Nghề nghiệp Professions. Les métiers.
(Công 18:3; 19:25; Khải 18:22). Bài nầy chỉ nói vắn tắt về những nghề chép trong Kinh Thánh.
1. Nền công nghệ đã có từ đời thái cổ, từ xa xưa con người đã biết rèn những khí giới bằng sắt để dùng trong chiến trận, hay rèn những dụng cụ dùng trong nghề nông hoặc dùng trong nhà. Song song với rèn sắt, ở trước thời nước lụt người ta còn rèn những dụng cụ bằng đồng hay đồng bóng láng được pha với thiếc (Sáng 4:22). Trong việc dựng Đền tạm, đồng bóng láng được dùng đến nhiều hơn mà không phải là sắt, dầu lúc bấy giờ người Do-thái rất thành thạo về rèn sắt, cả về kỹ thuật riêng của họ lẫn của người Ai-cập. Còn những người Ca-na-an trong xứ Pha-lê-tin và Sy-ri là thành thạo hơn cả trong việc làm chiến cụ và đồ dùng trong nhà (Xuất 20:25; 25:3; 27:19; Dân 35:16; Phục 3:11; Phục 4:20; Phục 8:9; Giô 8:31; 17:16, 18).
Sau khi người Do-thái kiều ngụ trong Ca-na-an, thợ rèn được công nhận là một nghề riêng biệt (ISa 13:19). Công việc thợ rèn và kết quả của nó có nói trong Kinh Thánh (IISa 12:31; ICác 6:7; IISử 26:14; Ês 44:12; 54:16). Người thợ vàng hoặc thợ bạc đã xuất hiện ở giữa vòng người Hê-bơ-rơ và những dân tộc lân cận từ hồi rất sớm. Bởi vì phải có như vậy thì Áp-ra-ham mới gởi đồ trang sức Rê-bê-ca được (Sáng 24:22, 53; 35:4; 38:18; Phục 7:25). Dầu người Hê-bơ-rơ khéo đến bậc nào cũng cần phải học kỹ thuật của người Ai-cập, kể cả cách chế “lò nung sắt” của họ, hay về công nghệ kim khí lẫn nghệ thuật nạm và đánh bóng những viên ngọc quý. Trong các đài kỷ niệm Ai-cập, kỹ thuật của nghề kim hoàn rất tinh xảo. Sau khi đã chiếm xứ Ca-na-an, có nhiều lần Kinh Thánh chép những kim khí được đúc và làm thành đồ dùng, kể cả cách hàn mà người Ai-cập đã biết từ lâu; song người Phê-ni-xi dường như điêu luyện hơn người Do-thái trong các nghề, nhất là trong đời Sa-lô-môn (Quan 8:24, 27; 17:4; ICác 7:13, 45, 46; Ês 41:7).
2. Nghề làm thợ mộc thỉnh thoảng nói đến trong Kinh Thánh (Sáng 6:14; Xuất 37; Ês 44:13). Trong lâu đài Đa-vít xây cất cho mình, có nhiều thợ Phê-ni-xi mà vua Hi-ram sai đến (IISa 5:11; ISử 14:1); có lẽ Sa-lô-môn cũng dùng nhiều người đốn gỗ trong việc xây cất đền thờ (ICác 5:6). Song khi tu bổ Đền thờ trong đời Giô-ách, vua Giu-đa, và khi xây lại đền thờ trong đời Xô-rô-ba-bên, thì không nói đến những thợ ngoại bang, dầu đời Xô-rô-ba-bên nói rõ rằng gỗ mang từ Gióp-bê đến Si-đôn bằng đường thủy (IICác 12:11; IISử 24:12; Exơ 3:7). Theo Ês 41:7; 44:13 thì những thợ mộc Do-thái cũng khéo đẽo gỗ. Trong Tân Ước, thợ mộc là nghề của Giô-sép, chồng Ma-ri, nữ đồng trinh, và người ta cũng nói về nghề này khi nói về Chúa Jêsus (Mác 6:3; Mat 13:55).
3. Thợ nề: Những thợ nề làm việc cho Đa-vít và Sa-lô-môn phần chính là người Phê-ni-xi (ICác 5:18; Êxê 27:9). Theo Josèphe viết, những hòn đá lớn dùng xây Đền thờ Sa-lô-môn được tính toán kỹ lưỡng, đúng khít nhau đến nỗi không cần dùng vôi hồ, nhưng nền đá thì dùng chì để làm dính chặt. Những ngôi nhà thường thì cần phải xây với hồ, nếu không có hồ thì dùng nhựa chai, như khi họ xây tháp ở Ba-by-lôn (Sáng 11:3). Đá vôi, đất sét, và rơm mà người phương Đông thường dùng làm vôi hồ cần phải trộn rất cẩn thận để chống với trời ẩm ướt. Loại tường “trét vôi chưa sùi bọt lên”. Trong Êxê 13:10 có lẽ là thứ tường bằng bùn, hoặc đất sét mà không có vôi có thể sụp đổ khi mưa. Theo Chúa Jêsus trong Mat 23:27, đời đó hay quét vôi các mồ mả. Những nhà đã tẩy uế vì cớ người phung, theo Luật pháp phải trét lại. (Lê 14:40-45).
4. Giống nghề thợ mộc là nghề đóng tàu bè dùng để đánh cá trên hồ Ghê-nê-xa-rết (Mat 8:23; 9:1; Giăng 21:3, 9). Sa-lô-môn tại Ê-xi-ôn Ghê-be đóng tàu để thông thương, có người Phê-ni-xi làm thủy thủ, là điều đời sau Giô-sa-phát cố sức làm không được (ICác 8:26, 27; 22:48; IISử 20:36, 37).
5. Nghề hòa hương dùng trong sự thờ phượng, và đời sau trong các lễ tang vua, chứng tỏ rằng đời xưa người ta đã biết về y dược (Xuất 30:25, 35; Nê 3:8; IISử 16:14; Truyền 7:1; 10:1).
6. Nghề kéo chỉ và dệt vải làm lông chiên và vải gai mịn xuất hiện từ đời thái cổ, ngày nay những người đờn bà Bédouins vẫn còn dùng. Một người nữ tài đức không thể thiếu hai nghề này (Xuất 35:25, 26; Lê 19:19; Phục 22:11; IICác 23:7; Êxê 16:16; Châm 31:13, 24). Khung dệt vải với cây trục (ISa 17:7), con sẻ (Quan 16:14), và thoi dệt cửi (Gióp 7:6) được dùng mãi đến đời Đa-vít (ISa 17:7). Thời ấy cũng xuất hiện nghề thêu trên vải, vật liệu là những sợi kim tuyến và chỉ bạc, có khi họ thêu thành hình hoặc khảm trong khuôn vàng các bích ngọc (Xuất 26:1; 28:4; 39:6-13).
7. Ngoài những nghề đó còn có nghề nhuộm cùng nghề soạn vải trong xứ Pha-lê-tin, và nghề thuộc da (Giô 2:15-18; IICác 1:8; Mat 3:4; Công 9:43). Trong sách Mishna có chép về những người thợ đóng giày, thợ hớt tóc, và thợ may. Êxê 5:1; Lê 14:8; Dân 6:5 nói đến thợ và nghề hớt tóc, và Mishna cũng nói đến nghề điêu khắc, nghề làm kính và đồ dùng thủy tinh, nghề thợ sơn và nghề kim hoàn. Nghề may trại có nói đến trong Công 18:3, và nhiều lần chép về thợ gốm.
8. Nghề làm bánh cũng được nói đến trongGiê 37:21; Ôs 7:4, và dân cư trong trũng Tyropoeon (Giê-ru-sa-lem) nổi tiếng nhờ nghề làm mỡ sữa. Nghề đồ tể có nói đến trong ICôr 10:25, nhưng người Do thái không làm nghề này.