Giao thông

Communication.
Về sự giao thông, tóm tắt chia ra làm ba phần:
I. Sự giao thông giữa Đấng Christ và Đức Chúa Trời.–Coi Giăng 17:5-24, thì biết Đấng Christ từ trước khi sáng thế, đã giao thông với Đức Chúa Trời (Giăng 1:1-18). Đấng Christ cùng một thể với Đức Chúa Trời, chẳng những cùng ở với Đức Chúa Trời, lại cũng là Đức Chúa Trời nữa (Giăng 1:1; coi thêm Mat 11:27). Vả, Đấng Christ cũng làm việc với Đức Chúa Cha; bởi Ngài, muôn vật được dựng nên (Giăng 1:3-10; ICôr 8:6; Cô 1:16); nhờ Ngài, muôn vật được đứng vững (Cô 1:17; Hêb 1:3). Khi Ngài giáng sanh làm người, Ngài cũng giao thông với Đức Chúa Cha từng giờ, từng phút, chính Ngài đã tự nói về việc này (Mat 11:27; Giăng 12:49-50; 14:6, 10, 11; 16:28, 32). Chúa phán Ngài với Cha là một (Giăng 10:30-38; 12:44; 14:7-11). Thô-ma xưng Ngài là Đức Chúa Trời; Ngài cũng lấy làm phải (Giăng 20:28, 29). Quyền của Đức Chúa Cha tức là quyền của Ngài (Mat 9:2, 3; Mác 2:5-7; Lu 5:20, 21; 7:48). Chúa sẽ bởi Cha sai Đấng Yên ủi đến (Giăng 15:26).
Trong bốn sách Tin lành, trừ lời Chúa ra, những chứng cớ về sự giao thông giữa Chúa và Đức Chúa Trời rất nhiều. Ba mươi năm, trước khi chịu lễ Báp-têm, Chúa đã giao thông với Đức Chúa Cha rồi. Đến khi Ngài chịu lễ Báp-têm, thì từng trời mở ra, Đức Thánh Linh giáng lâm, có tiếng phán từ trời rằng: “Ngươi là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng”. (Mác 1:10, 11). Hằng ngày trước khi làm việc, Chúa đều giao thông với Đức Chúa Cha (Mác 1:35). Khi làm phép lạ, thì Ngài ngước lên trời mà tạ ơn (Mác 6:41; 7:34; 8:6; Giăng 6:11; 11:41). Mỗi ngày, khi làm xong việc, Ngài cũng có giao thông với Đức Chúa Trời (Mác 6:46; Mat 14:23; Lu 5:16). Không giao thông không làm việc được (Mác 9:29; Giăng 5:30). Càng có việc quan trọng, càng phải giao thông (Lu 3:21; 6:12, 13; 9:18, 28, 29; 22:41; 23:46; Giăng 12:28; 17:2).
II. Sự giao thông giữa môn đồ và Chúa.–Có ba thuyết:
1. Giao thông với Đức Chúa Cha;
2. Giao thông với Đức Chúa Con;
3. Giao thông với Đức Thánh Linh (Giăng 1:2, 3; 14:16, 17).
Người xưa vì phạm tội nên cái sự giao thông với Đức Chúa Trời bị cắt đứt! Duy chỉ có Cứu Chúa mới phá bỏ được ngăn trở đó, khiến người ta lại có thể giao thông với Đức Chúa Trời. Những người được sự giao thông đó có tên gọi như sau:
Là dân nước Đức Chúa Trời (Mác 10:14-15; Giăng 3:3), là môn đồ ta (Lu 14:26; Giăng 8:31), là bạn hữu (Giăng 15:15), là anh em chị em (Mác 3:35), là người biết Ngài (IGiăng 2:3), là kẻ theo ta (Mác 8:34; Giăng 8:12), là người được sự sống đời đời (Giăng 3:16).
Vả lại, sau khi vào cửa giao thông đó, mọi người được phước rất lớn; được hằng ở trong Đấng Christ (Giăng 15:4-8), được Đức Thánh Linh ở cùng đời đời (Giăng 14:16-20; 16:7, 13, 15; IGiăng 2:20, 27; 3:24; 4:13), được dự phần trong sự chết của Chúa (Giăng 6:53-58), không cần lo sợ hoạn nạn và thử thách (Mác 13:18; 14:38), được sanh nhiều trái (Giăng 15:1-10). Song sự giao thông đó cần phải tập luyện (Giăng 15:15; 16:12; Mác 4:33, 34).
Để tập luyện, phải cần theo ba phương pháp nầy:
1. Cầu nguyện (Mat 6:6; 7:7, 8; 26:41; Lu 6:28);
2. Giữ lễ Tiệc Thánh để kỷ niệm Chúa (ICôr 10:16; Lu 22:19, 20).
3. Cùng Chúa chịu khổ (Mác 10:38, 39; Cô 1:24; Phil 3:10).
III. Sự giao thông giữa các môn đồ với nhau.–Coi IGiăng 1:1, 2, 3, 7 để biết rằng khi môn đồ đã đồng tâm với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con thì ai nấy cũng phải đồng tâm với nhau, Chúa phán: “Nơi nào có hai ba người nhơn danh Ta nhóm nhau lại, thì Ta ở giữa họ” (Mat 18:20). Vì Cứu Chúa rất muốn môn đồ hiệp lại làm một (Giăng 10:16; 17:11, 21) Bởi vậy, môn đồ nên hầu việc lẫn nhau (Mat 10:43-45), tha thứ lẫn nhau (Mat 6:14; Lu 17:3, 4), yêu thương lẫn nhau (Giăng 13:34; 15:12) như các chi thể của một thân (ICôr 12:12-27), cùng hiệp một trong sự chết của Đấng Christ (ICôr 10:16, 17).
Tiến sĩ Scofield giải luận về sự giao thông trong Nhã 2:14 rằng:
Trong câu 14 nầy, lối sắp đặt ý thật là hay. Thứ nhứt, ta thấy tân phụ nhờ Đấng Christ mà được gọi là “chim bò câu ta”. Tân phụ tự mình thật kém thiếu; song nhờ Chúa được trở nên không tì vít, không chỗ trách được” (Phil 2:15), đó chính bản tánh chim bò câu. Thứ nhì, Tân phụ được ở nơi rất yên ổn: “trong hốc đá”, hay nói cách khác là được ẩn mình trong các thương tích của Đấng Christ (Cô 3:3). Thứ ba, riêng Tân phụ được hưởng ơn đặc biệt: “tại chốn đụt của nơi hê hẩm”, nguyên văn cũng có ý là ẩn mình trong hang là bí quyết để có ơn riêng vào trong sự hiện diện của Chúa, là Tân lang (Êph 2:18; Cô 3:1; Hêb 10:19-22). Thứ tư, Tân phụ được đến gần Chúa trước khi nói: “Hãy tỏ cho ta xem mặt mũi mình” rồi “cho ta nghe tiếng mình”. Cuối cùng, khi tân phụ đã đến gần và cất tiếng nói rồi, thì Tân lang khuyên cách êm dịu: “Hãy bắt cho chúng tôi những con chồn”, v.v….
Tiến sĩ Scofield lại dùng Thi 51 để bày tỏ một sự dạy dỗ:
Thi 51 với những bước nối tiếp trong đó, luôn phải là mẫu mực về sự từng trải của một tín đồ đã phạm tội lại được giao thông với Chúa cách trọn vẹn để hầu việc Ngài. Những bước đó là:
1) Chúa đoán xét tội lỗi cách đầy đủ (câu 1-6); 2) Nhờ huyết Chúa được tha và tẩy sạch (câu 7, phần a); 3) Được tinh sạch (câu 7 phần b đến câu 10). So với Giăng 13:4-10; Êph 5:26; IGiăng 1:9; 4) Bởi Đức Thánh Linh đầy dẫy, được sự vui mừng và quyền phép (câu 11, 12); 5) Hầu việc Chúa (câu 13);
6) Thờ phượng Chúa (câu 14-17); 7) Tín đồ được bổ sức lại thì giao thông với Chúa, không phải vì mình, song về ơn phước của Si-ôn. Về phần trước giả, Thi-thiên nầy là sự ăn năn của Đa-vít sau khi phạm tội với Bát-sê-ba, để được lại sự giao thông với Chúa. Về thời đại, ấy cũng là đường lối của Y-sơ-ra-ên để được trở về cùng Chúa (Phục 30:1-10).

Lên đầu trang