Newman, Henry J

NEWMAN, HENRY J.

(1801-1890)

Dầu phong trào Công giáo ở Anh quốc, thường gọi là “Phong trào Oxford” do John Keble mở đầu, nhưng lãnh tụ đích thực của nó là Henry J. Newman.

Henry J. Newman sanh năm 1801. Thân phụ ông là một chủ ngân hàng theo đạo Tin Lành và rất kính sợ Đức Chúa Trời. Newman đã cùng thân sinh mình thường hiệp ý nhau cầu nguyện với Chúa một cách thân mật. Khi đã lớn ông hay thuật lại: “Tôi nhờ ảnh hưởng của thân sinh tôi mà sớm yêu thích và ham đọc Thánh Kinh từ lúc còn nhỏ. Dầu vậy vì trí óc còn non nớt, tôi cho rằng những thần thoại Đông phương là có thật. Óc tưởng tượng của tôi có một sức mạnh kỳ diệu và khá huyền bí. Tôi nghĩ sự sống chỉ là một cơn mơ mộng hay là một người gặp may. Trước khi chưa ăn năn đầu phục Chúa, tôi là một người ưa phiêu lưu trong lãnh vực thuộc linh, đôi khi dẫn mình đến chỗ tối tăm”. Cha mẹ ông đã gởi ông vào học một trường tư thục tại Ealing. Năm 16 tuổi, ông đã có bước từng trải về sự hoán cải tâm linh xuyên qua một trong những thầy giáo của ông. Henry Newman vào Trường Cao Đẳng Ba Ngôi (Trinity), Oxford năm 1817. Từ năm 1820-1822, ông là giảng nghiệm viên Trường Cao Đẳng Fellow Of Oriel. Ông được Giáo hội Anh quốc tấn phong Mục sư năm 1824. Năm 1828 ông đến làm Mục sư cho Thánh đường Saint Mary ở Oxford.

Những quan điểm của ông nhanh chóng thay đổi bởi áp lực tư tưởng từ các bạn bè ông. Cầm đầu của những người đó là Hurrell Froude, người mà theo Newman: “Đã làm cho ông càng tôn ngưỡng La mã Tòa… Và đồng thời tỏ ra có ác cảm với những ai có tư tưởng Cải chánh tiến bộ trong Giáo hội”. Trong mùa đông (có chỗ nói tháng 6) hai năm 1832-1833, Newman và Froude đã đi đến một ngọn tháp (hải đăng) ở biển Địa Trung thưởng ngoạn. Lúc ấy biển yên lặng như tờ. Trên một chiếc thuyền chở Mục sư trẻ Newman từ La mã về Anh quốc, ông bị bệnh đã hơn 3 tuần nhưng không có ai chăm sóc cả. Ông lại đau đớn cả thể xác lẫn linh hồn. Ông hết sức đau lòng vì Giáo hội Anh quốc lâu nay thiếu mất sự sống chiều sâu. Khi ly khai khỏi Giáo hội Anh quốc, ông đã đến La mã. Trong trái tim của ông không còn chút ánh sáng. Ông không thể cầu nguyện, cũng thiếu hy vọng vì không có luồng vinh quang nào soi dẫn. Nhưng một việc mà ông đã làm, và lưu lại một tuyệt tác cho toàn thế giới, đó là bản Thánh ca tôn vinh Chúa “Luồng Thanh Quang Chiếu Giữa Đêm” (Thánh ca Việt Nam số 45) (Lead Kindly Light), năm đó ông 32 tuổi.

Tư tưởng và cảm xúc trong toàn bài Thánh ca, lời nào cũng diễn cảm từng trải của tác giả đang dò tìm đường đi trong chốn tối tăm mịt mù. Ông đã từng viết như sau: “Trong phòng tôi, tôi đang trên đường tiến bước; bàn tay Đức Chúa Trời đang đưa dẫn tôi trong đêm đen, nhưng tôi lại không biết sự săn sóc của Ngài”. Bóng tối đã trùm kín tâm trí ông khi ông đang du lịch ở Italia. Ông rất phân vân đôi đường: Giáo hội Anh quốc và Giáo hội La mã. Giáo hội nào đúng? Ông nói: “Tôi cầu xin luồng ánh sáng chân thật dẫn đưa tôi ra khỏi cơn âm u, chỉ đạo tôi tiến lên”. Tấm lòng hoàn toàn nương cậy nơi Đức Chúa Trời đã diễn tả trọn vẹn trong Thánh ca này; và cũng đã giúp cho rất nhiều linh hồn trên đường đến với Nguồn sáng Chân thật là Giê-xu Christ. Thánh ca “Luồng Thanh Quang Chiếu Giữa Đêm” do J.B. Dykes (1823-1876) phổ nhạc, câu 1 như sau:

“Luồng thanh quang Chúa chiếu giữa đêm mịt canh trường xin hằng đưa tôi;

Hồi canh khuya vắng, lúc tôi xa nhà lạc đường, dìu tôi Ngài ôi.

Xin đưa chân tôi, tôi không muốn cách xa nhà.

Chỉ mong Giê-xu đưa tôi một buớc hồi gia…”

Newman cùng bạn là Froude đã quay về Oxford ngay vào thời điểm có phiên tòa đang xử vụ án “Những sứ điệp của John Keble” nhằm tháng 7 năm 1833. Newman lập tức trở thành nhân vật chủ chốt của Phong trào Oxford do những bài giảng của ông ở tại nhà thờ Saint Mary (bài Parochial And Plain sermons), bởi 24 luận đề cùng những sách mà ông đã viết ra, đối với những vấn đề đang nổi cộm lên lúc đó. Newman cố gắng nêu bật lên tư tưởng này: Hội Thánh Anh quốc đã bị dứt ra khỏi vị thế trung gian giữa La mã giáo và Giáo hội Cải chánh rồi. Ông dần dà tin rằng những người thừa kế thật cho những nhà thần học Cơ Đốc giáo đầu tiên là Hội Thánh La mã. Ông viết Luận đề “90” vào năm 1841 để trình bày là 39 luận đề có thể giải dịch ra theo tinh thần La mã giáo, việc này đã đánh động dư luận lúc đó. Giám mục Anh giáo đã ra chỉ thị cấm Newman không được xuất bản những luận đề như thế nữa.

Việc liên hiệp giữa Anh giáo và Giáo hội Luther, mà kết quả đưa tới việc thiết đặt một Tòa Giám mục ở Giê-ru-sa-lem là một hồi còi báo động đối với Newman, là việc Cải chánh giáo liên minh với Giáo hội Anh quốc là một tất yếu không thể đảo ngược được. Năm 1843 Newman từ chức quản nhiệm giáo đường St Mary sau khi giảng một bài nẩy lửa cuối cùng biện hộ cho lập trường của mình, đề tài là “The Paring Of Friends”. Ông về sống ẩn dật ở Littlemore cho đến năm 1845. Sau đó ông đã gia nhập Giáo hội La mã với ý hướng thay đổi Giáo hội này. Năm 1845 khi đã vững vị trong La mã Hội, tức thì tác phẩm chính của ông được xuất bản và đón nhận rộng rãi, trong đó bàn về “sự phát triển của Thần học Cơ Đốc giáo” (Essay on the Development of Christian Doctrine).

Sau khi có được chỗ ngồi khá cao trong Giáo hội La mã, Newman được trao phó cho trọng trách đứng đầu ban thuyết giáo của nhà thờ St Philip Neri tại Birmingham. Từ những năm 1854-1858, ông làm Viện trưởng của Tân Đại Học Giáo hội tại Dublin. Trong thời gian ở đó ông viết quyển “Idea Of A University” (Lý Tưởng Của Một Đại Học Đường). Năm 1864 ông nhận lời tranh biện giáo lý do Charles Kingsley thúc đẩy về một chủ đề lừng lẫy hơn hết của ông “Apologia Pro Vita Sua”. Năm kế sau ông sáng tác một tập thơ là “The Dream Of Gerontius” mà nội dung có câu: “Tôi tin chắc chắn và chân thật” và “ca ngợi sự toàn khiết trong nơi rất cao”.

Năm 1870 ông viết quyển “Grammar Of Assent” được xuất bản rộng rãi, mục đích để bảo vệ niềm tin tôn giáo theo hệ La mã. Ông nhận chức Hồng Y năm 1877 (hoặc 1879), rồi qua đời năm 1890 ở Birmingham.

Lên đầu trang