Phi-e-rơ, Thơ thứ hai

Phi-e-rơ, Thơ thứ hai The Second Epistle of Peter. Deuxième Éptre de Pierre.

I. Chứng cớ thơ là thật.—

1. Chứng cớ bề ngoài.– Giáo phụ đầu tiên nói đến thơ nầy bằng tên là Origène (chừng vào năm 240 S.C.) trong bài giải nghĩa Giô-suê thì nói đến hai thơ tín của Phi-e-rơ, và chỗ khác trích IIPhi 1:4 “trở nên người dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời.” Nhưng Origène cẩn thận viết: “Phi-e-rơ đã để lại một thơ tín được công nhận, và có lẽ thơ tín thứ hai vì có người bàn cãi.” Eusèbe, giám mục tại Sê-sa-rê, đã đặt thơ nầy vào hàng các sách Antilegomena (tức là sách còn phải bàn luận). Jérôme cũng biết vậy, song cho vào bản Vulgate của mình, và nguyên nhân chính khiến ông lưỡng lự là “lối văn khác với IPhi-e-rơ, ” có lẽ vì “Phi-e-rơ dùng hai người thông dịch khác nhau.” Song có các giáo sư và học giả trứ danh ngang với ba giáo phụ kể trên, như Athanase, Augustin, Epiphanius, Rufinus, và Cyril công nhận thơ thứ hai nầy là thật của Phi-e-rơ. Trong cuộc Cải chánh giáo hội, Erasmus thì không công nhận, nhưng Luther nhận là thật, còn Calvin thì lưỡng lự như Jérôme. Trong thế kỷ thứ IV S.C., hai giáo hội nghị tại Lao-đi-xê chừng vào năm 372, và tại Carthage, năm 397 S.C., đã công nhận thơ nầy và sắp vào Kinh Thánh coi như có quyền phép bằng các sách khác trong Tân Ước. Khi cân nhắc các chứng cớ bên ngoài, ta có thể công nhận thơ nầy là thật, và Phi-e-rơ được cảm động bởi Đức Thánh Linh mà chép (1:21).

2. Chứng cớ trong thơ.– Khi tra xét thơ nầy cách cẩn thận thì ta nhận biết có đủ chứng cớ tỏ ra là thật. a) Dầu rằng cách hành văn, lối sắp đặt, và tài liệu của thơ thứ hai khác với thơ thứ nhứt, nhưng có nhiều lời (nguyên văn) không dùng trong các sách khác của Kinh Thánh, mà lại dùng chung trong hai thơ Phi-e-rơ như: “quí báu” (IIPhi 1:7, 18; IIPhi 1:1). Dầu nhiều lần dùng trong Khải Huyền, nhưng ít thấy trong sách khác; “nhơn đức” (IIPhi 2:9; IIPhi 1:3), chỉ thấy trong Phil 4:8; “ban” (chorégei, tức cung cấp) (IIPhi 4:11; IIPhi 1:5), ít dùng trong sách khác; “lòng yêu thương anh em” (IIPhi 1:22; IIPhi 1:7), chỉ thấy trong ba chỗ khác; “thấy” (IIPhi 2:12; 3:2, động từ IIPhi 1:16, tên), không thấy chỗ nào khác; “không lỗi, không vít” (IIPhi 1:19; IIPhi 3:14 so với IIPhi 2:13, ý trái lại); “asebòn” tức kẻ không tin kính (IIPhi 4:18; IIPhi 2:5; 3:7), chỉ dùng trong ba chỗ khác ngoài thơ Giu-đe dùng ba lần. Cũng có nhiều tư tưởng và những danh từ giống nhau trong hai thơ, xin trích hai chỗ làm thí dụ: trong thơ thứ nhứt, người được cứu gọi là “người được chọn” (1:1) và “người được kêu gọi” (2:21). Trong thơ thứ hai, hai ý đó chép trong một câu (1:10). Cũng vậy, trong cả hai thơ, Phi-e-rơ chú trọng về lời tiên tri (IIPhi 1:10-12; IIPhi 1:19-21). Những sự đó tỏ ra trước giả thơ thứ hai rất thông thạo những sự đặc biệt về lối văn dùng trong thơ thứ nhứt, và cũng dùng những danh từ chung ít khi dùng trong sách khác. Những sự khác nhau trong hai thơ là do đề mục của hai thơ và mục đích khác nhau. Thơ thứ nhứt, trước giả tìm cách an ủi, làm cho vững vàng và nâng đỡ các anh em đang bị bắt bớ; thơ thứ hai, tác giả lo cảnh cáo và che chở anh em khỏi những sự nguy hiểm nặng nề hơn sắp xảy đến, và những sự đó đáng lo sợ hơn những sự đau đớn do người ngoại gây nên. Thơ thứ nhứt, “thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời” (4:17, 18), và các tín đồ cần sửa soạn không phải để chống với kẻ bắt bớ nhưng để chịu đau đớn hoặc chịu chết vì danh Chúa (4:1); thơ thứ hai tỏ ra những tình cảnh khác hẳn: vì có những kẻ gian ác giữ những phong tục bại hoại, và thực hành những sự tà tịch, tư dục, v.v. chỉ chực xông vào Hội Thánh. Trước giả biết rằng nếu cứ để như vậy, thì sự gian ác sẽ càng thêm lên và tiêu diệt Hội Thánh, nên báo trước và tố cáo những sự đó bằng tâm thần và nghị lực của một tiên tri Đức Chúa Trời.

3. Trước giả là Phi-e-rơ.– Giáo phụ Firmilian tại Cáp-ba-đốc có viết: “Hai thơ Phi-e-rơ cảnh cáo tín đồ phải tránh khỏi những tà giáo; mà những sự cảnh cáo đó nhấn mạnh ở trong thơ thứ hai chớ không phải thơ thứ nhứt”. Vậy, từ Cáp-ba-đốc, một trong các xứ tiếp nhận thơ (IIPhi 1:1; IIPhi 3:1), có chứng cớ trước nhứt tỏ ra thơ thứ hai là thật. Thơ thứ hai mở đầu “Si-môn (nguyên văn: Siméon) Phi-e-rơ, làm tôi tớ và Sứ đồ của Chúa Jêsus Christ” (1:1). Nên chú ý về tên Hê-bơ-rơ xưa đó tức Siméon, vì nếu có người giả mạo viết thơ nầy chắc đã bắt chước câu mở đầu thơ thứ nhứt: “Phi-e-rơ, Sứ đồ của Chúa Jêsus Christ.” Cũng nên chú ý thơ thứ hai thêm “tôi tớ” nữa. Theo Dods, “dầu có mấy bản giả mạo trong đời Hội Thánh đầu tiên, nhưng không bản nào có giá trị được viết bởi người mượn tên một Sứ đồ.”

4. Tín đồ sùng đạo.– Vả lại, trước giả là tín đồ sùng đạo, vì đã gởi thơ cho “những kẻ cậy sự công bình của Đức Chúa Trời chúng ta và của Cứu Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi” (1:1). Trước giả mong rằng hết thảy tín đồ với mình đều được “dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời” (1:3, 4). Chắc một người có đức tin và sự trông đợi dường ấy không thể cố ý giả mạo Si-môn Phi-e-rơ là Sứ đồ Ngài. Tác giả hết sức tố cáo những giáo sư giả, làm bại hoại kẻ khác, và làm sai lạc chân lý. Tác giả lấy sự sa ngã của các thiên sứ, sự hủy diệt thành Sô-đôm, và sự quở trách Ba-la-am làm gương để răn dạy về số phận gớm ghê của người đã biết lẽ thật mà còn sống trong tội lỗi. Một tín đồ Đấng Christ, lại là tôi tớ Ngài, chắc không thể phạm những điều mình hết sức công kích.

5. Quan hệ với các Sứ đồ.– Vả lại, trước giả có liên hệ mình với các Sứ đồ khác (3:2); hiệp ý với Phao-lô, quen biết các thơ tín (3:15, 16), và đã giữ cùng dạy những lẽ thật cốt yếu của Sứ đồ đó. Toàn thể bức thơ thể hiện tinh thần của một Sứ đồ, nếu như người giả mạo chắc không thể có. Trước giả nói về sự thuần túy của đức tin, và sự thánh khiết cùng sự trung tín của tín đồ, khuyên rằng: “Phải làm hết sức mình hầu cho Chúa thấy anh em ở bình an, không dấu vít, chẳng chỗ trách được” (3:14), và “hãy tấn tới trong ơn điển và sự thông biết Đức Chúa Jêsus Christ” (3:18). Những điều ấy đủ chứng minh là Sứ đồ Đấng Christ chép, và tỏ ra thơ là thật.

6. Những điều Sứ đồ tự thuật.– Còn nữa, tác giả kể ra mấy sự thực trong đời mình tỏ ra chính là Phi-e-rơ. Như nói: “Ở trong nhà tạm nầy… như Chúa Jêsus Christ chúng ta đã bảo cho tôi” (1:13, 14). Ấy chắc chỉ về Giăng 13:36; 21:18, 19. Phi-e-rơ xưng mình đã chứng kiến Chúa hóa hình (1:16-18). Phi-e-rơ gián tiếp nhận mình được soi dẫn vì nếu không có sự soi dẫn thì không có lời tiên tri thật nào (1:19-21). Phi-e-rơ quả quyết thơ nầy là thơ thứ hai mình (3:1). Lời chứng trong thơ về phần tác giả là riêng biệt, rõ ràng và trực tiếp. Lời chứng đó rất giống với cách Phi-e-rơ nói về mình tại giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem: “Hỡi anh em, hãy biết rằng từ lúc ban đầu, Đức Chúa Trời đã chọn tôi trong các anh em, để cho người ngoại được nghe Tin lành bởi miệng tôi và tin theo” (Công 15:7).

7. Thơ Giu-đe trích lược.– Giu-đe dường như trích từ IIPhi-e-rơ. Xem bài Giu-đe, Thơ. Dầu có học giả cũng chưa nhứt định chắc chắn thơ nào chép trước trong hai thơ IIPhi-e-rơ và Giu-đe, nhưng có một nhà học giả rất trứ danh là Zahn, đã đưa ra nhiều lý cớ rất mạnh mẽ để binh vực ý kiến cho rằng thơ thứ haIPhi-e-rơ chép trước thơ Giu-đe đã lâu, và Giu-đe trích lại. Xin tóm tắt như sau đây:

1) Giu-đe lấy từ những bản viết ngoài Kinh Thánh, như các Apocryphes về Hê-nóc và Môi-se, song Phi-e-rơ ít trưng dẫn sách nào. Vậy, có lý Giu-đe trích IIPhi 2:1–3:3 hơn là Phi-e-rơ trích Giu 4-16. Sự giống nhau giữa hai khúc sách đó rất đúng đến nỗi chắc người nầy đã chép tư tưởng và ngôn ngữ của người kia, hoặc cả hai lấy từ một nguồn chung. Nhưng về thuyết thứ hai, không có chút chứng cớ nào. Sự khác nhau cũng như sự giống nhau là rất rõ, tuy nhiên người trích lại không phải là người bắt chước. Sự khác nhau thật là ở lời nói tiên tri và sự ứng nghiệm.

2) Phi-e-rơ dự ngôn về các giáo sư giả sẽ đến (2:1). Những động từ chính mà Phi-e-rơ dùng là thì tương lai (2:1, 2, 3, 12, 13). Dầu Phi-e-rơ dùng thì hiện tại để mô tả tính cách và phép cư xử của “bọn được tự do” (2:17, 18 so Công 6:9); song sự hiện diện và sự dạy dỗ tai hại của họ, Phi-e-rơ dùng ở thì tương lai (2:13, 14). KhIPhi-e-rơ viết thơ đã có những hạt giống tai hại nầy gieo ra và sau lớn lên cách mau chóng. Trái lại, Giu-đe suốt cả bức thơ ngắn mình viết nói về những người bại hoại đó như đã đến rồi; họ đang hiện có và đang hoạt động ở giữa dân Chúa.

3) Giu-đe hai lần nói đến mấy nguồn tin tức về các kẻ thù nghịch đó mà các độc giả quen biết, và Giu-đe định dùng nó để cảnh cáo độc giả tránh khỏi sự nguy hiểm và giữ họ khỏi sự phản bội. Hai nguồn đó là: a) một bản viết về “những kẻ chẳng tin kính đổi ơn Đức Chúa Trời chúng ta ra việc tà ác, chối Đấng Chủ tể và Chúa có một của chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ” (Giu 4). b) Lời dự ngôn của IIPhi 3:3. “Trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình.” Giu-đe nhắc cho các độc giả nhớ những lời mà các Sứ đồ Đấng Christ đã nói trước, khi trích lời dự ngôn nầy của IIPhi-e-rơ, và ứng dụng lời dự ngôn đó cho bọn được tự do đang làm những công việc ô uế. “Ấy chính chúng nó là kẻ gây nên phe đảng, thuộc về tánh xác thịt, không có Đức Thánh Linh” (Giu 19). Chắc Giu-đe trích từ IIPhi-e-rơ, không thể nói khác. 4) Niên đại học cũng đặt IIPhi-e-rơ trước. Phi-e-rơ chết giữa khoảng những năm 63-67 S.C., có lẽ 64 S.C.. Phần đông các nhà giải nghĩa ngày nay định niên hiệu thơ Giu-đe chép vào khoảng 75-80 S.C.. Vậy, không còn ngờ gì nữa. Chắc thơ Giu-đe chép sau khi Giê-ru-sa-lem bị hủy phá năm 70 S.C.. Theo đó thơ Giu-đe chép sau khIPhi-e-rơ qua đời chừng 5 đến 10 năm. Như vậy, thơ Giu-đe làm chứng rằng thơ IIPhi-e-rơ là bởi Sứ đồ chép và có được công nhận nữa, vì Giu-đe nhận biết Phi-e-rơ là Sứ đồ và có được tâm thần tiên tri. II. Những sự dạy dỗ về lẽ đạo.– Đây chỉ nói đến một vài sự đặc biệt:

1. Sự biết để được cứu.– Lời chìa khóa của IPhi-e-rơ là “sự trông cậy”; của IIPhi-e-rơ là “sự biết”. Sứ đồ cho ân tứ nầy một vị trí quan trọng, (1:2, 3, 5, 6, 8; 2:20, 21; 3:18). Chữ Phi-e-rơ dùng dây có nghĩa mạnh là sự hiểu biết đầy dẫy, tức sự biết lập trên sự thực, sự nầy đến cùng tín đồ như một điều siêu phàm, được ban cho bởi Thánh Linh Đức Chúa Trời, do đó là chân thật và trọn vẹn. Ân điển và sự bình an Phi-e-rơ cầu cho các tín đồ là kết quả của sự biết Đức Chúa Trời và Chúa Jêsus Christ, là Đấng đã ban cho ta mọi sự thuộc sự sống và sự tin kính bởi thông biết Ngài (1:2, 3).

a) Nền tảng của sự biết để được cứu là nhờ “những lời hứa rất quí rất lớn” mà Ngài đã ban cho ta, và thuộc về ta bởi đức tin trong Ngài. Sự biết đó khiến ta quen biết sự công bình của Đức Chúa Trời, trong việc ta được gọi là thánh đồ, và số phận vinh hiển đang đợi chờ những người biết và tin cậy Đức Chúa Trời (1:2-4).

b) Sự lớn lên trong sự biết thật (1:5-11) “phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhơn đức, ” v.v… Phi-e-rơ không đòi tín đồ cần có được đức tin, vì họ đã có rồi. Song Sứ đồ lấy đức tin làm nền tảng cho tất cả, mà khởi sự khuyên họ phải gắng sức “thêm cho” để những sự tốt lành và đức hạnh được dồi dào. Chữ căn nguyên “thêm cho” là từ một chữ Hy-lạp “choeur” tức ban hát, vì những người trong ban hát đều được viên giám đốc cung cấp mọi sự cần dùng. Cũng một lẽ ấy, Phi-e-rơ ứng dụng điều đó, khuyên các tín đồ hết sức nhờ Chúa cung cấp cho mình những ân tứ và đức hạnh kể trên, vì đối với các tín đồ những sự đó còn cần hơn mọi điều viên giám đốc cung cấp cho ban hát xưa.

IIPhi 1:5-7. –Đây, Phi-e-rơ tả một chùm trái xinh đẹp dường nào. Mỗi trái ra và được thêm sức từ trái khác. “Thêm” (cung cấp) “cho đức tin mình sự nhơn đức, ” hoặc sự bền vững, hùng tráng; và cung cấp “cho nhơn đức sự học thức.” Sự học thức ở riêng hay sanh kiêu ngạo song ôn hòa với sự tiết độ (sự tự chủ), nhịn nhục tin kính, và yêu thương, thì trở nên một trong các đức tính rất cần thiết trong các tánh hạnh của tín đồ. Trong Ga 5:22 Phao-lô kể những bông trái Thánh Linh bắt đầu với sự yêu thương; còn Phi-e-rơ đặt sự yêu thương ở cuối cùng. Vậy, những trái đó như một sợi dây xích, vòng nầy móc với vòng khác, và mỗi vòng là một phần của xích. Không cứ khởi sự tính từ vòng nào, vì các vòng hiệp nên một xích, như vậy rờ tới vòng nào tức là rờ tới cả xích. Đức Chúa Trời đã ban cho cách nhưng không những sự gì cần cho ta, và mọi sự ta cần. Vậy, chúng ta “phải gắng sức” để cung cấp sự cần dùng cách dồi dào.

c) Nguồn sự biết để được cứu không sai lầm.– (1:16-21). Sứ đồ lập điều mình dạy dỗ trên hai sự thực đáng tin: 1) Thực sự và ý nghĩa sự Hóa hình của Cứu Chúa; 2) Thực sự về Đức Thánh Linh soi dẫn. Xét cả hai sự thực nầy chung với nhau thì đủ biết sự dạy dỗ của Phi-e-rơ là đúng đắn và không sai lầm. “Khi chúng tôi” đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Chúa Jêsus Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài (1:16). Những thần thoại ngoại đạo lúc đó, lan rộng, phổ biến trong xứ Tiểu A-si. Thật thế, trên cả thế giới ngoại đạo có những “chuyện khéo đặt để” và làm đẹp bằng cách thi sĩ hóa những câu chuyện đó. Thần thông đạo của người Do-thái và những tư tưởng dông dài từ trong vòng anh em giáo hữu không thấy trong sứ mạng Tin lành và sự dạy dỗ của các Sứ đồ. Điều Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng dạy là chân lý đích thực của Đức Chúa Trời, vì trên núi Hóa hình các Sứ đồ đã thấy sự vinh hiển chói lòa của Con Đức Chúa Trời, nghe tiếng Ngài, và thấy hai vị khách đến từ thế giới vô hình, tức Môi-se và Ê-li. Trong câu 19, Phi-e-rơ thêm: “Nhơn đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn.” Sự hóa hình đã chứng quyết những lời dự ngôn về tương lai của các tiên tri, và về mục đích Đức Chúa Trời đầy dẫy đất bằng vinh quang Ngài. Mọi lời Ngài phán sẽ được ứng nghiệm. Vả lại, Phi-e-rơ cũng lấy sự soi dẫn của Đức Thánh Linh để chứng quyết về sự dạy dỗ của mình. “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.” Phi-e-rơ coi sự soi dẫn đó là thật nên không chịu theo “chuyện khéo đặt để.”

2. Ba thế giới.– Trong 3:5-13, lẽ tự nhiên Phi-e-rơ không nói đến ba địa cầu, song nói đến ba thời kỳ lớn, là ba thời rất dài trong lịch sử trái đất.

a) Thế gian đời thái cổ. “Thế gian bấy giờ” (3:6), ấy là thế gian thứ nhứt, có trước Nước lụt, đã bị hủy phá. Những kẻ giễu cợt đã hỏi cách mỉa mai: “Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế” (3:4). Những kẻ nhạo báng lúc bấy giờ cũng như hiện nay thấy những qui luật trong cõi thiên nhiên cứ hành động không thay đổi. Không có triệu chứng sự thay đổi, nên không thể có tai họa nào. Lời hứa Ngài sẽ đến là không có. Song Phi-e-rơ nhắc lại cho những kẻ nhạo báng đó rằng xưa đã thật có một tai họa lớn, tức cơn hồng thủy tràn ngập thế gian. Mọi sinh vật đều chết đuối trong nước, trừ ra 8 người và những sinh vật ở trong tàu Nô-ê. Chuyện ấy là thật có trong lịch sử, câu hỏi của những người nhạo báng kia chỉ là dại dột.

b) Thế gian hiện tại. Thế gian thứ hai mà Phi-e-rơ nói tới là “những trời đất thời bây giờ” (3:7). Ấy chỉ về trật tự trời đất như đang có hiện nay. Phi-e-rơ chép trời đất nầy “để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét, và hủy phá kẻ ác.” Có lời chua thay chữ “để dành cho lửa” là “chứa lửa.” Ấy là từ trong đất chứa những chất có thể khiến đất tự cháy. Sự Tái lâm của Đấng Christ và sự phán xét trong Kinh Thánh đều liên quan với lửa: “Đức Chúa Trời chúng tôi đến, không nín lặng đâu. Trước mặt Ngài có đám lửa cháy thiêu, chung quanh Ngài một trận bão dữ dội” (Thi 53:1- so Ês 66:15, 16; Đa 7:10, 11). Tân Ước cũng chép: Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng” (IITê 1:7).

Dưới đất có vô số chất phát hỏa như dầu và hơi khí, khi nào Chúa muốn, có thể thiêu đốt trong nháy mắt thế gian nầy ra tro bụi. Nhưng lờIPhi-e-rơ nói không có nghĩa chỉ về sự tiêu diệt trái đất, hoặc chỉ về trái đất sẽ tan nát đến nỗi không còn là một vật thể nữa. Chỉ về thời cuối cùng Phi-e-rơ nói về những sự chấn động của vũ trụ, và những sự biến cách về phần vật chất cả trời và đất đến nỗi hành tinh nầy sẽ đổi mới và trở nên vinh quang và tốt đẹp.

3. Thế gian mới. Thơ chép về thế gian thứ ba như sau: “Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới, đất mới, là nơi sự công bình ăn ở” (3:13), ấy thật là Thiên Đàng. Có chứng cớ chắc chắn cho sự trông đợi trong hai đoạn cuối của sách Khải Huyền: “Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa” (Khải 21:1). Khi những lời tiên tri nầy được ứng nghiệm thì sẽ bao gồm một sự thay đổi cốt yếu trong sự tổ chức trái đất mới. Nếu biển không còn, theo sự sắp đặt ngày nay, thì không thể có sự sống. Nhưng Đấng đã dựng nên thế gian có thể tái tạo mọi thứ, trừ sạch mọi vết tích của tội lỗi, khốn khổ, và bất toàn, để làm cho thế gian xứng đáng cho người trọn lành ăn ở, cho sự vinh hiển cao cả Ngài ngự. Em-ma-nu-ên sẽ ngự với những dân cư thánh của đất mới và trong Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời mà xuống. Chúa truyền cho Giăng: “Hãy chép vì những lời nầy đều trung tín và chơn thật” (Khải 21:5).

Trích lược: William G. MOOREHEAD.

Tiến sĩ Scofield chú thích về IIPhi-e-rơ:

Tác giả. Sứ đồ Phi-e-rơ (1:1).

Niên hiệu. Có lẽ 66 S.C..

Đại ý.– Thơ IIPhi-e-rơ và IITi-mô-thê có nhiền vấn đề giống nhau. Trong hai thơ, hai tác giả biết rằng giờ tử vì đạo của mình gần đến (IITi 4:6; IIPhi 1:14 so Giăng 21:18, 19); cả hai được nâng đỡ và vui vẻ. Đặc biệt; cả hai đều được thấy trước sự bội đạo kết thúc thời cuối cùng lịch sử Hội Thánh hữu hình. Phao-lô thấy sự bội đạo trong bậc cuối cùng, khi các tín đồ thường đã trở nên hư xấu (IITi 3:1-5; 4:3, 4); Phi-e-rơ tìm căn nguyên của sự bội đạo là vì các giáo sư giả (IIPhi 2:1-3, 15-19). Trong Phi-e-rơ các giáo sư giả chối bỏ lẽ thật của sự cứu chuộc (2:1); ta thấy trong thơ IGiăng một trình độ càng sâu hơn tức sự chối bỏ lẽ thật về ngôi vị Đấng Christ. (Giăng 4:1-5). Trong thơ Giu-đe ta thấy tất cả mọi bậc của sự bội đạo. Song trong các thơ nầy không một thơ nào có vẻ buồn bã hay bi quan. Đức Chúa Trời và lời hứa Ngài vẫn là nguồn trông cậy cho tín đồ.

Bố cục.– Thơ Có thể chia làm bốn phần: I. Những đức tánh lớn của tín đồ Đấng Christ, 1:1-14. II. Tôn trọng Kinh Thánh, 1:15-21. III. Sự cảnh cáo về các giáo sư bội đạo, 2:1-22. a) Sẽ chối sự cứu chuộc bởi huyết, nhiều người theo, 1-14; b) Dấu hiệu của các giáo sư giả: 1) Như Ba-la-am, 15, 16; 2) Không có Đức Thánh Linh (so Giăng 4:14; 7:37-39; Rô 8:9), 17; 3) Lời nói văn hoa và tự thị, (so ICôr 2:1-5), 18; 4) Làm bộ rộng lượng, 19-21; 5) Những tín đồ không tái sanh chạy theo, 22. IV. Sự tái lâm của Đấng Christ và ngày của Đức Giê-hô-va, 3:1–19 (so Ês 2:12); a) Người ta thường không tin, 3:4-9; b) Ngày của Chúa, 10-18.

Lên đầu trang