Phi-e-rơ, Thơ thứ nhất

Phi-e-rơ, Thơ thứ nhất The First Epistle of Peter. Première Éptre de Pierre.

I. Chứng cớ là thật.—

1. Chứng cớ ngoài.– Trong lịch sử thật có nhiều chứng cớ tỏ ra thơ nầy là của Phi-e-rơ. Polycarpe, môn đồ của Sứ đồ Giăng, tử vì đạo năm 156 S.C., thọ hơn 86 tuổi, nói đến thơ nầy cách chắc chắn. Irénée, môn đồ của Polycarpe, một giáo phụ trứ danh khắp cả Đông Tây, trích nhiều từ thơ nầy. Clément ở Alexandre, sanh 150 và qua đời 216 S.C., có trích nhiều lần và dùng 4:8 năm lần. Origène và Tertullien cũng trích lược. Eusèbe tóm tắt ý Hội Thánh đầu tiên khi viết rằng không ai trong cả Hội Thánh nghi ngờ thơ nầy không thật.

2. Chứng cớ trong thơ.– Cũng là chắc chắn. Trước giả đã xưng mình là “Phi-e-rơ, Sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ” (1:1), “là trưởng lão, là người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Christ” (5:1). Trước giả rất quen sự dạy dỗ của Chúa, và thường dùng để minh chứng và làm cho sự dạy dỗ của mình chắc chắn hơn. Trước giả cũng thạo các thơ tín, nhứt là Gia-cơ, La-mã và Ê-phê-sô. Song điều đáng chú ý là tư tưởng và ngôn ngữ trong thơ có liên quan chặt chẽ với các bài giảng của Phi-e-rơ như chép rõ trong sách Công vụ các sứ đồ. Khi so IIPhi 1:17 với Công 10:34; 1:21 với 2:32-36 và 10:40, 41; 2:7, 8 với 4:10, 11; 2:17 với 10:28, và 3:18 với 3:14, thì thấy rõ như vậy. Bởi những sự kể trên đủ biết thơ IPhi-e-rơ về lối viết và tư tưởng là thuộc phạm vi lẽ thật, đồng thời với các sách của Tân Ước. Như Erasmus viết rằng thơ nầy đầy dẫy những sự dạy dỗ cao thượng và quyền phép, xứng đáng người đứng đầu các Sứ đồ làm trước giả.

II. Gởi cho ai.—Sứ đồ Phi-e-rơ gởi thơ nầy cho “những người được chọn… kiều ngụ rải rác” (1:1). Gia-cơ dùng danh từ “ở tan lạc” chỉ về những tín đồ Do-thái thuộc mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên ở các nước ngoài” (Gia 1:1). Những tín đồ Do-thái đó là một số trong đoàn thể người Do-thái ở rải rác giữa các dân ngoại (so Giăng 7:35). Vậy, thơ nầy trước nhứt được gởi cho người Do-thái là tín đồ Đấng Christ. Song theo 1:14, 18, 20; 2:9, 10; 3:6; 4:3, 4 thì thấy thơ cũng viết cho các tín đồ dân ngoại. Quả thật, phần nhiều tín đồ trong các Hội Thánh ở Tiểu A-si là dân ngoại. Bởi vậy, Sứ đồ cho những kẻ chịu cắt bì giúp đỡ những kẻ không chịu cắt bì, mà hiệp người Do-thái và dân ngoại làm một trong Đấng Christ. Danh từ “kiều ngụ” (pèlerin) trong câu 1:1 chỉ về một dân cách xa quê hương, là khách trong nơi đất lạ; trong 2:11 dịch là “kẻ đi đường, ” và Hêb 11:13 “kẻ bộ hành;” ấy là một tên xứng đáng cho những người nhận rằng “dưới đất nầy, không có thành còn luôn mãi, nhưng tìm thành hầu đến” (Hêb 13:14). Dầu Phi-e-rơ lúc viết vẫn nghĩ đến các tín đồ người Y-sơ-ra-ên, vì chẳng bao giờ quên rằng chức vụ mình trước nhứt là cho những kẻ chịu cắt bì đó (Ga 2:7, 8), nhưng Phi-e-rơ không vô tình với những tín đồ dân ngoại là số nhiều hơn, nên lời trong thơ cũng nói với tín đồ ngoại như tín đồ Do-thái, vì tín đồ ngoại cũng là “người kiều ngụ.”

Ngày Lễ Ngũ Tuần tại Giê-ru-sa-lem có người từ các tỉnh Bông, Cáp-ba-đốc và A-si đến dự (Công 2:9; IIPhi 1:1). Có lẽ trong những người đó có người tin về sứ mạng của Phi-e-rơ và đã nhận sự cứu rỗi bởi Chúa Jêsus, nên họ đã trở về nói cùng người lân cận và bạn hữu về những tin vui mừng đó. Việc nầy có lẽ là dây liên lạc chặt chẽ giữa các tín đồ và Phi-e-rơ, và bởi vậy mở đường cho Phi-e-rơ viết thơ nầy cho họ một cách thân mật và yêu thương.

Dầu theo quốc văn dịch ra có thể tin rằng Phi-e-rơ đã nhờ Sin-vanh viết thơ, nhưng theo phần nhiều các nhà giải nghĩa thật ra Sin-vanh là người đem thơ đi. Sin-vanh (tức là Si-la) là đồng bạn với Phao-lô trong sự hầu việc Chúa tại xứ Tiểu A-si, và vì không thấy cùng đi với Phao-lô sang Giê-ru-sa-lem hoặc La-mã, thì có lẽ Sin-vanh từ Cô-rinh-tô (Công 18:5) sang Tiểu A-si mà hầu việc Ngài. Không thể biết Sin-vanh gặp Phi-e-rơ ở đâu, nhưng ông có thuật lại cho Phi-e-rơ biết tình hình trong xứ Tiểu A-si, những sự khốn khó và bị bắt bớ của tín đồ tại đó, v.v.. Bởi thế, Sin-vanh có thể giúp đỡ Phi-e-rơ để viết thơ nầy và Phi-e-rơ chứng rằng: “Sin-vanh, là kẻ tôi coi như một người anh em trung tín.”

III. Niên hiệu và nơi chép thơ.– Theo 5:13, Phi-e-rơ chép thơ nầy tại Ba-by-lôn. Trong thời các Sứ đồ, có hai thành gọi bằng tên đó: một tại xứ Ai-cập, là nơi có thành Caire ngày nay, song không có chứng cớ nào cho thấy thơ nầy được chép tại Ai-cập; và một Ba-by-lôn khác trên bờ sông Ơ-phơ-rát mà các nhà giải nghĩa tin rằng Phi-e-rơ chép thơ nầy ở đó, có lẽ vì bấy giờ còn có người Do-thái ở tại đó, dầu cho nhiều kẻ đã bị giết trong đời hoàng đế Cơ-lốt, và nhiều kẻ khác trốn đi. Tuy nhiên có người (của La-mã giáo) lại cho rằng thành Ba-by-lôn chép trong 5:13 đó chỉ bóng về thành La-mã, vì có lời truyền khẩu nói từ thế kỷ thứ II S.C. Papias, giám mục thành Hierapolis (trong thế kỷ thứ II) đãù tin như thế và cũng tin Phi-e-rơ tử vì đạo tại La-mã. Song có hai điều phản đối thuyết đó: a) Về lốIPhi-e-rơ thường nói trực tiếp và ngay thẳng, chỉ dùng tiếng bóng phần nhiều từ Cựu Ước và phần còn lại độc giả có thể hiểu ngay; bởi đó, khi chép thành Ba-by-lôn thì Phi-e-rơ chỉ về thành trên bờ sông Ơ-phơ-rát; b) Không có chứng cớ nào các tín đồ gọi La-mã là Ba-by-lôn cho đến khi Giăng chép sách Khải Huyền chừng 30 năm về sau, tức 90-96 S.C., nhưng Phi-e-rơ chép thơ mình chừng vào năm 64 S.C. lúc Néron đang bắt bớ đạo, và chính Phi-e-rơ tử vì đạo như Chúa đã dự ngôn (Giăng 21:18, 19). Bởi thế, đủ biết thành Ba-by-lôn trong 5:13 thật là ở trên bờ sông Ơ-phơ-rát. KhIPhi-e-rơ kể tên các tỉnh xứ Tiểu A-si (1:1), thì theo trật tự từ phía Đông bắc sang phía Tây ấy cũng là chứng cớ chép ở Ba-by-lôn, ngoài địa phận đế quốc La-mã, ở phương Đông trên bờ sông Ơ-phơ-rát.

IV. Mục đích của thơ.– Sứ đồ có hơn một mục đích khi gởi thơ nầy cho “người được chọn” tại xứ Tiểu A-si. Chúa Jêsus đã truyền cho Phi-e-rơ: “Hãy chăn những chiên con ta, ” và “hãy chăn chiên ta” (hai lần) trong Giăng 21:15-17. Hai thơ tín của Phi-e-rơ làm chứng rằng Sứ đồ đã vâng phục mạng lịnh Chúa cách trung tín dường nào! Với cánh tay yêu thương, mềm mại, Phi-e-rơ chăn chiên con và coi sóc cả bầy, cảnh cáo chống với kẻ thù, gìn giữ chiên khỏi sự nguy hiểm và dẫn đến đồng cỏ xanh tươi và mé nước bình tịnh. Phi-e-rơ cũng nhắc cho họ nhớ đến cơ nghiệp vinh hiển mà họ sắp được (1:3-9); khuyên nên đi theo dấu chân của Đấng Christ không hề phàn nàn (2:20-25), khuyên phải thương xót, yêu thương, nhân từ, khiêm nhường và cẩn thận giữ mình trong đời tội ác nầy (3:8-12). Phi-e-rơ tóm tắt tất cả mọi phận sự chính yếu trong đời sống tín đồ bằng mấy câu ngắn ngủi: “Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua” (2:17). Song mục đích quan trọng nhứt của Phi-e-rơ là yên ủi và giục lòng các con chiên giữa cơn bắt bớ đau khổ mà họ đang phải chịu cách không công bình, và khiến anh em vững lòng chống với những cơn thử thách nặng nề hơn sắp xảy đến.

1. Trong cơn bắt bớ.– Từ lúc mới lập, Hội Thánh đã bị người ta nghi ngờ và ghen ghét, nhiều tín đồ đã chịu đau đớn đến chết bởi tay cả người Do-thái cừu địch và dân ngoại cuồng tín. Song những sự đau đớn đó chỉ xảy ra thỉnh thoảng và ở từng địa phương. Cũng có nhiều Hội thánh đông tín đồ và ảnh hưởng rộng, không bị ngăn trở (ICôr 4:8-10); dường như họ cũng được đối đãi tử tế trước các tòa án ngoại đạo (ICôr 6:1-6). Song tình cảnh tỏ ra trong IPhi-e-rơ thì khác hẳn. Có những sự thử rèn và đau khổ rất nặng xông hãm anh em, sự thù nghịch và ghen ghét nổi lên để phá tán và theo dõi anh em không thôi. Toàn thể Hội Thánh Đấng Christ phải chịu bắt bớ như thế (5:9) cách bất ngờ (4:12), vì Phi-e-rơ đã gọi là “lò lửa” thì tỏ ra cơn thử thách đó rất nặng nề và không biết trước. Sứ đồ đã ví kẻ thù nghịch đó như là một thú dữ kiếm mồi, một sư tử rống rình mò xung quanh anh em, để bắt và nuốt (5:8, 9).

Có nhiều lời kiện cáo khác nhau nghịch cùng tín đồ, nhưng toàn là những lời vu oan và tiếng xấu vì không có gì là thật. Như nói tín đồ là kẻ gian ác (2:12), rủa sả (3:9), gièm chê (3:16; 4:4), và tín đồ đã bị sỉ nhục vì cớ danh Đấng Christ (4:14). Điều đó tỏ ra sự ghen ghét của người ngoại đối với tín đồ cay đắng biết bao? Nếu tín đồ vì cớ ăn ở như là dân của Đấng Christ mà bị người ta coi như trộm cướp, kẻ hung ác, kẻ thày lay việc người khác, thì nên vui mừng vì thật có phước (4:12-16). Người ngoại ghen ghét như thế thật chỉ vì các tín đồ không chịu hiệp với người ngoại ăn ở theo tư dục, say sưa, ăn uống quá độ, v.v. (4:2-4). Các anh em xứ Tiểu A-si đã bỏ hẳn những điều ác đó, biệt mình ra khỏi những sự buông tuồng gớm ghê; bởi thế họ trở nên người làm chứng nghịch cùng những sự vô đạo đó. Phi-e-rơ làm chứng về tánh nết cao thượng, sự tinh sạch và sự từ bỏ mình của các anh em đó.

2. Gương Đấng Christ.– Sứ đồ Phi-e-rơ khuyên anh em phải nhớ đến gương Đấng Christ bị những người gian ác làm khổ cách bất công, nhưng Ngài không hề phàn nàn (2:19-24). Phi-e-rơ cho anh em tín đồ biết cách rất công hiệu để bịt miệng những kẻ kiện cáo họ, cũng như để bài bác những lời vu oan và nói xấu nghịch cùng họ, đó là họ phải sống một đời tinh sạch và tin kính, chân thật và trung tín với Đức Chúa Trời, đến nỗi không ai tin những lời cáo gian đó nữa (2:1-5; 2:13-17; 3:8, 9, 13-17; 5:6-11).

3. Đối với quốc gia.– Trong thơ không có chứng cớ là quốc gia bắt bớ các tín đồ vì coi ho# là những người làm rối cuộc trị an. Các tỉnh nói đến trong thơ, dường như tuyệt nhiên không có tòa án nhà nước, và Phi-e-rơ cũng không nói có các quan án tra xét và hình phạt tín đồ. Trái lại, Phi-e-rơ khuyên vì cớ Chúa, tín đồ phải phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua hay các bậc quan quyền được lập lên để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành (2:13; so 2:17). Nếu chính phủ đã cấm đạo Tin lành và ra nghị định trừ bỏ hết thì chắc Phi-e-rơ không khuyên như vậy. Lúc Phi-e-rơ viết thơ chừng vào năm 64 S.C., thì không có chứng cớ như thế, dầu về sau chính phủ tố cáo các tín đồ cách công khai và nhứt định phá diệt họ.

Mọi điều trong thơ tỏ ra thơ viết vào thời hoàng đế Néron trị vì, 64 S.C., không phải trong đời Domitien, hoặc Trajan, hay Titus. Sử gia Tacite thuật rằng có tin tức kinh hãi đồn ra chính hoàng đế Néron đã đốt thành La-mã (Juillet 19, 64 S.C.) và đổ tội trên những người gọi là Cơ-rê-tiên, là những người bị ghen ghét. Theo sử gia nầy, lúc bấy giờ các tín đồ được kể là một hội riêng, và vì là tín đồ Đấng Christ nên họ phải chịu đau đớn tàn khốc dường ấy; Néron bắt bớ tín đồ vì ông lo sợ và chính bản chất của vua có tánh hung ác. Chính phủ bắt bớ như thế là sau khi Phi-e-rơ đã viết thơ nầy. Vậy, những sự bắt bớ mô tả trong thơ là từ người ngoại đạo. Phi-e-rơ khuyên: “Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em” (4:14 so 4:16; 2:15; 3:16; 3:9).

V. Mấy điều đặc biệt trong thơ.—

1. Lối dàn xếp tài liệu tự do.– Khi chép thơ, Phi-e-rơ không sắp đặt theo một trật tự hợp lý như Phao-lô. Dean Alford dầu nói hơi quá lẽ, nhưng cũng đúng một phần khi nhận xét về cách dàn ý của bức thơ: “Sự liên lạc giữa tư tưởng nầy và tư tưởng khác, không tìm thấy trong sự mở mang tư tưởng, hoặc lý cớ, song có khi lấy lời chót của câu trước mà nói tiếp về một tư tưởng mới” (xem 1:5, 6, 7 và 9, 10). Song điều đặc biệt nầy không ngăn trở sự thống nhất của thơ, thật ra lại thêm lên và làm cho ý trong thơ thêm phần linh động.

2. Sự trông cậy.– Thơ nầy là thơ của sự trông cậy. Phi-e-rơ chẳng hề mỏi mệt mà mô tả ơn nầy và tỏ ra vẻ đẹp rực rỡ đáng ước ao của sự trông cậy. Phi-e-rơ gọi là sự trông cậy sống (1:3), vì sự trông cậy nầy sanh ra từ sự sống lại của Đấng Christ khỏi kẻ chết, và sự yên lặng đợi chờ cơ nghiệp vinh hiển không bao lâu sẽ được hưởng. Sự trông cậy nầy sẽ được trọn vẹn lúc Đấng Christ tái lâm (1:13), và vì được nương nhờ Đức Chúa Trời nên không thất hẹn (1:21), vì Ngài là Đấng thành tín. Trong thế gian, có biết bao sự trông cậy đang hấp hối. Câu khẩu hiệu của xứ Caroline du Sud bên Mỹ ghi trên quốc ấn là: Dum Spiro Spero, tức “Còn sống thì còn trông cậy.” Câu nầy có lẽ dùng cho một xứ, chắc không dùng cho tín đồ, vì tín đồ cần sự trông cậy bền vững hơn, và sự trông cậy đó không hề hư mất. Như giám mục Leighton viết: “Một điều đáng sợ là khi một người chết chung với sự trông cậy mình.” Một tín đồ có thể can đảm nói: “Khi tôi đang hấp hối, tôi còn trông cậy, ” ấy vì đó là sự trông cậy sống. Tín đồ đó đầy dẫy sự trông cậy và tin chắc trong tương lai cho đến khi nó được hoàn tất trong sự tái lâm của Chúa.

3. Cơ nghiệp.– Trong cả Kinh Thánh, cơ nghiệp vinh hiển của tín đồ (1:3-5) không chỗ nào được mô tả một cách rất rõ ràng như trong thơ nầy. Phi-e-rơ nói cơ nghiệp đó “không hư đi.” Ấy chỉ về tánh chất cơ nghiệp đó không có phần tử nào hư nát được, vì không có hạt giống của sự chết. Giống Đấng tạo hóa là Đức Chúa Trời hằng sống, cơ nghiệp tín đồ không thể thay đổi và là đời đời. Cơ nghiệp đó “không ô uế” khi nhận lãnh hoặc đang hưởng, vì không có tội lỗi hay sự gian ác làm vấy bẩn. Trái lại, cơ nghiệp của người đời có khi bị ô uế bởi tội lỗi: như hiếm khi có một mẫu ruộng không bị dơ dáy bởi gian trá và ức hiếp, và đồng tiền qua từ tay nầy sang tay khác cũng vậy. Song cơ nghiệp của Chúa dành sẵn cho chúng ta thì hoàn toàn tinh sạch và thánh khiết. “Không suy tàn” tức chẳng bao giờ bị khô héo. Các thời đại không giảm bớt sự đẹp đẽ, hoặc làm cho lu mờ đi. Sự tinh túy của cơ nghiệp ấy vẫn tươi mới luôn luôn, và mùi thơm cũng vẫn còn. Vậy cơ nghiệp tín đồ là sự vinh hiển, vì về tánh chất không hư đi, về phần tinh sạch không ô uế, về phần đẹp đẽ không suy tàn.

Tại sao ngay trong chính những lời mở đầu của bức thơ Sứ đồ đã chú trọng về cơ nghiệp tín đồ như thế? Ấy để nhờ lời yên ủi của chính Chúa mà khuyên anh em đứng vững vàng và “vui mừng” trong “sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu, hầu cho sự thử thách đức tin anh em… sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra” (1:6-9). Vậy, Phi-e-rơ nâng cao tư tưởng của tín đồ khỏi những sự bối rối, đau đớn xung quanh mình để hướng về Đấng sắp tái lâm sẽ đội mão triều thiên cho mình.

4. Chứng cớ các tiên tri.– Trong 1:10-11 Phi-e-rơ chép về các đấng tiên tri và công việc của họ. Phi-e-rơ và các Sứ đồ thấy lời chứng của các tiên tri là có quyền phép và chắc chắn. Khi đã nhắc đến lời chứng trong Cựu Ước, thì các Sứ đồ có thể quyết định mọi vấn đề và không cần luận đến nữa.

a) Sự cứu rỗi.– Các tiên tri chép về nhiều vấn đề: cũng dạy dỗ, quở trách và khuyên bảo người đương thời. Có khi các tiên tri tố cáo tội lỗi, tuyên bố sự phán xét và khuyên hối cải. Song bao giờ các tiên tri cũng thấy được ơn phước tương lai, và dự ngôn về sự cứu rỗi và về ân điển vô hạn mà Đấng Mê-si sẽ đem đến cho loài người.

b) Thánh Linh Đấng Christ.– Những sứ mạng của các đấng tiên tri là nhờ Đức Thánh Linh của Đấng Christ. Ấy là Đấng làm chứng trước về những sự đau thương của Đấng Christ và những sự vinh hiển theo sau. Các tiên tri vẫn chứng rằng không phải tự mình nói ra, song thật là từ Đức Chúa Trời; bởi vậy, họ được gọi là “miệng” và là “người nói lại” của Ngài (Xuất 4:15, 16; 7:1, 2; IIPhi 1:21).

c) Sự tra xét của tiên tri.– “Các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, ” tức tra xét những lời dự ngôn mà Đức Thánh Linh nhờ mình tỏ ra, một cách chăm chỉ và qua một thời gian dài. Có hai điểm khiến các tiên tri rất chú ý: “Thời kỳ nào và thời điểm nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho.” “Thời kỳ nào” chỉ về Đấng Mê-si giáng thế; “thời điểm nào” chỉ những biến động và hoàn cảnh khi Đấng Mê-si hiện đến. “Các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó.”

5 Anh em trong Chúa.– Ấy được mô tả trong 2:9, 10:1- “Anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài.” Vậy, Phi-e-rơ tỏ ra anh em trong Đấng Christ là dân Y-sơ-ra-ên mới, và mô tả bằng những danh từ đặt cho Y-sơ-ra-ên cũ, song có ý rộng rãi hơn. Sự mô tả cao trọng đó được tỏ ra bởi một người như Phi-e-rơ vốn là người Do-thái đích tông, nay là Sứ đồ cho kẻ chịu cắt bì và cứ giữ theo những điều Môi-se đã lập cho đến trọn đời. Bởi thế, lời làm chứng của Phi-e-rơ càng cảm động hơn. Những danh hiệu đặt cho anh em trong Đấng Christ kể trên thật rất đáng tôn kính. Khi một nhà quyền quí đến dự một buổi lễ nào thì đeo huy chương rực rỡ đầy ngực; song điều ấy không đáng so sánh với những danh hiệu cao quí mà Phi-e-rơ đã dùng ở đây để chỉ về những người thuộc dòng quí phái trên trời, thuộc hoàng tộc của Vua vinh hiển, là chói lòa và quí báu hơn những huy chương trên ngực của một vị vua hay hoàng đế nào ở thế gian này. Song ở đây, Phi-e-rơ cũng nhắc lại cho tín đồ nhớ đến địa vị vinh hiển về sau để thúc giục họ đứng vững vàng và trung tín với Ngài giữa những sự bắt bớ (2:11, 12).

6. Các linh hồn bị tù.– Trong 3:18-20 chép: “Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù.” Đây chỉ cần trích lại lời của giáo sư Zahn: “Lời giải nghĩa IIPhi 3:19 có lẽ rất đúng, là chỉ đến sự giảng dạy về Đấng Christ vào đời nước lụt, tức là bởi Nô-ê; vậy nên Nô-ê được gọi là “thầy giảng đạo công bình” trong (IIPhi 2:5). Xem bài Tù, Linh hồn bị.

Tiến sĩ Scofield chú thích:

Tiểu dẫn.– Tác giả. Sứ đồ Phi-e-rơ (1:1).

Niên hiệu. Có lẽ 60 S.C.. “Ba-by-lôn” trong 5:13 không thể quyết định chỉ đến thành xưa ở trên sông Ơ-phơ-rát, hoặc La-mã, vì câu đó không rõ.

Đại ý. Dầu Phi-e-rơ chắc đang suy nghĩ đến những tín đồ Do-thái bị tan lạc, nhưng trong thơ Sứ đồ cũng muốn gồm cả tín đồ dân ngoại nữa (IIPhi 2:10). Thơ nầy viết ở một Hội Thánh trong xứ ngoại bang (5:13), bày tỏ mọi lẽ thật làm nền tảng của đạo Đấng Christ, và chú trọng đặc biệt đến sự chuộc tội. Lời dạy đặc biệt của IPhi-e-rơ là tín đồ cần sửa soạn để đắc thắng hơn sự đau đớn mà họ đang và sẽ còn gặp phải. Danh từ đau đớn chép độ 15 lần trong thơ, và là chìa khóa của thơ.

Bố cục.–Thơ chia làm ba phần: I. Tín đồ chịu đau khổ và cư xử theo ánh sáng của sự cứu rỗi đầy trọn, 1:1-2:8. II. Đời sống tín đồ theo địa vị chia 7 mặt, và sự thương khó của Đấng Christ để chuộc tội, 2:9-4:19; a) Đấng Christ chịu khổ cho anh em, 2:21-24; b) Đấng Christ chịu chết thay cho kẻ không công bình, được giảng ra bởi Đức Thánh Linh ngự trong Nô-ê, 3:18-22. III. Tín đồ hầu việc dưới ánh sáng sự tái lâm của Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên, 5:1-14.

IIPhi 1:7.– Sự đau đớn trong IPhi-e-rơ giải tỏ trong ánh sáng: 1) sự cứu rỗi chắc chắn, 1:2-5; 2) sự vinh hiển lớn hơn khi Đấng Christ hiện ra, 1:7; 3) những sự đau thương của Đấng Christ và vinh hiển hầu đến, 1:11; 4) sự hiệp một của tín đồ với Ngài trong cả hai điều trên, 2:20, 21; 3:17, 18; 4:12, 13; 5) kết quả tinh sạch của sự đau đớn, 1:7; 4:1, 2; 5:10; 6) Đấng Christ nay được vinh hiển trong sự nhịn nhục, chịu đau đớn của tín đồ, 4:16; 7) sự đau đớn đó là để sửa dạy, 4:17-19. (Cũng so ICôr 11:31, 32; Hêb 12:5-13).

IIPhi 1:1.– Được lựa chọn, . Tóm tắt: Trong cả Tân-Cựu-Ước, nguyên văn Hê-bơ-rơ và Hy-lạp là “được chọn, ” “sự chọn lựa.” “chọn” “được lựa chọn, ” v.v.. Mọi lần dùng chỉ có nghĩa đơn sơ là “được chọn, ” hoặc “chọn, ” và dùng cả về sự lựa chọn của người và của Chúa, 1) Dùng về sự lựa chọn của Chúa thì chỉ: a) cả đoàn thể; như nói về dân tộc Y-sơ-ra-ên, hoặc về Hội Thánh (Ês 45:4; Êph 1:4) ; b) cá nhân (IIPhi 1:2). 2) Sự được lựa chọn nầy là tùy theo sự biết trước của Đức Chúa Trời (IIPhi 1:2), và hoàn toàn nhờ ân điển, biệt khỏi công đức của con người (Rô 9:11; 11:5, 6). 3) Sự được lựa chọn là nhờ ý muốn của Chúa (Giăng 15:16).

Bởi đó, sự được lựa chọn đó là: 1) Công việc cao cả của Đức Chúa Trời bởi ân điển mà chọn từ giữa vòng loài người một số người biệt riêng cho Ngài (Giăng 15:19). 2) Đức Chúa Trời chọn một số người để làm việc đặc biệt cho Ngài (Lu 6:13; Công 9:15; ICôr 1:27, 28).

IIPhi 1:20.– Trong sự lựa chọn đó, Chúa đã biết trước, định trước. Trong IIPhi 1:2 thấy rõ sự biết trước, quyết định sự lựa chọn và sự định trước là cho sự đã được lựa chọn xảy ra. “Sự đã được lựa chọn quay về sự biết trước, sự định trước ngó trước về số phận.” Song trong Kinh Thánh không chỗ nào nói sự biết trước Ngài là như thế nào để quyết định sự được lựa chọn và sự định trước của Ngài. Những người đã được biết trước thì được lựa chọn, và những người được lựa chọn là đã được định trước, và sự đã được lựa chọn đó đối với mọi tín đồ là chắc chắn, vì cớ chỉ tin mà thôi (ITê 1:4, 5). So Êph 1:11.

Lên đầu trang