Giao ước, Sách

Book of the Covenant. Livre de l’Alliance.
Mấy chữ “sách giao ước”, đầu tiên thấy ở Xuất 24:7. Điều này có nghĩa là muốn dân Y-sơ-ra-ên giữ theo luật pháp Chúa định. Sở dĩ gọi là giao ước là vì có lời hứa về sự ban phước của Chúa (Xuất 23:20-33). Pháp luật Chúa chép đủ ở trong Xuất 20:22-23:33. Chỉ có mười điều răn thì không được kể là thuộc về pháp luật. Vì pháp luật được hình thành trong thời gian lâu dài; còn mười điều răn thì do mạng Chúa truyền phán một lúc. Đó là điều quan trọng để nhận biết giữa luật pháp và mạng lệnh. Ý nghĩa tổng quát của sách giao ước có thể hia làm hai phần:
I. Thể lệ đại cương.–1. Loại phán quyết.– Đơn từ kiện tụng ngày xưa không có pháp luật để dựa vào đó mà xét xử, nhưng thường chỉ xử theo hình phạt của các án cũ do miệng người truyền lại. Lần lần về sau, những điều ấy được chép vào sách và trở thành pháp luật. Sách Xuất Ê-díp-tô ký và các lời xử đoán trong đó đều do truyền miệng mà ra. Cứ xem các lời xử đoán đã có trong sách đó, thì biết những tội trở thành án bấy giờ không phải là ít, có những luật lệ về các việc như nuôi tôi mọi (Xuất 21:1-11), giết người (Xuất 21:16-32), hãm hại súc vật (Xuất 21:33-36), trộm cắp (Xuất 22:1-5), đốt cháy (Xuất 22:6), vay mượn (Xuất 22:14-15; 25-27), hòa dụ và nằm với gái đồng trinh (Xuất 22:16-17). Lại có những luật cấm tuyệt về việc mắng cha mẹ và nằm cùng con vật, v.v… (Xuất 21:17; 22-19). Đó là những điều chép cả ở trong sách giao ước vậy.
2. Loại mạng lịnh.– Trong sách giao ước có những lời răn đe. Tất cả câu nào có chữ “chớ”, hoặc chữ “phải” đứng ở đầu câu đều là mạng lịnh. Còn các lời răn dạy thì hơn nửa là luật lệ thờ phượng Chúa như truyền xây bàn thờ (Xuất 20:24-26), cấm đồng cốt (Xuất 22:18), đãi khách ngoại bang (Xuất 22:21), cấm lộng ngôn và rủa sả (Xuất 22:28), nên dâng cho Chúa những hoa quả đầu mùa và những súc vật đầu lòng (Xuất 22:29-30), chớ ăn thịt bị thú xé (Xuất 22:31), nên xử kiện công bằng (Xuất 23:1, 2, 3, 6, 7, 8), nên giữ năm Sa-bát, ngày Sa-bát và ba lễ trọng thể (Xuất 23:10-12, 14-16); cúng tế chớ dâng huyết con sinh chung với men, chớ để mỡ con sinh đã tế đến sáng mai (Xuất 23:18, 19); ngoài Chúa chớ thờ các thần khác, cũng chớ xưng danh các thần khác (Xuất 22:20; 23:13). Cũng có lời hứa ai giữ luật pháp thì sẽ được phước (Xuất 23:22-23). Đó đều là những mạng lịnh răn bảo dân chúng.
II. Thời kỳ.–Sách giao ước thành lập từ bao giờ, nay không thể khảo cứu được nữa. Chỉ biết căn cứ vào nội dung ghi chép: dân tình bấy giờ mộc mạc, thật tha. Trước khi có sách giao ước, trong họ hễ có ai bị hại, thì các người trong họ đều có thể tự tiện báo thù. Đến khi sách giao ước đã thành lập, thì họ phải chờ sự phán quyết của thẩm phán mới được. Vả lại, thời gian đó, nhân dân thường tập trung thành từng họ hàng riêng, nhưng chưa biết họp lại thành nước. Từ những điều đó ta có thể suy ra sách giao ước được thành lập vào lúc người Y-sơ-ra-ên đi đánh trận, tức là trước khi Chúa truyền phán mười điều răn. Coi thêm năm sách Môi-se và Xuất Ê-díp-tô ký.
Giao ước mới.–Lược giải:
1. Giao ước mới “hay hơn” giao ước Môi-se, không phải hay hơn về luân lý, nhưng về sự trọn vẹn (Hêb 7:19; Rô 8:3, 4).
2. Lập trên lời hứa “tốt hơn”, vì không có điều kiện: Trong giao ước Môi-se, Đức Chúa Trời phán: “Nếu các ngươi…” (Xuất 19:5); trong Giao ước Mới, Chúa phán: “Ta sẽ” (Hêb 8:10, 12).
3. Dưới Giao ước Môi-se, sự vâng lời là bởi lòng và trí tình nguyện (8:10).
4. Giao ước Mới bảo đảm chính Chúa hiện đến cùng mỗi một tín đồ (8:11).
5. Chúa bỏ quên hết tội lỗi (8:12; Hêb 10:17; so Hêb 10:3);
6. Lập trên một việc cứu chuộc đã trọn rồi (Mat 26:27-28; ICôr 11:25; Hêb 9:11, 12, 18-23);
7. Và bảo đảm dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn lại, về sau sẽ trở lại cùng Chúa, và nhận ơn phước (Giê 31:31-40; cũng xem “Nước” (Cựu Ước) và IISa 7:8-17). Giao ước Mới nầy là Giao ước thứ tám, trong đó có nói về sự sống lại và sự đầy trọn đời đời.
I. Tóm tắt tám Giao ước.–1. Giao ước Ê-đen (Sáng 1:26-28, xem Ê-đen) cai trị đời vô tội của loài người.
2. Giao ước A-đam (Sáng 3:14-19; xem A-đam) cai trị đời tội lỗi của loài người và hứa một Đấng Cứu chuộc.
3. Giao ước Nô-ê (Sáng 9:1; xem Nô-ê) lập trên lẽ cốt yếu về chính thể loài người.
4. Giao ước Áp-ra-ham, (Sáng 15:18; xem Áp-ra-ham) lập dân tộc Y-sơ-ra-ên và làm cho vững vàng, thêm một vài điều, lời hứa với A-đam về sự cứu chuộc.
5. Giao ước Môi-se (Xuất 19:25; xem Môi-se) đoán phạt mọi người, “vì mọi người đều đã phạm tội”.
6. Giao ước Pha-lê-tin (Phục 28:1–30:3, xem Pha-lê-tin) bảo đảm dân Y-sơ-ra-ên được bổ sức lần cuối cùng và sẽ trở lại cùng Chúa.
7. Giao ước Đa-vít (IISa 7:8-17, xem Đa-vít) lập họ hàng với Đa-vít được còn lại đời đời (đã được trọn trong Đấng Christ, Mat 1:1; Lu 1:31-33; Rô 1:3), và lập nước Đa-vít cai trị dân Y-sơ-ra-ên và cả thế gian; sẽ được ứng nghiệm trong và bởi Đấng Christ (IISa 7:8-17; Xa 12:8; Lu 1:31-33; Công 15:14-17; ICôr 15:24).
8. Giao ước Mới nhờ sự Đấng Christ dâng mình làm của lễ, và bảo đảm phước lành đời đời, tùy theo Giao ước Áp-ra-ham (Ga 3:13-29), cho hết thảy mọi người tin. Giao ước này không có điều kiện gì, và vì cớ trách nhiệm lập Giao ước đó không giao lại cho loài người, thì chắc chắn không đổi được.
II. Xem bài: “Sự quan hệ của Đấng Christ với tám giao ước” trong bài 11 về Đấng Christ của Tiến sĩ Scofield.

Scroll to Top