Covenant, Treaty. Alliance.
Nghĩa là hai người ước hẹn với nhau để kết lập lời thề nguyện. Theo lệ xưa, phàm ai lập lời thề với nhau, thì mỗi người phải chích máu ở cánh tay mình, hòa ra uống chung. Có ý rằng huyết có thể dung hòa với nhau. Về sau, lối giao ước ấy đổi thành cách khác: họ mổ con sinh để hai bên; và đi qua ở giữa mà nói lời thề (Sáng 15:10-17; Giê 34:18-19). Về sau nữa, con người không thề nguyền với nhau mà chỉ thề nguyền với Chúa (Sáng 26:31; Hêb 6:16, 17; Phục 27:15; IICác 11:4, 17; 23:3). Có khi đưa tay cam kết (Châm 6:1; 17:18; 22:26; Êxê 17:18); có khi dựng hòn đá để ghi nhớ (Sáng 31:45-53; Giô 24:27), cũng có khi dùng tiệc yến làm dấu hiệu lập giao ước (Sáng 26:30; 31:54; IISa 3:20); hoặc ăn muối để làm chứng về việc lập giao ước (Dân 18:19; IISử 13:5; Lê 2:13), hoặc lấy huyết con sinh rảy nơi bàn thờ, ý cho rằng Chúa ở bàn thờ đã chuẩn định việc đó rồi. Những người kết ước với nhau cũng cùng giữ lấy. Vả, việc đó lại làm hình bóng về sau nầy Đấng Christ chuộc tội cho người đời mà phải đổ huyết (Hêb 10:29; 13:20), và làm hình bóng về tôn chỉ đặt ra tiệc thánh (Mat 26:28, Mác 14:24; Lu 22:20; ICôr 11:25). Kinh Thánh luận về việc lập giao ước có thể chia làm hai loại:
I. Người ta lập giao ước với nhau.–Giống như hai nước lập điều ước (Sáng 21:27; Giô 9:6; Thi 83:5; Am 1:9), hoặc vua lập giao ước với dân (IISa 5:3; Đa-ni-ên 9:27), hoặc bạn hữu lập lời thề hẹn (ISa 18:3; Thi 55:20), hoặc nam nữ kết ước về việc hôn nhân (Châm 2:17; Mal 2:14). Có khi Kinh Thánh mượn chữ giao ước làm lời thí dụ, như Gióp 5:23 nói: “vì ông lập giao ước với đá đồng ruộng, và các thú rừng sẽ hòa thuận với ông”. Gióp 31:1 nói: “Tôi đã lập giao ước với mắt tôi, vậy làm sao tôi còn dám nhìn người nữ đồng trinh?” Gióp 40:23 nói: “Nó (cá sấu) sẽ lập giao ước với ngươi, để ngươi bắt nó làm tôi mọi đời đời chớ?”. Còn Ês 28:15-18 nói: “chúng ta hãy kết ước với sự chết và giao ước cùng nơi âm phủ…” Và như Mal 3:1 nói: “Ta sai sứ giả ta, tức là thiên sứ của sự giao ước”. Sứ giả đó đích thực do Chúa sai đến; và ở trong dân gian mà làm việc của Ngài.
II. Chúa và người lập giao ước với nhau.–Ban đầu, có lời Chúa phán cùng A-đam, rồi Ngài lập giao ước với A-đam (Sáng 2:16-17); Ngài kết ước với Nô-ê (Sáng 6:18; 9:8-17; Ês 54:9; Giê 33:20, 25); về sau Ngài kết ước với Áp-ra-ham (Sáng 15:18; 17:2-21). Ngài lại giữ vững giao ước đó với Y-sác và Gia-cốp (Xuất 2:24; Thi 105:9). Chúa lại cho phép cắt bì là dấu hiệu lập giao ước (Công 7:8). Sau nữa, Chúa ở núi Si-na-i, lập giao ước với người Y-sơ-ra-ên (Xuất 19:5; 34:10, 27, 28). Giao ước đó rất là trọng yếu, Ngài có lập lại ở xứ Mô-áp (Phục 29:1, 9), lời văn viết vào bảng đá (Xuất 34:28; Phục 9:9), và chép cả vào sách nữa (Xuất 24:7; IICác 23:2). Bảng văn ấy chứa trong hòm giao ước (Phục 10:2, 5; ICác 8:9, 21; IISử 5:10; Hêb 9:4). Vì bản giao ước đó thật là luật pháp của một nước Y-sơ-ra-ên. Chúa lập lại giao ước nhỏ hơn với người Y-sơ-ra-ên, như kết ước với Phi-nê-a (Dân 25:12, 13), lập ước với Đa-vít (Thi 89:3; Giê 33:21; IISa 7:1-). Lại có Giô-suê, Giê-hô-gia-đa, Ê-xê-chia, Giô-sia, E-xơ-ra, là những người lãnh đạo dân trước mặt Chúa, và lập giao ước với Ngài (Giô 24:25; IICác 11:17; IISử 29:10; IICác 23:3; Exơ 10:3).
Các tiên tri thường nói trong tương lai Chúa và dân Y-sơ-ra-ên sẽ lại lập giao ước mới (Ês 55:3; 59:21; 61:8; Giê 31:31; 32:40; 50:5; Êxê 16:60-62; 20:37; 34:25; 37:26). Và hứa Đấng Mê-si tương lai sẽ làm Đấng Trung bảo lập giao ước với dân (Ês 42:6; 49:8). Đến khi Chúa Jêsus giáng sanh, bấy giờ giao ước mới được thành lập cách trọn vẹn (Giê 31:31). Giao ước đó là do Đấng Christ lấy huyết Ngài mà lập với kẻ tin Ngài khiến người giữ giao ước đó được sự sống đời đời (Rô 3:25; Hêb 7:22; 8:6-13; 9:15).
Chữ giao ước Phao-lô nói đến là bắt đầu từ Áp-ra-ham đến Chúa Jêsus, trong khoảng đó không biết có bao nhiêu là giao ước (Rô 9:4; Êph 2:12); song có giao ước bình thường, nhưng cũng có những giao ước quan trọng. Còn giao ước ở núi Si-na-i mà Sứ đồ Phao-lô nhắc đến chẳng qua chỉ là một trong các giao ước thôi (IICôr 3:6; Ga 3:15; 4:24).
Tiến sĩ Scofield có luận về giao ước xin coi Ê-đen; A-đam; Nô-ê; Áp-ra-ham; Môi-se; Pha-lê-tin; Đa-vít; Giao ước mới.