Phi-lát, Bôn-xơ

Phi-lát, Bôn-xơ Pontius Pilate. Ponce Pilate.

I. Nghĩa tên.– Tên Bôn-xơ tỏ ra vị quan nầy xuất thân từ bộ lạc Samnite, thường thấy trong lịch sử La-mã sau khi bộ lạc đó bị chinh phục. Tên Phi-lát chỉ về họ hoặc một nhánh của người Pontii mà Phi-lát thuộc về họ đó. Ấy là do gốc một chữ có nghĩa là “mũ người tôi mọi được tự do;” cũng có thể từ gốc một chữ khác có nghĩa là “một cây giáo.” Theo phong tục người La-mã thường có ba tên gọi, nhưng dường như Phi-lát không có tên thứ ba.

II. Nhậm chức tổng đốc.– (procurateur). Ngoài thời gian Phi-lát nhậm chức tại xứ Giu-đê, thì không có gì chắc chắn về sự ra đời, căn nguyên, và các năm đầu hành chức của vị quan nầy. Tacite khi nói về Néron đã hình phạt các tín đồ theo Chúa một cách thảm khốc, thì cho ta biết về Đấng Christ, từ Ngài các tín đồ được đặt danh là Cơ-rê-tiên. Đấng Christ đã bị xử tử bởi tổng đốc Phi-lát trong đời hoàng đế Tibère. Ngoài sự việc đó ra và thêm vài điều trong Tân-Ước có ghi lại, thì mọi sự biết thêm về Phi-lát phải nhờ hai văn sĩ Do-thái: sử gia Josèphe và nhà triết học Philon ở Alexandrie.

Phi-lát là tổng đốc thứ V của tỉnh Giu-đê. Lúc đó tỉnh Giu-đê là phía Nam, xứ Pha-lê-tin bao gồm xứ Sa-ma-ri, thuộc đế quốc La-mã, dưới quyền trực tiếp của hoàng đế La-mã.

Phi-lát chỉ có quyền về dân luật, binh bị, và hành tội, phải ở dưới quyền của quan khâm sứ tỉnh Sy-ri phía Bắc. Dưới sự cai trị của quan tổng đốc, dân Do-thái được tự trị song phải thừa nhận quyền của hoàng đế La-mã, như Tòa Công luận được phép tra án, song nếu muốn xử tử một người nào thì phải có quan tổng đốc công nhận. Theo sử gia Josèphe, Phi-lát kế chức Gratus và giữ chức 10 năm, sau đó bị cách chức bởi Vitellius, quan khâm sứ Sy-ri. Phi-lát vội vàng sang La-mã để binh vực mình trước hoàng đế Tibère, song trước khi Phi-lát tới La-mã thì Tibère đã qua đời. Sử gia Josèphe thêm rằng năm 36 S.C., Vitellius đến Giê-ru-sa-lem vào dịp Lễ Vượt Qua. Vì hoàng đế Tibère băng ngày 16 tháng Mars, 37 S.C., nên người ta tính Phi-lát hành chức tổng đốc từ khoảng những năm 27-37 S.C..

Hành chức tổng đốc tỉnh Giu-đê không phải là dễ. Phi-lát không lo làm hòa với những thành kiến tôn giáo người Do-thái, nên có khi thái độ đó dẫn đến sự xô xát giữa quan tổng đốc và dân sự. Theo sử gia Josèphe, một lần kia, Phi-lát sai lính đến thành Giê-ru-sa-lem, và đem theo những lá cờ có hình chim phụng hoàng và hình của hoàng đế La-mã. Dầu việc nầy Phi-lát bí mật cho đem vào thành ban đêm song không bao lâu dân sự khám phá ra. Tức thì, có các đoàn dân người Do-thái tức giận, vội vàng đến thành Sê-sa-rê, làm đơn xin Phi-lát cất bỏ những lá cờ đó. Trải qua 5 ngày, Phi-lát không chịu nghe, song đến ngày thứ 6, Phi-lát đứng trên trường án, và khi những đoàn dân Do-thái đó vào, thì Phi-lát truyền lính vây quanh họ và ngăm đe rằng nếu còn lôi thôi thì bị giết ngay lập tức. Những người Do-thái đó nằm lăn ra đất, giơ cổ ra, mà nói thà chết còn hơn chịu phạm Luật pháp. Phi-lát không muốn giết nhiều như thế, phải nhường bước và cất bỏ những lá cờ đó ra khỏi thành thánh.

Sau đó, Phi-lát lấy tiền thánh trong Đền thờ, gọi là Co-ban để trả tiền chi phí làm một cống dẫn nước (aqueduc) lên thành Giê-ru-sa-lem từ những cao nguyên ở phía Nam thành. Người Do-thái cho rằng ấy là lấy tiền thánh đã dâng cho Chúa để làm việc ngoại đạo, nên khi Phi-lát đến thành Giê-ru-sa-lem thì dân sự nhóm họp lại mà lằm bằm. Song Phi-lát biết trước, nên cho một toán lính ăn mặc giả thường dân đứng lẫn lộn với dân sự, và khi Phi-lát ra hiệu thì toán lính xông vào những kẻ dấy loạn mà đánh, có kẻ chết, người bị thương, những người khác thì sợ hãi trốn đi. Philon cũng viết một lần khác Phi-lát biếu những cái khiên bọc vàng để trong lâu đài Hê-rốt để tôn kính hoàng đế. Trên những khiên đó chỉ có tên người biếu và người được tôn kính, không có gì thật phạm đến Luật pháp Do-thái, nhưng những người Do-thái làm đơn xin quan cất những khiên đó đi. Khi quan không chịu thì họ làm đơn kêu lên hoàng đế Tibère, thì Tibère ra lịnh cho Phi-lát phải dời các khiên đó đến thành Sê-sa-rê.

Khi có ngày lễ trọng thể tại Giê-ru-sa-lem, các quan tổng đốc hay lên thành và ở tại lâu đài Hê-rốt. Chắc là lúc có ngày lễ như thế, thì Phi-lát đã “giết mấy người Ga-li-lê, lấy huyết trộn lộn với của lễ họ” (Lu 13:1). Những người Ga-li-lê có tánh hay náo động, vậy khi họ lên thành Giê-ru-sa-lem có khi làm điều trái phép. Không có cớ tin rằng Phi-lát làm như vậy nếu những người Ga-li-lê đó không dấy loạn trước. Có lẽ vì cớ Phi-lát đối đãi với các tùy tùng vua Hê-rốt như vậy, thì đã làm mất lòng Hê-rốt. Về sau Phi-lát làm hòa với Hê-rốt trong ngày ông giao Chúa Jêsus cho Hê-rốt xử, vì cớ đó tỏ ra quan nhận biết quyền của Hê-rốt về những người Ga-li-lê (Lu 23:6-12).

Sử gia Josèphe có viết về việc thế nào Phi-lát bị cách chức. Nguyên nhân là: có một người đã lừa gạt dân Sa-ma-ri, hứa sẽ chỉ cho họ những khí dụng thánh mà Môi-se đã giấu, nên có nhiều người Sa-ma-ri nhóm họp dưới chân núi Ga-ri-xim. Lúc họ sắp lên núi thì đoàn kỵ binh của Phi-lát đã xông vào dân chúng và giết rất nhiều người. Bởi đó, dân Sa-ma-ri phái người đến cùng Vitellius là quan khâm sứ tỉnh Sy-ri mà kiện Phi-lát về tội giết người. Muốn đẹp lòng người Do-thái thì Vitellius đã cách chức Phi-lát, cử Marcellus lên thế cho, và bảo Phi-lát phải sang La-mã để binh vực mình trước hoàng đế. Vì hoàng đế Tibère qua đời trước khi Phi-lát tới, nên có lẽ Phi-lát không bị khép án. Từ đó lịch sử không có chép gì về Phi-lát nữa. Những lời truyền khẩu nói cuối cùng Phi-lát rất buồn và đã tự tử, nhưng không có bằng chứng gì về điều nầy.

III. Phi-lát và Chúa Jêsus.– Khi so sánh bốn sách Tin lành chép về Phi-lát, thì thấy mọi tiểu tiết trong các truyện tích thật hiệp nhau, không có sự gì khó hiểu. Nên chú ý, vì Giăng dường như có dịp tiện đặc biệt tức là có mặt khi xử Chúa, nên biết tường tận hơn.Vậy có thể tỏ rõ mấy sự còn lờ mờ trong ba sách Tin lành khác.

Những phần về truyện xử Chúa trước mặt Phi-lát chép trong bốn sách Tin lành có thể sắp đặt hiệp nhau như sau: Chúa Jêsus bị giải đến trước Phi-lát (Mat 27:2; Mác 15:1; Lu 23:1; Giăng 18:28). Phi-lát hỏi những người Do-thái kiện Chúa về khoản gì (Giăng 18:29-32). Phi-lát vào trong trường án, hỏi Ngài về chức vụ vua của Ngài, và Ngài đáp lại rằng Ngài cai trị nước lẽ thật và lòng người nào nhận biết lẽ thật. Phi-lát bèn hỏi: “Lẽ thật là cái gì?” (Mat 27:11; Mác 15:2; Lu 23:3; Giăng 18:33-38). Phi-lát dẫn Ngài ra (đây là tiểu tiết độc nhứt phải thêm để cho bốn sách hiệp nhau), và có nhiều người cáo Ngài. Phi-lát lấy làm lạ vì Ngài không đáp lời (Mat 27:12-14; Mác 15:3-5). Phi-lát chứng quyết Ngài vô tội, song người ta cứ kiện lập lại (Lu 23:4…). Phi-lát giải Ngài đến vua Hê-rốt, vua nầy chế giễu Ngài, mặc cho Ngài một cái áo rực rỡ, và giao trả lại cho Phi-lát (Lu 23:6-12). Phi-lát tuyên bố rằng cả Hê-rốt và mình cũng không thấy Ngài có tội gì, chỉ truyền đánh đòn và có ý thả Ngài đi (Lu 23:13-16; Giăng 18:38). Phi-lát muốn tha Ngài theo tục lệ xưa (Mat 27:15-18; Mác 15:6-10; Giăng 18:39). Vợ Phi-lát sai người đem tin đến Phi-lát, xin đừng hại Chúa Jêsus, vì nàng đã vì Ngài đau đớn nhiều trong cơn chiêm bao (Mat 27:19). Vì bị các thầy cả và trưởng lão xui giục nên dân chúng đã chọn tha Ba-ra-ba là một tên cướp, và mặc dầu Phi-lát mấy lần phản đối, họ cứ xin đóng đinh Ngài (Mat 27:20-23; Mác 15:11-14; Lu 23:18-23; Giăng 18:40).Phi-lát rửa tay trước dân chúng bởi dấu đó tỏ ra ông không chịu trách nhiệm về việc nầy, và dân sự xin tội đó đổ trên mình và con cái họ (Mat 27:24…) Phi-lát tha Ba-ra-ba và sai đánh đòn Ngài (Mat 27:26; Mác 15:15; Lu 23:24…). Chúa Jêsus bị đánh đòn, bị nhiếc móc, vả má và đấm (Mat 27:27-31; Mác 15:16-20;Giăng 19:1-3). Vậy, Phi-lát lần nữa tuyên bố Chúa Jêsus vô tội, kéo Ngài ra, và nói: “Kìa, xem người nầy.” Các thầy tế lễ và các quan kêu lên: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự.” Họ tố cáo Ngài về sự xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Phi-lát nghe nói thế thì càng sợ hơn, và lần nữa hội kiến cùng bị cáo trong trường án. Phi-lát lần nữa thử tha Ngài, song bị dân Do-thái cáo ông là không trung thành với hoàng đế La-mã. Như vậy, Phi-lát bị thua, ngồi trên ghế xử án, mà nói: “Vua các ngươi kia kìa?” Lần nữa, dân sự kêu lên: “Hãy trừ hắn đi! trừ hắn đi, Đóng đinh hắn trên cây thập tự đi!” Phi-lát hỏi: “Ta sẽ đóng đinh Vua các ngươi lên thập tự giá hay sao?” Các thầy tế lễ cả, lần cuối cùng bỏ mọi điều Đức Chúa Trời đã ban cho mình, mà nói: “Chúng tôi không có vua khác chỉ Sê-sa mà thôi” (Giăng 19:4-15). Phi-lát kết án Chúa Jêsus và truyền đóng đinh Ngài, thì Ngài bị điệu đi (Mat 27:31; Mác 15:20; Lu 23:26; Giăng 19:16). Phi-lát viết một danh hiệu trên thập tự và không chịu thay đổi (Giăng 19:19-22). Những người Do-thái xin Phi-lát cho đánh gãy chân ba người bị đóng đinh (Giăng 19:31) Giô-sép người A-ri-ma-thê xin xác Chúa nơi Phi-lát (Mat 27:57, 58; Mác 15:42…; Lu 23:50-52; Giăng 19:38). Phi-lát nghe tin Chúa Jêsus chết mau như thế, thì lấy làm lạ mà hỏi thầy đội (Mác 15:44). Phi-lát cho phép Giô-sép lấy xác Ngài (Mat 27:58; Mác 15:45; Giăng 19:38). Các thầy cả và người Pha-ri-si được Phi-lát cho phép đề phòng kẻo có người đến lấy trộm xác Ngài (Mat 27:62-66).

Sách Công vụ các sứ đồ chỉ nói đến Phi-lát ba lần (3:13; 4:27; 13:28). Cũng nói đến trong ITi 6:13, Khi Phao-lô xưng rằng “Chúa Jêsus là Đấng làm chứng tốt nơi Bôn-xơ-phi-lát.”

IV. Tánh nết Phi-lát.– Theo Philon, nhà triết học Do-thái tại thành Alexandrie, thì Phi-lát là người độc đoán, không biết thương xót, và cố chấp. Philon lại nói Phi-lát có tánh khí hung dữ, bại hoại, xấc xược, hay bóc lột, có thói mắng chưởi, độc ác, thường giết người khi chưa tra xét và lên án, và thật là người vô nhân đạo. Song ấy là những lời nói quá đáng, vì thấy trong bốn sách Tin lành, Phi-lát, mặc dầu có nhiều sự lầm lỗi, song cũng thử tra án một cách phải lẽ. Phi-lát giữ những luân lý đời bấy giờ của người đồng hàng với mình, và dường như có thử làm mẫu mực đó. Song trong Phi-lát không có nền tảng đạo đức tốt, như tỏ ra bởi câu hỏi nghi ngờ: “Lẽ thật là cái gì?” Khi Phi-lát thấy nếu cứ lấy lẽ công bình mà tra xét thì có cơ nguy đến chức phận của mình, nên dầu khó chịu và xấu hổ, ông cũng nhượng bộ trước yêu sách của người Do-thái. Phi-lát y án Chúa phải đóng đinh trên thập tự, song trước đó ông đã hết sức tìm thế để cứu Ngài, trừ ra một cách đơn sơ và ngay thẳng là thả Ngài đi. Phi-lát có tánh kiêu căng của giai cấp thống trị, và rất khinh miệt dân bị mình cai trị. Càng khinh bỉ bao nhiêu, thì càng cảm thấy xấu hổ bấy nhiêu, khi phải nhượng bộ trước dân mình khinh bỉ. Theo lối tiểu nhân, Phi-lát báo thù những người Do-thái bằng cách gọi Đấng Christ là Vua của họ, và từ chối không chịu thay đổi danh hiệu nhạo báng đó trên thập tự. Chắc Phi-lát biết khi lên án Ngài là làm trái với lương tâm mình. Phi-lát biết lẽ phải, song vì cớ ích kỷ và nhút nhát nên không làm theo lẽ phải. Phi-lát đối diện với một việc đạo đức rất quan trọng, thì đã thất bại. Vậy, ta căn cứ vào sự tra án Chúa thì biết Phi-lát mắc tội, song không bằng những nhà lãnh đạo tuyển dân của Ngài.

Trích lược: J. Macartney WILSON.

Lên đầu trang