Judea, Judaea. Judée.
Vì phần nhiều phu tù trở về thuộc chi phái Giu-đa nên dân sự đó được gọi là người Giu-đa (Juifs) và xứ họ ở gọi là xứ Giu-đê, không kể những bờ cõi cũ của các chi phái. Kinh Thánh chép lần đầu tiên về “xứ” mới đó là ở Đa-ni-ên 5:13 (chép “từ Giu-đa”), lần thứ nhứt gọi là “tỉnh” là Exơ 5:8 (tỉnh Giu-đa); Nê 11:3 có nói đến “các thành Giu-đa”. Theo Sử gia Hérodotus, đế quốc Ba-tư chia ra như vậy (Đa-ni-ên 6:1; Êxơ 1:1; 8:9). Trong những sách của Apocryphe thì bỏ chữ “tỉnh” và chép xứ Giu-đê (Judaea), trong cả Tân Ước cũng chép như thế nữa.
Tuy chữ “Giu-đê” được dùng một cách rộng rãi song không đúng là khi chỉ về cả xứ Ca-na-an và mọi dân sự ở đó. Trong sách Tin lành, dường như chép bờ cõi xứ Giu-đê là “bên kia sông Giô-đanh” (Mat 19:1; Mác 10:1). Nói đúng hơn, Giu-đê là tên của địa phận thứ ba ở phía Tây sông Giô-đanh và ở phía Nam xứ Sa-ma-ri, từ phía Đông đến Tây độ 160 cây số và từ phía Bắc đến Nam độ 95 cây số, gồm lại địa phận cũ của Giu-đa, Đan, Si-mê-ôn và Bên-gia-min. Cũng có khi xứ rộng hay hẹp hơn tùy theo số người Giu-đa (Juifs) ít hay nhiều. Ngoài Giê-ru-sa-lem, Bết-lê-hem và Bê-tha-ni, Chúa Jêsus ít khi đi lại ở xứ Giu-đê thật (xem Giăng 7:1).
Khi vua A-chê-la-u bị cất chức (6 S.C.) thì xứ Giu-đê trở nên một tỉnh thuộc đế quốc La-mã, có một tổng ủy viên (procurateur) cai trị dưới quyền tổng đốc xứ Sy-ri.
Về lịch sử xứ Giu-đê sau Chúa, chỉ cần viết trong thế kỷ thứ V đã trở nên một phần của xứ đặt tên là Palaestina Prima. Đến thế kỷ thứ XII, xứ Giu-đê phía Bắc gọi là “nước Giê-ru-sa-lem của người La-tinh”, gồm miền núi Giu-đa từ Sinjil đến Tekoa, và phía Nam đến Bê-e-sê-ba thuộc “Chúa của Thánh Áp-ra-ham” (tức là Hếp-rôn). Về sau xứ nầy thuộc dưới quyền Thổ-nhĩ-kỳ. Hiện nay là thuộc quyền Liên Hiệp Quốc. Có mấy mươi vạn người Giu-đa về xứ rồi, vì thế xứ đó thuộc dân nào, hoặc người A-rạp hay dân lựa chọn của Chúa là một vấn đề không giải quyết được trước khi Vua thật của xứ đó là Chúa Jêsus Christ trở lại. Chỉ biết rằng lời Chúa đã hứa là chắc chắn.