NEWTON, JOHN
(1725-1807)
John Newton là một Mục sư của Giáo hội Anh. Lúc chàng lên 7 tuổi thì mẹ chàng qua đời. Cha chàng là một đại úy đang phục vụ trong binh chủng Hải quân Hoàng gia Anh. Khi cha chàng tục huyền với một phụ nữ khác thì chàng không thể sống với cảnh mẹ ghẻ con chồng, nhất là những lúc chàng trốn học thường bị bà đánh phạt bằng roi mây. Chán học, chàng xin cha cho đi tập sự làm thủy thủ năm 11 tuổi; chàng cũng đã dùng đủ mọi phương cách để tự lực cánh sinh. Cuộc đời đi biển lênh đênh bến này sang bến khác, chàng chơi bời lêu lỏng như một kẻ vô thần. Năm 18 tuổi, chàng bị động viên gia nhập Hải quân Anh. Khổ quá nên chàng đào ngũ. Lúc bị bắt lại, chàng bị đày sang Phi châu. Lại đào ngũ nữa. Thật là rủi, ngay lúc ở đó chàng lại bị lọt vào tay của một tên buôn nô lệ, chàng cũng coi nô lệ như là một món đồ chơi giải trí.
Năm 1747, trên một chuyến đi từ Phi châu trở về Âu lục, nhân lúc rỗi việc và buồn chán, bất chợt Newton đọc được quyển “Học Theo Gương Chúa Giê-xu” của Thánh Thomas à Kempis viết. Chiếc tàu chàng đi bị lạc hướng và cơn bão tố nổi lên làm cho nó gần chìm. Ông được thức tỉnh và kêu cầu Chúa cứu và hứa nguyện cùng Ngài: “Nếu Chúa cho con trở về Liverpool bình an, thì con nguyện cung hiến cuộc đời con cho Ngài…”. Khi tàu cập bến Liverpool, John Newton hoàn toàn là một con người được đổi mới. Lương tâm bị cắn rứt bởi những tội lỗi quá khứ, chàng đã ăn năn tội và tỏ lòng khoan dung với tất cả mọi người, kể cả viên thuyền trưởng, người đã có mối ác cảm với chàng. Nhãn quan của chàng từ đây đã có một chiều kích hướng thượng. Từ khi lập gia đình, nhờ ảnh hưởng Cơ Đốc tính của người vợ hiền, ông thực sự nhận biết Chúa và Đức Chúa Trời đã giải phóng ông ra khỏi những ham mê của thế gian. Ông được kêu gọi đi học Thánh Kinh với Mục sư Wesley với tâm ý muốn trở thành người Truyền đạo.
Ông bước chân vào một Chủng Viện, sau 4 năm miệt mài, Newton học tiếng La tinh, toán và Thánh Kinh, Thần học; ông ra trường và được phong chức Mục sư năm 1759, lúc đó Newton được 34 tuổi.
Trong những năm cuối đời của ông, khi làm trợ lý cho một Mục sư ở tại Olney, Newton có dịp quen biết và kết bạn với ông William Cowper, người có biệt tài sáng tác âm nhạc. Nhờ sự giúp đỡ của ông này, Newton đã sáng tác nhiều bài Thánh ca để tụng mỹ Chúa rất nổi tiếng (các bài Thánh Ca Việt Nam số 14, 38, 94, 149). Hai ông hợp tác với nhau, kẻ thì làm thơ người thì phổ nhạc… Kết quả là Tập Thánh ca Olney Hymns được xuất bản gồm 384 bài. Đặc biệt trong kinh nghiệm của Newton, ông đã dựng lên một khuôn âm nhạc để ca ngợi về quyền phép và Danh vĩ đại của Chúa Giê-xu. Một số Thánh ca liên hệ đến ý này như “Ân Điển Lạ Thay”, “Glori Ous Things Of The Are Spoken”.
Thánh ca “Danh Chúa Giê-xu” của John Newton làm ra để ca ngợi quyền năng cứu chuộc độc nhất của Cứu Chúa. Thánh ca gồm 4 khổ thơ là một lời giải đáp cho loài người về Danh Tôn quý của Cứu Chúa Giê-xu. Hai câu đầu nói về những sự kiện xảy ra trong Đấng Christ. Hai câu còn lại nói về ý nghĩa thật của Danh Ngài. Ngoài ra Thánh ca này còn cho chúng ta thấy rõ đức tin của Newton – Đức tin vững chắc của một người hư mất nay trở lại cùng Chúa – Đó cũng là đức tin của môn đồ Thomas khi ông sờ vào dấu đinh nơi tay Chúa: “Lạy Chúa tôi, chính Ngài là Đức Chúa Trời tôi!”:
“Khi các giáo hữu nghe Danh Giê-xu,
Xiết bao đẹp đẽ êm đềm;
Buồn lo vụt biến, đau thương tiêu trừ,
Làn sóng kinh sợ liền êm…”
Mục sư John Newton được tiếng là một người bình dân, sống hòa đồng với mọi người, rất thương yêu tín hữu. Ông đã thường giảng dạy khuyên mọi người rằng: “Nếu Chúa Giê-xu đã có thể biến cải John Newton này, thì Ngài cũng sẽ tiếp nhận và thay đổi bất cứ ai xấu xa đến đâu nếu họ bằng lòng chạy đến với Ngài. Ngài chắc sẽ ban cho họ trở nên con cái yêu dấu của Ngài”. Trước Lễ Giáng sinh năm 1807, do lời kêu gọi của ông, Nghị viện Anh quốc đã bãi bỏ chế độ nô lệ. Ông qua đời năm 1807 tại Luân Đôn, thọ 82 tuổi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông trối cùng gia đình và thân hữu mấy lời: “Tôi là một tội nhân khốn nạn hơn hết, còn Chúa Giê-xu, Cứu Chúa vĩ đại đã thương yêu biến tạo tôi”. Trên bia mộ của John Newton có khắc những hàng chữ chân thành này: “John Newton – vốn là một tên lái buôn hèn hạ; đã được Chúa Giê-xu tha thứ tái tạo, sai đi rao giảng danh Giê-xu, là Chúa mà chính tôi đã từng chống nghịch” (La mã 8:3,4).