Ramabai, Pandita

RAMABAI, PANDITA

(1858-1922)

Trong vòng các nữ chiến sĩ của Cơ Đốc giáo thế giới và Ấn độ, thì bà Pandita Ramabai được kể là người đứng hàng đầu. Bà được hưởng một danh vị cao quí là “Vị nữ anh hùng của Hội Thánh Ấn độ”.

Bà Ramabai sanh năm 1858, tại tiểu bang Mangalore, trong một gia đình tế sư quí phái, giàu có theo đạo Hindu, rất danh vọng. Thân phụ bà trước đã có một đời vợ sanh được một trai một gái. Khi vợ ông qua đời thì ông tục huyền với một cô gái 9 tuổi tức mẹ của bà. Về sau song thân của bà đã tìm một nơi yên tĩnh hơn trong khu rừng ở chót núi Ghats về phía Tây Ấn độ, thuộc bang Myrose để cư ngụ. Từ thời thơ ấu bà đã được biết tiếng là một cô gái có trí nhớ phi thường. Có những bài kinh dài của đạo Hindu (Ấn độ giáo) bà chỉ cần đọc qua một lượt là thuộc lòng. Người ta đã tôn tặng bà biệt danh “nữ thần của trí thức”. Lúc bà đến thành phố Calcutta, thì trí thông minh của bà khiến cho các giáo sư ở đó kinh ngạc, người ta liền tặng cho bà biệt danh là “Pandita”nghĩa là “người trí thức”. Bà là một phụ nữ Ấn hiếm hoi được vinh dự này.

Bà Ramabai sớm hấp thụ văn hóa của tôn giáo cổ truyền. Ông thân sinh bà là một người theo đạo khá cuồng tín. Ông đã đem hết gia tài điền sản mình để nuôi ăn thiện nam tín nữ thập phương đến nơi cư trú của ông mà họ gọi là “thánh địa” để hành hương. Bởi đó mà gia đình ông đã đi tới chỗ khánh tận; đến nỗi phải bồng bế dắt dìu vợ con đi lang thang khắp nơi đầu làng cuối chợ để xin ăn! Thân phụ bà Ramabai tuy là một người theo Ấn độ giáo cực đoan nhưng tinh thần ông rất phóng khoáng và có óc cải cách. Ông nhất định dạy cho vợ của ông (mẹ bà Ramabai) học đọc và viết tiếng Phạn (Sanskrit) cũng như đọc được các bản kinh văn khác, là điều rất cấm kỵ đối với một phụ nữ theo phái Shudra. Tự nhiên là hành động mang tính cách mạng của ông đã bị các giới phẩm chức trong Ấn giáo lên án gay gắt! Từ năm bà lên 8 cho đến 15 tuổi, mẹ bà cũng đã dạy cho con mình theo đường hướng đó.

Vì thi hành theo giáo điều Hindu là hằng ngày không làm gì cả, chỉ thuần đọc kinh Paranas – Paranikas và cúng kiến, tụng niệm, làm việc thiện nên cả thân phụ và gia đình bà đã đi đến chỗ cùng kiệt cả thể xác lẫn tinh thần! Sau khi cha mẹ và chị bà qua đời, bà cùng người anh trai đã lội bộ trên 6500 cây số (chân không mang giày dép chi cả) đến những trại tế bần, nhà từ thiện để xin của bố thí độ nhật; là chỗ bần cùng mà kẻ giai cấp quý tộc chẳng bao giờ bén mảng đến. Bà đi từ Nam chí Bắc và từ Đông sang Tây trong lãnh thổ hai bang Kashmir và Calcutta trong năm 1878. Sau một năm sống ở thành phố Calcutta, bà Ramabai cùng anh bà được mời tham dự một cuộc thờ phượng của các Cơ Đốc nhân ở đó. Họ được các tín đồ Đấng Christ đối xử khá tử tế, thân thiện. Buổi đầu tiếp xúc với các Cơ Đốc đồ đó, bà được quen biết các vị Mục sư như Banerji, Kali, Charan Banerji, và bà cũng nhận một quyển Thánh Kinh bằng Phạn ngữ lần thứ nhứt trong đời.

Điều làm bà Ramabai bất mãn với đạo Hindu nhất là trong Kinh sách Dharma Shastras, các bài ca tụng, văn thi, lời dạy của các thầy giảng kinh đạo ấy đều qui kết rằng: “Đã là phụ nữ thì dầu thuộc giai tầng nào của xã hội, hạ đẳng hay thượng lưu cũng đều xấu xa như ma quỉ; phụ nữ bất khiết, giả dối, họ không thể nào trở thành “Moksha” (thánh) như nam giới được… Họ chỉ được phép thờ lạy người chồng là thần của họ mà thôi”. Bởi đó khi đến tuổi trưởng thành, bà đã mất hẳn niềm tin nơi tín ngưỡng của bà.

Năm 22 tuổi, bà Ramabai lập gia đình với một luật sư người Bengali, thuộc giai cấp Shudra. Chung sống với nhau được 2 năm, chồng bà bị bạo bịnh và qua đời để lại cho bà một cháu gái chưa đầy một tháng tuổi. Tình cờ bà tìm thấy quyển Phúc Âm Lu-ca trong tủ sách của chồng (bằng tiếng Bengali). Tại Shilchar có một giáo sĩ thuộc Hội Báp-tít là ông Allen đã giải thích Tin lành cách cặn kẽ cho bà. Bà làm quen với Thánh Kinh và say mê thích thú nghe ông này đọc Lời Đức Chúa Trời mỗi khi bà rảnh việc nhà. Bà khát khao tìm hiểu chân lý Đạo Chúa, và nhất định tin thờ Ngài. Mặc dầu trước đó chồng bà rất hiểu biết Thánh Kinh và Cơ Đốc giáo, nhưng ông ta không tin và còn ngăn trở bà. Nên khi ông ta qua đời rồi, bà được giải thoát mà tự do tiếp nhận Chúa. Cũng bởi bà đã quá sức tuyệt vọng trong cả hai tôn giáo Hindu và Bà-la-môn. Đức tin bà trong Chúa Christ ngày một trưởng tiến nhờ sự dìu dắt, giúp đỡ tận tâm của các Cơ Đốc đồ giàu lòng nhân hậu như Tiến sĩ Bhadarkar cùng quí vị như Ranade, Modak, Kelkar; đặc biệt là cô Giáo sĩ Hurford thuộc Anh quốc giáo đã dạy bà Tân Ước bằng tiếng Marathi. Bà cũng tìm cách học nói tiếng Anh mặc dầu chưa đọc và viết được. Có Mục sư Father Goreh đôi khi cũng đến cắt nghĩa rõ về sự khác nhau giữa tôn giáo Hindu và Đạo Đấng Christ cho bà.

Đầu năm 1883 bà sang Anh quốc để học thêm về Thần học và thụ huấn chức vụ của người Truyền Bá Phúc Âm. Bà cư ngụ tại Wantage. Bà rất đỗi kinh ngạc khi đến thăm cơ sở phước thiện dành riêng cho nữ giới, do phần nhiều các nữ Cơ Đốc đồ đảm nhiệm. Tại cơ quan này chuyên hướng dẫn và cải Đạo cho những phụ nữ trụy lạc, hư hỏng; một việc làm mà đạo Hindu chẳng bao giờ màng đến. Đó là điểm nổi bật làm cho bà suy nghĩ về ưu điểm của Cơ Đốc giáo so với sự lạc hậu của Hindu giáo. Cuối năm 1883, bà đi đến quyết định hoàn toàn phó giao trọn đời mình cho Chúa và chịu Thánh lễ Báp-têm gia nhập Giáo hội Anh. Bà cũng có dịp đi Hoa kỳ học thêm Thần học 5 năm, và cũng để thì giờ đi quan sát tại chỗ các tổ chức từ thiện xã hội Tin lành. Bà cũng đụng phải mớ “bòng bong” của các giáo phái, nào là Báp-tít, Presbyterian, Methodist, Anh em hiệp nhất, La mã giáo, Thông công thế giới, Do-thái-giáo, Mormon, Cơ Đốc giáo khoa học, Thông thiên học,… làm cho bà bị một “cú sốc” khá mạnh đến mức độ bà phải bình phẩm rằng: “Các giáo phái phức tạp chẳng khác nào tháp Ba-bên của sự thờ lạy tà thần!”.

Có một thời gian bà Ramabai đã bị lạc lối bởi những sách giải kinh, bà chỉ biết Đấng Christ qua tri thức. Vậy bà quyết định chỉ học Thánh Kinh và nhờ cậy Thánh Linh dẫn dắt bà mới thật sự thỏa lòng đói khát thuộc linh, và được thâm giao với Chúa Giê-xu là niềm vui thỏa tràn đầy không gì so sánh được! Một ngày kia bà đến nhà xuất bản Bombay Guardian Press, và tình cờ đọc được quyển sách của ông Haslam tựa là “Từ sự chết qua sự sống”. Ông này đã trình thuật lại từng trải gặp Chúa một cách lạ lùng của ông. Ông là một vị Mục sư Anh quốc giáo nhưng chưa được tái sanh, có nghĩa là làm nhà mà chưa có nền tảng vững chắc. Điều làm cho bà Ramabai thích thú hơn hết là trong Đạo Chúa Giê-xu không có sự kỳ thị chủng tộc, và trong Đạo đó cũng dành chỗ đứng cho nữ giới trong Vương quốc Đức Chúa Trời. Tâm linh bà bây giờ đã tìm gặp Chúa một cách cá nhân mật thiết qua một cuộc giảng phục hưng gồm các vị Mục sư như Pentêcost, Haslam, Wilder, Riew, Gelson Gregson thay phiên nhau giảng dạy trong nhiều ngày tại Lonavala Camp Meeting, năm 1895.

Từ năm 1891 bà cũng khởi sự làm chứng về Chúa cho các bạn bè thân cận, giới quen biết; song chưa thấy hứng thú bao nhiêu trong công tác này. Nhưng sau khi được Chúa thăm viếng thì tinh thần đó khác hẳn. Năm 1883 bà được đọc các sách nói về công cuộc truyền giáo ở Trung Hoa nội địa của Hudson Taylor; đời sống và sự cầu nguyện linh nghiệm của George Muller và sự nghiệp truyền giáo của Giáo sĩ lừng danh John Parton, là người đã sáng lập Hội Truyền Giáo Tân Hi-bá-lai. Những kinh nghiệm từ chiều sâu tâm linh của ba nhân vật thủ lãnh Cơ Đốc giáo quan trọng này, đã in đậm nét trong tâm khảm bà. Bà rất được cảm kích và thúc đẩy khi đọc xong tiểu sử của họ. Bà ao ước và tự hỏi: “Tại sao các Giáo sĩ không có thể lập Hội Truyền giáo bởi đức tin tại nước Ấn độ của bà?”. Tức thì bà nghe Chúa phán: “Tại sao chính con không bắt tay làm việc này mà lại ước ao cho kẻ khác làm?”. Bà bị cáo trách bởi “tiếng êm dịu nhỏ nhẹ đó”. Cũng bởi tầm nhìn của bà cũng còn hạn hẹp, chứ thật ra, lần theo lịch sử Truyền giáo tại nước Ấn độ đã có vài ba Hội Truyền giáo hoạt động rồi. Tuy nhiên chỉ có những “Ngọn hải đăng bé nhỏ” lẻ tẻ ấy thì chưa đủ đâu.

Chừng cuối năm 1896, một trận đói lớn đã xảy ra tại Ấn độ. Bà Ramabai cảm biết lúc này bà được Chúa hối thúc phải làm gì? Thế là bà cậy ơn Chúa đứng lên lập ra Hội Truyền giáo ở tại Mukti. Đứng trước những nhu cầu thể xác và tâm linh quá lớn của đồng bào, bà thấy quá sức vĩ đại… Nhưng bà đã học bài học đức tin và bước đi với Chúa từng bước một. Những bối rối lo toan nào xuất hiện, bà luôn trao cho Chúa, nhờ Chúa giải tỏa. Bà chẳng có ngân khoảng dự chi, tài sản hay đầu tư vật chất nào về tài chánh để điều hành công việc to lớn này. Nhưng tất cả bà đều ngưỡng trông Đức Chúa Trời cung ứng theo lời hứa sắt đinh của Ngài; và cơ sở Truyền Giáo của bà chưa bao giờ phải thiếu hụt và ngày càng vững bước.

Gần 20 năm trước,bà đã đi thăm bạn bè ở ngoại quốc của bà ở Philadelphia, San Francisco, Nhật Bản, Trung Hoa rồi trở về Bombay. Bởi đó đã có nhiều người trung tín, thành thật hứa trợ giúp cho công tác từ thiện và cơ sở truyền giáo ở tại quê hương bà. Bà cũng mở trường huấn luyện các nhân sự cộng tác, hoặc nhà ở cho các quả phụ. Đầu năm 1905 bà tổ chức các buổi cầu nguyện đức tin, cầu xin sự phục hưng, và liên tục trong nhiều năm. Sáu tháng sau của năm thứ nhất, Chúa Thánh Linh phấn hưng nhà trường của bà và các Hội Thánh vùng lân cận. Dần dà cơ sở truyền giáo của bà phát triển cả hình thức đến nội dung nhiều mặt: Nào là khu nhà làm lưu xá cho chừng 2000 người, và cả nhà thờ khang trang do chính bà xây cất. Ngoài ra còn có khu thủ công mỹ nghệ do các phụ nữ đảm trách; một trường tiểu học, một khu tiểu công nghiệp gồm các nhà máy xay lúa, xay bột mì, kho bãi chứa hàng và lương thực, nhà nuôi gia súc, trụ sở Ban Truyền Giáo, khu dành cho công nhân ở bên ngoài vào làm việc cư trú và gia đình họ; nhà dưỡng lão của phụ nữ, khu bảo sanh và ngoại chẩn… Tất cả đều tọa lạc bên trong khu vực truyền giáo Mukti Mission. Ngoài ra còn có nhà in ấn các sách báo Cơ Đốc giáo.

Bà Ramabai cũng là một học giả khá thông thạo các cổ ngữ Thánh Kinh, cho nên bà đã dịch thẳng toàn bộ Thánh Kinh Cựu và Tân Ước từ nguyên bản Hi-bá-lai và Hy-lạp ra tiếng Marathi. Những công tác và công trình bà làm cho Chúa, vì Chúa và vì đồng bào đồng loại chắc chắn sẽ đạt nhiều thành quả về lâu về dài.

Xem ra, bà Pantida Ramabai thật là một phụ nữ xuất chúng của Cơ Đốc giáo đầu thế kỷ 20. Sống trong một xã hội đầy dẫy sự mê tín dị đoan, và hứng chịu biết bao sự bất công tàn ác, ảnh hưởng nặng nề về sự kỳ thị tôn giáo cũng như giới tính, bà Ramabai đã nhận được thiên khải về tình thương, ân sủng và sự cứu rỗi trong Chúa Giê-xu Christ. Từ khi gặp Chúa, vui lòng dâng hiến đời sống mình để làm lợi khí cho Nhà Đức Chúa Trời, bà đã tìm thấy ánh sáng trong Đạo thật của Chúa, “vì tại đây (dưới chân thập tự giá của Chúa Giê-xu và trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời) không còn phân biệt người Y-sơ-ra-ên hay người dân tộc nước ngoài; không còn nô lệ hay chủ nhân, không kể phụ nữ hay nam giới… Trong Đấng Christ thảy đều hiệp làm một; bức tường ngăn cách đã bị phá đổ rồi” (Ga-la-ti 3:28). Bà Ramabai đã tin nhận Chúa, cuộc đời bà được tái sanh, đổi mới. Và do tình yêu thương thiên thượng tác động, cảm thúc bà đã can đảm đứng lên lập một Hội Truyền Giáo lớn nhất nhì tại Ấn độ với những cơ sở bề thế cả về hình thức và chất lượng phục vụ; vừa cứu giúp vô số người thoát khỏi đói khổ trong đời sống vật chất, vừa đem ơn cứu rỗi của Thượng Đế giải thoát phần tâm linh của hàng ngàn người. Bà đã nắm chặt lấy Chúa cùng Lời Hứa của Ngài và bước đi, những bước đức tin không hề chao đảo; bà đã để lại sự nghiệp thuộc linh, cơ sở vật chất đồ sộ hiển hách làm gương sáng soi chung cho mỗi một Cơ Đốc hữu, và riêng cho nữ giới hàng nhiều thập kỷ về sau vậy.

Lên đầu trang