Xuất Ê-díp-tô Ký

MỤC LỤC

XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ - Phần 1

Giới thiệu

Nếu bạn thích đọc sách về những cuộc chạy trốn, thì bạn sẽ thích đọc sách này. Đây là câu chuyện

kể về cuộc chạy trốn lớn nhất trong lịch sử. Hơn 2 triệu người đô lệ đã trốn thoát ra khỏi một trong những cường quốc mạnh nhất trong thế giới cổ đại. Đây thật sự là một phép lạ. Thực tế, đây là một loạt các phép lạ.

Môi-se thực ra đã nhìn thấy nhiều phép lạ hơn cả Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cóp cộng lại. Đây thực sự là một loạt các sự can thiệp siêu nhiên của Chúa vì cớ dân của Ngài. Một số những phép lạ nghe có vẻ như pháp thuật, chẳng hạn khi cây gậy của Môi-se biến thành con rắn rồi ngược trở lại thành cây gậy. Nhưng đa số các phép lạ là sự can thiệp rõ ràng vào thiên nhiên. Họ không thể coi những phép lạ này là những phép lạ do ảo tưởng tâm lý được. Đức Chúa Trời thực ra đã điều khiển những gì mà Ngài đã tạo dựng nên vì lợi ích của dân của Ngài.

Toàn bộ sự kiện ra khỏi Ai Cập có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hai khía cạnh. Thứ nhất, điều này có ý nghĩa quốc gia cho một dân tộc được gọi là Y-sơ-ra-ên. Bởi vì đây là sự khởi đầu của lịch sử dân tộc của họ. Đây là lúc họ có sự tự do chính trị. Đây là lúc họ trở thành một quốc gia có quyền tự quyết. Mặc dù lúc bấy giờ họ chưa có đất, nhưng họ đã là một dân tộc có tên gọi riêng. Sau đó mỗi năm một lần họ có Lễ Vượt Qua, giống như ở tại Mỹ, người ta kỷ niệm ngày 4 tháng 7 là ngày lễ độc lập của họ.

Nhưng điều này còn có ý nghĩa thuộc linh, vì lúc này họ nhận ra là Đức Chúa Trời của họ là đấng đã tạo dựng nên cả vũ trụ này, nên Ngài có thể kiểm soát gì Ngài đã tạo dựng nên vì cớ lợi ích của họ. Thực ra, họ tin rằng Thần của họ là vị Thần quyền năng hơn tất cả những vị thần của Ai Cập cộng lại. Họ nhận ra rằng Thần của họ là vị thần duy nhất tồn tại, Ê-sai liên tục nhấn mạnh đến điều này, “không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Ta.” Họ khám phá ra Đức Chúa Trời của họ là đấng quyền năng hơn tất cả những vị thần khác.

Ngài là Đức Chúa Trời Chí Cao. Tại đây Ngài có danh hiệu là Shaddai, nghĩa là Đức Chúa Trời Toàn Năng. Nhưng đồng thời Ngài có một tên gọi nữa. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký mà chúng ta có tên gọi riêng của Đức Chúa Trời được ban cho dân tộc Y-sơ-ra-ên. Khi chúng ta biết tên, thì mối quan hệ trở nên thân mật hơn, dễ dàng bắt đầu xây dựng mối quan hệ trong một cách cá nhân, trong một cách thân mật hơn.

Về tên gọi Giê-hô-va

Ngài có tên gọi và có nhiều tước hiệu. Tên gọi của Ngài là Giê-hô-va. Tôi không biết phát âm như

vậy có đúng không, bởi vì tôi chưa tìm thấy được một người Do Thái nào nói cho tôi biết là cần phải phát âm như thế nào mới đúng. Họ không dám phát âm danh của Chúa bởi vì sợ rằng sẽ phạm tội lấy danh Chúa mà làm chơi. Nhưng tên gọi Giê-hô-va chưa truyền đạt nhiều thông tin, chưa khiến cho lòng tôi nóng cháy, bởi vì trong tiếng Anh nó không có nghĩa lắm.

Nên cách đây một thời gian tôi có cầu nguyện và nói rằng Chúa ơi xin hãy cho con một tên gọi truyền đạt được ý nghĩa của tên gọi Giê-hô-va cho con, và cho con cả cảm xúc nữa. Ngay lập tức trong đầu tôi xuất hiện tên gọi, luôn luôn. Tôi nghĩ, ồ, đây là cái tên hay, bởi vì Giê-hô-va, về ngữ

pháp, là phân từ của động từ LÀ. Khi gọi Đức Chúa Trời là Đấng Luôn Luôn, thì nó truyền đạt được ý nghĩa của tên gọi đó. Ngài là đấng luôn luôn cung ứng, luôn luôn giúp đỡ, luôn luôn bảo vệ, luôn luôn chữa lành… Đó là danh của Chúa mà tôi sử dụng từ thời đó bây giờ. Trong tiếng Hê-bơ-rơ là Giê-hô-va.

Đó là khi họ tìm thấy được tên gọi của Ngài. Ngài cho họ không chỉ là tước hiệu là Đấng Toàn Năng. Nhưng cả tên gọi nữa. Luôn luôn. Ta luôn luôn ở cùng với con. Ta luôn luôn ở tại đây. Ta luôn luôn ở nơi này.

Trong Xuất Ê-díp-tô Ký, đấng tạo hóa của mọi sự đã trở nên đấng cứu chuộc của một nhóm người. Sự kết hợp của cả đấng tạo hóa với đấng cứu chuộc là điều mà chúng ta cần phải nắm chắc. Một số Cơ Đốc nhân đôi khi đi sang thái cực Ngài là đấng tạo hóa, đôi khi lại chỉ nghĩ đến việc Ngài là đấng cứu chuộc. Nhưng cả hai điều đó đi cùng với nhau. Đấng tạo hóa tạo ra cả vũ trụ này đã trở thành đấng cứu chuộc của một nhóm người nô lệ.

Nguồn gốc của Xuất Ê-díp-tô Ký

Đây là một trong năm sách của Môi-se. Khi bạn nghiên cứu năm sách này, thì bốn sách tương đối

giống nhau, còn có một sách rất độc đáo. Tôi nhắc đến sách độc đáo trước. Sáng Thế Ký chính là sách rất độc đáo, bởi vì Sáng Thế Ký là sách duy nhất trong năm sách của Môi-se đề cập đến những sự kiện diễn ra trước khi Môi-se ra đời. Còn bốn sách kia đều xảy ra trong khoảng đời của Môi-se và rõ ràng Môi-se là người viết bốn sách này.

Nhóm người này đã là nô lệ trong suốt 400 năm, không có đất riêng, không có tiền riêng, không có bất kỳ cái gì riêng của mình. Vì vậy, họ cần phải được nghe lại về nguồn gốc của họ. Tôi không biết bạn đã đọc cuốn sách của Alex Hayes về nguồn gốc chưa? Đó là câu chuyện kể về một người có tổ phụ đã bị bán làm nô lệ ở tại châu Phi sau đó bị đưa đến nước Mỹ, anh ta đi tìm lại nguồn gốc của mình ở Tây Phi. Đó là một câu chuyện rất hấp dẫn. Nhưng ở đây, Môi-se phải viết lại lịch sử trước đó của dân của mình cho những người nô lệ này, để họ biết nguồn gốc của họ, để họ biết họ ra từ đâu. Nên Môi-se rõ ràng đã tập hợp từ ký ức của dân tộc của mình hai điều: Thứ nhất là gia phả của họ. Thứ hai là câu chuyện về các tổ phụ của họ. Sáng Thế Ký là tập hợp của các ký ức đó.

Nhưng từ Xuất Ê-díp-tô Ký trở đi, ông bắt đầu kể về những sự kiện diễn ra trong thời của ông. Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân Số Ký và Phục Truyền là sự hỗn hợp của thể văn tường thuật, hay là kể chuyện, lẫn thể văn văn bản luật pháp, về điều gì đã xảy ra trong lịch sử của họ và về điều mà Đức Chúa Trời nói với họ, cách họ cần phải sống như thế nào.

Cấu trúc của Xuất Ê-díp-tô Ký

Đây là một sự kết hợp độc đáo của thể văn kể chuyện và văn bản luật pháp. Đây là điểm đặc trưng của bốn sách này của Môi-se. Xuất Ê-díp-tô Ký cũng là một đặc trưng như thế. Chúng ta thấy phần đầu là thể văn kể chuyện, còn phần sau đó là luật pháp. Phần đầu kể lại về việc Đức Chúa Trời đã làm gì vì cớ họ, bằng những phép lạ mà giải cứu họ ra khỏi sứ nồ lệ. Nhưng phần sau, phần thứ hai, là phần nói về điều Đức Chúa Trời nói với họ, họ cần phải sống như thế nào. Bây giờ khi họ đã được tự do.

Nửa đầu minh hoạ cho thấy ân điển của Đức Chúa Trời đối với họ, ơn tự do của Ngài đã kéo họ ra khỏi nan đề của họ. Phần thứ hai là chờ đợi, họ cần phải có sự biết ơn đối với ân điển của Chúa bằng cách sống theo đường lối của Ngài.

Lý do tôi muốn nhấn mạnh điều này, đó là bởi vì có quá nhiều người khi đọc luật pháp của Môi- se thì lại nghĩ rằng đây là luật pháp, và bởi luật pháp này họ có thể được cứu chuộc. Không, không phải như vậy. Họ đã được Đức Chúa Trời cứu chuộc trước và sau đó được ban cho luật pháp để giữ lòng biết ơn đối với Chúa. Điều này rất là quan trọng. Họ không được ban luật pháp trước, mà họ được giải cứu trước, được tự do trước, sau đó họ được ban cho luật pháp để sống theo đó.

Tôi nghĩ rằng Tân Ước cũng giống như vậy. Chúng ta được cứu trước, rồi chúng ta được cho biết là chúng ta cần phải sống một cuộc sống thánh khiết như thế nào. Chúng ta không phải là bởi sống ngay thẳng trước thì mới trở thành Cơ Đốc nhân, mà chúng ta trải thành Cơ Đốc nhân bởi vì được cứu chuộc trước, được giải cứu trước, sau đó thì cần phải sống ngay thẳng.

Như vậy, sự giải cứu, sự giải phóng xảy ra trước khi có luật pháp, họ đã được giải phóng để được tự do, và bây giờ họ được biết rằng không được lạm dụng sự tự do của họ, mà cần phải sử dụng sự tự do ấy một cách đúng đắn.

Như vậy ở đây, họ đã được giải phóng ra khỏi Ai Cập, và giờ họ bước vào một giao ước, hay là có thể gọi là hôn nhân với Đức Chúa Trời tại núi Si-nai. Cần có một lễ cưới. Đức Chúa Trời cũng đã nói rằng Ta sẽ, và dân của Ngài cũng đáp lại rằng, chúng tôi sẽ. Như vậy, họ được kết hợp lại, giống như trong một giao ước, một hôn nhân, và có tuần trăng mật. Sau đó hôn nhân sẽ bắt đầu ở mảnh đất mà Đức Chúa Trời đã chọn cho họ.

Họ được cứu khỏi nô lệ, nhưng không phải là để họ sống theo ý riêng của mình. Họ được gọi đến sa mạc này để phục vụ Đức Chúa Trời. Họ đã được tự do khỏi nô lệ để phục vụ Ngài. Đây là điều rất quan trọng. Tân Ước cũng giống hệt như vậy đối với các Cơ Đốc nhân. Chúng ta không phải được giải phóng để muốn sống thế nào thì sống. Chúng ta được giải phóng để phục vụ Đức Chúa Trời, là đấng mà khi chúng ta phục vụ Ngài chúng ta sẽ có sự tự do trọn vẹn.

Như vậy, sự cứu chuộc đến trước sự công chính, đây là điều rất quan trọng. Xuất Ê-díp-tô Ký cho chúng ta biết rõ điều đó. Đức Chúa Trời đã cứu chuộc trước, bây giờ Ngài nói với họ rằng, hãy sống đúng đắn, bởi vì Ta đã cho các con được tự do. Như vậy, đây là hai nửa của Xuất Ê-díp-tô Ký.

Sau đó tôi chia phần còn lại thành 10 phần rất đơn giản, và mỗi phần như vậy có một tên gọi riêng, bởi vì nó giúp cho tôi dễ nhớ. Có sáu phần trong chương từ 1 đến 19 và bốn phần từ chương 19 đến 40. Tôi sẽ đọc qua sáu phần trong nửa đầu, đó là sinh sôi và sát nhân nói về việc người Hê-bơ-rơ đã gia tăng thế nào trong vòng 400 năm, từ một gia đình trở thành 2,5 triệu người. Đây là một sự gia tăng đáng kể. Nhưng thực ra thì cũng chỉ cần mỗi gia đình, mỗi thế hệ có bốn con thì trong ba thế hệ thôi thì đã có thể đạt đến con số này. Về mặt toán học là như vậy. Nên cũng không phải là sự sinh sôi này quá là lớn, nhưng dù sao thì đây cũng là một sự sinh sôi. Họ trở nên một số lượng rất lớn.

Sau đó thì các bé trai đã bị Pha-ra-ôn tàn sát nên gọi là sát nhân.

Thứ hai đó là bụi sậy và bụi gai cháy, bởi vì Môi-se đã được cứu ra khỏi bụi sậy, ông được đặt tên là Môi-se nghĩa là được cứu ra khỏi nước, vì tất cả các bé trai đều bị quăng xuống dòng sông Nin cho cá sấu ăn thịt, và Môi-se đã được cứu ra khỏi nước.

Phần tiếp theo đó là tai ương và bệnh dịch đã giáng trên Pha-ra-ôn vì ông cứng lòng.

Phần tiếp theo đó là lễ hội và con đầu lòng. Đó là nguồn gốc của Lễ Vượt Qua.

Kẻ được giải cứu, kẻ bị chết chìm. Người Y-sơ-ra-ên không bị chết chìm, nhưng quân đội Ai Cập đã bị như vậy.

Được chăm sóc và được che chở. Kể về hành trình họ ra khỏi Ai Cập đến núi Si-nai, có một số điều đã xảy ra dọc đường. Đức Chúa Trời đã bảo vệ họ và cung ứng cho họ như thế nào. Tại nơi đồng vắng, nơi quân đội Ai Cập đã bị tiêu diệt trong vòng ba ngày. Nhưng Đức Chúa Trời đã cho dân của Ngài sống sót một cách rất là kỳ lạ suốt 40 năm. Rất nhiều phép lạ.

Phần thứ hai, chúng ta có các điều răn, đặc biệt là 10 điều răn. Sau đó, những điều răn được đóng ấn trong một giao ước hôn nhân giữa Đức Chúa Trời với dân của Ngài. Đức Chúa Trời nói rằng Ta sẽ, dân sự cũng đáp lại rằng chúng tôi sẽ, và họ được kết hiệp cùng với nhau mãi mãi. Đức Chúa Trời không bao giờ từ bỏ giao ước.

Sau đó, từ chương 25 đến 31, chúng ta có sự kiện, Đức Chúa Trời bây giờ sẽ sống giữa dân Ngài, nên Ngài cần một cái trại, và trại của Ngài khác với trại của dân sự, bởi vì nếu không họ có thể nghĩ rằng Ngài cũng giống như họ. Nên chúng ta có những chỉ thị rất cụ thể về việc lều tạm sẽ được làm như thế nào. Đức Chúa Trời cũng đã sắm sẵn những chuyên gia, những người mà trước đây chỉ có làm gạch, nhưng bây giờ họ cần phải làm việc với vàng, bạc và gỗ. Đức Chúa Trời đã phải dạy cho họ những kỹ năng mới này, Thánh Linh đã ban cho họ những kỹ năng đó cho dân của Ngài. Là những người chưa từng sản xuất bất cứ điều gì ngoài gạch. Đây cũng là một phép lạ.

Sau đó có phần buồn nhất trong câu chuyện của Xuất Ê-díp-tô Ký, đó là khi dân Chúa tạo nên tượng bò con vàng và Môi-se đã phải cầu thay cho dân của Ngài, còn nếu không, thì họ sẽ không thể đi xa hơn được nữa.

Cuối cùng, Xuất Ê-díp-tô Ký kết thúc bằng sự hướng dẫn về lều tạm, sự xây dựng lều tạm, dựng lều tạm lên, và Đức Chúa Trời ngự trị giữa họ, sự vinh hiển đã ráng xuống trên lều tạm.

Nguồn gốc tên gọi Xuất Ê-díp-tô Ký

Trong tiếng Hê-bơ-rơ, sách này được gọi là Này là Tên Của. Đó là bởi vì sách này được đọc từ

những cuộn sách. Những từ đầu tiên của cuộn sách nào thì là tên gọi của sách đó. Tên của tất cả các sách Môi-se đều được đặt như vậy. Nhưng khi sách được dịch ra tiếng Hy Lạp, thì người ta đã đặt những tên khác cho sách này. Họ đã sử dụng hai từ trong tiếng Hy Lạp là ex, nghĩa là ra khỏi, và hodos, nghĩa là con đường. Exhodos nghĩa là đường ra khỏi. Bạn có thể nhìn thấy từ này trong những nhà hát Hy Lạp, giống như từ exit trong tiếng Anh, nghĩa là lối ra, còn trong tiếng Hy Lạp là ex- hodos. Sách này được gọi là Lối Ra, hay là ex-hodos, và được dịch trên tiếng Anh thì hơi khác một chút, là thành Exodus, hay trong tiếng Việt là Xuất Ê-díp-tô Ký. Nhưng tôi biết rằng khi đọc tên sách thôi thì các bạn cũng hiểu được ý nghĩa của điều này, bởi vì nó liên quan đến lối ra, thoát ra.

Đây là sự thật hay chỉ là sự tưởng tượng?

Có rất nhiều vấn đề trong phần đầu tiên của sách này, từ chương 1 đến 18, bởi vì câu chuyện này

rõ ràng là rất không tự nhiên. Khi bạn đọc hết chuyện này đến chuyện khác, bạn sẽ phải tự hỏi là, có phải điều này thực sự xảy ra không? Có rất nhiều người nói rằng chuyện này không thể thực sự xảy ra được. Chúng ta chỉ đang đọc truyền thuyết và thần thoại mà thôi. Có một loạt phim ở trên truyền hình cách đây không lâu đi theo hướng đó, nó nói với chúng ta rằng toàn bộ câu chuyện này là tập hợp của những truyền thuyết và thần thoại để nói về nguồn gốc của dân Do Thái.

Vậy thì đâu là sự thật? Bên ngoài Kinh Thánh không có một vết tích nào của bất kỳ tài liệu nào của bất kỳ một dân tộc nào, chẳng hạn dân Ai Cập về những câu chuyện này. Điều này rất đáng kinh ngạc bởi vì người Ai Cập có rất nhiều ghi chép. Nên đây là một trong những lý do người ta nói rằng đây là thần thoại. Nhưng tôi nghĩ rằng là người Ai Cập không ghi lại chuyện này cũng là điều hiển nhiên, đúng không? Rõ ràng là người Ai Cập không muốn ghi lại một câu chuyện nhục nhã như vậy, khi những cỗ xe và những người cưỡi ngựa của họ bị chết chìm trong Biển Đỏ.

Vấn đề thứ hai là các con số. 2,5 triệu người. Đây là một con số rất lớn. Nếu như họ diễu hành thành hàng năm người một, thì hàng của họ sẽ kéo dài tới 180 km và phải mất hàng tháng để vượt qua, 2,5 triệu người, nam, nữ và trẻ con, chưa nói đến súc vật nữa. Thậm chí có một số người Ai Cập cũng cùng ra đi với họ. Đây là một con số rất lớn để trải qua sa mạc trong 40 năm, lại không có đồ ăn, không có đồ uống một cách thông thường. Nên con số này cũng tạo nên chuyện khó tin cho nhiều người.

Việc tiếp theo nữa đó là niên đại hay ngày tháng. Không có tài liệu nào ngoài Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh thì cũng không cho chúng ta biết một cách chính xác. Chẳng hạn chúng ta không biết đây là thời kỳ của Pha-ra-ôn nào. Có hai phương án mà các học giả đưa ra. Thứ nhất đó là vào khoảng thế kỷ thứ 15 TCN, thứ hai đó là thế kỷ 13 TCN. Nếu là thế kỷ thứ 15 thì đó là Pha-ra-ôn Tumus, nhưng nếu là thế kỷ thứ 13, thì đó là Pha-ra-ôn Ramses, tôi thì theo xu hướng này.

Bốn bức tượng của Pha-ra-ôn Ramses

Đây là một Pha-ra-ôn rất ấn tượng. Đôi khi chúng ta cứ nghĩ rằng Pha-ra-ôn thì cũng chỉ là một vị

vua nhỏ thôi, nhưng ông ta không phải như vậy. Ông ta là một hoàng đế hùng mạnh, có một quân đội hùng mạnh trong thế giới cổ đại. Một người có thể khiến cho người ta dựng 4 bức tượng cho mình trên một đỉnh núi thì rõ ràng ông rất mạnh. Nhưng trong con mắt của Đức Chúa Trời thì ông ta không là gì cả, Đức Chúa Trời dễ dàng xử lý người này. Nhưng nói như vậy để chúng ta thấy rằng, chúng ta đang nói đến vị Pha-ra-ôn nào trong suốt Xuất Ê-díp-tô Ký.

Sau đó là vấn đề về hành trình ra khỏi Ai Cập. Chúng ta không biết chính xác là họ đã đi theo hành trình nào. Có tới ba phương án để cân nhắc. Thứ nhất là phía Bắc, thứ hai là phía Trung, và thứ ba là phía Nam. Chúng ta sẽ xem xét tất cả những điều này.

Tất cả những câu hỏi này khiến cho các học giả đặt ra nghi vấn là đây là sự thật hay đây chỉ là sự tưởng tượng hay là kết hợp của cả hai, vì có một số bộ phim trên TV nói về vấn đề này. Thực ra suy cho cùng thì vấn đề ở đức tin thôi. Đức tin của tôi nói rằng lời giải thích dễ hiểu và hợp lý nhất cho những sự kiện trong Xuất Ê-díp-tô Ký đó là, đây là một phép lạ.

Đâu là những dữ kiện mà chúng ta có? Thứ nhất, đó là sự tồn tại của một dân tộc có tên là Y-sơ- ra-ên. Không ai có thể phủ nhận rằng có một dân tộc được gọi là Y-sơ-ra-ên trên thế giới ngày nay. Vậy họ ra từ đâu? Làm thế nào họ có sự khởi đầu của mình? Họ đã trở thành một dân tộc như thế nào nếu như trước đây họ thực sự là một nhóm người nô lệ? Chúng ta biết từ những tài liệu thế tục rằng trước đây họ là một nhóm người nô lệ. Hẳn phải có một điều gì đó kịch tính đã xảy ra để giải thích được sự tồn tại của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Một dữ kiện nữa đó là mỗi một năm, mỗi một gia đình Do Thái đều kỷ niệm Lễ Vượt Qua. Đó là một dữ kiện thực tế. Mỗi một gia đình Do Thái đều kỷ niệm lễ đó. Vì sao họ có lễ đó? Bạn cần phải có một lời giải thích nào đó cho những nghi thức đã tồn tại qua nhiều nghìn năm.

Xuất Ê-díp-tô Ký cho chúng ta giải thích hợp lý về điều này. Tôi có thể đưa ra nhiều dữ kiện khác nữa cho thấy rằng chúng ta phải chấp nhận thực tế này và phải có lời giải thích cho một dân tộc này. Xuất Ê-díp-tô Ký cho chúng ta lời giải thích hợp lý nhất về tất cả những thực tế đó.

Từng phần một của sách

Tiếp theo, chúng ta sẽ đi qua từng phần một của sách này. Tôi sẽ không thể bình luận, hay là đưa

ra chú giải về từng câu một, nhưng mỗi một phần như vậy, tôi đưa ra một vài thông tin mà tôi nghĩ rằng chúng có thể khiến cho bạn đặt câu hỏi, và tôi muốn cố gắng để đưa ra câu trả lời cho những điều đó.

Sự sinh sôi và sát nhân

Trước hết, chúng ta sẽ nói về sự sinh sôi và sát nhân. Câu hỏi đặt ra, đó là vì sao họ lại ở Ai Cập

lâu như vậy, tận 400 năm? Họ xuống dưới đó vào thời của Giô-sép và Gia-cóp, lúc nạn đói xảy ra, và Ai Cập có bánh, nên họ đã xuống đó, đơn giản bởi vì kiếm đồ ăn. Họ đã tình nguyện xuống Ai Cập, và họ đã được chính quyền Ai Cập tiếp nhận và cho họ sống ở vùng đất khá màu mỡ, đó là vùng Gô- sen, và họ ở đó suốt những năm đói kém. Nhưng cuối ở thời kỳ đó, tại sao họ không quay trở lại xứ sở của mình và vùng đất riêng của mình, mà lại quyết định ở lại Ai Cập? Thực tế là họ ở lại lâu đến mức sau đó họ không còn được chào đón nữa, nên họ đã bị buộc phải trở thành nô lệ, lực lượng lao động ở tại Ai Cập. Vậy tại sao họ không ra khỏi Ai Cập? Có câu trả lời theo cách của con người và có câu trả lời theo cách của Chúa. Tôi sẽ cho các bạn cả hai.

Theo cách của con người, trước hết đó là Ai Cập khá là thoải mái. Sống ở tại vùng đồng bằng sông Nin dễ dàng hơn nhiều so với việc sống ở những vùng núi tại Giu-đê. Vùng đồng bằng sông Nin rất màu mỡ, khí hậu ấm áp, không có tuyết như ở vùng núi xứ Giu-đê. Nên ở đó quá là thoải mái, cũng giống như Lót đã cảm thấy thoải mái hơn khi sống ở thung lũng Giô-đan, tại Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Khí hậu ở đó rất giống với vùng đồng bằng sông Nin, ở đó có vẻ như thoải mái hơn. Người ta muốn sống ở tại những nơi thoải mái hơn, cuộc sống dễ dàng hơn. Nên họ đã ở đó, mặc dù Đức Chúa Trời

chưa bao giờ cho họ một vùng đất nào ở tại Ai Cập. Đức Chúa Trời cho họ những vùng đồi núi tại sứ Ca-na-an. Họ thuộc về nơi đó.

Thực ra, chúng ta không thể lên án họ được bởi vì chúng ta cũng có xu hướng làm nhiều giống như vậy. Họ không muốn rời đi cho đến khi đã quá muộn. Nhưng rất là kì lạ là rất nhiều Cơ Đốc nhân, đôi khi cũng như vậy, họ tìm một ngôi nhà mới trước khi tìm một hội thánh, hoặc nơi họ có thể phục vụ Chúa ở tại nơi sống mới đó. Dân Y-sơ-ra-ên cũng đã làm như thế, họ đã ở Ai Cập quá lâu, đến cuối cùng đã bị quá muộn và không còn được chọn để rời đi nữa.

Đó là câu trả lời theo kiểu con người. Khi đó, và chỉ khi đó, họ mới kêu gào với Đức Chúa Trời rằng, Chúa ơi, tại sao Ngài lại để chúng con là nô lệ ở tại Ai Cập? Rất là kỳ lạ đúng không? Khi rơi vào nan đề rồi thì chúng ta bắt đầu đổ tội cho Chúa, là tại sao không giải cứu con sớm hơn.

Nhưng Đức Chúa Trời đã không làm gì cho họ trong suốt 400 năm. Tại sao? Nếu họ quay trở lại ngay sau khi nạn đói qua đi, thì lúc đó họ mới chỉ là một ít người. Có chỗ cho nhóm ít người đó ở tại Ca-na-an. Nhưng bây giờ, họ đã ở đó quá lâu và dân số đã trở nên quá đông, nên không còn đất cho họ ở tại xứ Ca-na-an nữa, bởi vì đã có những người khác sống ở tại sứ Ca-na-an rồi.

Bây giờ, Đức Chúa Trời sẽ phải đuổi những dân tộc đó đi, nhưng chỉ khi họ đã trở nên quá gian ác, nên không còn xứng đáng để sống tại đó nữa. Đức Chúa Trời đã giải thích trong Sáng Thế Ký với Abram điều này, rằng dòng dõi của con sẽ ở tại Ai Cập đủ lâu, cho đến khi sự gian ác của những người ở Ca-na-an được đầy trọn. Như vậy, trước khi Đức Chúa Trời đuổi những người Ca-na-an ra khỏi xứ sở của họ thì Ngài phải chờ đợi để tội ác của họ đầy trọn thì mới có thể hợp pháp để làm điều đó. Như vậy, Đức Chúa Trời đã phải chờ đợi trước khi Ngài có thể làm điều đó, và đó là lý do mà Ngài đã đưa ra thời gian 400 năm. Đó là một khoảng thời gian lâu. Thế hệ này quá thế hệ khác. Tiếp tục đặt câu hỏi và cầu nguyện với Chúa rằng, sẽ có một ngày Ngài sẽ giải cứu chúng ta khỏi xứ này. Bốn thế kỷ. Cần sự nhịn nhục để làm được điều đó. Vào đúng thời điểm của Ngài, Đức Chúa Trời đã lắng nghe và Ngài đã hành động.

Họ đã phải trải qua ba sắc lệnh áp bức. Thứ nhất đó là lao động cưỡng bức. Thứ hai đó là làm gạch mà không có rơm. Bạn hiểu điều này có nghĩa gì không? Bạn đã bao giờ nâng hai viên gạch một viên làm có rơm, một viên không có rơm chưa? Viên không có rơm, nặng hơn viên có rơm khoảng ba lần. Càng thêm nhiều rơm, thì gạch càng nhẹ hơn, càng dễ mang hơn. Còn gạch mà không có rơm thì rất là nặng. Người Ai Cập nghĩ rằng nếu như ra sắc lệnh đó, thì người Do Thái sẽ không còn năng lượng nữa để chơi bời, hay là quan hệ tình dục, để họ mệt đến nỗi không còn làm tình được nữa, và như vậy thì dân số của người Hê-bơ-rơ sẽ bị giảm đi. Thực tế thì ngược lại, càng khó khăn thì người nô lệ Hê- bơ-rơ lại càng sinh thêm con, nên họ phải ra một sắc lệnh thứ ba, và đó là quăng tất cả các bé trai xuống dòng sông Nin cho cá sấu. Sông Nin là nguồn sống cho người Ai Cập. Sẽ không có sự sống tại Ai Cập nếu như không có dòng sông Nin, nhưng đây lại là nơi chết cho những người nô lệ Hê-bơ-rơ.

Bụi sậy và bụi gai cháy

Tôi nghĩ là không cần phải nói nhiều về điều này. Ngoài sự kiện là Môi-se giống như Giô-sép đã

được trưởng dưỡng trong cung điện, nên ông đã có một nền học vấn tốt nhất. Nếu như bạn đi đến bảo tàng Thames & Bankers tại London, bạn sẽ nhìn thấy kim Cleopatra, có hai cột kim, và hai cột kim đó là hai cột được dựng trước cổng của trường đại học ở tại Ai Cập. Khi bạn nhìn thấy kim Cleopatra, là thực ra bạn đang nhìn vào điều mà Môi-se đã được nhìn mỗi một ngày khi còn là sinh viên, khi ông

đi qua cái cổng đó. Ông có học vấn đại học, và điều đó tất nhiên khiến ông trở thành người có học hơn so với những người nô lệ Hê-bơ-rơ. Đây là lý do giải thích vì sao ông có khả năng viết được năm sách đầu tiên trong Kinh Thánh. Kinh Thánh có chép rằng ông đã ghi lại một cách rất cẩn thận những điều đã xảy ra. Ông tập hợp ký ức của mọi người, và tập hợp lại thành năm cuốn sách. Học vấn của ông như một Hoàng tử Ai Cập không phải là lãng phí. Nhưng tất nhiên, tất cả những điều đó đã bất ngờ mất đi khi ông nóng tính và đã giết một trong những người đốc công Ai Cập, và ông buộc phải bỏ chạy để giữ mạng sống của mình. Một điều rất thú vị đó là sau đó 40 năm ông phải ở tại chính đồng vắng, chính sa mạc, mà sau đó ông sẽ phải sống 40 năm cùng với dân Y-sơ-ra-ên. Như vậy một lần nữa chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị ông cho điều này.

Tôi không biết các bạn có làm được điều này không, nhưng tôi còn có thể nhớ lại những ngày tôi chưa tin Chúa và nhìn thấy Đức Chúa Trời đã chuẩn bị tôi cho những điều đã xảy ra sau đó. Tôi nhớ đã từng tham dự cuộc thi kể chuyện cho thiếu nhi ở vùng nông thôn. Không hề nghĩ rằng khi làm như vậy là Đức Chúa Trời cũng đang chuẩn bị tôi cho điều mà bây giờ tôi đang làm. Đức Chúa Trời đã khiến cho Môi-se sẵn sàng để dẫn dân của Ngài qua đồng vắng bằng cách khiến ông ở tại đó 40 năm trong đồng vắng, như một người chăm sóc cho chiên và dê.

Bụi gai cháy rất là thú vị. Vấn đề không phải ở chỗ bụi gai đó, nhưng vấn đề là những lời biện minh mà Môi-se đã đưa ra. Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se từ bụi gai cháy và nói rằng, con hãy cởi giày con ra, bởi vì nơi con đứng là đất thánh. Sau đó Ngài nói rằng, con sẽ là người để dẫn dân ta ra khỏi Ai Cập. Con sẽ kéo họ, con đã được lôi ra khỏi dòng sông đi. Bây giờ con hãy kéo dân ta ra khỏi Ai Cập.

Môi-se đã đưa ra 5 lý do thoái thác tại sao ông không làm được điều đó. Một lần nữa, bạn có thể thấy rằng bạn đôi khi cũng có đưa ra những lý do giống như thế. Trước hết đó là con chẳng là ai cả. Con là ai đâu? Con là ai đâu để mà ai đó phải để ý, phải nghe con? Các bạn đã bao giờ nghe câu này chưa? Đức Chúa Trời đã đáp lại rằng, Ta sẽ ở cùng con. Ta là ai? Ta là người quan trọng, không phải là con.

Như vậy, Môi-se đưa ra lý do thứ hai. Con thiếu hiểu biết lắm. Con sẽ nói gì bây giờ? Đức Chúa Trời nói, Ta hứa với con là ta sẽ cho con biết con phải nói gì. Ông đưa ra lý do thứ ba, Con không có khả năng. Con không thể thuyết phục người ta được. Người ta sẽ không tin con đâu. Đức Chúa Trời nói, quyền năng của ta sẽ ở cùng với con. Con sẽ làm phép lạ.

Sau đó, Môi-se đưa ra lý do thứ ba. Con không đầy đủ, con lấp bắp. Thực ra là con bị nói lắp. Nên con không thể sắp xét từ này với từ kia được với nhau. Bạn bao giờ nói điều đó với Chúa chưa? Chúa nói rằng, rồi, anh con là Aaron sẽ là tiên tri cho con. Nên Aaron là tiên tri của con. Tiên tri nghĩa là người phát ngôn. Như vậy con sẽ nói với Aaron biết cần phải nói cái gì, và Aaron sẽ nói với Pha- ra-ôn, đó là điều mà một tiên tri làm, truyền đạt thông điệp.

Lý do cuối cùng mà Môi-se đưa ra, đó là con không liên quan, ngại sai ai đó thì sao? Đây có con đây này, nhưng sai người khác đi. Một lần nữa, có rất nhiều người đã trả lời, đã đáp lại tiếng gọi của Chúa cách như vậy, xin hãy sai ai đó đi, Chúa ơi, đừng sai con. Đức Chúa Trời đã hứa cho Môi-se một người cộng tác.

Tai ương và bệnh dịch

Có tất cả 10 tai vạ, nước sông Nin biến thành máu, ếch nhái, muỗi, ruồi, bệnh tật trên thú vật, châu chấu cào cào, sự tối tăm và sự chết của các con trưởng. Các bạn để ý thấy 10 tai vạ đó không? Điều trước hết mà tôi có thể nói đó là Đức Chúa Trời kiểm soát hoàn toàn trên thế giới của các loài côn trùng. Giống như trong sách Giô-na, phép lạ lớn nhất ở đó không phải là con cá lớn, nhưng là con sâu. Con cá lớn thì dễ rồi. Huấn luyện con cá lớn nhiều khi dễ. Nhưng huấn luyện con sâu thì khó hơn nhiều. Thế mà Chúa có thể làm điều đó với con sâu và Ngài đã nói với những con muỗi và những con châu trấu cần phải làm gì. Chúng ta thấy khả năng kiểm soát của Đức Chúa Trời rất là kỳ diệu trên tất cả những gì Đức Chúa Trời đã tạo dựng.

Nhưng còn có một điều khác nữa. Trước hết, bạn có thể để ý thấy là cấp độ càng gia tăng không? Từ đầu tiên chỉ là không thoải mái một chút, nhưng sau đó trở thành bệnh tật, sau đó nguy hiểm, và sau đó là sự chết. Tai vạ càng ngày càng trở nên khủng khiếp, Pha-ra-ôn và dân sự của ông đã khước từ, không chịu đáp lại trước những sự cảnh báo của Chúa. Tôi nghĩ rằng rất nhiều đọc giả Cơ Đốc đã bỏ lỡ rằng ở đây thực ra còn là một cuộc chiến về mặt tôn giáo. Đây là một cuộc chiến giữa các vị thần. Bởi vì mỗi một phép lạ này là thực ra là một sự tấn công trên một vị thần nhất định mà người Ai Cập đã thờ phượng.

Tôi kể tên một số những vị thần Ai Cập. Thứ nhất là thần Khanû, Hapi, lloris là các vị thần của sông Nin, họ tin rằng máu của thần lloris là dòng sông Nin. Tiếp theo nữa, đó là thần Heqet, là thần ếch, Hathor là nữ thần bò, Abis thần bò đực, Mendevut là thần bò, thần bầu trời, Geb là thần bảo vệ mùa màng, rồi bốn vị thần mặt trời, Pha-ra-ôn cũng là một vị thần. Như vậy bạn có thể thấy rằng những tai vạ này, là giáng trên các thần của người Ai Cập. Thông điệp ở đây rất đơn giản, Thần của những người nô lệ Hê-bơ-rơ này quyền năng hơn tất cả các thần của Ai Cập, nhưng họ đã không nghe theo.

Vấn đề lòng của Pha-ra-ôn

Có một vấn đề nhỏ nữa về lòng của Pha-ra-ôn mà tôi thấy rằng cần phải nhắc tới. Ở đây có nói

rằng Đức Chúa Trời đã làm cứng lòng của Pha-ra-ôn. Tôi nghĩ rằng có một số người đã nhấn mạnh thái quá điều này và nhấn mạnh thái quá về sự tiền định. Đặc biệt là đối chiếu với Rô-ma chương 9, khi Phao-lô nói về việc Đức Chúa Trời làm cứng lòng Pha-ra-ôn. Bạn có thể đi thái quá về sự tiền định và nói rằng Đức Chúa Trời là đấng lựa chọn Ngài sẽ làm mềm lòng ai, hay làm cứng lòng ai, đó là sự lựa chọn của Ngài, chúng ta không biết vì sao Ngài làm điều đó, nhưng Ngài đã chọn. Ngài đã chọn Pha-ra-ôn và làm cứng lòng Pha-ra-ôn.

Nhưng đó không phải là sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Nếu như bạn nghiên cứu điều này một cách cẩn thận, bạn sẽ thấy rằng 10 lần lòng Pha-ra-ôn đã trở nên cứng cỏi. Nhưng bảy lần đầu tiên, Pha- ra-ôn đã tự làm cứng lòng mình. Sau khi ông đã tự làm cứng lòng mình bảy lần, thì Đức Chúa Trời nói rằng, vì con đã chọn điều đó, Ta sẽ tiếp tục, ta sẽ giúp con tiếp tục đi theo con đường đó. Đức Chúa Trời đã làm cứng lòng Pha-ra-ôn ba lần. Khi chúng ta biết thông tin này, tôi thấy rằng chuyện đó đã trở nên hoàn toàn khác.

Đó là Đức Chúa Trời chỉ làm cứng lòng Pha-ra-ôn, sau khi ông đã cố tình và lặp đi lặp lại, tự làm cứng lòng chính mình. Thực tế, đó chính là điều mà Đức Chúa Trời đã làm, khi Ngài trừng phạt dân của Ngài, Ngài nói rằng, nếu như con cứ tiếp tục đi theo đường này, ta sẽ cho con đi theo đường đó. Như sách cuối cùng của Kinh Thánh nói rằng kẻ nào ô uế cứ còn ô uế nữa, hay nói cách khác, nếu đó là con đường mà bạn chọn, thì Đức Chúa Trời sẽ phó mặc bạn đi theo con đường đó. Nên không có

sự lựa chọn chuyên quyền ở đây. Pha-ra-ôn đã làm cứng lòng mình trước, và sau đó Đức Chúa Trời phó ông, làm cứng lòng ông, theo cách đó.

Tôi muốn nói điều này bởi vì chuyện này đôi khi đã bị lạm dụng để rao giảng về một Đức Chúa Trời chuyên quyền, nhấn mạnh thái quá về sự tiền định là điều Kinh Thánh không dạy. Đức Chúa Trời đáp ứng trước sự lựa chọn của chúng ta, và nếu chúng ta cứ ghì mài trong việc chọn làm những điều sai trái, thì Đức Chúa Trời sẽ phó mặt chúng ta đi theo đường lối đó, để rồi chúng ta sẽ thấy sự phán xét của Ngài, nếu như chúng ta không chịu đáp ứng trước sự thể hiện của lòng thương sót của Ngài.

Lễ Vượt Qua và con đầu lòng

Chúng ta đến với phép là về Lễ Vượt Qua và con đầu lòng. Điều này có mối liên hệ trực tiếp với

tai vạ thứ 10. Tai vạ thứ 10 đó là tất cả những bé trai đầu lòng ở tại xứ Ai Cập đều sẽ phải chết. Điều đó cũng sẽ xảy ra với người Do Thái, trừ trường hợp họ phải làm một điều gì đó. Điều họ phải làm đó là phải bôi máu trên cột cửa của họ. Máu có màu đỏ tươi, là màu khó thấy nhất trong bóng tối. Nhưng thiên sứ thì nhìn thấy rất rõ. Thiên sứ của sự chết đã đi ngang qua xứ Ai Cập, và khi nhìn thấy máu ở trên cột cửa nhà nào, thì thiên sứ sẽ vượt qua nhà đó.

Điều đầu tiên tôi muốn nói, đó là họ lấy máu đó từ đâu ra? Trước khi họ có thể bôi nó trên cột cửa, họ phải có máu đó. Máu đó nghĩa là một sinh mạng vô tội đã phải chết. Sau đó, máu đó phải được bôi lên, bởi vì nếu như họ không bôi máu đó trên cột cửa thì cũng không có tác dụng gì. Như vậy, họ phải lấy máu từ chiên con, chúng ta gọi như vậy, nhưng điều đó gây hơi gây hiểu lầm. Vì chúng ta nghĩ đến chiên con nhỏ nhỏ trắng trắng xinh xinh, nhưng đây là cừu đực, nghĩa là một con cừu một tuổi, mạnh mẽ, và khi chúng ta gọi Chúa Giê-su là chiên con của trời, đôi khi nó tạo ra cái cảm giác sai cho chúng ta. Ngài là cừu đực một tuổi là tương ứng với một người đàn ông trưởng thành 30 tuổi. Họ đã giết cừu đực, lấy máu của nó bôi trên cột cửa. Rồi họ đưa xác của con cừu đực vào trong nhà, nướng nó, và ăn.

Lễ Vượt Qua của người Do Thái

Họ đứng ăn, quần áo sẵn sàng, để sẵn sàng rời đi bất cứ lúc nào. Họ sẽ đi trong 40 năm tiếp theo.

Họ mang theo khẩu phần là bánh không men, đi một cách cấp tốc. Họ giữ lễ đó, mỗi năm một lần kể từ thời đó. Thành viên nhỏ tuổi nhất trong gia đình sẽ đặt câu hỏi rằng tất cả những điều này có nghĩa gì, đêm này khác gì so với mọi đêm. Người lớn tuổi nhất sẽ trả lời rằng, đây là điều mà Đức Chúa Trời đã làm vào đêm hôm đó. Mỗi một con đầu lòng đều đã chết, nhưng con của chúng ta thì được cứu nhờ huyết của cừu đực.

XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ - Phần 2

Được cứu và bị chìm

Hãy tiếp tục nghiên cứu Xuất Ê-díp-tô Ký và chúng ta đã đến phần 5, Được Cứu và Bị Chìm. Tôi

không thể không kể cho bạn câu chuyện về nhà giảng đạo tự do. Bạn có biết nhà giảng đạo tự do là ai không? Là một người miệng đọc Kinh Thánh, tay cầm kéo để cắt mọi phép lạ, nhà giảng đạo tự do này đang giảng về Xuất Ê-díp-tô Ký và ông ta nói rằng chẳng có phép lạ nào cả. Ông ta nói rằng vào thời điểm đó, ở chỗ đó, Biển Đỏ chỉ sâu có nửa mét, rồi một quý bà trong hội chúng la lên: Hallelujah! Ông ta dừng lại, hỏi sao bà lại hét lên là Hallelujah? Bà ấy bảo “Thật là một phép lạ lớn!” Ông ta nói: “Nhưng tôi đã giải thích rồi, nước chỉ sâu có nửa mét và họ chỉ lội qua thôi, phép lạ ở đâu ra?” Bà ấy bảo: “Nước có nửa mét mà nhúng chìm được cả quân đội Ai Cập.” Bạn có nhìn thế nào thì đó cũng là phép lạ.

Những con đường người Do Thái có thể đã dùng để ra khỏi Ai Cập

Nhưng hãy nhìn vào khía cạnh thực tế và trước hết là câu hỏi: Họ đi theo tuyến đường nào để ra khỏi Ai Cập và vào Đất Ca-na-an? Có ba khả năng mà bạn sẽ thấy trong nhiều sách giải kinh và các sách về Kinh Thánh. Khả năng đầu tiên gọi là tuyến đường bắc tiến - họ rời Gô-sen ở đây và đi qua dãy bãi cát này. Đây là những bãi cát ở phần cạn của biển Địa Trung Hải và họ vượt biển ở đó, giả thiết này cho rằng họ vượt chính biển Địa Trung Hải, và xe ngựa không thể đuổi theo họ qua những bãi cát. Nếu xem bản đồ Ai Cập, bạn sẽ thấy những bãi cát này được đánh dấu, đây gọi là Hồ Sabonis phía trong và tiếp tục qua Ca-đe Ba-nê-a - đó là một giả thiết. Giả thiết thứ hai là họ đi thẳng qua Ca-đe Ba-nê-a - đó là giả thiết trung lộ.

Nhưng có một tuyến phòng thủ chừng ở vị trí Kênh đào Suez ngày nay. Người Ai Cập có một tuyến phòng thủ rất mạnh ở đây để chống lại mọi sự xâm lược từ phía đông và dân Y-sơ-ra-ên phải vượt qua tuyến phòng thủ đó, chắc không phải như vậy vì họ không có vũ khí và không thể chiến đấu. Khả năng thứ ba, tôi tin rằng cái này đúng, đó là tuyến đường nam tiến xuống Núi Si-na-i; đây là nơi Môi-se đã chăn chiên trong bốn mươi năm, ông quen thuộc với miền này, và tôi tin rằng ông đã dẫn họ qua chính chỗ dưới này, chắc hẳn là núi Jebel Musa, tên gọi của núi Si-na-i ngày nay, từ lâu đã được coi là nơi Môi-se nhận Mười Điều Răn. Sadat, tổng thống Ai Cập muốn xây một tòa nhà ở đỉnh núi Si-na-i, kết hợp cả nhà hội Do Thái, nhà thờ Hồi giáo và hội thánh Cơ Đốc trong một tòa nhà, nhưng ông đã bị ám sát trước khi làm điều đó. Nhưng mọi truyền thống tại Trung Đông đều đặt núi Si-na-i ở dưới đây.

Nhưng hãy nhìn kỹ hơn về vùng này vì nó có thể giải thích điều gì đó cho chúng ta. Kinh Thánh không nói rằng Đức Chúa Trời rẽ Biển Đỏ. Kinh Thánh chép rõ rằng Ngài khiến một trận gió đông rẽ Biển Đỏ ra. Sao một trận gió đông lại rẽ được biển cơ chứ? Đó là thắc mắc của nhiều người. Hãy xem xét khu vực đó kỹ hơn một chút. Thực ra Hồ Đắng Lớn được thông với cái mà chúng ta gọi là Biển Đỏ thời xưa, thông giữa chúng là một biển nông gọi là Biển Sậy và thực tế, rất có thể trong tiếng

Hê-bơ-rơ đó là Biển Sậy chứ không phải Biển Đỏ. Đây là Hồ Đắng Lớn của chúng ta ngày nay nhưng vào thời đó, nó được thông qua con kênh tựa đầm lầy gọi là Biển Sậy. Tuyến phòng thủ xuống tới tận Hồ Đắng. Dân Y-sơ-ra-ên rời Gô-sen và xuống phía nam vì Pha-ra-ôn chỉ cho họ đi vào hoang mạc, nghĩ rằng ông ta luôn có thể bắt họ trở lại.

Mô tả việc dân Ai Cập đuổi theo dân Do Thái trước Biển Đỏ

Bạn có thể tưởng tượng là họ đã đóng trại tại đây, được một trụ mây che khuất - Chúa sai một trụ mây đến để ngăn quân đội Ai Cập tiếp cận họ từ bên kia. Nếu họ vượt tại đây thì có hai lực tự nhiên có thể rẽ nó ra. Một trận gió đông mạnh có thể đẩy nước của Hồ Đắng Lớn theo hướng đó và khi triều xuống, nước Biển Đỏ có thể dạt sang hướng đó. Bạn có thấy nó rẽ ra chưa? Thay vì hai bức tường nước như trong phim của đạo diễn Cecil B DeMille, ở đây nước rẽ ra, nhưng tất nhiên là điều đó không lý giải cho phép lạ này chút nào. Tại sao gió đông lại thổi đúng lúc thế? Kinh Thánh chép rằng Chúa khiến nó thổi. Nên khi xem xét điều này một cách thực tế như vậy, chúng ta không cố gắng tầm thường hóa phép lạ ấy. Ít nhất thì đó là phép lạ trùng hợp, nhưng trong

Kinh Thánh, không có thứ gọi là trùng hợp mà chỉ có ý chỉ, nhưng tôi tin rằng phép lạ đó đã xảy ra như tôi miêu tả. Thực tế, ảnh vệ tinh của vùng này cho thấy con kênh nối Biển Sậy vẫn còn đó nhưng giờ đã khô rồi.

Hình ảnh Hồ Đắng Lớn ở phía bên trái ảnh

Bạn có thấy không? Hồ Đắng Lớn - bạn có thể thấy đường trên ảnh vệ tinh; bạn có thể thấy Biển Sậy cũ rất rõ, trong khi nhìn trên mặt đất thì không rõ lắm. Nhưng bạn có thể thấy rằng nó nối nhau ở đó. Tôi tin rằng tuyến đường nam tiến qua Biển Sậy và xuống Si-na-i chắc hẳn là tuyến đường họ đã đi. Từ đó, họ lại đi về phía bắc đến Ca-đe Ba-nê-a; như vậy họ tránh được tuyến phòng thủ ở mặt trận phía đông Ai Cập.

Tôi rất ấn tượng với thực tế rằng dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển Đỏ hoặc Biển Sậy vào ngày thứ ba sau khi chiên con của Lễ Vượt Qua bị giết. Họ được giải phóng vào ngày thứ ba sau khi chiên con của Lễ Vượt Qua chết. Thậm chí còn ấn tượng hơn - và điều này sẽ khiến bạn phải suy nghĩ - Xuất Ê-díp-tô Ký

cho chúng ta biết giờ mà chiên con của Lễ Vượt Qua phải bị giết, nó phải bị giết vào giữa buổi chiều vào ngày trước Lễ Vượt Qua, tức là 3:00 chiều, giữa buổi chiều - các bạn có nắm được không? Chiên con của Lễ Vượt Qua chết lúc 3:00 chiều vào ngày thứ ba. Sau đó, cuối cùng họ cũng trốn thoát, được tự do khỏi Pha-ra-ôn và sẽ không bao giờ thấy ông ta lần nữa. Bạn bắt đầu hiểu một số điều rồi đấy.

Chúng ta sẽ hiểu hơn khi đi tiếp. Giờ chúng ta hãy chuyển sang phần sau. Tôi phải trở lại từ đầu. Được Chu cấp và Che chở - giờ đây họ đang ở một nơi không thể nuôi sống con người, trừ một vài

người du cư. Đây chắc chắn không phải là nơi ở cho hai triệu năm trăm ngàn người và cả gia súc. Sẽ có cả các vấn đề bên ngoài và bên trong mà Môi-se phải đối mặt. Vấn đề bên ngoài là đồ ăn và thức uống - lấy đâu ra đủ đồ ăn và thức uống đây? Câu trả lời là Đức Chúa Trời phải chu cấp và Ngài đã chu cấp đồ ăn cho họ dưới dạng những miếng gì đó tròn tròn nho nhỏ nằm trên hoang mạc mỗi buổi sáng. Khi gom chúng lại, họ phát hiện ra là chúng ăn được; họ đặt cho chúng một cái tên. Họ gọi chúng là “cái gì vậy!” - trong tiếng Hê-bơ-rơ là Ma-na, nhưng nó nghĩa là “cái gì vậy?”

- Mẹ ơi sáng nay mình ăn cái gì?

- Ăn cái gì vậy.

- Trưa ăn cái gì ạ?

- Cái gì vậy.

- Tối có cái gì ăn ạ?

- Cái gì vậy.

- Không phải chứ!

Họ đã sống nhờ “cái gì vậy” đó trong bốn mươi năm. Chúng ta gọi chúng là ma-na như thế đó là một cái tên đẹp, nhưng chúng chỉ có nghĩa như vậy. Đó đúng là bánh từ trời - sau này Kinh Thánh lại dùng từ đó. Nhưng họ sống nhờ bánh từ trời. Họ tha thiết phàn nàn rằng họ không có thịt mà ăn. Họ quen với chế độ ăn giàu đạm ở Ai Cập và họ phàn nàn rằng họ không ăn đủ thịt. Phàn nàn với Chúa là ăn đủ luôn! Ngài sai một đàn chim cút khổng lồ đến, nằm chất cả mét rưỡi trên hoang mạc và họ ăn chim cút đến phát ngán cả ra. Đừng phàn nàn với Chúa - muốn gì được nấy biết đâu lại chẳng hay. Còn nước uống thì sao? Đúng là họ thực sự gặp vấn đề với nước.

Hình ảnh tại Ma-ra

Ốc đảo đầu tiên mà họ đến là nơi này - đây là ảnh của một nơi gọi là Ma-ra. Họ thấy ở đó có nước, họ lao vào uống nhưng nước lại chan chát, mằn mặn, không uống được. Nhưng nhờ một phép lạ qua Môi-se, nước được sạch trở lại, và họ có thể uống được. Nhưng gần như bạn có thể thấy tình trạng mặn của nước; được chụp ở chính nơi này. Nhưng nơi tiếp theo mà họ đến có nước sạch và đây là ảnh chụp một nơi gọi là Ê-lim, nên Đức Chúa Trời đã chu cấp. Khi nước bẩn thì Chúa cải thiện nó và khi ổn rồi thì họ không có phép lạ, chỉ có nước thôi - nên Đức Chúa Trời đã chu cấp cho họ và bảo vệ họ. Bạn có nhận ra rằng họ

cần hơn 7 triệu lít nước mỗi ngày cho từng ấy người và gia súc không? Hơn 7 triệu lít nước mỗi ngày. Sau đó, họ lấy nước từ trong tảng đá.

Hình ảnh tại Ê-lim

Đối với tôi, một trong những phép lạ kỳ diệu nhất trong hành trình quan phòng của họ là giày dép của họ không hề mòn. Tôi đã đi xăng đan để leo lên Núi Si-na-i và bị rách cả xăng đan; những tảng đá nhọn của hoang mạc Si-na-i làm hỏng giày rất nhanh, nhưng có chép rằng giày dép của họ không hư mòn. Hoặc bạn phải nói rằng đây là sự thật và Đức Chúa Trời đã làm điều đó, hoặc bạn phải gạt hết đi, coi đó là truyền thuyết. Khi bạn đọc những khẳng định như vậy thì làm gì có trạng thái ở giữa.

Nhưng họ còn có vấn đề nội bộ nữa. Bạn có tưởng tượng được từng ấy người cắm trại cùng nhau không? Tôi nghĩ đôi khi đưa một gia đình đi cắm trại là đã đủ lắm rồi. Cả nhà đều chen chúc trong một túp lều hoặc một con xe. Thế mà ở đây có những 2 triệu người! Thảo nào một trong những vấn đề nan giải nhất của Môi-se là những tranh cạnh giữa vòng dân sự và ông phải làm quan án; và tất cả đều trình bày vấn đề của mình ra trước Môi-se giống như trong một số hội thánh lớn, mọi người đều muốn đem vấn đề của mình ra trước mục sư. Chuyện là như vậy. Rất may là bố vợ của Môi-se khôn ngoan hơn Môi-se khá nhiều, tuy ông không phải là dân Chúa, và ông nói: Con cần các trưởng lão và Môi-se đã chọn ra 70 trưởng lão.

Hãy trở lại và tiếp tục với các phần. Chúng ta đang ở nửa sau, và điều đầu tiên xảy ra trong nửa sau là Mười Điều Răn được viết bởi ngón tay Đức Chúa Trời - trên hai bảng đá. Mỗi khi thấy bức tranh vẽ hai bảng đá đó, bạn đều thấy bốn điều răn đầu tiên trên một bảng và sáu điều tiếp theo ở bảng còn lại. Không đúng chút nào, phải là một bảng chép mười điều, bảng kia cũng chép mười điều. Tại sao? Vì đây là một hợp đồng pháp lý, một bản thuộc về Chúa và một bản thuộc dân sự - giờ bạn đã hiểu tại sao lại là hai bảng đá chưa? Bởi vì nên làm như vậy; nên có hai bản cho từng bên, nhưng vì đây vừa là giao ước vừa là hợp đồng nên Đức Chúa Trời đã viết cả hai. Không có mặc cả gì hết. Chúa nói rằng các ngươi phải sống như thế này. Ngài ban cho họ ba tập luật pháp, chúng ta gọi một tập là Mười Điều răn hay Thập Điều, nghĩa là “mười lời”; chúng ta gọi tập thứ hai là sách Giao ước có trong chương 20 đến 23, rồi chúng ta có một sách luật pháp khác trong chương 25 đến 31 hay 32, là luật thờ phượng. Cả ba tập tạo thành Luật của Môi-se và còn nữa; có thêm các điều luật trong Phục truyền luật lệ ký nữa. Nhưng Luật pháp không chỉ là Mười Điều Răn mà còn hơn thế rất nhiều. Có 623 luật lệ quy định cách sống cho đúng đắn trước Đức Chúa Trời.

Hãy bắt đầu với Mười Điều Răn. Có ba nguyên tắc cơ bản - hoặc hai nguyên tắc tôi muốn nhắc đến; đầu tiên là nguyên tắc tôn trọng. Cả Mười Điều Răn dựa trên nguyên tắc đó, tôn trọng Đức Chúa Trời, tôn trọng danh Ngài, tôn trọng ngày của Ngài; rồi tôn trọng mọi người, tôn trọng đời sống gia đình - tôn trọng cha mẹ bạn; tôn trọng chính sự sống - đừng giết người; tôn trọng hôn nhân - đừng phạm tội ngoại tình; tôn trọng tài sản của mọi người - đừng trộm cắp; tôn trọng danh tiếng của mọi người - đừng làm chứng dối. Tôn trọng, tôn trọng, tôn trọng. Một xã hội lành mạnh và trong sạch được xây dựng trên tinh thần tôn trọng. Gần đây, một diễn viên hài nổi tiếng trên truyền hình quốc gia nói rằng “chúng tôi định loại bỏ tính thiêng liêng của mọi thứ” và chương trình truyền hình hài kịch hủy hoại sự tôn trọng hơn bất cứ thứ gì khác; sự tôn trọng đối với nữ hoàng, với thẩm quyền, với cảnh sát, với pháp luật. Chúng ta có thể thấy những gì xảy ra trong xã hội của mình khi sự tôn trọng biến mất.

Nhưng Luật pháp Chúa dựa trên sự tôn trọng: yêu Chúa và yêu người lân cận có thể dịch ra là tôn trọng Chúa và tôn trọng người lân cận; đó là nguyên tắc cơ bản đằng sau Luật pháp Chúa. Đó là luật về sự tôn trọng, mất tôn trọng Chúa dẫn đến thờ thần tượng, mất tôn trọng con người dẫn đến sự đồi bại và bất công. Nên bạn có thể thấy Luật pháp gồm những gì - đó là một bộ luật hay. Phần lớn Mười Điều Răn nói đến hành vi, việc làm hoặc lời nói, nhưng điều cuối cùng là về cảm xúc; điều răn duy nhất nói đến tấm lòng, và có lẽ vì vậy mà Phao-lô từng nói rằng ông đã giữ cả chín điều nhưng không giữ nổi điều thứ mười, điều thứ mười là đừng tham lam, đừng muốn thứ mà con không có. Đó là điều duy nhất liên quan đến đời sống bên trong của bạn; những điều còn lại đều liên quan đến hành vi.

Có nguyên tắc về mười điều luật mà những cô bé, cậu bé Do Thái học trên các ngón tay, nguyên tắc ấy như sau: phạm phải một điều tức là phạm hết tất cả vì chúng gắn liền với nhau như một chuỗi vòng cổ. Hỡi những người phụ nữ - không quan trọng là các bạn làm đứt chuỗi vòng ở đâu, các bạn chỉ cần làm đứt một lần là chuỗi hạt rơi hết, đây là một nguyên tắc sâu sắc. Chúng không phải là mười điều răn riêng rẽ, chúng là Luật pháp. Chúng không phải là các điều luật mà chúng là Luật pháp, và nếu bạn phạm phải bất cứ điểm nào tức là bạn đã phạm phải Luật pháp. Nếu cảnh sát giao thông tuýt còi tôi vì đi quá tốc độ thì sao tôi có thể nói được là: “Nhưng chiều nay gặp cái đèn đỏ nào tôi cũng dừng mà”! Không quan trọng là bạn đã giữ bao nhiêu điều luật, bạn vẫn phạm phải Luật pháp. Chúa nói rằng đây là một luật pháp trọn vẹn, ngày nay chúng ta gọi là luật pháp toàn vẹn, phạm phải một điều tức là phạm cả. Luật pháp sẽ vỡ thành từng mảnh nếu bạn phạm phải bất kỳ điểm nào. Sự tôn trọng, là một điều trọn vẹn. Bạn không thể tôn trọng phần này mà không tôn trọng những phần kia, bạn là một người tôn trọng hoặc không; phá vỡ một điều tức là không tôn trọng.

Nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm. Tôi e rằng chúng ta được nuôi dạy theo tâm lý và xã hội để tin rằng người ta không phải chịu trách nhiệm với hành động của mình. Thậm chí giờ người ta còn nói rằng sự gian ác là do gen! Chúng ta biết rằng nguyên tội truyền lại qua gen nhưng ý tưởng rằng một số người ác hơn những người khác vì họ mang gen sai, nghĩa là họ không chịu trách nhiệm cho những việc mình làm. Luật pháp Chúa nói rằng bạn phải chịu trách nhiệm, bạn có trách nhiệm, bạn đã chọn phạm phải điều này, và từ đó chúng ta phải chịu trách nhiệm trước Chúa, mỗi người trong chúng ta phải sống cho đúng trước Đức Chúa Trời. Nên hai nguyên tắc về sự tôn trọng và trách nhiệm được kể đến, và vì vậy, nguyên tắc thứ ba cũng được kể đến - nguyên tắc về sự báo trả. Có những hình phạt trong luật này. Một trong số đó là luật tử hình: án tử hình được áp dụng với 18 tội khác nhau chống lại Chúa trong Luật của Môi-se. Bạn có mừng vì mình không sống dưới Luật của Môi-se không? Vì phạm vào ngày Sa-bát là tử hình. Ở đây có sự báo trả, có hình phạt và đặc biệt là tôi để ý thấy luật pháp Chúa phân biệt rất kỹ giữa cố ý và vô tình phạm luật. Có hai kiểu giết người - cố ý giết người và vô tình ngộ sát, nhưng trong mọi trường hợp, có chép rằng Luật của Môi-se không cho dâng sinh tế với tội tái phạm, cố tình, cố ý. Trong Tân Ước cũng vậy; bạn đọc thư Hê-bơ-rơ sẽ thấy.

Luật này được đưa ra trong một ngữ cảnh và ngữ cảnh ấy là đây: Ta đưa các ngươi ra khỏi Ai Cập, ta sẽ đưa các ngươi vào Ca-na-an, giờ các ngươi phải sống thế này. Đó là một điểm quan trọng. Dựa trên những gì Chúa đã làm cho họ và sẽ làm cho họ mà Ngài kêu gọi họ sống cho đúng đắn ngay trong hiện tại, trong Tân Ước cũng như vậy đúng không? Dựa trên những gì Chúa đã làm cho bạn và sẽ làm cho bạn mà Ngài nói rằng giờ Ta muốn con sống thế này. Nếu không có ngữ cảnh đó thì Luật pháp sẽ trở nên một điều hà khắc, ngang ngược, đáng sợ nhưng trong ngữ cảnh này thì đó là một điều tốt đẹp, phù hợp; đó là phản ứng biết ơn ân điển của Đức Chúa Trời.

Núi Si-na-i

Chúng ta đến với thực tế rằng Đức Chúa Trời muốn sống với họ. Ngài ban Mười Điều Răn trên đỉnh Núi Si-na-i - ồ có lẽ chúng ta nên xem Núi Si-na-i. Đó là một ngọn núi đáng sợ! Đây là Núi Si-na-i; một ngọn núi khác thường; tôi đã leo núi đó vào ba giờ sáng trước khi mặt trời mọc. Tôi thấy một cô bé đang đứng trên đỉnh, một cô bé người Do Thái, đọc Mười Điều Răn bằng tiếng Hê-bơ-rơ và tôi hỏi: “Tên cháu là gì?” Cô bé trả lời là Mi-ri-am và tôi bảo: “Ối chao, cháu ở đây lâu lắm rồi đấy nhỉ.”

Tu viện thánh Catherine ở dưới chân núi. Nhưng tôi luôn thắc mắc khi Kinh Thánh chép rằng: “Đừng chạm đến núi thánh Ta!” Tôi nghĩ “Sao mà chạm đến núi được, thật kỳ cục” cho tới khi tôi nhìn tấm hình này. Thực ra, bạn có thể đi lên núi và chạm đến nó vì nó dốc đứng, nhô lên từ nền sa mạc - bạn nhìn thấy không? Nó giống như một vách đá, và họ phải đặt một rào chắn quanh núi vì Đức Chúa Trời muốn họ nhận thức rằng Ngài là một Đức Chúa Trời thánh khiết và không phải ai cũng đi lên và trò chuyện với Chúa được vì Ngài là thánh; thế nên Ngài mới phán: “Không ai được chạm tới núi thánh Ta.” Nên Môi-se rất khôn ngoan, ông dựng một rào chắn quanh chân núi vì bạn có thể đi lên tới đó. Ở đây có vài người, bạn có thể đi lên và chạm tới ngọn núi nhưng Chúa muốn truyền đạt cho họ hiểu sự thánh khiết tột cùng của Ngài. Ngài phán rằng Môi-se có thể lên, A-rôn có thể lên, nhưng không ai trong các ngươi được chạm tới núi thánh Ta.

Nhưng giờ đây, sau khi ban cho Môi-se Mười Điều Răn ở trên đây giữa những sấm chớp và lửa hừng - một cảnh tượng kinh hoàng, Chúa phán rằng: Ta muốn xuống và sống trong trại với các ngươi, nhưng nếu vậy, đó phải là một cái lều nói lên sự thánh khiết Ta, một cái lều mà các ngươi phải hành xử trong sự tôn trọng, và các ngươi phải kính sợ - một nơi thánh. Thực ra, ngay giữa lều sẽ là căn phòng nơi ta cư ngụ và đó sẽ là nơi Chí Thánh, nên Chúa đã cho họ những đặc điểm chi tiết về cái lều của Ngài. Trước đây bạn đã nhìn qua rồi nhưng hãy xem lại một lần nữa. Nó phải ở chính giữa trại và tất cả những lều khác phải được bố trí xung quanh theo một trình tự đặc biệt mà chúng ta sẽ nói sau. Ngay xung quanh đó là các thầy tế lễ và người Lê-vi, để họ ở giữa những người dân thường và nơi thánh, và chính cái lều phải có rào chắn xung quanh, chỉ có một cửa ra vào, rồi lều của Đức Chúa Trời ở bên trong nhưng có hai phòng, và phòng bên trong là phòng của Đức Chúa Trời, chỉ một lần trong năm, chỉ một người có thể vào trong, không ai được vào nữa - và cả cái lều đầy những chi tiết.

Một số hình ảnh của Lều Tạm

Hãy xem một số bức hình phác họa về cái lều. Chắc hẳn là nó đẹp đến choáng ngợp, nhưng phần đa vẻ đẹp của nó được giấu đi, những bức màn và tấm phủ thêu bắt mắt, nhưng phủ trên chúng là da cá nược, một vật phủ bên ngoài để giấu đi vẻ đẹp đó khỏi mắt người ta. Tất cả những gì họ có thể thấy là lớp da phủ xù xì phía bên ngoài, chỉ biết rằng bên trong là những món đồ bằng vàng, những tấm rèm đẹp mắt thêu dệt bằng những màu sắc từ trời - có xanh dương - màu của bầu trời, có đỏ - màu của huyết, rồi bạc vàng - đó là một cái lều lộng lẫy với hàng rào cao bao quanh nên bạn không thể nhìn xuyên qua, nên xét trên một khía cạnh, nó được giấu đi. Gắn với nó là sự huyền bí và ở đây bạn thấy một số thầy tế lễ ở bức màn ngoài, rồi có một cái màn nữa ở bên trong, trước nơi Chí Thánh.

Hình ảnh bên trong của Lều Tạm và thầy tế lễ thượng phẩm

Hãy đi vào trong và nhìn vào bên trong. Ở đây bạn có phòng ngoài, một kiểu hành lang, phòng chờ của cung điện Chúa nếu bạn thích gọi như vậy, và ở đây có bàn đặt bánh cung hiến, chân đèn bảy nhánh, một bàn thờ nhỏ nữa; thực ra là hãy quay lại tấm hình trước. Nếu bạn muốn...ngay cả các thầy tế lễ đến gần Chúa phải đến trước bàn thờ đầu tiên và dâng sinh tế, giết một con vật và thiêu nó, rồi chuyển sang một cái bồn lớn để thanh tẩy chính mình. Tất cả những điều đó nói lên rằng nếu muốn đến với Chúa, bạn sẽ phải có của lễ hy sinh trước, sau đó bạn sẽ cần được thanh tẩy. Đầy ý nghĩa đúng không? Thực tế, Chúa nói rằng đây là bản sao của nơi ở của Ta trên thiên đàng; cái này chỉ là mô phỏng của nơi ở thật sự. Nên có phòng chờ và cuối cùng, trong nơi Chí Thánh là một đồ vật bằng gỗ si-tim dát vàng, nắp thi ân,

các chê-ru-bim, trong đó có chút ma-na - và họ không bao giờ thấy nó. Ngay cả khi người ta dỡ lều này ra và chuyển đi đâu đó, người ta cũng che cái này lại. Những người đặc biệt mới được khiêng lều và dân thường phải đi cách hòm này một ngàn bước chân cho tới khi lều được dựng lại. Trước tiên là dựng đền thờ, lều của Chúa, rồi bạn mới có thể dựng lều riêng của mình ở một nơi thích hợp quanh đền. Tất cả đều nói lên sự thánh khiết của Chúa nhưng cũng nói lên một Đức Chúa Trời thánh khiết sẵn sàng sống giữa vòng dân sự Ngài - thật tuyệt vời. Có lẽ chúng ta đã đánh mất sự kính sợ và sự tôn kính cần thiết đối với một Đức Chúa Trời thánh khiết. Chúng ta bằng vai phải lứa với Ngài quá; chúng ta cần nhớ rằng Ngài là thánh. Thầy tế lễ thượng phẩm: ngay cả quần áo của thầy tế lễ cũng được chỉ định rõ; chúng phải đúng và thầy tế lễ thượng phẩm đeo trên ngực mình mười hai loại đá quý tượng trưng cho mười hai chi phái mà ông tế lễ cho, và mười hai loại đá quý đó lại xuất hiện trong những trang cuối Kinh Thánh tại Giê-ru-sa-lem mới. Ôi chúng ta có thể nói hàng giờ về điều này, nhưng bạn còn phải đọc những sách khác nữa. Chúng đầy ý nghĩa, đầy biểu tượng. Chúa phán rằng chỉ những người đặc biệt được dùng thứ này, các thầy tế lễ, chỉ những người đặc biệt được dựng lều và đó là khi Ngài ban cho họ những kỹ năng phi phàm này. Chắc bạn nghĩ rằng điều đó sẽ thực sự khiến dân sự nhận biết được sự thánh khiết tột cùng của Chúa, nhưng khi Môi-se ở trên núi, bạn biết điều gì đã xảy ra. Lần này A-rôn ở dưới, dân sự đến với A-rôn và nói: “Môi-se ở trên đó đã lâu rồi; tôi không nghĩ là ông ta sẽ trở lại. Chúng tôi muốn có một thần ở dưới này.” A-rôn nói: ‘Hãy đưa ta số vàng các ngươi có và họ dâng vàng; và sau này A-rôn bảo Môi-se là “Tôi cho hết số vàng vào nấu chảy và nó thành ra cái này!” Nếu để bạn viện cớ thì chắc bạn sẽ nghĩ ra cái cớ hay hơn thế! Nhưng đó là điều A-rôn đã nói với Môi-se một cách trơ trẽn. Tôi chỉ cho vàng vào và xem nó thành ra cái gì này! Tất nhiên là đây là ảnh chụp một vị thần của Ai Cập. Tôi đã nói với bạn về những con bò đực và bò con - biểu tượng của sự sinh sôi và bò đực là một biểu tượng rất phổ biến. Có người bảo tôi rằng có một con bò vàng như thế ở bên ngoài Sàn giao dịch Chứng khoán Châu Âu tại Frankfurt am Main, biểu tượng của sự giàu có, sinh sôi và thịnh vượng - và A-rôn nói là nó thành ra cái này.

Tượng bò con vàng

Vì thờ thần tượng dẫn đến đồi bại, vì mất sự tôn trọng Chúa dẫn đến mất tôn trọng con người, họ đã thác loạn, bạn biết chuyện rồi đó, thật nhơ nhớp. Khi Môi-se xuống và thấy cảnh tượng đó, ông ném vỡ cả hai bản luật pháp và khiến chúng vỡ nát. Ông chỉ đang minh họa những điều họ đang làm. Họ đã phá vỡ nó rồi, và ông nói: “Sao các người có thể làm như vậy?” Rồi ông quay lại ngọn núi đó và nói: “Chúa ơi, con chán họ lắm rồi”; Chúa nói: “Ta cũng vậy.” Và Chúa nói: “Ta nghĩ là Ta với họ thế là xong, chắc Ta sẽ thử với một dân khác.” Theo tôi đó là khi Môi-se lên tới đỉnh cao của sự nghiệp, ông mang lấy hình của một thầy tế lễ và nói: “Chúa ơi, nếu Ngài muốn xóa họ ra khỏi sách Ngài thì cứ xóa cả con đi. Con không muốn là người duy nhất.” Và Chúa đáp: “Ta chỉ xóa khỏi sách Ta tên của những kẻ phạm tội cùng Ta, còn con thì không.” Tư tưởng đó xuất hiện xuyên suốt phần còn lại của Kinh Thánh. Khi Đa-vít phạm tội với Bát-sê-ba, ông nói: “Lạy Chúa, xin đừng xóa tên con khỏi sách Ngài.” Và trong sách cuối cùng của Kinh Thánh, Chúa Giê-su hứa rằng người nào thắng, Ta sẽ không xóa tên người ấy khỏi sách Ta.

Điều quan trọng nhất trong đời sống là giữ tên bạn trong Sách Sự sống, hãy tin tôi đi. Chúa phán: Ta xóa khỏi sách Ta những kẻ phạm tội chống lại Ta.

Đó là một bi kịch và khi Môi-se quyết định rằng dân sự phải bị trừng phạt, bạn có biết là bao nhiêu người chết không? 3.000 người. Tôi muốn bạn nhớ rằng Luật pháp được ban trên núi Si-na-i vào ngày thứ 50 sau khi chiên con của Lễ Vượt Qua bị giết. Tôi sẽ ghép chúng lại với nhau nhé! Chiên con của Lễ Vượt Qua bị giết lúc 3 giờ chiều; vào ngày thứ ba sau đó, họ được thả tự do; vào ngày thứ 50 sau đó, ngày mà họ gọi là Lễ Ngũ tuần, họ được ban cho Luật pháp và 3.000 người chết vì phạm luật. Điều đó có gợi nhắc gì cho bạn không? Thật tuyệt vời khi thấy sự lặp lại giữa Cựu Ước và Tân Ước, “văn tự đem lại sự chết, nhưng Thánh Linh ban cho sự sống.” Cũng vào ngày thứ 50, nhiều thế kỷ sau đó, khi người Do Thái đang kỷ niệm ngày Chúa ban Luật pháp, Chúa đã ban Thánh Linh Ngài và 3.000 người được cứu - cũng vào ngày thứ 50. Kinh Thánh thật khớp với nhau!

Cuối cùng, phần cuối trong Xuất Ê-díp-tô Ký. Xây dựng và cung hiến, họ dựng lều lên. Họ lấy tất cả những vật liệu đó ở đâu? Vàng chẳng hạn, họ đã dùng một tấn vàng. Có chép rằng mỗi người dâng một phần năm ao-xơ hay sáu gam vàng; họ lấy ở đâu ra vậy? Câu trả lời là người Ai Cập quá mừng khi thấy dân này quay gót đi và họ cho dân này hết trang sức để đuổi họ đi - đây, lấy rồi đi đi. Sau mười tai vạ, dân Ai Cập chỉ muốn dân Do Thái rời đi và họ cho dân Do Thái hết tiền và trang sức mà họ có thể để hối lộ dân Do Thái - nên dân Do Thái lấy vật liệu từ đó. Nhưng có chép rằng để xây dựng đền tạm, dân chúng đã dâng một cách tự nguyện, chu đáo, đều đặn và rộng rãi.

Đây là bài giảng cho ai đó ở đây là người giảng đạo đấy nhỉ! Có chép rằng họ dâng một cách tự nguyện - không ai phải dỗ dành hoặc ép buộc họ dâng hiến, họ dâng hiến cách vui lòng. Họ dâng cách chu đáo, họ nghĩ xem cần dâng bao nhiêu, chứ không phải là chỉ dâng chỗ tiền lẻ trong ví. Họ dâng cách đều đặn - họ tiếp tục dâng, và họ dâng cách hào phóng, Kinh Thánh chép rằng người ta phải cản họ dâng thêm. Thật thú vị phải không? Ôi! Giá như dân sự Chúa luôn dâng như vậy đến nỗi bạn phải cản họ dâng thêm, Hallelujah! Cuối cùng, Chúa ngự xuống và thánh hóa đền tạm. Rồi họ thấy sự vinh quang đến và từ đó, họ thấy trụ mây. Không biết là có trong cái tranh kia không nhỉ? Nhưng từ đó, họ thấy trụ mây ở trên căn phòng trong đó. Căn phòng bên trong không hề có ánh sáng tự nhiên, không có cả nến nhưng lại sáng chói - vinh quang của Chúa - và khi thấy trụ mây di chuyển, họ phải di chuyển và khi trụ mây dừng lại thì họ đóng trại.

Xuất Ê-díp-tô Ký có ích lợi gì với Cơ Đốc nhân?

Đó là cùng một Đức Chúa Trời. Ngài không thay đổi, Đức Chúa Trời của Xuất Ê-díp-tô Ký là

Chúa của chúng ta và chúng ta là dân Ngài. Ngài không thay đổi và Ngài đối xử với chúng ta giống như với họ, vậy nên nhiều từ trong Xuất Ê-díp-tô Ký lại được sử dụng trong Tân Ước, những từ như luật pháp, giao ước, huyết, chiên con, Lễ Vượt Qua, ra khỏi Ai Cập, men - tất cả những từ này trong Tân Ước lấy nghĩa từ Xuất Ê-díp-tô Ký nên chúng ta cần biết sách này. Nhưng có sự khác biệt. Chúng ta không nằm dưới luật của Môi-se nữa, chúng ta nằm dưới luật của Đấng Christ, điều đó rất, rất quan trọng. Nếu không thì bây giờ tôi đang phạm Luật của Môi-se vì ông nói rằng ngươi không được mặc quần áo làm từ vải pha, phải là vải len hoặc bông nguyên chất. Tôi đang phạm Luật của Môi-se, nhưng tôi không ở dưới Luật của Môi-se, tôi ở dưới luật của Đấng Christ. Điều đó khó hơn trên nhiều khía cạnh và dễ hơn trên những khía cạnh khác.

Nhưng cách đầu tiên để Cơ Đốc nhân áp dụng Xuất Ê-díp-tô Ký là áp dụng với Đấng Christ và thấy Đấng Christ trong sách này. Hãy tra cứu Kinh Thánh, Ngài phán, vì Kinh Thánh làm chứng về Ta. Xuất Ê-díp-tô Ký là trọng tâm của Cựu Ước. Tất cả các sách sau Xuất Ê-díp-tô Ký đều nhìn lại Xuất Ê-díp-tô Ký như sự cứu chuộc, nền tảng của mọi thứ khác. Thập tự giá là trọng tâm của Tân Ước. Xuất Ê-díp-tô Ký liên hệ tới thập tự giá theo cách nào? Sáu tháng trước khi Ngài chết trên thập tự giá, Chúa Giê-su ở trên Đỉnh Hẹt-môn, ngọn núi phủ tuyết ở phía bắc Y-sơ-ra-ên cao hơn 1200m, và Ngài trò chuyện với Môi-se, và Tin Lành theo Lu-ca cho chúng ta biết họ nói về điều gì.

Không biết bạn đã bao giờ để ý xem họ nói về điều gì chưa? Kinh Thánh chép rằng họ nói về Xuất Ai Cập mà Chúa Giê-su sắp làm trọn tại Giê-ru-sa-lem. Điều đó không tuyệt vời sao? Môi-se và Chúa Giê-su đang nói về Xuất Ai Cập mà Chúa Giê-su sẽ làm trọn. Điều đó cho chúng ta một manh mối. Tất nhiên là Chúa Giê-su chết lúc 3 giờ chiều - chính thời khắc mà hàng ngàn chiên con của Lễ Vượt Qua bị giết. Thế nên Phao-lô mới nói: Đấng Christ, Chiên Con Lễ Vượt Qua đã được dâng làm sinh tế cho chúng ta - tất cả đều ở đó. Để Thiên sứ Hủy diệt có thể lướt qua. Ngài sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba sau đó và chính sự phục sinh của Ngài đã giải phóng chúng ta khỏi sự chết. Ngài là Bánh từ trời, Tân Ước nói rằng Ngài là Vầng đá mà từ đó Môi-se lấy nước cho con cái Y-sơ-ra-ên. Giăng trong sách tin lành của ông nói rằng Ngôi Lời trở nên xác thể và “dựng đền tạm” giữa chúng ta. Thật thú vị khi dùng từ đó, nghĩa đen là “dựng lều Ngài giữa vòng chúng ta” vì với chúng ta, đền tạm là Chúa Giê-su - Đức Chúa Trời ở giữa loài người. Nên giờ đây chúng ta đã hiểu nhiều hơn về Đấng Christ và Ngài phán rằng Ta không đến để bãi bỏ luật pháp nhưng để hoàn tất.

Chúng ta không chỉ áp dụng Xuất Ê-díp-tô Ký với Đấng Christ mà còn với Cơ Đốc nhân. Chẳng hạn như vượt qua Biển đỏ là hình bóng của phép báp-tem. Phao-lô nói rằng con cái Y-sơ-ra-ên được báp-tem nhân danh Môi-se trong Biển Đỏ và bạn đã được báp-tem nhân danh Đấng Christ. Việc vượt qua Biển Đỏ mang ý nghĩa gì đối với họ thì phép báp-tem cũng mang ý nghĩa đó đối với bạn. Bạn đã

bao giờ thấy mối liên hệ đó chưa? Mối liên hệ tuyệt vời! Chúng ta cũng thường có bữa Vượt qua vì Lễ Tiệc thánh đơn giản là Lễ Vượt Qua. Tôi đã đến một nhà hội ở phía bắc của Tây Luân Đôn - Finchley. Tôi là khách mời danh dự nên được ngồi cạnh Ra-bi để ăn bữa Vượt qua, vinh hạnh tuyệt vời. Ông lấy bánh và bẻ ra, tạ ơn và đưa bánh cho dân sự; rồi ông lấy một chén rượu, tạ ơn và chuyển nó cho dân sự, rồi tự nhiên ông nhìn tôi và nói: “Đây không phải là tiệc thánh đâu nhé!” Ông thấy trên mặt tôi điều tôi đang làm, nó có ý nghĩa gì đối với tôi, vì đây là bữa Vượt qua của tôi. Tôi đang nhớ đến sự giải phóng; sự thả tự do của Đấng Christ, và Phao-lô nói rằng hãy cứ kỷ niệm lễ đó nhưng không phải với men hiểm độc và gian ác. Có một điều tương đương với bánh không men trong đời sống Cơ Đốc nhân. Men trong Tân Ước thường nói đến sự hiểm độc, gian ác và suy nghĩ xấu, và có một lễ mà chúng ta phải giữ mà không có men.

Nhưng chúng ta cũng có luật để làm theo. Xét trên nhiều khía cạnh, Luật của Đấng Christ khó giữ hơn Luật của Môi-se nhiều. Luật của Môi-se nói rằng đừng giết ai; theo tôi biết thì tôi chưa hề làm vậy. Con đã bao giờ mong cho ai đó chết chưa? Chúa Giê-su phán. Luật của Môi-se nói rằng đừng phạm tội ngoại tình. Tôi chưa hề làm vậy, nhưng luật của Đấng Christ nói rằng: Con đã bao giờ nghĩ đến điều đó chưa? Giữ luật của Đấng Christ khó hơn giữ Luật của Môi-se nhiều. Tôi thà thử giữ Luật của Môi-se còn hơn, bạn thì sao? Nhưng luật của Đấng Christ cũng dễ hơn nhiều vì chúng ta không cần nhiều thầy tế lễ, nhiều lễ nghi và nhiều tòa nhà đặc biệt. Như một quý bà Scotland đáng mến nói rằng: “Khi tôi muốn bước vào nơi Chí Thánh, tôi chỉ cần cởi chiếc tạp dề qua đầu mà thôi.” Và chúng ta bước ngay vào nơi Chí Thánh. Mỗi khi cầu nguyện, bạn có thể bước vào nơi thánh khiết nhất trong tất cả, một cách tự do, trong Danh Giê-su. Có sự khác biệt rõ rệt giữa Giao ước mới và Giao ước cũ. Khi Luật pháp được ban ra ở Lễ Ngũ tuần, 3.000 người chết. Khi Thánh Linh được ban ra ở Lễ Ngũ tuần, 3.000 người sống. Tôi thà có Thánh Linh hơn là luật pháp và Thánh Linh viết luật pháp ở trong lòng. Nhưng trong tương lai vẫn có sự giải phóng cho Cơ Đốc nhân tương đương với Xuất Ai Cập. Nếu đọc sách Khải huyền thì bạn sẽ thấy các tai vạ của Pha-ra-ôn sẽ lại xảy ra.

Có một mối tương quan đáng kinh ngạc giữa các tai vạ xảy ra ở cuối lịch sử và các tai vạ của Pha- ra-ôn, những người giữ đức tin nơi Chúa Giê-su sẽ vượt qua tất cả những điều đó và chiến thắng, bạn biết sách Khải huyền nói gì không? Rằng những người tử vì đạo và những người chiến thắng mọi áp lực bắt bớ bên ngoài và sự cám dỗ bên trong, họ sẽ hát bài ca của Môi-se. Trên thiên đàng, bạn sẽ nghe thấy bài ca của Môi-se và nếu bạn trở lại Xuất Ê-díp-tô Ký chương 15, bài hát đầu tiên được ghi lại trong Kinh Thánh là một bài hát mà Mi-ri-am sáng tác để ca tụng rằng quân Ai Cập đã chết chìm nơi Biển Đỏ. Khi mọi hoạn nạn trên thế gian này chấm dứt và chúng ta được an toàn trong vinh quang, khi đó chúng ta có thể hát bài ca của Môi-se. Chúng ta sẽ có Xuất Ai Cập kép, cả Xuất Ai Cập của thập tự giá đã xảy ra, và sự giải thoát khỏi mọi hoạn nạn sắp đến - qua Chúa Giê-su Christ, Chúa chúng ta. A-men.

Lên đầu trang