Giu-đa, Nước

Kingdom of Judah. Royaume de Juda.
Lập nước.– Trong đời thầy tế lễ thượng phẩm Hê-li và tiên trISa-mu-ên, dân Phi-li-tin hà hiếp cả chi phái Giu-đa và Bên-gia-min, nên hai chi phái phía Nam đó mở rộng quan hệ với mười chi phái phía Bắc nhiều hơn; vậy chi phái Giu-đa cũng kể vào nước vua Sau-lơ. Sau khi Sau-lơ qua đời, chi phái Giu-đa giúp đỡ Đa-vít, là người đồng chi phái, được lên ngôi, và họ theo vua Đa-vít tranh chiến trong bảy năm. Khi Đa-vít đã toàn thắng, Giê-ru-sa-lem ở trên bờ cõi Giu-đa và Bên-gia-min trở nên kinh đô của cả nước Y-sơ-ra-ên. Chúa đã hứa với Đa-vít rằng dòng dõi sẽ ngồi trên ngôi người đời đời (IISa 7:13-16; ISử 17:12, 14, 23), còn nếu lìa bỏ Chúa sẽ bị sửa phạt. Tuy nhiên, lời hứa đó không có ý nói rằng các vua không cần sự khôn ngoan, cho nên khi vua Rô-bô-am, con Sa-lô-môn, tỏ ra lúng túng vì không biết những điều cốt yếu về sự cai trị, nên mười chi phái phía Bắc lìa khỏi nhà Đa-vít. Xem bài Y-sơ-ra-ên.
Giu-đa và phần đông Bên-gia-min cứ trung tín với nhà Đa-vít, và là phần tử lớn trong nước Giu-đa. Nước nầy khởi sự từ 975 T.C. cho đến khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy 588 T.C. (theo Ussher). Trong khoảng thời gian nầy có mười chín vua nhà Đa-vít trừ ra hoàng hậu A-tha-li là kẻ đã chiếm ngôi trong sáu năm. Xem bài niên hiệu Kinh Thánh, địa phận nước Giu-đa gồm lại cả hai phần đất của chi phái Giu-đa và Bên-gia-min trừ ra giới hạn phía Bắc có khi thay đổi. Và Bê-tên có khi thuộc về Giu-đa, nhất là sau khi nước Y-sơ-ra-ên suy tàn.
Sự giao thiệp giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.–Một việc có ảnh hưởng rất lớn trên lịch sử và số phận của hai nước ganh đua với nhau, đó là Giê-rô-bô-am, vua Y-sơ-ra-ên lập hai con bò vàng để dân sự có nơi thờ phượng ngay trong nước mình mà không cần phải đến Giê-ru-sa-lem thờ phượng, và nhất là để dân sự đừng trung tín với nhà vua cũ. Nhưng nó đem lại một hiệu quả là mọi người đã trung tín với Đức Giê-hô-va và di cư sang nước Giu-đa, điều này đẵ thêm sức cho Giu-đa về phần thuộc linh lẫn chính trị (ICác 12:26-33; 13:33; IISử 10:16-17). Sự giao thông đầu tiên giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên chẳng qua là sự khiêu chiến lẫn nhau. Chắc vì đó nên các nước lân cận mới xen vào việc nước Giu-đa, ví dụ như trong năm thứ V đời Rô-bô-am trị vì, Si-sắc vua Ai-cập, cướp bóc thành Giê-ru-sa-lem (ICác 14:25-28; IISử 12:1-12). Giu-đa và Y-sơ-ra-ên trong sáu mươi năm đầu cứ đánh nhau luôn (ICác 14:30; 15:7, 16; IISử 12:15; 13:1-20). Sau đó, trong đời vua A-háp và Giô-sa-phát, chẳng những có sự hòa bình, mà lại có sự giao hảo giữa hai nước và hai nhà vua đương trị vì. Kết quả sự thờ tượng Ba-anh đã đem vào nước Giu-đa, và đây là nguyên do chính khiến cho nước bị tiêu diệt. Vậy dân sự chia làm hai phe: một phe giữ sự thờ phượng Đức Giê-hô-va, một phe hướng về sự thờ Ba-anh và các thần ngoại bang. Trong thời gian sau, hai phe nầy phản kháng nhau luôn luôn, tùy theo hai nhà vua đương trị vì là bạn hay thù mà họ được thống nhất hay tranh chiến. Khi lòng dân sự hướng về Chúa và trung tín với Ngài, thì họ được thịnh vượng; khi họ bội đạo thường gặp hoạn nạn. Trong số vua nhân từ có: A-sa, Giô-sa-phát, Ê-xê-chia, và Giô-si-a; còn trong số các vua độc ác có A-cha, Ma-na-se, v.v….
Sự giao thông giữa Giu-đa và các dân ngoại.–Ai-cập là một xứ lân cận với Giu-đa ở phía Tây Nam, nên thường xen vào việc của nước Giu-đa. Các vua Ai-cập là Si-sắc, Sê-rách, và sau một thời gian lâu là Nê-cô tranh chiến với nước Giu-đa. Trái lại, Ai-cập dường như là một đồng minh có giá trị để chống với các cường quốc trên sông Tigre và Ơ-phơ-rát. Vậy, khi Tiệt-ha-ca, vua Ai-cập (dòng vua Ê-thi-ô-bi) đánh bại cường quốc A-sy-ri, trong đời vua Ê-xê-chia, thì cũng giúp đỡ trong việc giải cứu nước Giu-đa, về sau đạo binh Ai-cập cứ tiến đến thì đạo binh Nê-bu-cát-nết-sa tạm thời phải rút quân đang vây thành Giê-ru-sa-lem. Xem bài Pha-ra-ôn. Khi đạo binh Ba-by-lôn chiếm cứ thành Giê-ru-sa-lem, có một đoàn đông người Giu-đa ẩn mình trong xứ sông Ni-lơ. Thời gian nầy, văn hóa và tôn giáo Ai-cập có ảnh hưởng trên dân Do-thái. Hai cường quốc trên bờ sông Tigre và Ơ-phơ-rát cũng có cơ hội xen vào việc nước Do-thái.
Thời gian giao thông với A-sy-ri bắt đầu từ 734 T.C., khi vua A-cha cầu cứu Tiếc-la-Phi-lê-se (IICác 16:9) để chống với hai vua đồng minh là Y-sơ-ra-ên và Sy-ri, rồi sau A-cha đến đón vua đó tại Đa-mách. Được mười năm, khi dân A-sy-ri đã chinh phục nước miền Bắc Y-sơ-ra-ên, trong độ 125 năm sau nước Giu-đa, vì cớ sự tham lam và hung dữ của cường quốc A-sy-ri, họ chịu thiệt hại nhiều cho đến khi cường quốc đó bị lật đổ bởi dân Ba-by-lôn, Sa-gôn, San-chê-ríp, Ê-sạt-ha-đôn, và Ashurbanipal, bốn người kế vị trên ngôi A-sy-ri, tùy theo sử ký chép đều có giao chiến với Giu-đa nhiều hoặc ít. Trong Kinh Thánh có chép về ba trong bốn vua đó (Ês 20:1; 36:1; 37:38).
Thời gian giao thiệp với người Ba-by-lôn bắt đầu 605 T.C., khi Giê-hô-gia-kim chịu Nê-bu-cát-nết-sa bắt phục. Trong ngót 20 năm. Giê-ru-sa-lem bị đổ nát, và dân Giu-đa bị bắt sang Ba-by-lôn làm phu tù. Lời Chúa hứa cho Đa-vít không có ý dòng dõi Đa-vít tạm thời ngồi trên ngôi người.
Những nguyên nhân nước Giu-đa bị tàn phá và dân bị làm phu tù.–1. Vì gây cho nước Y-sơ-ra-ên sập đổ và để nước Giu-đa một mình.
2. Vì không làm theo mạng lịnh Chúa mà tuyệt diệt hết thảy dân Ca-na-an, nên còn giữ những men hư hoại giữa vòng mình.
3. Vì giao kết về xã hội và chính trị với những dân thờ hình tượng.
4. Vì bội đạo nên đạo đức suy đồi và mất sự sốt sắng để đạt đến mục đích cao cả là lập nước Đức Chúa Trời trên mặt đất.
5. Vì từ chối những lời kêu gọi của các Đấng tiên tri mà không chịu ăn năn.
6. Khi quốc gia suy tàn, thay vì ăn năn tội và nhờ cậy Chúa nhưng dân sự cố sức nhờ những nước đồng minh nhỏ mọn mà chống trả với các cường quốc, không chịu nghe tiên tri Giê-rê-mi khuyên bảo.
Sau khi làm phu tù trở về.–Sau khi từ Ba-by-lôn trở về, Xô-rô-ba-bên, một dòng dõi của Đa-vít làm quan đứng đầu cai trị dân sự dưới quyền người Ba-tư. Khỏi ít lâu, có Nê-hê-mi, người Giu-đa, lên cai trị. Trừ ra thời gian hai người đó cai trị, phần còn lại là do quan tổng đốc của tỉnh Ba-tư bên kia sông, gồm cả Giu-đa, chịu trách nhiệm cai trị. Sau khi Alexandre Đại đế chinh phục cả xứ Giu-đê lần lượt thuộc về Ai-cập và Sy-ri. Họ Macchabée làm loạn, chống nghịch cùng Sy-ri và lần lần thành công cho đến khi lập một thầy tế lễ kiêm chức vua, từ chi phái Lê-vi ngồi trên ngôi Đa-vít. Xem bài Macchabée. Sau có một dòng vua người Y-đu-mê, bắt đầu với Hê-rốt Đại đế trị vì dưới quyền đế quốc La-mã. Khi cây phủ việt trở lại nhà Đa-vít thì không phải là một nước hình thức, nhưng là thuộc linh, mà vua không phải là vua thế gian nhưng mà là Con Đức Chúa Trời ở trên trời.
Hiện nay những người Do-thái (Juifs) tan lạc khắp thế gian đã bắt đầu trở về xứ mình, song chưa bằng lòng nhận biết Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si, là Vua của nhà Đa-vít. Một ngày kia, khi Chúa tái lâm, “đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy” (Xa 12:10; Khải 1:7). Lúc đó, những người Do-thái mới nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Mê-si, là vua họ đang trông đợi, nước mình sẽ được lập lại.

Lên đầu trang