê-xu ra khỏi cuộc tìm kiếm của mình. Thình lình vào đêm thứ ba, bị thôi thúc bởi liều thuốc kích thích của niềm khát vọng tâm linh, Singh kêu lên: “Ôi, Thượng Đế! Nếu thật có Ngài, xin chính Ngài hãy tự khải thị cho tôi ngay đêm nay; bằng không tôi chẳng còn muốn sống nữa!”. Tuyệt vọng quá, chàng có ý định nếu không gặp được Đức Chúa Trời trong đêm đó thì 5 giờ sáng hôm sau, chàng sẽ lao mình vào chuyến xe lửa tốc hành chạy ngang thành phố Rempur cho rồi đời! Trong thâm tâm Sundar Singh hy vọng rằng thần Krishma mà chàng sùng bái lâu nay sẽ hiện hình cứu giúp chàng trong lúc ngặt nghèo này. Mặc dầu có quyển Thánh Kinh Tân Ước trên bàn, song chàng chỉ muốn chính Đức Chúa Trời tự tỏ mình ra cho chàng mà thôi. Lúc ấy bỗng nhiên có một luồng ánh sáng chói lòa tràn ngập căn phòng, và hình ảnh vinh quang của Chúa Giê-xu hiện ra và phán rằng: Ta là Giê-xu đây. Tại sao con cứ chống nghịch ta? Ta đã chịu chết và sống lại vì con. Ta muốn làm Cứu Chúa của con!”.

Với khải tượng kỳ diệu trên, Chân lý Cứu độ của Đức Chúa Trời đã hiển nhiên đối với Sundar Singh rồi. Ngay đêm đó, chàng quỳ xuống ăn năn tội lỗi mình, mở lòng ra mời Chúa Giê-xu bước vào làm Chủ, Cứu Chúa của đời sống mình. Huyết Chúa đã thanh tẩy những ô tội và ban cho chàng sự giải phóng linh hồn cách không kể xiết. Giữa đêm khuya, chàng vội đánh thức thân sinh mình dậy và báo cho ông biết niềm vui mừng vô hạn tràn ngập lòng chàng, vì chàng đã tìm gặp Cứu Chúa Giê-xu. Người cha lấy làm ngạc nhiên, vì trước đó 3 ngày chàng đã phỉ báng Chúa Giê-xu và đốt Thánh Kinh đi rồi kia mà! Từ giờ phút đáng ghi nhớ đó, vẻ mặt u buồn cố hữu của Sundar đã biến mất. Một cuộc đời mới hoàn toàn bắt đầu từ đây.

Khi tin tức về việc tin Chúa của Sundar Singh được loan ra, thì lập tức một biến động ập đến: Chàng bị gia đình và tộc họ chống đối kịch liệt, vì họ cho rằng khi chàng tin theo Chúa Giê-xu tức làm sỉ nhục cho gia đình và dòng họ lắm. Có một người chú và người anh họ giàu có, quyền thế, đã dùng châu báu, địa vị để dụ dỗ, mua chuộc chàng. Nhưng họ đã thất bại, khi chàng nhất mực tuyên bố rằng: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình thì có ích gì? Không có của cải nào mua lại linh hồn được”.

Nói rồi, Sundar Singh đã về phòng riêng, lặng lẽ nhưng cương quyết tự ý cắt bỏ cái vòng sắt tôn giáo lâu nay đeo ở cổ; rồi cầm kéo cẩn thận cắt mớ tóc dài chưa bao giờ cắt của mình, là biểu trưng cho tín đồ Ấn độ giáo. Do việc làm khác thường này, cha của chàng đã tỏ thái độ không khoan nhượng dứt khoát đuổi chàng ra khỏi nhà chỉ với một bộ đồ chàng đang mặc trong người lúc đó thôi. Thế là chàng đi ra khỏi nhà chẳng có hành lý gì chỉ trừ có quyển Thánh Kinh Tân Ước trên tay và tấm lòng tràn đầy niềm sung sướng không mô tả hết. Chàng đã lên chuyến xe lửa sớm để đến thành phố Rempur, nơi có một nhóm tín hữu Tin Lành đang sinh hoạt ở đó.

Ngày 6-10-1905, Sundar Singh đã hứa nguyện với Chúa sau khi chịu Thánh lễ Báp-têm, chàng quyết hiến dâng thân hồn mình phục vụ Chúa trọn đời. Mặc vào chiếc áo tu sĩ màu vàng nghệ, chẳng có một phương tiện chi để sinh sống và phục vụ, nhưng chỉ có mỗi quyển Thánh Kinh Tân Ước bằng tiếng Urdu trên tay, với một trái tim bùng cháy mãnh liệt vì Lửa Thần Linh Đức Chúa Trời nung đốt trước bao sinh linh đang hư vong.

Chỉ có thế, nhưng gót chân của vị sứ giả Tin Lành đặc biệt này đã trải qua các nước vùng Tây Bắc Á Châu như Ấn độ, Tiber, Népal, Trung Hoa, Afganistan, Nhật Bản, Mỹ châu, Hoa Kỳ, Anh quốc cùng nhiều làng mạc và thị trấn của hai tiểu bang Punjab và Kashemia. Vì mặc chiếc áo vàng tu sĩ Ấn độ cho nên Sundar Singh đã len lỏi vào được hết mọi cửa ngỏ. Nhưng khi được biết Sundar đi truyền giảng Tin Lành của Chúa Giê-xu, thì hầu hết mọi người, mọi làng đều tống đuổi chàng đi như một thứ ôn dịch truyền nhiễm; hoặc bỏ đói, tìm cách hãm hại mạng sống chàng.

Để được tự do truyền bá Phúc Âm, Sundar Singh đã tự chọn cho mình những địa bàn nguy hiểm, khó khăn nhất để hoạt động. Cho đến ngày nay, và trong thời ấy, không có chỗ nào khó loan truyền Phúc Âm cho bằng các lãnh địa dưới quyền kiểm soát của Hồi giáo, Ấn độ giáo, Phật giáo. Một trong những xứ đó là Tây Tạng (Tibet).

Sau 14 năm, bàn chân của vị Anh Hùng Truyền Giáo Tin Lành ngoại hạng này đã in dấu hầu khắp các xứ Ấn độ, Nepal, Tibet,… Ông trở về quê hương thăm thân phụ mình. Ngồi ở nhà nhưng lòng Sundar lại rạo rực vì những lá thư người ta mời ông đến các xứ Âu-Mỹ để làm chứng và truyền giảng. Qua đức tin được yểm trợ bằng thực tiễn của mấy mươi năm tin thờ và phụng sự Chúa, ông Sundar Singh tin quyết rằng nếu Chúa muốn, thì thế nào ông cũng sẽ đến được các nơi đó.

Một món quà bất ngờ mà Đức Chúa Trời ban tặng cho công lao khó nhọc của ông bấy lâu nay: Một đêm, thân sinh ông bỗng đến đặt tay trên vai ông và nói: “Sudar con, tại sao trước kia sống trong gia đình giàu sang sung túc mà cha thấy con cứ ưu sầu. Còn 14 năm qua theo dõi, thấy con toàn gặp những điều bất hạnh và gương mặt con lúc nào cũng tươi sáng vui mừng như vậy?”. Ông trả lời: “Thưa cha, từ khi con chọn Chúa Giê-xu là người yêu quí hơn hết của con, thì con không còn niềm vui mừng nào lớn hơn”. Ông cụ hỏi: “Làm sao cha biết được Ngài?”. Thì ông đáp rằng: “Nếu muốn biết tiểu sử Ngài thì mời cha đọc Thánh Kinh đây, còn muốn kinh nghiệm Ngài thì xin cha hãy thành tâm cầu nguyện”. Ngay lúc đó, hai cha con ông đã quỳ gối xuống và Sundar Singh đã cầu nguyện cho thân phụ mình tin Chúa. Khi đứng lên, Sundar càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghe cha mình nói: “Nếu Đức Chúa Trời muốn cho con đi Anh, đi Mỹ thì cha sẽ lo lộ phí cho con, để chuộc lại lỗi lầm cha đã bắt bớ con lâu nay!”. Sundar ứa nước mắt vì Đức Chúa Trời đã trả lời cầu xin của ông trong trường hợp khó tưởng nổi.

Nhờ kinh phí đó mà Sundar chẳng những đi thăm giảng ở Anh quốc và Hoa Kỳ, mà ông còn đến hầu việc Chúa ở cả Âu châu, nam Mỹ, Myanma, Trung Hoa, Nhật bản, Australia. Bất cứ ông đi tới đâu, người ta cũng ùn ùn kéo đến để nghe ông truyền giảng và làm chứng cuộc đời kỳ diệu của mình. Nhiều hội chúng chịu cảm động sâu xa khi nhìn vào đôi mắt sáng ngời của vị Tu sĩ Tin Lành rất độc đáo này. Lời giảng đầy khích lệ của ông có sức thu hút thính giả mà chưa có diễn giả nào sánh bằng. Nhiều người vì hiếu kỳ đến để gặp mặt ông cho biết, nhưng khi nghe ông tuyên rao Đạo Cứu Rỗi của Chúa thì trở lại tiếp nhận Ngài.

Lần đầu tiên ông thăm giảng ở nước Tibet năm 19 tuổi. Năm 1929 ông lại vào xứ cấm quảng bá đạo Tin Lành đó lần cuối cùng, rồi không ai còn nghe tin tức gì về ông nữa.

Dầu lúc nào, ở đâu, gặp hoàn cảnh vui buồn ra sao, ông Sundar Singh cũng luôn tuyên bố với đức tin kiên định trong Đức Chúa Trời: “Tôi đã sẵn sàng đi về nước Chúa”.

Trong suốt hành trình tin thờ Chúa Cứu Thế, tận hiến cả đời mình hầu việc Ngài và phục vụ đồng loại vì tình yêu của ông, Sundar Singh đã nếm trải không biết bao nhiêu khổ nạn, cực hình, có thể sánh ngang với Thánh Phao-lô xưa. Phép lạ đầu tiên Chúa đã cứu ông thoát chết vì người nhà bỏ thuốc độc vào thức ăn của ông. Và cứ thế, một buổi sáng giữa rừng già âm u, khi vừa thức dậy ông thấy một con báo lớn đang ngon giấc bên cạnh ông! Một con báo hung dữ chờ để vồ ông khi ông đang cầu nguyện giữa rừng, nhưng rồi ông đứng dậy bình tĩnh bỏ nó mà đi. Một tu viện Phật giáo bỏ ông xuống hố sâu không có nước, định bỏ đói ông cho chết, nhưng Chúa đã sai một người vô danh cứu thoát đem ông lên. Ông cũng bị cuốn lại trong một cái mền và quăng ra ngoài đường. Các nhà lãnh đạo Phật giáo ở xứ Népal cùm ông lại, bỏ đói, chưa đã giận họ còn bắt đỉa bỏ trên thân mình ông cho chúng hút máu! Nhưng sau thảm cảnh đáng thương này ông tuyên bố: “Lòng tôi tràn ngập vui mừng và ca ngợi Đức Chúa Trời vì tôi được vinh dự chia sẻ sự thương khó với Cứu Chúa Giê-xu của tôi!”

Cứ thế, ông lại tiến bước bôn ba truyền giảng Tin Mừng Cứu Độ cho mọi người đến khi thở hơi cuối cùng…

“Trên khắp núi cao, đồi cả, gót chân những người rao báo Tin Mừng và Cứu Độ thật là xinh đẹp…” (Ê-sai 52:7 – BDY)

Lên đầu trang