RHODES, ALEXANDER DE
(1591-1660)
Giáo sĩ Alexander De Rhodes mà người Việt gọi là Đắc Lộ, là một trong những nhà truyền giáo tiền phong thuộc Phái bộ truyền giáo của Giáo hội La mã đã đến rao truyền Phúc Âm ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 17.
Ông Alexander De Rhodes sanh ngày 13-3-1591 (hoặc 1593) ở thành phố Avignon, nước Pháp. Ông gốc người ở Aragon, nước Tây ban nha. Không thấy sử sách viết về xuất thân ông và gia đình ông thuộc thành phần nào? Năm 1612, De Rhodes vào tu tập trong Dòng Tên (Jesuit) ở La mã. Năm 23 tuổi (1614) lần đầu tiên ông gởi đơn xin đi truyền giáo hải ngoại; song không rõ đơn này ông xin đi đến đâu, và cũng chưa được chấp thuận. Ba năm sau (1617) ông lại đưa đơn lần thứ hai với cùng ý nguyện và có ghi rõ nơi đến là Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng không kết quả. Vào mùa thu năm ấy (1617) ông lại đệ đơn lần thứ ba cùng một quyết tâm trên. Sang năm 1618 ông đã thụ phong chức Linh mục và sau đó ông được phép rời La mã. Ông có mặt ở thành phố Lisbon (Bồ Đào Nha) dường như là để thụ huấn thêm về thực hành truyền giáo. Ngày 4-4-1619, ông xuống tàu chính thức rời Lisbon để lên đường thi hành sứ mạng thiêng liêng và cũng thỏa mãn chí hướng mà từ 5 năm trước ông đã nung nấu trong lòng.
Tháng 10 năm 1619, Giáo sĩ De Rhodes đặt chân lên đảo Goa là phần lãnh thổ của Ấn độ nằm ở Tây nam bờ biển Ấn độ, bấy giờ là thuộc địa của Bồ Đào Nha. Năm 1622 ông lìa khỏi Goa đi đến Malacca (vùng đất phía Tây nằm giữa bán đảo Malaysia và Sumatra, của Indonesia). Ông lại chuyển địa bàn truyền giáo đến Macao (Đông nam Hoa lục) vào tháng 5-1623. Đến tháng 12 năm 1624, Linh mục De Rhodes được 33 tuổi, được sự hướng dẫn của Trưởng Đoàn là Linh mục Gabriel De Mattes, lần đầu tiên ông đặt chân đến Việt nam, bấy giờ gọi là Annam; tạm trú ở Đàng Trong (từ sông Gianh Quảng Bình đến Phú Yên). Bấy giờ chúa Nguyễn đang cai trị ở Đàng Trong.
Từ năm 1624-1626, Giáo sĩ Đắc Lộ chuyên cần học tiếng Việt ở Thanh Chiêm (Quảng Nam). Năm 1626 ông đi về Macao. Theo tôi dò tìm, ông Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược (quyển II, trang 99) có đề cập đến đương đời chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) thì có linh mục Jean (?) De Rhodes đến giảng đạo ở Phú Xuân (kinh đô Huế), cũng lập ra các giáo đường năm 1624. Có phải Jean De Rhodes này là Linh mục Alexander De Rhodes hay không? Chính Jean Rhodes này cũng đã ra Đàng Ngoài (từ Quảng bình trở ra miền Bắc Việt nam) yết kiến chúa Trịnh Tráng (1627) và có tặng chúa một chiếc đồng hồ quả lắc, và chúa Trịnh Tráng đã cho phép Jean Rhodes có phép giảng Đạo ở kinh đô Thăng Long.
Năm 1627 ông từ Macao đến Đàng Ngoài, ở Cửa Rạng (Thanh Hóa). Một chỗ ghi ông cùng với đồng bạn mình là Linh mục Pedro Marquez từ biệt Đàng Trong ra Đàng Ngoài. Hai vị đã gặp chúa Trịnh Tráng, và theo chúa về kinh đô Thăng Long; rồi được phép ở lại truyền giáo. Đến cuối năm 1627, họ đã cải Đạo và rửa tội (Báp-têm) được 1200 người. Trong chức vụ của Alexander De Rhodes đã dẫn dắt độ 5000 người Việt nam gia nhập đạo Công Giáo chính thức bằng phép Rửa. Mặc dầu rất hăng say, nhiệt thành tận tụy tìm chiên lạc; nhưng Linh mục De Rhodes cũng không tránh khỏi bị trục xuất khỏi Đàng Trong (Nam Việt nam) 3 lần. Cũng do chức vụ miệt mài của Linh mục mà hạt giống tốt của Đạo đã mọc lên. Lần hồi số tòng giáo nhân lên đáng kể, và tổ chức Giáo hội đã thành hình, đi vào nề nếp, qui củ. Nhiều tín đồ trẻ tuổi người Việt cũng đã được huấn luyện để thay thế cho Linh mục ra đi công bố Tin Mừng và chăm sóc giáo dân trong các xứ Đạo.
Theo sử liệu Công giáo thì Nhà thờ đầu tiên của Giáo hội này thuộc Đàng Ngoài được xây dựng tại An vực (Thanh Hóa). Năm 1627, một tu viện đầu tiên theo hệ thống Dòng Tên (Jesuit) đã được thiết lập ở Đàng Ngoài do lệnh chúa Trịnh cho phép. Nhân số tín hữu tân tòng ngày một nhiều, giới cầm quyền Việt nam lúc đó đã ra lệnh trục xuất Linh mục De Rhodes, ông bị đình chỉ cư trú có giám sát (1628); đến năm 1629 ông bị điệu đi Nghệ An và Bố chánh, tờ giấy lệnh có ghi: “Trả đương sự về Đàng Trong!”. Và cũng năm đó, ông trở ra Thăng Long.
Năm 1630, Giáo sĩ De Rhodes thành lập Giáo luật mà thời ấy gọi là “Cơ chế kẻ giảng ở Đàng Ngoài” và cũng bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Đàng Ngoài. Trong 10 năm (1630-1640) Giáo sĩ De Rhodes đi giữ chức Giáo sư Thần học tại Học Viện Dòng Tên tại Macao. Năm 1640 ông lại trở qua Việt nam đến Cửa Hàn (Đà Nẵng) và lần này được gặp chúa Nguyễn Phúc Lâm. Tháng 9 năm đó lại được lệnh phải rời khỏi Đàng Trong, ông đi về Macao. Tháng 12-1640, ông lại bôn ba sang Việt nam, cũng bắt đầu từ Cửa Hàn (Đà Nẵng). Chẳng biết tình hình bấy giờ giữa chính quyền Việt nam và Giáo hội La mã có thuận lợi thế nào, song chỉ thấy sử chép là trong lần truyền giáo này Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexander De Rhodes) đã có thể đi lại để thi hành chức dịch của mình ở khá nhiều nơi như Thanh chiêm, Hà Lâm, Cát Lâm, Bầu Gốc và Dinh (Tỉnh) Phú Yên.
Năm 1641, ông Rhodes về lại Macao qua ngã Manila, Philippine, rồi năm 1642 ông lại trở sang Việt nam (Cửa Hàn). Đến năm 1643 ông đã thành lập “Cơ chế kẻ giảng ở Đàng Trong”. Năm 1645, Giáo sĩ này bị cấm ngục ở kinh đô Đàng Trong và bị chúa Thượng trục xuất vĩnh viễn không được quay trở lại Đàng Trong nữa. Kèm theo đó, do một phiên xử ở tại Phú Xuân (Huế) ông cũng bị kết án trảm quyết (chặt đầu) nhưng sau đổi thành án trục xuất. Ông bị điệu về Hội An giam giữ 22 ngày để chờ tàu tống tiễn! Sau một thời gian ở Macao, đến năm 1649 ông về La mã. Từ năm 1649-1652 ông làm việc ở La mã, nhưng không ngừng cổ động cho công cuộc bành trướng Phúc Âm ở Việt nam – Một xứ sở mà ông đã hết lòng yêu mến, đã tận hiến 21 năm với vô vàn nhọc nhằn, khổ cảnh, công khó hy sinh.
Năm 1651, quyển Từ điển “Annam – Bồ Đào Nha – La tinh” do ông bỏ công soạn thảo đã được in ấn và phát hành lần đầu tiên tại La mã. Từ năm 1652-1654, ông vẫn tích cực hoạt động cho Giáo hội Việt nam cách gián tiếp qua nhiều chỗ như Marseilles, Lyon, Paris (nước Pháp).
Năm 1654 ông rời Marseilles đi Iran, cũng năm đó ông đến Syria. Năm 1655 ông đến Ispahan (Iran). Năm 1660 ông qua đời đang khi lưu trú truyền giáo ở Ispahan (Iran) thọ 69 tuổi.
Có nhiều nghi vấn trước nay cho rằng Alexander De Rhodes (Giáo sĩ Đắc Lộ) là người đã sáng chế ra chữ Quốc ngữ (Việt ngữ) theo mẫu tự La tinh. Nhưng cho đến ngày nay các sử gia và các học giả chuyên viên về ngôn ngữ trong Đạo, ngoài đời đã xác minh rằng ông Rhodes đây không phải là người đầu tiên tạo ra chữ Quốc ngữ. Các vị học giả tên tuổi ở Việt nam như Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Nguyễn Khắc Xuyên, Linh mục Thanh Lãng, Linh mục Đỗ Quang Chính,… đều khẳng định: “Chữ Việt ngữ được khai sinh là công trình chung của nhiều người”. Chính cá nhân Giáo sĩ De Rhodes cũng đã thừa nhận là ông đã học chữ Quốc ngữ với những người bản xứ trong 12 năm, thời gian mà ông lưu trú ở Cô Sinh và Đông Kinh (Đàng Trong và Đàng Ngoài Việt nam). Ông cũng cho biết là mình chịu ơn Linh mục trước ông là Francisco De Pina người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên (Jesuit). Giáo sĩ Đắc Lộ lại viết: “Tôi cũng đã sử dụng những công trình của nhiều Linh mục khác cùng một Hội Dòng (Tên), nhất là Linh mục Gaspar De Amaral và Linh mục Antonio Barbosa”. Vậy Alexander De Rhodes cũng chẳng phải là người Âu châu đầu tiên soạn ra tự điển tiếng Việt, vì trước ông đã có rồi.
Sở dĩ Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexander De Rhodes) về sau được lịch sử nhắc nhở đến nhiều vì ông đã để lại quyển sách như Từ điển Việt-Bồ-La, Phép Giảng 8 Ngày, Ngữ Pháp Tiếng Annam (Việt), và cuốn Hành Trình Và Truyền Giáo (Voyages et Missions) – Được nhìn nhận như là tài liệu duy nhất (có hệ thống) về Việt ngữ trong thời kỳ đó. Giáo sĩ De Rhodes, hẳn nhiên là đã dùng Quốc ngữ Việt như một lợi khí để truyền bá giáo lý La mã một cách hữu hiệu mà thôi.