Nghề nông

Nghề nông Agriculture. Agriculture.

Trong truyện tích Kinh Thánh về A-đam, Ca-in và Nô-ê, nghề này là quan trọng nhất, nhưng cũng không được các tổ phụ lo đến nhiều. Bởi vì đời sống du mục là cách tốt nhất để giữ gìn một dòng giống thánh đang khi còn là một gia tộc riêng biệt để khỏi lẫn lộn và không dính dáng đến địa phương nào, nhất là trong xứ Ai-cập. Khi phát triển thành một dân tộc, người Hê-bơ-rơ cần phải có những nơi cư ngụ và sinh sống. Tuy nhiên lúc này, con đường duy nhất để người Hê bơ rơ giao thông với người ngoại bang là nghề nông, đây cũng chính là con đường làm cho họ chóng bại hoại luân lý, nhất là về mặt thờ hình tượng mà nghề thương mại có thể gây nên. Như vậy, nghề nông trở nên nghề căn bản của luật pháp Môi-se, lấy mọi sự làm của chung. Muốn các sản nghiệp khỏi đoạn mại, luật pháp đóng cho mỗi người và mỗi gia đình một cọc làm phần đất, và nuôi trong lòng dân một lòng ái quốc rất mãnh liệt. “Đất thuộc về Ta” (Lê 25:23) là một khẩu hiệu khiến nghề nông giống như căn bản của sự giao thông với Đức Chúa Trời. Vậy, mỗi gia đình, cảm thấy trong sự sống mình phải hết sức kiên quyết, phải nộp huê lợi theo kỳ hạn cho Chúa, và cấm không được đoạn mại.

Quốc dân Hê-bơ-rơ, từ trước đến sau, vẫn làm nghề nông. Mỗi một dân cày ở các thôn quê đều có một khu ruộng. Sản phẩm chính của nghề nông là lúa mạch, nhì đến ngô, thứ ba đến lúa đại mạch, rồi sau đến các loài rau đậu.

Mùa màng của nghề nông.– Nhà nông lấy tháng chín, tháng mười làm đầu mùa. mùa Hạ, mùa Thu, khi trời nắng nóng, ruộng đất khô khan. Tháng chín được mưa sớm, người ta bắt tay làm ruộng. Những miền núi và những dốc thì người ta cày cuốc (Ês 7:25). Ruộng mới thì cất đá và nhổ gai gốc đi (Giê 4:3; Ôs 10:12; Ês 5:2); gieo gặt giữa “những gai gốc” là một tục ngữ cho những nông phu biếng nhác (Gióp 5:5; Châm 24:30, 31). Cái cày và cái ách dùng để thắng trâu cày đất, song người ta dùng một cái nọc đầu nhọn giống như cái giáo (Các-quan-xét 3:31; so Công 26:14) để thúc trâu bò đi. Để kéo cày, người ta dùng bò hoặc lừa, song không đóng bò và lừa chung một ách (Phục 22:10). Có khi không cần cày trước, song gieo giống rồi mới cày. Trong các nơi cao có đặt máy dẫn thủy thì họ gieo giống bằng cách cho bầy vật giày đạp cho hạt giống xuống dưới đất (Ês 32:20) như xứ Ai-cập xưa dùng dê đực để gieo giống.

Có hai cách gieo giống:

1. Lấy tay gieo rắc cho đều.

2. Chứa hạt giống vào trong hòm nhỏ, dưới hòm làm một cái miệng, đặt hòm vào cái thùng nhỏ, rồi buộc thùng vào sau cái cày. Cày tới đâu thì hạt giống rải rác tới đó.

Thời tiết ở Pha-lê-tin nóng, lạnh, không đều, nên mùa gặt hái cũng sớm muộn không chừng. Ở bên sông Giô-đanh, mùa gặt sớm hơn; ở đồng cao núi Ga-li-lê, mùa gặt muộn hơn. Hai đằng xa cách nhau chừng vào khoảng 50 ngày đường. Coi Lê 23:15 và Phục 16:9, chứng rằng mùa màng xứ đó bắt đầu từ trung tuần tháng tư đến thượng tuần tháng sáu thì xong. Nếu gặp mưa thuận, gió hòa, và không có các tai nạn, gió bão, băng giá, mưa đá và hoàng trùng, thì cứ tính trung bình, số thu hoạch lúa mì cũng được gấp trăm lần, nhưng dường như ít có như vậy (Sáng 26:12 so Mat 13:8). Ngày xưa người ta có thói quen canh giữ mùa lúa chín và sân đạp lúa khỏi trộm cắp và thiệt hại, như Bô-ô trong Ru 3:4, 7.

Cách gặt hái.– Khi gặt lúa thì dùng hái hoặc liềm. Khi gặt thì không gặt đến đầu ruộng vì còn để lại cho những người mồ côi, góa bụa (Lê 19:9; Phục 24:19; Ru 2:2). Tất cả số lúa lúa gặt được lúc đó đều chở đến sân đạp lúa, dùng bò không khớp miệng mà đạp (Phục 25:4), hoặc dùng cái lẻ mà đạp (Ru 2:7; Ês 28:27). Sau khi lúa đã được phơi khô, vào buổi chiều tối (Ru 3:2) người ta dùng nia (Ês 30:24; Mat 3:12) mà dê lúa ở trước gió (Thi 35:5; Gióp 21:18; Ês 17:13), rồi lấy sàng mà sảy cho sạch (Am 9:9) rồi mới chứa vào trong vựa.

Cách bón tưới.– Về cách bón tưới và bón ruộng, Kinh Thánh nói đến về “phần trên mặt đất” (Thi 83:10; IICác 9:37; Giê 8:2). Luật pháp dạy không nên xâm chiếm ruộng của kẻ lân cận (Phục 19:14), không được gieo hai thứ giống vào ruộng (Lê 19:19; Phục 22:9). Trong khoảng sáu năm, phải cày trồng đất ruộng để thâu huê lợi, nhưng năm thứ bảy thì để đất yên nghỉ, không cày, không cấy, kể là lợi tức cho Chúa và người nghèo được hưởng. Vườn nho và ô-li-ve cũng vậy (Xuất 23:10). Ruộng và vườn nho có khi xây tường bao bọc cũng có tháp hoặc chòi canh giữ (Dân 22:24; Thi 80:13; Ês 5:5; Mat 21:33 so Các-quan-xét 6:11). Người ta có thể treo theo một giá nhứt định (Nhã 8:11), hoặc một phần huê lợi nhứt định (IISa 9:10; Ma- thi-ơ 21:34). Người đi đường có thể bứt lúa mì và hái nho ăn, song không thể bỏ trong giỏ đem đi (Phục 23:24, 25; Mat 12:1). Dường như cứ ba năm phải nộp phần mười thứ hai và phần cho các thầy tế lễ để bố thí cho người nghèo (Phục 14:28; 26:12; Am 4:4). Đến năm hân hỉ, thì các sản nghiệp đều trở về chủ cũ (Lê 25:13); tiên tri Ês 5:8 quở trách người giàu khinh bỏ luật pháp đó để “thêm ruộng vào ruộng”, bởi đó họ đuổi các chi họ khác đến miền đó và những nơi ấy trở nên vắng vẻ.

Lên đầu trang