Ngựa

Ngựa Horse. Cheval.

Cho đến khi người Y-sơ-ra-ên ở Ai-cập, ngựa mới được nói đến trong loài gia súc của họ. Giô-sép đem lương thực đổi lấy ngựa (Sáng 47:17). Ngựa ở Ai-cập rất nhiều (Sáng 50:9; Nhã 1:9). Vua và quân lính hay cỡi ngựa (Xuất 14:9, 23; Êxơ 6:8; Truyền 10:7). Vả, từ lâu ngựa có dùng để đi trận nữa (Gióp 39:19-25). Đức Chúa Trời có răn dạy vua Y-sơ-ra-ên “chẳng nên lo cho có nhiều ngựa” (Phục 17:16) vì muốn vua đó khỏi sanh lòng kiêu ngạo hoặc hiếu thắng (Giô 11:6; IISa 8:4; Ês 30:16; 31:1; Thi 20:7; 33:17). Đến vua Sa-lô-môn thì số ngựa càng tăng lên nhiều lắm (ISử 1:16; 9:25). Vua nuôi ngựa bằng lúa mạch và rơm (ICác 4:28). Về sau các vua Giu-đa lại nuôi ngựa ở bên đền để thờ thần mặt trời, vì lẽ tưởng rằng vì sáng đó đã cầm lái một xe rất oai qua từng trời (IICác 23:11). Khi từ Ba-by-lôn về nước, người Y-sơ-ra-ên có đem 736 con ngựa (Nê 7:68). Kinh Thánh hằng nói đến những đồ vật liên quan đến ngựa (Thi 32:9; Châm 26:3; Xa 14:20), duy chỉ không nói đến cách bịt sắt vào vó ngựa (Ês 5:28).

Ngựa làm hình bóng nhiều trong Xa-cha-ri và Khải Huyền. Có một xe và ngựa lửa cất Ê-li lên trời. Trong Thi 20:7; 33:17; 76:6, sức mạnh của ngựa nhắc đến sức mạnh vô cùng của Chúa. Ngựa ô làm hình bóng về sự đói kém (Khải 6:5, 6; so Xa 6:2, 6). Ngựa sắc hồng chỉ bóng về chiến tranh (Khải 6:4; Xa 1:8; 6:2). Ngựa trắng hình bóng về sự thắng trận (Khải 6:2; 19:11, 14, so Xa 1:8; 6:3, 6).

Lên đầu trang