LÊ-VI KÝ - Phần 1
Tôi sẽ mở đầu bằng một bài thơ mang tính chất giới thiệu toàn bộ loạt bài học Kinh Thánh này.
Bài đó như sau:
Thánh Kinh tôi tưởng đâu mình biết
Hú họa được chăng mấy đoạn rời
Chút Giăng chút Mác, rồi Sáng thế
Vài đoạn Ê-sai, chút Thánh Thi (đoạn 23) Giáo huấn đoạn đầu, Rô-ma giữa
Tưởng đâu mình biết Thánh Kinh rồi Nhưng đọc kỹ ra thì mới thấy
Thật khác khi xưa đọc dở dang
Lời Chúa khi nay sao mới lạ
Vì đọc hết không/ bỏ giữa chừng
Ai thích “cưỡi ngựa” xem Kinh Thánh Đảo lướt đó đây chút cho xong
Trước khi gối quỳ trong rệu rã
Miệng ngáp vội buông chút khẩn cầu; Kiệt tác mà coi như chẳng đáng
Chẳng bằng đọc sách/báo trên đời
Mỗi ngày đoạn ngắn - “xong nghĩa vụ” Thô thiển lướt qua - “thế đủ rồi!”
Hè, đọc cho kỹ, cho thông suốt
Sâu, rộng, bình tâm xứng với Lời
Để rồi phủ phục trong kinh ngạc
Tiếc sao xưa chẳng đọc hết Lời.
Loạt bài này cố gắng giúp bạn đọc Kinh Thánh theo từng sách một vì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta cả thư viện sách này. Đó không phải là một mà là 66 sách, một thư viện. Mỗi sách có thông điệp riêng và mọi điều trong sách đó liên quan tới thông điệp của sách. Phần lớn những người quyết tâm đọc Kinh Thánh từ đầu chí cuối bị kẹt ở sách thứ ba gọi là Lê-vi ký và tôi có thể hiểu tại sao.
Có ít nhất ba lý do tại sao đây là một sách rất khó đọc. Đầu tiên là nó nhàm chán. Cứ như cố đọc danh bạ điện thoại từ đầu chí cuối vậy. Bạn có thể tìm thấy tên của một người mình biết, không sớm thì muộn, nhưng sách nhàm chán vì có nội dung quá khác với những sách khác trong Kinh Thánh, đặc biệt là hai sách đầu tiên. Hai sách đầu tiên đầy những câu chuyện, đầy tính tự sự. Có cốt truyện, có kịch tính, mọi thứ đang diễn tiến thì đột nhiên, khi bạn chuyển sang Lê-vi ký, hầu như không có chút tự sự nào và vì chúng ta coi Kinh Thánh là một sách đầy những câu chuyện, rồi chúng ta bắt gặp một cuốn sách không có chuyện kể, kiểu như làm chúng ta mất thăng bằng và hơi chán vì không có câu chuyện.
Lý do thứ hai là sách quá lạ lẫm. Không chỉ nhàm chán mà còn lạ lẫm. Đó là một nền văn khóa khác cũng như một nội dung khác. Chúng ta đang chuyển đến một thời điểm cách mình cả hai, ba ngàn năm và cách hơn ba ngàn cây số. Đó cũng là một thế giới khác hẳn, và chúng ta đọc về những điều không quen thuộc với mình. Ví dụ như cách người ta xử lý bệnh truyền nhiễm trong Lê-vi ký.
Con người đáng thương đó phải xé quần áo mình, để tóc tai dài ra mà không chải, rồi che phần mặt dưới và đi quanh, miệng la to “ô uế, ô uế.” Chúng ta không xử lý bệnh truyền nhiễm trong xã hội theo cách đó. Sách quá lạ lẫm, quá khác biệt và nhiều phần trong đó còn kỳ cục, thậm chí là kỳ dị. Chủ nhật tuần trước, bạn không phải đến hội thánh, mang theo một con chiên nhỏ hay một con bồ câu, rồi đưa con vật đáng thương đó cho người mục sư, người này sẽ cắt cổ nó trước đám đông. Nếu vậy thì chắc phải trải thảm đỏ thay vì thảm xanh trong hội thánh. Nhưng sách quá ư là lạ lẫm, quá ư là khác biệt với mọi điều mà chúng ta từng biết. 
Ba là, sách dường như không thiết thực, không chỉ nhàm chán, lạ lẫm mà còn không thiết thực. Sách có gì để nói với tôi trong năm 1993, sách có gì để nói với tôi vào sáng thứ hai ở nơi làm việc? Sách dường như không thiết thực và vì nhiều lý do, sâu thẳm bên trong, theo bản năng chúng ta biết rằng mình không ở dưới luật của Môi-se mà đây lại là một phần trong luật của ông - nên sách có liên quan gì với chúng ta đây?
Hy vọng rằng đến cuối bài nói chuyện này và bài tiếp theo, bạn sẽ thật sự thích thú với sách Lê-vi ký. Đó là một trong năm cuốn sách cùng nhau tạo thành Ngũ kinh, “ngũ” nghĩa là năm. Năm sách đầu tiên trong Kinh Thánh của bạn - Luật của Môi-se, người Do Thái gọi đó là Torah - Sách Chỉ dẫn, và mỗi năm một lần, họ đọc nó từ đầu chí cuối. Họ bắt đầu vào ngày thứ 8 của Lễ Lều tạm - vào khoảng tháng 09/tháng 10 - họ bắt đầu từ Sáng Thế Ký 1, rồi đọc Ngũ kinh suốt năm và hoàn thành vào Lễ Lều tạm của mùa thu năm sau đó.
Bây giờ hãy xem qua năm sách của Môi-se và thấy hình dạng của chúng, và năm sách này có một hình dạng riêng mà có thể bạn chưa từng thấy trước đó. Hãy xem hai đường này, hẹp dần xuống. Hãy nhớ hình dạng đó trong đầu và lướt qua năm sách này. Sáng Thế Ký là sách của những sự khởi đầu, đó là nghĩa của từ đó. Nó cho bạn biết mọi thứ bắt đầu ra sao - từ vũ trụ của chúng ta cho tới dân của Chúa, Y-sơ-ra-ên. Xuất Ê-díp-tô Ký - giống như từ xuất - ra khỏi Ai Cập; Lê-vi ký lấy tên từ chi phái Lê-vi, một trong các chi phái của Y-sơ-ra-ên; rồi sách Dân số ký, đúng theo tên của nó, một cuốn sách thống kê. 600,000 người nam ra khỏi Ai Cập, cộng với phụ nữ và trẻ em, có lẽ là khoảng 2,250,000 người. Rồi Phục truyền luật lệ ký, phục nghĩa là lần thứ hai và trong đó có cả từ luật lệ,
nên Phục truyền luật lệ ký nghĩa là luật thứ hai vì thực ra Chúa ban luật pháp Ngài cho họ hai lần, một lần ở núi Si-na-i và một lần ngay trước khi họ vượt sông Giô-đanh sang Đất Hứa. Vậy nên mười điều răn mới xuất hiện hai lần trong năm sách đầu tiên của Kinh Thánh, một lần trong Xuất Ê-díp-tô Ký, một lần trong Phục truyền luật lệ ký - đây là lần thứ hai. Nên kiểu như họ được nhắc nhớ đến luật pháp ngay trước khi vào Đất Hứa.
Khi đặt câu hỏi “những sách này nói về ai?” thì chúng ta bắt đầu thấy hình này nổi lên rõ nét vì Sáng Thế Ký là một cuốn sách toàn cầu, nói về tất cả mọi người, nói về nhân loại, nói về cả vũ trụ, đó là một sách toàn cầu. Ngay khi chuyển sang Xuất Ê-díp-tô Ký, bạn bước vào một cuốn sách thu
nhỏ vào một dân tộc, một quốc gia là Y-sơ-ra-ên, nên đây là một cuốn sách về dân tộc. Khi chuyển sang Lê-vi ký thì chỉ có một chi phái trong dân tộc đó - bạn đã thấy nó thu hẹp từ toàn cầu, qua dân tộc, đến chi phái chưa? Nhưng ngay khi đi qua Lê-vi ký, hình đó lại chếch ra và sách Dân số ký lại nói đến cả dân tộc, rồi sách Phục truyền luật lệ ký đặt Y-sơ-ra-ên trên phông nền toàn thế giới, giữa các quốc gia và bạn trở lại với góc nhìn toàn cầu. Nên bạn có một ống kính thu phóng cứ phóng to rồi thu nhỏ theo các sách, và có lẽ đó là lý do khiến người ta mắc kẹt ở Lê-vi ký vì họ quan tâm đến những điều toàn cầu, thậm chí là những điều liên quan đến dân tộc, khi chuyển sang chi phái, họ bắt đầu bị bỏ lại phía sau. Nhưng hình đó lại chếch ra nên đến khi sang Phục truyền luật lệ ký, bạn lại thích thú trở lại.
Cách tiếp theo để làm điều này là khi bạn đặt câu hỏi “Ở đâu?” và nhìn nó trong không gian. Bạn thấy rằng nó bắt đầu với cả trái đất, bắt đầu tập trung vào Canh-đê, U-rơ xứ Canh đê, nơi ở của Áp- ra-ham, rồi đến đất Ca-na-an là nơi ông đến, rồi đất Ai Cập nơi họ làm nô lệ trong 300 năm. Nhưng rồi nó tập trung lại, trong Lê-vi ký, vào chỉ một nơi, Núi Si-na-i. Nên một lần nữa, ống kính thu phóng tập trung vào chỉ một nơi, Si-na-i, và rồi nó lại phóng to ra - những chuyến đi đến Nê-ghép, Ê-đôm và Mô-áp, trở lại Ca-na-an. Nhưng nó thu hẹp lại với một chi phái ở một nơi nhỏ bé, thậm chí còn hơn thế khi bạn hỏi câu hỏi “khi nào?,” lại một lần nữa, chính hình này cũng áp dụng với cả năm sách. Sáng Thế Ký bao trùm nhiều thế kỷ, mọi lịch sử đã qua của trái đất chúng ta. Xuất Ê-díp-tô Ký bao trùm theo năm, khoảng 300 năm; Lê-vi ký chỉ bao trùm một tháng, rồi Dân số ký bao trùm 40 năm và Phục truyền luật lệ ký nhìn về nhiều thế kỷ tới lịch sử tương lai của Y-sơ-ra-ên. Vậy bạn có thấy được hình dạng năm sách của Môi-se không? Vì vậy, bạn có nhận ra rằng Lê-vi ký là bản lề của toàn bộ điều này, rằng chúng ta đang tập trung vào tháng quan trọng nhất tại nơi quan trọng nhất và chi phái quan trọng nhất trong toàn bộ điều này, thế nên sách mới quan trọng đến vậy. Sự toàn vẹn Luật của Môi se phụ thuộc vào sách này. Nên cứ 12 tháng họ lại đọc hết ngũ kinh, tức là họ dành khoảng hai đến ba tuần lễ để đọc Lê-vi ký mỗi năm, và chúng ta sẽ đọc sách đó theo cách của người Do Thái trước đây.
Tôi muốn liên hệ Lê-vi ký trở lại với Xuất Ê-díp-tô Ký để cho bạn thấy những sách này nối tiếp nhau như thế nào. Chúng ra rất cần thấy từng sách phát triển từ sách trước đó như thế nào. Vậy Lê-vi ký phát triển từ Xuất Ê-díp-tô Ký như thế nào? Ở nửa sau của Xuất Ê-díp-tô Ký, Đền Tạm được xây dựng - lều của Đức Chúa Trời nơi Ngài sống giữa vòng dân sự Ngài. Nếu tưởng tượng ra trại quân ở Xuất Ê-díp-tô Ký, bạn sẽ thấy lều của Đức Chúa Trời ở giữa và hàng trăm các lều khác bao quanh; có lều thiên thượng và lều của con người. Sách Lê-vi ký nói về mọi điều diễn ra trong lều của Đức Chúa Trời và mọi điều nên diễn ra trong các lều của dân sự, chia thành hai nửa - lều của Đức Chúa Trời, lều của con người. Đó là những luật lệ và quy định cho cả hai.
Còn hơn thế nữa. Xuất Ê-díp-tô Ký trong phần Đền Tạm nói về cách Đức Chúa Trời đến gần con người, nhưng Lê-vi ký nói về cách con người đến gần Đức Chúa Trời. Xuất Ê-díp-tô Ký nói về sự giải phóng mà Chúa mang đến cho dân Ngài, nhưng sách Lê-vi ký nói về việc thánh hóa dân Chúa cho Ngài. Nên Xuất Ê-díp-tô Ký nói về ân điển của Chúa khi giải phóng họ, nhưng sách Lê-vi ký bắt đầu với tế lễ tạ ơn - cách dân sự thể hiện lòng biết ơn vì được giải phóng, và vì vậy, chúng ta cần cả hai nửa. Có thể sách không thú vị như Xuất Ê-díp-tô Ký, nhưng Chúa chờ đợi điều gì đó từ chúng ta để đáp lại điều Ngài đã làm cho chúng ta. Hai sách khớp nhau như vậy đấy! Chúng ta được cứu để phục vụ và Xuất Ê-díp-tô Ký nói đến cách Đức Chúa Trời cứu dân Ngài, nhưng Lê-vi ký nói về cách họ cần phục vụ Ngài. Không chỉ được Chúa cứu mà chúng ta còn cần phục vụ Ngài.
Khi chúng ta đọc Cựu Ước, tôi thấy thật hay khi đọc các sách như thể tôi là người Do Thái. Tôi không phải người Do Thái, giá như vậy tôi được như vậy. Cái mũi này là nét gia truyền trong dòng họ Pawson, nó giúp tôi khi đến thăm Y-sơ-ra-ên, nhưng tôi không phải người Do Thái, giá như tôi được như vậy. Nhưng hãy thử tưởng tượng rằng chúng ta là người Do Thái và hãy đọc sách này như cách một người Do Thái đọc nó mỗi năm một lần. Tại sao anh ta phải làm như vậy? Chúng ta sẽ thấy rằng đây là vấn đề sống còn với một người Do Thái, họ phải đọc sách và hiểu sách, thậm chí là sống theo sách. Chỉ có một Đức Chúa Trời và đó là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, không còn Đức Chúa Trời nào khác, mọi thần khác là sản phẩm của trí tưởng tượng con người. Chỉ có một Đức Chúa Trời, Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất tồn tại và họ là dân duy nhất của Ngài trên đất, vì vậy, giữa họ có mối quan hệ đặc biệt.
Về phía Chúa, Ngài đã hứa làm quá nhiều điều cho họ. Ngài đã hứa làm chính phủ của họ, làm bộ trưởng bộ quốc phòng và bảo vệ họ; làm bộ trưởng bộ tài chính và không để một ai trong họ nghèo khó; làm bộ trưởng bộ y tế và không một tật bệnh nào của Ai Cập chạm đến họ - là mọi điều họ cần. Ngài sẽ như vậy với họ, là Vua của họ. Đổi lại, Ngài muốn họ sống đúng đắn và làm mọi điều cho đúng, hay sống công chính, đó là nghĩa của từ công chính - sống cho đúng đắn. Câu chìa khóa trong toàn bộ sách Lê-vi ký là câu liên tục xuất hiện trong Tân Ước: “Các con phải thánh vì Ta là thánh.” Nói cách khác, Đức Chúa Trời muốn dân tộc mà Ngài giải phóng trở nên giống Ngài và không giống mọi dân xung quanh; và nếu bạn thấy bối rối với một số điều trong Lê-vi ký thì đây là chìa khóa để mở chúng ra. Khi Đức Chúa Trời bảo họ rằng “các con không được làm thế này” tức là Ngài đang nói rằng “vì các dân xung quanh các con làm như vậy và các con phải khác biệt, các con phải thánh vì Ta là thánh. Các con phải phản ánh bổn tính của Ta và để người ta thấy được bổn tính của Ta qua các con.” Câu đó là chìa khóa - “Các con phải thánh vì Ta là thánh.” Bạn sẽ thấy câu đó không chỉ một lần, bạn cũng sẽ thấy câu đó rải khắp Tân Ước vì điều đó vẫn được áp dụng. Nếu Đức Chúa Trời cứu bạn thì Ngài muốn bạn trở nên giống Ngài, Ngài muốn bạn sống theo đường lối Ngài và trở nên thánh khiết vì Ngài là thánh. 
Bây giờ hãy xem hình dạng chung của cả sách. Tôi đã cho bạn biết rằng sách được chia thành hai nửa và một lần nữa [xin lỗi nếu bạn thấy khó nhìn], một lần nữa, hình này lại xuất hiện, nhưng giờ đây, hình này áp dụng với chính sách Lê-vi ký. Sách dồn đến đỉnh điểm, rồi từ đỉnh điểm phát triển ra. Thực ra đó là một chiếc bánh kẹp nhiều lớp, một kiểu hamburger McDonald và có một điều ở chính giữa, rồi giãn ra chút - và bạn sẽ thấy ngay từ màu sắc của biểu đồ này là phần đầu tiên tương
ứng với phần cuối, phần thứ hai tương ứng với phần gần cuối, và phần thứ ba tương ứng với phần gần gần cuối - để lại một phần ngay giữa - và có sự tương ứng rõ ràng, được kết hợp rất đẹp với nhau, được phát triển rất đẹp. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời tạo ra khuôn mẫu này chứ không phải Môi-se. Bạn có nhận ra rằng Lê-vi ký chứa nhiều Lời Chúa hơn mọi sách khác trong Kinh Thánh không? Khoảng 90% sách Lê-vi ký là lời nói trực tiếp của Đức Chúa Trời, "Đức Giê-hô-va phán với Môi- se.” Không sách nào khác trong Kinh Thánh có nhiều lời nói trực tiếp của Chúa đến vậy, nên nếu bạn muốn đọc Lời Chúa thì đây là một sách quá hay để bắt đầu vì bạn đang đọc những lời thật sự của Chúa. Nên Chúa đã kết hợp điều này với nhau, bạn có thể thấy sự hài hòa tuyệt đẹp và một khuôn mẫu trong đó. Những của dâng và sinh tế của bảy chương đầu tiên được bổ trợ bằng những hình phạt và lời hứa nguyện của dân sự. Chức tế lễ được mô tả rất kỹ, tương ứng với sự thờ phượng mà họ phải dẫn dắt và cách dẫn dắt sự thờ phượng của dân sự.
Nhưng đây là hai sự khác biệt chính mà dân Chúa phải học biết, và chút nữa tôi sẽ trở lại với điều đó vì chúng ta rất cần tìm ra sự khác biệt giữa thanh sạch và ô uế, giữa bình thường và thánh khiết. Đó không phải là những điều giống nhau, chúng ta sẽ thấy, đây cũng là một chìa khóa khác. Nhưng toàn bộ mọi thứ dồn đến một ngày, gọi là Ngày Chuộc tội. Đó là ngày mà họ phải bắt hai con vật, và phải dâng một con vật trong trại còn con kia - đây đúng là một chìa khóa - con vật còn lại, một con dê - họ sẽ đặt tay trên đầu nó, hết người này đến người khác, xưng tội lỗi họ ra rồi đuổi con dê ra khỏi trại, vào nơi hoang mạc, nó sẽ chết tại đó cùng mọi tội lỗi của dân sự chất trên người. Đó là con dê gánh tội (scapegoat), và tôi mới đọc từ đó trên nhật báo sáng nay. Đó là từ được du nhập vào tiếng Anh từ sách Lê-vi ký, con dê gánh tội, người nhận mọi trách nhiệm, người mang mọi sai trái của những người khác đi. Chúng ta sẽ lại trở lại điều đó. Hình này chia đôi sách ra - dẫn đến ngày này và bắt nguồn từ ngày này - và từ quan điểm Cơ Đốc, bây giờ tôi sẽ không nói về điều này, nhưng chúng ta sẽ xem xét thêm về điều đó sau. Nửa đầu mô tả cách thức của chúng ta đối với Đức Chúa Trời - chúng ta gọi đó là sự xưng công chính (cụm này nghe dài quá nhỉ) và nửa sau mô tả chặng đường chúng ta đi cùng Chúa - chúng ta gọi đó là sự thánh hóa. Điều đó tạo nên hình dạng của sách. Giờ bạn đã cảm được điều đó chưa? Khi đã hiểu được hình dạng của cả sách thì bạn sẽ dễ đọc nó hơn nhiều vì bạn biết mình đang ở đâu, và bạn biết mình đang chạm đến phần nào trong cốt truyện. 
Sau khi xem xét cả sách, tôi muốn xem một hoặc hai mục trong đó và chúng ta sẽ bắt đầu với bảy chương đầu, những tế lễ. Có năm tế lễ. Lướt nhanh qua chúng: Tế lễ thiêu - bạn mang một con vật đến, thiêu toàn bộ con vật và để Đức Chúa Trời ngửi thấy mùi hương đó. Tất cả được dâng cho Chúa
và Chúa yêu mùi chiên nướng, đó là một tế lễ có hương thơm với Ngài, bạn đang dâng toàn bộ con vật cho Ngài. Nhưng Tế lễ Chay, bạn giữ lại một phần cho mình và dùng bữa với Chúa, Chúa dùng một chút và bạn dùng một chút. Đó là tế lễ chay. Hay Tế lễ Bình an. Bạn sẽ đọc thấy mọi chi tiết trong Lê-vi ký.
Nhưng tôi muốn bạn lưu ý rằng ba tế lễ đầu tiên là cách đúng đắn để nói cảm ơn Chúa vì một phước hạnh Ngài ban. Chúng không phải là tế lễ chuộc tội, chúng là những tế lễ tạ ơn. Nói cách khác - bạn có cảm thấy biết ơn Chúa không? Vậy thì đây là cách Ngài muốn bạn làm để nói cảm ơn. Tôi đang nói với người Do Thái thôi nhé! Đây là cách bạn có thể tỏ lòng biết ơn với Ngài. Bạn có mừng vì mình còn sống, có biết ơn vì mình được khỏe mạnh, có biết ơn vì mình có tiền không? Vậy thì hãy thể hiện lòng biết ơn theo cách này, và họ có thể chọn một trong ba cách, chỉ để nói lời cảm ơn Chúa. Hai tế lễ còn lại không phải để tỏ lòng biết ơn nhưng để giải quyết tội lỗi. Có Tế lễ Chuộc tội và Tế lễ Chuộc lỗi, và chúng làm hai điều.
Trước hết, chúng là giá chuộc cho tội lỗi. Chúng dâng lên Chúa sự bồi thường cho những điều sai trái mà bạn đã phạm phải. Từ chuộc tội không nghĩa là một lần đủ cả - đó là tư tưởng hiện đại. Nó không có nghĩa như vậy chút nào, nó nghĩa là bồi thường. Nên nếu bạn chuộc cho cái gì đó thì bạn đưa ra thứ gì đó để bồi thường. Cả hai đều là tế lễ bồi thường cho Chúa và chúng cần có huyết, chúng cần có sự sống. Để bồi thường cho Chúa đời sống tệ hại mà bạn đã sống, bạn dâng một sự sống tốt đẹp chưa phạm tội. Nhưng một trong những điều quan trọng nhất của hai tế lễ này mà tôi muốn bạn lưu ý - và nếu đã đọc hết Lê-vi ký thì chắc hẳn bạn cũng ấn tượng với điều này - chúng chỉ có tác dụng với những tội không cố ý, chúng không có tác dụng với những tội cố ý vi phạm.
Nói cách khác thì không ai hoàn hảo cả, ai cũng phạm sai lầm, chúng ta vô tình sa vào tội lỗi. Chúng ta không định làm điều sai trái, nhưng chúng ta đã làm như vậy. Đức Chúa Trời chỉ cho dâng tế lễ với tội không cố ý, nhưng trong danh sách này không có tế lễ dành cho tội cố ý. Điều đó rất quan trọng vì điều đó được nhắc lại trong Tân Ước, rồi chúng ta sẽ thấy. Tân Ước phân biệt giữa tội mà Cơ Đốc nhân vô tình phạm phải và tội mà Cơ Đốc nhân cố ý, chủ tâm vi phạm. Tân Ước, cũng như Cựu Ước, nói rằng nếu chúng ta cố ý phạm tội sau khi được tha thứ thì không có của lễ cho tội lỗi nữa. Bạn đã bao giờ để ý thấy điều đó trong Tân Ước chưa? Điều đó bắt nguồn từ chính Lê-vi ký. Tội cố ý mà những người đã được tha thứ gây ra là tội rất nghiêm trọng, thế nên Chúa Giê-su mới nói với người nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình là “hãy đi, đừng phạm tội nữa.” Sự phân biệt này xuất hiện xuyên suốt Tân Ước cũng như Cựu Ước, giữa tội do dân Chúa cố ý vi phạm và tội do dân Chúa vô tình phạm phải. Với tội vô tình phạm phải, Chúa có đủ sự cung ứng, vì Chúa biết chúng ta yếu đuối, Ngài biết rằng chúng ta sa ngã, Ngài biết rằng chúng ta không định phạm tội. Tôi “làm điều ác mình không muốn,” Phao-lô nói vậy. Đó là tội không cố ý - vô tình phạm phải - và tội đó được che đậy.
Đó là những tế lễ. Tôi sẽ không nói nhiều về các thầy tế lễ vì điều này đã rất rõ ràng rồi. Tôi muốn đi thẳng vào thực tế rằng họ có một bộ lịch để tuân theo. Trong Tân Ước thì không có như vậy. Không có chút lịch Cơ Đốc nào trong Tân Ước, ngạc nhiên chưa! Tân Ước không nói đến việc giữ lễ Giáng sinh hay Phục sinh, nhưng với người Do Thái, một bộ lịch là một phần không thể thiếu trong chặng đường bước đi với Chúa. Họ được coi như con trẻ; người trưởng thành không cần lịch; con trẻ thì cần để nhắc chúng nhớ những thứ mà chúng sẽ quên. Tất cả những kỳ lễ này được nêu trong sách Lê-vi ký và phải giữ theo.

Hãy lướt nhanh qua các kỳ lễ đó. Quên phần bên trái của bảng đi một chút nhé; chỉ nhìn vào những chữ màu đỏ thôi. Bắt đầu từ tháng đầu trong năm, khoảng tháng 03/tháng 04 của chúng ta là Lễ Vượt Qua, Lễ Bánh Không Men vào ngày 15 của tháng đầu - để nhớ lại cách Đức Chúa Trời đưa họ ra khỏi ách nô lệ tại Ai Cập. Vào ngày trước Lễ Vượt Qua, một con chiên phải được giết lúc 3 giờ chiều. Chẳng phải là rất tuyệt vời đó sao? 3 giờ chiều - giữa buổi chiều, Kinh Thánh chép rằng người ta giết con chiên và vào ngày tiếp theo, Lễ Vượt Qua bắt đầu. Ba ngày sau đó, họ phải dâng những trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời. Ba ngày sau đó. Nghe có quen không? “Trái đầu mùa của những kẻ ngủ?”
Năm mươi ngày sau, lại có chữ “ngũ” nữa, năm hoặc năm mươi, Ngũ tuần, năm mươi ngày, họ phải giữ Lễ Ngũ tuần hay Lễ Các Tuần vì đó là ngày Luật pháp được ban ra trên núi Si-na-i và họ phải nhớ lấy điều đó, phải cảm tạ Chúa vì điều đó. Nhưng bạn có biết điều gì xảy ra khi Luật pháp được ban ra trên núi Si-na-i vào Lễ Ngũ tuần đầu tiên không? Kinh Thánh chép rằng họ đã phạm tội, và nhiều người bị giết; bạn có biết là bao nhiêu người không? Ba ngàn người. Như vậy khi Luật pháp được ban vào Lễ Ngũ tuần đầu tiên, ba ngàn người đã bỏ mạng. Nhiều thế kỷ sau, khi Thánh Linh được ban vào Lễ Ngũ tuần, ba ngàn người đã được cứu. Cả Kinh Thánh đều ăn khớp với nhau, chẳng phải là rất tuyệt vời đó sao? Đó là những kỳ lễ đầu năm.
Chúng ta đến với những kỳ lễ cuối năm. Lễ Thổi kèn, người ta thổi kèn shofar làm từ sừng một con cừu già. Tiếng kèn! Tiếng đó báo hiệu một vòng mới của các kỳ lễ. Hai là Ngày Chuộc tội. Đó là một ngày không thể thiếu khi con dê gánh tội bị đuổi khỏi trại cùng mọi tội lỗi chất trên mình nó, sau đó là Lễ Lều tạm, tám ngày, Lễ Su-cốt, hay Lều tạm trú, khi họ chuyển ra khỏi nhà mình và sống trong những căn chòi; họ phải thấy được những vì sao lọt qua mái chòi để nhắc họ nhớ tới 40 năm dại dột lang thang trong hoang mạc khi lẽ ra họ có thể vào Đất Hứa trong 11 ngày. Nên nhóm ba kỳ lễ này nhằm vào cuối năm. Tất cả những kỳ lễ này sẽ được làm trọn theo phương cách Cơ Đốc. Ba kỳ lễ đầu đã được làm trọn vào lần đến thứ nhất của Chúa Giê-su, điều đó đã là quá khứ với chúng ta, nhưng ba kỳ lễ này sẽ được làm trọn vào lần đến thứ hai của Ngài. Tôi không biết Chúa Giê-su sẽ trở lại vào năm nào, nhưng tôi biết là vào tháng nào. Đó chắc chắn là tháng 09/tháng 10 vì Ngài luôn làm mọi điều vào đúng thời điểm. Nên vào một năm nào đó, vào tháng 09/tháng 10, Chúa Giê-su sẽ trở lại. Bạn biết là Chúa sinh vào tháng đó chứ? Ngài không sinh ra vào ngày 25/12 đâu. Bằng chứng là Tin Lành theo Lu-ca chỉ ra rằng Chúa giáng sinh vào tháng thứ 7 trong năm, tức là Lễ Lều tạm. Đây là lúc họ mong đợi Đấng Mê-si-a và thật thú vị, tất cả những lần Tân Ước nhắc đến tiếng kèn đều là để công bố sự trở lại của Ngài. Nên ba lễ này đã xong rồi, chúng đã được làm trọn, trong lần đến đầu
tiên của Đấng Christ. Nhưng ba lễ này sẽ được làm trọn vào lần đến thứ hai của Ngài, và vào ngày chuộc tội đó, sự cứu rỗi sẽ đến với cả dân tộc Y-sơ-ra-ên.
Giờ còn hai lễ nữa. Có một ngày nghỉ hằng tuần - và với những nô lệ ở Ai Cập từng phải làm việc 7 ngày/tuần thì một ngày nghỉ hằng tuần hẳn là một phước hạnh. Không có dấu vết của ngày Sa-bát trong Kinh Thánh trước thời Môi-se. A-đam không có ngày Sa-bát, ông làm việc 7 ngày/tuần, Áp-ra- ham không có ngày Sa-bát, ông làm việc 7 ngày/tuần, nhưng bắt đầu từ thời Môi-se là có ngày nghỉ hằng tuần này. Đó không phải là ngày nghỉ lễ, hay là ngày dành cho gia đình, đó là ngày dành cho Chúa - một ngày thánh, và là một phần trong lịch của họ. Những lễ này tổ chức hằng năm, cái này diễn ra hằng tuần và cái này cứ 50 năm một lần, đúng là năm hân hỉ. Cứ 50 năm một lần, số dư tài khoản của mọi người lại được cào bằng. Các bạn có thích điều đó xảy ra ở đây không? Tôi thấy một số người trong các bạn có vẻ không chắc lắm. Tôi có thể nhìn vẻ mặt của các bạn mà biết được là các bạn có số dư tài khoản cao hay thấp nha! Nhưng bạn thấy đó, mọi tài sản được trả về cho gia đình sở hữu chúng từ ban đầu, cứ 50 năm một lần, nên giá thuê càng rẻ khi năm hân hỉ càng gần vì thời hạn ngắn hơn. Các nô lệ được trả tự do vào năm thứ 50, đủ mọi điều thú vị xảy ra, nên người ta mong chờ năm hân hỉ, “năm thi ân của Chúa” - khi có tin lành cho người nghèo vì họ sẽ lại giàu có, khi những kẻ bị cầm tù được thả tự do. Điều đó có gợi cho bạn nhớ điều gì không? Chúa Giê-su công bố rằng: “Thần của Chúa ngự trên Ta để kẻ bị cầm được tha, đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo, để đồn ra năm thi ân (hay năm lành) của Chúa.” Nói cách khác, Chúa Giê-su đã mở đầu năm hân hỉ thật sự mà khi đó, người ta chờ đợi tất cả những điều này. Bạn đã thấy tầm quan trọng của việc biết Cựu Ước, để hiểu được Tân Ước chưa?

Giờ chúng ta chuyển sang câu hỏi rất quan trọng nhưng khó trả lời về sự khác nhau giữa thánh khiết và tầm thường, thanh sạch và ô uế. Thế giới luôn nghĩ về mặt tốt và xấu. Họ chỉ có hai phạm trù tư duy, trong khi Kinh Thánh có ba, và chúng ta gặp điều này lần đầu trong Lê-vi ký; nếu không nắm vững điều này thì bạn sẽ không nắm được Lê-vi ký. Điều này cực kỳ, cực kỳ quan trọng. Một thứ có thể thanh sạch nhưng vẫn tầm thường. Có hai quá trình xảy ra - một là khi những thứ thiêng liêng, thiên thượng, thánh khiết bị tầm thường hóa và thành ra bình thường; bạn có thể hủy hoại một điều thánh khiết bằng cách khiến nó thành ra bình thường. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho bạn. Bạn có biết điều gì châm ngòi cho cuộc Cách mạng Romania vài năm trước không?
Một vị mục sư Cơ Đốc đã châm ngòi cho cuộc cách mạng đó. Ông ra ngoài mua một cuộn giấy vệ sinh, mang nó về nhà, và ngay lần đầu dùng giấy trong nhà vệ sinh gia đình, ông đã nhận ra rằng mình đang dùng các trang của một cuốn Kinh Thánh. Thánh kinh Hội đã gửi các cuốn Kinh Thánh đến Romania vào thời cộng sản và chính quyền cộng sản đã làm rùm beng điều đó lên - kiểu như một trò quảng cáo với họ - “chúng ta có Kinh Thánh đây rồi,” và Kinh Thánh được dùng để sản xuất giấy vệ sinh. Khi vị mục sư đó nhận ra rằng mình đang dùng Kinh Thánh để làm giấy vệ sinh, ông tức giận đến nỗi giảng cả một bài giảng, và bài giảng đó đã châm ngòi cho cuộc Cách mạng Romania. Không phải là người ta đã làm cho Kinh Thánh trở nên ô uế vì nhà vệ sinh chẳng có gì ô uế cả - chỉ là biến một thứ thánh khiết thành ra bình thường. Tầm thường hóa điều gì đó - bạn có hiểu không? Giai đoạn bên dưới là lấy một điều thanh sạch, bình thường và khiến nó thành ra ô uế, thành ra tội lỗi. Ba từ thiêng liêng, thế tục và tội lỗi khá tương ứng với tư duy về thánh khiết, thanh sạch - bình thường, và ô uế. Cũng giống như có quá trình tầm thường hóa điều thánh khiết cho thành bình thường, và làm vấy bẩn điều bình thường, thanh sạch cho thành ô uế, thì cũng có quá trình cứu khỏi tình trạng này. Bạn có thể thanh tẩy điều ô uế và khiến nó nên thanh sạch, rồi bạn thánh hóa nó và nó trở nên thánh khiết.
Vấn đề là trong Kinh Thánh, điều thánh khiết và điều ô uế không bao giờ được tiếp xúc với nhau. Phải để chúng cách xa nhau hoàn toàn. Những điều thánh khiết và những điều ô uế không có điểm gì chung. Kinh Thánh cũng đề cập rằng trộn lẫn giữa ô uế và thanh sạch sẽ khiến cả hai trở nên ô uế. Nhưng chẳng phải là rất đúng sao? Nếu bạn trộn những vật bẩn và sạch với nhau, thì vật sạch khiến vật bẩn sạch ra, hay vật bẩn khiến vật sạch bẩn đi đây? Bạn biết mà! Tôi vừa trích dẫn Nê-hê-mi đó, ông nói đúng như vậy. Cũng tương tự, nếu bạn trộn lẫn những điều thánh khiết và bình thường thì tất cả đều thành ra bình thường, chứ không trở nên thánh khiết.
Quá trình này, ở đây (cái mũi tên này phải chỉ xuống, e là vậy; tôi xin lỗi. Lẽ ra là chỉ xuống), quá trình đi xuống này dẫn đến sự chết, đúng là như vậy, trong khi quá trình này dẫn tới sự sống, nhưng cần có của lễ. Chỉ khi có của lễ thì bạn mới có thể thanh tẩy điều ô uế và đem lại sự sống cho nó. Nhân tiện cho tôi hỏi, bao nhiêu người trong các bạn đang ở trong sự phục vụ Cơ Đốc trọn thời gian, giơ tay cho tôi xem được không? Tôi hỏi là “Bao nhiêu người trong các bạn đang ở trong sự phục vụ Cơ Đốc trọn thời gian, giơ tay cho tôi xem được không?”
Công việc có thể thuộc một trong ba điều này. Có một số công việc phạm pháp và vô đạo, tức là việc ô uế, Cơ Đốc nhân không thể làm những việc đó. Có những công việc trong sạch khác, nhưng lại bình thường. Ý tôi không phải là anh phải làm giáo sĩ hay mục sư thì mới thánh khiết. Nó phụ thuộc vào việc anh có dâng công việc của mình cho Chúa hay không, anh có thể là một lái xe taxi thánh khiết. Anh có thể dâng công việc và làm điều đó vì cớ Chúa, như vậy, nó sẽ không còn bình thường nữa, nó trở thành một nghề thánh khiết trong Chúa, bạn có hiểu không? Bạn có thể làm giáo sĩ mà vẫn ở đây. Bạn đã bắt đầu hiểu được điều gì đó chưa? Tiền của bạn có thể trở nên ô uế nếu bạn dùng vào những việc tệ hại, hoặc thanh sạch nếu bạn dùng vào những điều tốt đẹp, hoặc thánh khiết nếu nó được thánh hóa cho Chúa. Tình dục có thể thuộc một trong ba điều này. Bạn đã bắt đầu nắm được tầm quan trọng của việc phân biệt ba điều này chưa? Có nhiều người ở thế gian ngoài kia đang sống một đời sống đứng đắn, bình thường, trong sạch, nhưng họ không phải là những người thánh khiết. Chúa không chỉ muốn chúng ta sống cho tốt, Ngài muốn chúng ta sống cho thánh khiết. Đó là điểm nhấn trong Lê-vi ký.
Dân Ta, nếu họ thành ra ô uế, họ phải được thanh tẩy và đưa về trạng thái thanh sạch, nhưng họ cần phải là một dân thánh vì Ta là thánh - và điều đó khác với việc là những người tốt. Đó là câu trả lời cho những người bên ngoài hội thánh nói rằng: “Tôi có thể tốt bằng bất cứ ai trong nhà thờ. Tôi có thể sống tốt như các anh là những người đi nhà thờ.” Nhưng họ không thánh khiết, họ không bao giờ dùng từ thánh khiết, họ còn không nghĩ đến việc dùng từ đó vì họ đâu có hiểu, đâu có biết gì về điều này. Họ chỉ bảo: “Cậu này sống tốt lắm, có cần phải chúa chiếc gì đâu.” Ừ thì anh ta sống tốt, nhưng không thánh khiết và Chúa không chỉ tìm những người tốt, Ngài muốn một dân thánh khiết và chúng ta sẽ thấy trong sách Lê-vi ký rằng cần có những gì để trở thành một dân thánh cho Chúa.
Điều đó gồm toàn những điều rất thiết thực. Khi đọc Lê-vi ký, tôi phải sửng sốt khi thấy sách rất thiết thực. Ví dụ như sức khỏe. Chúng ta đang xét đến sự thánh khiết của đời sống, nghĩa là sự trọn vẹn của đời sống. Nghĩa là không có bất cứ phần nào trong đời sống bạn không thể trở nên thánh khiết. Hãy xét đến sức khỏe. Thân thể cũng cần cho sự thánh khiết như tâm linh, thế nên Lê-vi ký mới nói đến việc cắt tóc giống như Phao-lô nói trong 1 Cô-rinh-tô. Thế nên Lê-vi ký mới nói về việc xăm trổ. Bạn có biết là Kinh Thánh nói về việc xăm trổ không? Nó nói về việc người nam đeo khuyên tai - hay không nên như vậy. Rất thú vị, với Chúa thì sự thánh khiết bao gồm tất cả những điều đó. Thiết thực như vậy đấy. Sách có nói về những chất thải của cơ thể, nói cả về nam và nữ, rồi việc sinh con. Ở đây nói rất nhiều về đồ ăn, cả đồ ăn thanh sạch và không thanh sạch - và bạn biết là những người Do Thái đang làm rất nhiều đồ ăn kiểu kosher. Tất cả được xây dựng trên câu Kinh Thánh “Con chớ nấu dê con trong sữa mẹ nó.” Nên giờ họ có hai nhà bếp, hai bộ nồi chảo cho sản phẩm sữa và thịt. Đó hoàn toàn không phải là ý nghĩa của câu đó. Gần như họ đã xây dựng cả một tôn giáo trên nền tảng đó.
Tôi thích nói với họ rằng Áp-ra-ham không ăn theo kosher, ông dọn thịt bê và bơ sữa cho bốn vị thiên sứ đến viếng thăm, Áp-ra-ham hư thật! Thực ra thì nấu dê con trong sữa mẹ nó là một nghi thức sinh sản của người Ca-na-an, và Chúa phán: Các con đừng làm như vậy vì chúng làm như vậy. Các con phải thánh khiết với ta và đừng tham gia vào dạng mê tín dị đoan đó. Có những điều trong Lê-vi ký nói đến việc đừng tham gia vào thuyết huyền bí hoặc đồng bóng, thầy bói. Sách có nói chút ít về nấm gỗ mục trong nhà - và bạn không được gọi thợ vệ sinh đến đâu, bạn phải đốt nhà mình vì tình yêu với người lân cận cơ. Nếu yêu người lân cận thì bạn sẽ đốt nhà mình khi nhà có nấm gỗ mục. Bạn có mừng vì mình không ở dưới Giao Ước cũ không? Rồi quần áo, không được mặc vải pha, không được pha len và vải pp, hay bất cứ vải gì. Thế mà chính một gia đình Do Thái - hãng Marks and Sparks - đã giúp tôi phạm Luật của Môi-se, thường xuyên luôn. Sách có nói đến đời sống xã hội, rằng sự thánh khiết nghĩa là đặc biệt quan tâm đến người nghèo, người điếc, người mù và người già. Có chép rằng nếu là một người thánh khiết thì bạn sẽ đứng lên khi một người lớn tuổi bước vào phòng.
Đây là sự thánh khiết, rất thực tế đúng không? Nó bao trùm toàn bộ đời sống. Chính câu “hãy yêu thương người lân cận như chính mình” là từ Lê-vi ký mà ra. Đó là một phần trong sự thánh khiết, điều đó bao trùm toàn bộ đời sống. Sách chép rằng tội loạn luân ở dưới đây, tội này ngày càng phổ biến. Sách chép rằng đồng tính luyến ái ở dưới này, rằng thủ dâm ở dưới này, tức là bác bỏ cuốn sách mới ra của Madonna. Tất cả những điều này đều rất gần gũi. Một đời sống thánh khiết là gì? Là cách bạn hành xử từ thứ hai đến thứ bảy chứ không chỉ là những gì bạn làm vào Chúa Nhật, và đó là tất cả các phần trong đời sống bạn, ngôi nhà bạn ở, đồ bạn ăn, quần áo bạn mặc. Nó liên quan đến tất cả cuộc sống, thánh khiết là như vậy, và chúng ta học được điều này từ Lê-vi ký. Nắm được sự phân biệt rạch ròi này là bạn đã có chìa khóa để giải mã Lê-vi ký. Chúa không chỉ tìm kiếm những người trong sạch, Ngài tìm kiếm những người thánh khiết. Đó là một khác biệt lớn. Khi chưa là Cơ Đốc nhân, bạn
còn chưa bao giờ nghĩ đến việc trở nên thánh khiết, chỉ nghĩ đến việc làm người tốt - và như vậy thì chưa đủ tốt đâu. Chúng ta sẽ đi tiếp trong bài nói chuyện sau.
LÊ-VI KÝ - Phần 2
Chúng ta vẫn đang đọc Lê-vi ký như thể chúng ta là người Do Thái, nên hãy tiếp tục nói một số
điều về toàn bộ Luật của Môi-se. Người ta gọi đó là Luật chứ không phải là Các Điều luật; người ta gọi đó là luật vì ấy là một thể thống nhất, sự thánh khiết nghĩa là sự toàn vẹn, tất cả những luật lệ và quy định này gắn liền với nhau và tạo thành một tổng thể. Vì vậy, phạm phải bất kỳ điều gì tức là phạm hết. Nó hơi giống chuỗi vòng cổ của phụ nữ. Dù có đứt ở chỗ nào thì các hạt trong đó cũng tung ra, bạn đã làm hỏng chuỗi vòng và tất cả đều bắn tung tóe. Đó là một ý rất quan trọng. Nó không chỉ là cố gắng giữ càng nhiều càng tốt. Tôi đã từng đùa mấy cậu lính Không quân Hoàng gia Anh; họ luôn nghĩ rằng Cơ Đốc nhân là người giữ mười điều răn. Khi tôi hỏi: “Rồi, thế bao nhiêu bạn giữ được mười điều răn?,” không ai giữ được. Họ trả lời: “Ôi giời, giữ làm sao được hết!” và tôi hỏi: “Thế các bạn phải giữ bao nhiêu điều mới được làm Cơ Đốc nhân?,” họ luôn nói là 6 trên 10, rất thú vị. Đó là suy nghĩ của hầu hết mọi người. Cứ giữ càng nhiều càng tốt, học sinh chỉ cần cố được 6 trên 10. Nhưng đó là một tổng thể và phạm phải bất cứ điểm nào tức là phạm hết. Bạn đã phá vỡ sự toàn vẹn hay thánh khiết của toàn bộ lối sống. Đó là điều đầu tiên mà tôi muốn nói.
Bây giờ tôi muốn nói thêm hai điều nữa về Lê-vi ký. Điều số một, Đức Chúa Trời không đưa ra lý do cho mọi luật lệ của Ngài, cho việc không mặc đồ bằng vải pha, không được cho con này bú sữa con kia, không được gieo hai thứ hạt giống. Đức Chúa Trời là Chúa của sự thuần túy, Ngài không thích đồ bằng vải pha, trộn hạt giống lạ với nhau hay cho con này bú sữa con kia. Ngài không thích như vậy, Ngài thánh khiết, Ngài thuần túy - nhưng không phải lúc nào Ngài cũng giải thích lý do. Tâm trí Tây hóa của chúng ta, tâm trí hiện đại của chúng ta muốn có lý do cho mọi thứ: Tại sao Ngài lại không để họ làm điều này? Đôi khi lý do rất hiển nhiên, có thể chỉ là để giữ vệ sinh. Một số quy định về nhà vệ sinh rất hiển nhiên, để giữ vệ sinh mà Chúa bảo họ làm điều này điều kia. Có thể là một số đồ ăn ô uế bị cấm là vì thịt lợn rất có khả năng gây bệnh trong điều kiện khí hậu đó, tại vùng đó. Chúng ta muốn có lý do cho mọi thứ, nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng Chúa không cho họ lý do. Ngài không nói rằng: “Ta không cho các con làm như vậy là vì thế này...”
Điều đó rất, rất quan trọng, vì nếu cứ muốn biết tại sao một quy định nào đó lại được áp trên bạn thì bạn không sẵn sàng để người khác làm người phán xử. Bạn đang biến chính lý lẽ của mình thành người phán xử. Có những lúc tôi và vợ phải nói với các con mình là “vì bố nói thế,” bạn thấy đó, và điều quan trọng là nếu bạn chỉ làm theo sự răn dạy khi thấy nó hợp lý thì bạn không phải là một đứa con vâng lời, và bạn không tin tưởng vào người răn dạy bạn. Bạn có hiểu điều đó không? Đó là một ý rất quan trọng. Phần đa các điều ở trong Luật của Môi-se đều không đưa ra lý do tại sao họ phải làm điều này hoặc không được làm điều kia. Chúa đang nói rằng: “Các con có tin tưởng Ta không? Các con có tin rằng nếu Ta bảo các con không làm gì đó nghĩa là Ta có lý do chính đáng để làm như vậy không? Các con phải biết lý do rồi mới làm theo, hay các con đủ tin tưởng để vâng phục Ta, và tin rằng Ta biết điều gì là tốt nhất?” Bạn có hiểu vấn đề không? Tôi e rằng con người thời nay muốn biết là giữ trinh tiết để làm gì, làm cái này để làm gì, làm cái kia để làm gì. Nếu anh có thể thuyết phục tôi là cái này tốt cho tôi thì tôi sẽ làm theo.
Như vậy là con người muốn làm Chúa, cũng không có gì là lạ, hệt như A-đam và Ê-va hái trái của cây biết điều thiện, điều ác vậy. Chúng ta muốn quyết định, chúng ta muốn trải nghiệm, chúng ta muốn tự mình định đoạt. Nếu bạn muốn biết lý do đằng sau mọi điều răn mà Chúa ban cho bạn thì bạn đang không tin tưởng vào Ngài, và bạn không phải là một đứa con vâng lời. Gần như thể cả Kinh Thánh nói với chúng ra rằng: “Vì Cha nói thế.” Bạn tin tưởng cha mình đến mức nào? Vì cha thiên
thượng của bạn nói thế. Nên đó là một ý rất quan trọng. Ngài muốn những đứa con vâng lời, những đứa con tin Cha, không phải những đứa nói rằng: “À, bây giờ thì con hiểu tại sao rồi, con sẽ làm như vậy,” mà là những đứa sẵn sàng nói rằng: “Chúa ơi, nếu Ngài đã nói vậy thì tức là điều đó tốt cho con. Ngài làm vậy hẳn là có lý do.” Có nhiều điều Chúa không chỉ cho chúng ta thấy. Ngài không có nghĩa vụ phải phân trần với chúng ta. Có những điều sẽ xảy đến với bạn và gia đình bạn mà bạn không thể hiểu nổi; quan trọng là lúc đó bạn có tin rằng Ngài có lý do chính đáng để cho phép điều đó xảy ra, hay bạn nói rằng “Không, con muốn biết tại sao. Tại sao vậy?” Đó là điều đầu tiên về luật pháp Chúa.
Ngài không đưa ra lý do nhưng Ngài có đưa ra hình phạt. Ngài có đưa ra hình phạt và nói thẳng ra là sự trừng phạt. Có sự kêu gọi vâng phục, và cũng có cái giá cho sự bất tuân, là như vậy đó. Nên tuy Ngài không lý giải cho các điều răn nhưng Ngài có đưa ra sự trừng phạt và chúng khá nặng. Hay nói theo cách khác, trong chương 26 của Lê-vi ký, bạn có rất nhiều lý do tích cực để vâng phục - có phần thưởng cho sự vâng lời, có phước hạnh cho những người tin cậy và vâng lời; nhưng ngược lại, có sự rủa sả trên những kẻ bất tuân.
Giả sử như tôi là người Do Thái và tôi đang đọc sách Lê-vi ký. Điều gì có thể xảy ra với tôi nếu tôi không tuân theo đây? Ba điều có thể xảy ra. Một là tôi có thể mất nhà; mất nhà, hay tổ ấm của tôi. Hai là tôi có thể mất quyền công dân, hay hộ chiếu của tôi. Ba là tôi có thể mất mạng và có mười lăm tội trong sách Lê-vi ký mà hậu quả của nó là tội tử hình. Thành thực mà nói, nếu bạn biết là đọc và tuân theo sách Lê-vi ký hoặc không tuân theo sách có thể khiến bạn mất nhà, mất hộ chiếu, thậm chí mất mạng, thì liệu bạn có nghiên cứu sách sâu hơn khi trước không? Tôi nghĩ là có. Tôi muốn bạn đọc nó như một người Do Thái và nhận ra rằng nhà cửa, hộ chiếu, thậm chí là chính mạng sống của bạn phụ thuộc vào việc bạn có sống theo cách đó hay không, rằng bạn có thể mất cả ba. Nó nghiêm trọng như vậy đó.
Thêm nữa, sách Lê-vi ký nói rõ rằng cả dân tộc, nếu cả dân tộc bất tuân thì họ có thể mất nhiều thứ, cụ thể là hai điều. Một là họ có thể mất tự do khi bị kẻ thù từ bên ngoài xâm lược, và khi chúng ta nghiên cứu sách Các quan xét, chúng ta sẽ thấy điều đó xảy ra. Đó là sự trừng phạt đầu tiên nếu cả dân tộc phớt lờ sách Lê-vi ký. Hình phạt thứ hai là họ sẽ mất đi xứ sở và bị đuổi khỏi đó. Một là bị một thế lực khác chiếm đóng trong xứ, từ đó mất đi sự tự do. Hai là bị đày đi làm nô lệ, lìa xa xứ sở và mất tất cả. Cả hai điều này đã xảy đến với dân tộc Y-sơ-ra-ên, nên đừng có đùa với Chúa. Ngài nói rằng có phần thưởng cho việc tin cậy và vâng phục Ta, nhưng có hình phạt cho những kẻ không tin, từ đó không vâng phục Ta. Nên nếu bạn là người Do Thái thì bạn sẽ đọc sách này rất, rất kỹ. Thực ra Chúa đang nói rằng cách duy nhất để được thực sự hạnh phúc là phải thực sự thánh khiết; rằng sự thánh khiết và hạnh phúc đi đôi với nhau, rằng thiếu thánh khiết dẫn đến bất hạnh. Hầu hết mọi người đều hiểu sai điều này, bạn thấy đó. Ý muốn của Chúa cho tôi và bạn là chúng ta sống thánh khiết trong đời này và sống hạnh phúc trong đời sau. Tôi thấy hầu hết mọi người đều muốn ngược lại. Họ muốn được hạnh phúc ở đây, còn thánh khiết để sau. Cũng dễ hiểu thôi vì đó là ước muốn xác thịt trong chúng ta. Nhưng ý muốn của Chúa cho bạn là bạn sống thánh khiết ở đây, sau đó mới hạnh phúc. Bạn có thể chọn một trong hai tùy ý.
Khi sống thánh khiết ở đây, bạn có thể đau đớn. Chúa sẵn sàng cho phép nhiều điều xảy đến với bạn và gia đình bạn, chúng có thể đau đớn, nhưng nhờ chúng mà bạn sẽ thánh khiết hơn, vì suy cho cùng thì khi nào bạn sẽ được thánh khiết nhất đây? Khi bạn sống thoải mái, hạnh phúc và mọi thứ đều ổn thỏa hay khi mọi thứ đều tệ hại và bạn thấy sự yếu đuối của chính mình, thấy nhu cầu của chính
mình, và lại chạy đến với Chúa? Khi nào thì tính cách của bạn được tiến bộ nhất, khi mọi thứ đều ổn thoả, hay khi mọi thứ không như vậy? Có một lưu ý trong Lê-vi ký rằng Chúa sửa phạt người Ngài yêu thương trong đời này, còn Ngài trừng phạt những kẻ không đáp ứng trong đời sau. Nên thánh khiết ở đây, hạnh phúc ở đời sau.
Chúng ta vừa đọc xong sách Lê-vi ký như những người Do Thái, giờ thì hãy đọc sách như những Cơ Đốc nhân. Tất cả những điều này có gì để nói cùng chúng ta? Tôi có phải cởi mọi bộ cánh hãng Marks and Spencer của mình ra không? Nếu nhà tôi có nấm gỗ mục thì tôi có phải đốt nhà mình không? Chúng ta phản ứng như thế nào với tất cả những điều này. Bây giờ hãy bắt đầu từ điều Phao- lô nói với Ti-mô-thê. Để tôi đọc nhé. Ông nói: “Ti-mô-thê, từ thuở ấu thơ con đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đấng Christ Giê-su. Cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời cảm thúc, có ích cho sự dạy dỗ, khiển trách, sửa trị và huấn luyện trong sự công chính, để người của Đức Chúa Trời được toàn vẹn và sẵn sàng cho mọi việc lành.“
Để cho đơn giản, hãy nhớ rằng Phao-lô đang nói với Ti-mô-thê về Cựu Ước. Khi ông viết điều này thì Tân Ước chưa tồn tại, và những câu Kinh Thánh trong Tân Ước thuộc Cựu Ước, và khi Chúa Giê-su nói: “Hãy tra cứu Kinh Thánh vì Kinh Thánh làm chứng về Ta,” Ngài đang nói đến Cựu Ước. Phao-lô nói rằng bạn có thể học hai điều trong Cựu Ước - về đức tin và sự công chính. Chúng ta có thể học được cả hai từ sách Lê-vi ký. Có hai lý do khiến chúng ta cần đọc Cựu Ước. Cựu Ước sẽ mở mắt để bạn thấy sự cứu rỗi - “khôn ngoan để được cứu.” Bạn sẽ hiểu cách để được cứu. Cựu Ước cũng sẽ mở mắt để bạn thấy sự công chính, hay lối sống đúng đắn, lối sống tốt. Hai mục đích đó quá nổi bật.
Tôi nhớ là nhiều năm trước, một mục sư giáo khu bảo với tôi rằng: “Đa-vít, anh có thể giảng trong mùa chay của khu tôi, vào năm buổi lễ giữa mùa chay, trước Lễ Phục sinh không? Tôi nói: “Tôi rất sẵn lòng, ông muốn tôi nói về điều gì?” Ông nói: “Tôi muốn anh nói về thập tự giá. Trước lễ Phục sinh, chúng tôi muốn hiểu hơn về thập tự giá, nên anh có thể nói về thập tự giá vào năm buổi tối được không?” Tôi nói được; và ông ấy nói: ‘Thế anh cho tôi xin tên năm bài giảng với.” Tôi trả lời: “Tên của chúng đây: Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi ký, Dân số ký, Phục truyền luật lệ ký.” “Không, Tôi muốn anh nói về thập tự giá cơ.” “Tôi sẽ nói mà. Tôi đã nói là Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi ký, Dân số ký, Phục truyền mà.” Vậy tôi đã nói về điều gì? Sáng Thế Ký - tôi đã nói về một người có anh con trai đầu ba mươi. Người đó là Áp-ra-ham, anh con trai là Y-sác và Y-sác đầu ba mươi. Áp-ra-ham đưa Y-sác đến Núi Mô-ri-a, sau này được gọi là Gô-gô-tha, hay Đồi Sọ và dâng con mình. Chúa đã ngăn ông lại vào phút chót và Chúa chu cấp một con cừu, đầu nó bị mắc trong bụi cây ở chính chỗ đó, và Áp-ra-ham gọi chỗ đó là Giê-hô-va Di-rê, “Chúa sẽ cung ứng.” Tôi nói: “Quả thật là có thập tự giá, vì Y-sác đủ lớn để thắng hơn người cha già của mình, nhưng ông đã đầu phục.” Xuất Ê-díp-tô Ký, tôi đã nói về chiên con của Lễ Vượt Qua, bị giết lúc 3 giờ chiều để Thiên sứ Hủy diệt có thể lướt qua những người được huyết nó bảo vệ. Lê-vi ký, chút nữa chúng ta sẽ trở lại với sách đó. Dân số ký - có lần khi con cái Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng phạm tội, Chúa đã sai rắn đến giữa vòng họ và họ đã chết vì những con rắn độc này, rồi họ kêu cầu Chúa; Chúa phán với Môi-se rằng hãy làm một con rắn bằng đồng, treo lên cây sào, rồi dựng sào lên trên đồi. Ai bị rắn cắn mà nhìn vào cây sào đó sẽ được lành. Bạn biết Giăng 3:16 đúng không? Thế bạn có biết Giăng 3:15 không? “Như Môi-se treo con rắn lên trong hoang mạc thể nào thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy.” Và tất nhiên, trong Phục truyền, tôi đã nói về điều gì trong đó? "Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” - và sự rủa sả đó được nhắc đến trong Ga-la-ti 3.
Bức họa Con Dê Gánh Tội của Holman Hunt 
Vậy tôi đã nói về điều gì trong Lê-vi ký? Con dê gánh tội. Một trong những bức họa mà tôi thích nhất là của một họa sĩ tên Holman Hunt. Bức họa đó đây. Tôi nghĩ đó là bức họa đẹp nhất của ông về Chúa Giê-su. Tôi không thích bức kia. Chắc hẳn bạn đã thấy bức Sự sáng của Thế gian vẽ Chúa Giê-su đang gõ cửa. Ông đã dùng ba cô gái để làm mẫu cho tranh, một cô để tạo dáng, một cô để vẽ mặt và một cô để vẽ tóc, mặc áo choàng của Giám mục và đứng ngoài một cái cửa đơn sơ. Điều đó không liên quan gì đến câu trong Khải huyền 3:20, ấy là cửa hội thánh mà Chúa Giê-su đang gõ vào. Nhưng đây là tranh Holman Hunt mà tôi thích nhất. Ông đã dành 18 tháng bên bờ Biến Chết, mạo hiểm mạng sống mình tại một nơi
đầy kẻ cướp để vẽ nên bức họa này. Có những ngọn đồi của Mô-áp và đúng là chúng chuyển sang màu đó khi hoàng hôn; kia là Nê-bô, nơi Môi-se qua đời; đây là con dê gánh mọi tội lỗi của Y-sơ-ra- ên trên mình nó, đang chết dần. Có bộ xương của con dê năm ngoái. Hãy nhìn vào đôi mắt, bức họa có gì đó rất đặc biệt. Nếu bạn đến làng Port Sunlight ở Wirral, Anh Quốc, trong triển lãm nghệ thuật tại đó, bạn sẽ thấy bản gốc - một bức họa rất cảm động. Chúa Giê-su - con dê gánh tội. Bạn có biết câu chuyện truyền miệng của người Do Thái, người ta truyền miệng rằng vào năm mà Chúa Giê-su chết, con dê gánh tội quay trở lại thành và mang mọi tội lỗi trở lại không? “Đừng loại bỏ tội lỗi theo cách đó,” Chúa phán, “bây giờ khác rồi. Có một phương cách mới và một con dê gánh tội mới phải chịu hình ngoài trại quân.”
Qua Lê-vi ký chúng ta học được một số điều rất tuyệt vời. Nhưng hãy xem một chút về cách Tân Ước dùng sách Lê-vi ký. Luôn có sự bày tỏ khi chúng ta xét xem Tân Ước làm gì với một sách trong Cựu Ước. Có người nói: “Cựu được tỏ trong Tân, Tân được ẩn trong Cựu.” Hai phần đi đôi với nhau và mỗi “Ước” đều phác họa phần còn lại. Tân Ước trích dẫn trực tiếp một số câu trong Lê-vi ký, nhưng có hai câu đặc biệt rất hay xuất hiện. Một câu là “các con phải thánh vì Ta là thánh” và câu nữa là “ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.” Hai câu đó liên tục xuất hiện trong Tân Ước và vì thế, chúng là những điều quan trọng nhất mà Cơ Đốc nhân cần đọc trong Lê-vi ký. Nhưng nhiều phân đoạn khác dựa trên sách này, đặc biệt là thư gửi cho người Hê-bơ-rơ, bạn không thể hiểu thư này nếu không đọc Lê-vi ký trước. Đừng cố đọc Kinh Thánh tuồn tuột từ đầu đến cuối, các sách không theo trình tự thời gian đâu. Dường như người ta sắp xếp các sách theo nguyên tắc lớn nhất xếp trước, nhỏ nhất xếp cuối.
Thế nên trong các sách tiên tri, ba đại tiên tri xếp trước, mười hai tiểu tiên tri xếp sau. Trong các thư tín của Phao-lô, Rô-ma xếp trước, Phi-lê-môn xếp cuối cùng, cũng theo nguyên tắc đó. Tất cả đều không theo thứ tự, nên đừng đọc Kinh Thánh tuồn tuột từ đầu đến cuối, bạn sẽ không hiểu đâu. Theo tôi thì bạn nên đọc một sách Tân Ước xen kẽ với một sách Cựu Ước. Nếu bạn làm như vậy thì hãy đọc Lê-vi ký với Hê-bơ-rơ. Chúng hoàn toàn ăn khớp với nhau. Không thể viết được Hê-bơ-rơ nếu Lê-vi ký chưa được viết từ trước. Theo như tính toán của tôi thì có hơn 90 lần Tân Ước nhắc đến sách Lê-vi ký - hơn 90. Nên đó là một sách rất quan trọng để Cơ Đốc nhân nghiên cứu. Chúng ta làm gì với Luật của Môi-se? Đó là một câu hỏi đáng chú ý. Có 613 điều luật chứ không chỉ có mười điều. Mười điều răn thường được treo trên tường nhà thờ, nhưng tới 613 điều!
Theo bản năng, chúng ta biết rằng mình không phải giữ đến hết chỗ đó, nhưng chúng ta phải giữ bao nhiêu điều đây? Một đám người sắp đến để chia sẻ những cái tôi vừa nói đấy - Hội Cơ Đốc Phục lâm; họ tin rằng chúng ta phải giữ điều răn thứ tư, họ sẽ bắt đầu ngày thờ phượng của mình vào 6 giờ tối nay và kết thúc vào 6 giờ tối mai. Họ là những Cơ Đốc nhân tái sinh tin vào Chúa Giê-su, nhưng họ tin rằng chúng ta phải giữ luật đó. Rồi tôi thấy có nhiều anh chị em giảng về việc dâng phần mười. Tôi không thể tìm thấy điều đó trong Tân Ước, thế mà có biết bao nhiêu hội thánh dạy các thành viên dâng một phần mười! Ngày Sa-bát thì sao? Người ta đang tranh luận về việc kinh doanh vào ngày Chủ nhật, nhưng tôi thấy có đủ kiểu động cơ giữa vòng Cơ Đốc nhân, từ động cơ nhân đạo - cũng tốt thôi, vì họ muốn người ta được nghỉ ngơi - đến động cơ liên quan đến ngày Sa-bát trong Luật của Môi-se. Chúng ta sẽ làm gì với tất cả những điều luật này của Môi-se? Cơ Đốc nhân nào cũng phải giáp mặt với điều này, và lại càng phức tạp hơn bởi thực tế, Chúa Giê-su đã phán rằng “Ta không đến để bãi bỏ luật pháp, nhưng để hoàn tất, và một chấm, một nét - đó là những chữ cái nhỏ nhất trong Luật - cũng không thể qua đi cho đến lúc mọi sự được hoàn tất.”
Vậy chúng ta phải làm gì với tất cả những điều này? Chúng ta phải hỏi xem mỗi điều luật được hoàn tất hay thực hiện như thế nào. Rõ ràng là một số điều đã được hoàn tất trong Đấng Christ và được trọn rồi. Nên bạn mới không phải mang con chim câu hay chiên con đến thờ phượng vào Chúa nhật tuần sau. Điều đó đã được hoàn tất rồi. Mọi điều luật sẽ được hoàn tất. Tôi tin rằng chúng ta thực hiện luật về ngày Sa-bát vào mọi ngày trong tuần, khi chúng ta nghỉ công việc mình và làm công việc Ngài - và bước vào sự an nghỉ dành sẵn cho con dân Đức Chúa Trời. Bạn hoàn toàn có thể coi một ngày nào đó là ngày đặc biệt nếu muốn, nhưng bạn cũng hoàn toàn có thể coi mọi ngày đều là ngày của Chúa. Thậm chí bạn còn không thể áp đặt ngày Chúa nhật trên những tín đồ khác chứ đừng nói đến người chưa tin; chúng ta được tự do trong Đấng Christ.
Chúng ta rất cần biết cách thực hiện từng điều luật. Trong mười điều răn, chín điều được thực hiện trong Tân Ước theo cách giống hệt như vậy - “con không được trộm cắp, con không được phạm tội tà dâm” được thực hiện. Luật về Sa-bát thì không như vậy, và nhiều điều luật khác của Môi-se được thực hiện theo những cách khác nhau. Ví dụ, một điều luật nói rằng khi anh em dùng một con bò để đạp lúa - đi vòng quanh, móng của nó tách hạt ra khỏi vỏ - anh em đừng khớp miệng nó lại vì nó có quyền ăn thứ mà nó đang chuẩn bị cho những người khác. “Chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa.” Bạn có biết cách thực hiện điều đó trong Giao ước Mới không? Bạn trả cho mục sư của mình một mức lương thích hợp, câu này nói như vậy - 1 Cô-rinh-tô 9 - Phao-lô trích dẫn điều luật đó và gắn cho nó một cách thực hiện hoàn toàn khác. Như vậy bạn phải xem từng chút một và xem nó được thực hiện hay hoàn tất như thế nào trong Tân Ước, với một ý nghĩa sâu sắc hơn.
Nhưng có bốn điều tôi học được từ sách Lê-vi ký là những điều bất biến, và bốn điều này có vai trò không thể thiếu đối với Tân Ước cũng như Cựu Ước. Sách Lê-vi ký nhấn mạnh chúng nhiều hơn mọi sách khác. Một là sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Không sách nào trong Kinh Thánh nói nhiều đến sự thánh khiết của Chúa hơn sách này, và đó là điều mà nếu chúng ta quên thì sẽ rất nguy hiểm. Tôi đã viết một cuốn sách tên là Đường đến Địa Ngục, các bạn cũng biết rồi, và bỗng dưng một số đài địa phương muốn phỏng vấn tôi. Tất cả đều hỏi cùng một câu, ấy là “Sao Chúa của tình yêu lại đẩy ai đó xuống địa ngục được chứ?” Họ hỏi tôi nhiều đến chán cả ra, nhưng tôi đã từng trả lời câu hỏi này bằng một câu hỏi khác; đây là kỹ thuật mà tôi học được từ Chúa Giê-su. Tức là đá bóng lại cho bên kia. Tôi hỏi: “Sao anh lại biết Đức Chúa Trời là Chúa của tình yêu?” Câu đó thường khiến họ bàng hoàng. Tôi hỏi: “Sao anh lại biết Đức Chúa Trời là Chúa của tình yêu? Họ luôn trả lời: “Chúa Giê-su nói vậy còn gì!” Và tôi nói: “Đúng vậy, Chúa Giê-su còn nói về địa ngục nữa mà!” Bạn biết
đó, bạn không thể chọn lọc thế được, hoặc là Chúa Giê-su nói lẽ thật và bảo “Đức Chúa Trời là tình yêu” và bạn tiếp nhận điều đó, và Ngài nói lẽ thật rằng có địa ngục.
Bạn không thể chọn lọc và nói là lần này Chúa Giê-su nói dối, còn lần kia Ngài nói thật, thế thì chúng ta lại làm người phán xử mất rồi. Nhưng tôi nói rằng: “Thực ra cách hiểu của Ngài về tình yêu thương hơi khác so với chúng ta.” Chúng ta hiểu là tình yêu cảm tính, Ngài hiểu là tình yêu thánh khiết. Tình yêu của Ngài lớn tới nỗi Ngài ghét điều ác. Rất ít người trong chúng ta yêu đủ nhiều để ghét điều ác. Bạn học về sự thánh khiết của Chúa từ sách Lê-vi ký. Vì thế, bạn biết thờ phượng Chúa với sự tôn kính - với sự kính sợ. Một điều còn thiếu trong nhiều sự thờ phượng ngày nay là sự kính sợ Chúa; thân thiết với Chúa quá mà thiếu kính sợ Chúa.
Năm ngoái tôi ở Sicily, Ý và tôi muốn trèo lên núi Etna; ngọn núi lửa đang phun trào lớn nhất châu Âu và thậm chí bây giờ nó vẫn nhả dung nham xuống những ngôi làng. Tuyết dày quá nên chúng tôi không lên được; nhưng khi chúng tôi cất cánh từ sân bay Catania ở Ý trên máy bay British Airways, viên phi công nghiêng máy bay về một bên khi chúng tôi bay ngay trên đỉnh núi Etna và chúng tôi nhìn thẳng xuống miệng núi lửa - chúng tôi đã nhìn thấy cái này đây. Chúng tôi nhìn xuống miệng núi lửa này, máy bay nghiêng hẳn về một bên và tôi ngồi cạnh cửa sổ, nhìn thẳng vào cái vạc lửa này và tôi nghĩ: “Cũng thú vị đấy nhưng mong là viên phi công sẽ nâng máy bay thăng bằng trở lại và đưa chúng tôi đến Luân Đôn.” Tôi nghĩ là: “Giờ mà nó bùng lên thì xong đời luôn.” Tôi có cảm giác rờn rợn ở đáy bụng khi nhìn thẳng vào nó. Tôi đã ngồi trên chiếc máy bay cuối cùng để ra khỏi Phi-li-tin trước khi một núi lửa lớn phun trào, và sau đó không máy bay nào còn có thể cất cánh vì nhiều bụi quá. Có một sức mạnh, một vũ lực, ngay dưới chân chúng ta, để rồi khi thấy nó phun lên, bạn sẽ cảm nhận được.
Hãy nghe thư Hê-bơ-rơ. Sách Hê-bơ-rơ chép rằng “Hãy lấy lòng kính sợ, tôn kính mà thờ phượng Chúa vì Đức Chúa Trời chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.” Trước giả đã lấy câu đó từ ngay Lê-vi ký và chúng ta rất cần đọc Lê-vi ký để nhận thức được sự thánh khiết của Chúa, chứ không chỉ là sự tốt lành của Ngài. Thế gian nói như vậy, họ nói “Chúa tốt lành” Họ nói đúng, nhưng Cơ Đốc nhân biết rằng Đức Chúa Trời không chỉ tốt lành mà Ngài còn thánh khiết nữa. Điều đó phần nào khiến mọi thứ khác đi một chút và chúng ta biết rằng không điều ô uế nào được ở trong sự hiện diện của Ngài. Sự thánh khiết của Ngài và những thứ ô uế không bao giờ được tiếp xúc với nhau. Sự thánh khiết và những điều thanh sạch có thể tiếp xúc với nhau, nhưng những thứ ô uế thì không. Ý thức về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được truyền đạt và Lê-vi ký đã cho chúng ta biết điều đó.
Hai là Lê-vi ký thực sự nhấn mạnh tình trạng tội lỗi của con người cùng với sự thánh khiết của Chúa. Sách quá ư là thực tế, quá ư là gần gũi. Chúa không ảo tưởng đâu; Kinh Thánh là một cuốn sách cho người trưởng thành, không ai dạy Lê-vi ký trong trường Chúa nhật. Ở đây có bản chất con người, có khả năng hành động theo thú tính, loạn luân, mê tín, đủ những thứ kinh khủng, ghê tởm với Chúa. Từ đó - trong tiếng Việt không có từ nào mạnh bằng trong tiếng Hê-bơ-rơ - nó nghĩa là một thứ khiến bạn muốn ói, một thứ khiến bạn kinh tởm đến nỗi buồn nôn - ghê tởm. Kinh Thánh nói về những cảm xúc của Chúa. Tôi cố gắng tìm một từ tương xứng - chán ghét, gớm ghiếc, ghét cay ghét đắng, không thể nào tìm được một từ đủ ghê rợn.
Từ này trong tiếng Hê-bơ-rơ rất, rất mạnh, một điều khiến cho Chúa cảm thấy Eo! Bởi vì Ngài thánh khiết. Tình trạng tội lỗi của con người - và con người không chỉ tội lỗi khi vấy bẩn những điều thanh sạch, mà còn tầm thường hóa những điều thánh khiết, và tất nhiên đó là cách mà người ta chửi 
thề. Tức là tầm thường hóa những từ thánh khiết trong mọi lúc vì chỉ có hai mối quan hệ thiêng liêng trong đời sống của chúng ta - một là giữa con người và Đức Chúa Trời, hai là giữa người nam và người nữ - và 90% từ chửi thề bắt nguồn từ một trong hai mối quan hệ đó, tầm thường hóa những điều thánh khiết và làm vấy bẩn những điều thanh sạch. Bạn thấy không? Chúng ta sống trong một thế giới đang thực hiện cả hai điều đó, và như tôi đã nói, con người không chỉ tội lỗi khi biến những thứ sạch thành bẩn, mà còn biến những điều thánh khiết thành bình thường, và coi chúng như điều bình thường mặc dù chúng không như vậy, chúng thánh khiết.
Điều thứ ba tôi học được từ Lê-vi ký trong vai trò một Cơ Đốc nhân là sự đầy trọn của Đấng Christ: rằng Đức Chúa Trời đã cho chúng ta một cách để thanh tẩy. Vấn đề của Ngài, vấn đề của Ngài là làm sao để dung hòa giữa công lý và lòng nhân từ. Ngài nên xử lý chúng ta bằng công lý và trừng phạt chúng ta, hay đối xử với chúng ta bằng lòng nhân từ và tha thứ cho chúng ta? Vì Đức Chúa Trời vừa công bình, vừa nhân từ nên Ngài phải tìm một cách để vừa công bình, vừa nhân từ. Chúng ta gần như không thể tìm ra cách, nhưng Ngài có thể làm như vậy - bằng cách lấy một mạng vô tội thế cho một mạng phạm tội. Chỉ khi điều đó xảy ra thì cả công lý lẫn lòng nhân từ mới được đáp ứng, và chính các điều luật về dâng tế lễ trong Lê-vi ký đã bắt đầu cho chúng ta thấy điều đó có thể xảy ra như thế nào.
Những từ như sự chuộc tội. Từ huyết xuất hiện nhiều, rất nhiều lần vì huyết là sự sống. Lấy hết máu của một người là lấy mạng họ nên mới có điểm nhấn quan trọng này. Trên hết, mỗi tế lễ này - bạn có nhớ những tế lễ tôi nói từ đầu không - nói đến một khía cạnh của đời sống Cơ Đốc. Tế lễ thiêu nói đến sự đầu phục hoàn toàn mà chúng ta cần có; Tế lễ chay nói về sự phục vụ của chúng ta; Tế lễ bình an nói về sự thanh thản mà chúng ta có thể có với Chúa, sự bình an của Đức Chúa Trời vượt trên mọi hiểu biết. Đây là ba điều đặc trưng của một đời sống biết ơn, một đời sống đã được cứu. Chuyển sang các tế lễ khác và chúng ta bắt đầu thấy từ phía Ngài, sự hy sinh của Ngài. Những của lễ duy nhất mà giờ đây chúng ta phải đem đến cho Chúa là của lễ của sự ngợi khen và cảm tạ, chúng cần được chuẩn bị và mang đến sao cho đúng. Nhưng đây là những của lễ mà Chúa Giê-su đã thực hiện. Tế lễ Chuộc tội nói về việc lấy một mạng vô tội thế cho một mạng phạm tội và Tế lễ Chuộc lỗi nói lên rằng điều đó thỏa mãn công lý thiên thượng, rằng có một số luật được đáp ứng nhờ thực hiện kiểu tế lễ này. Điều đó hướng thẳng đến Tân Ước.
Cuối cùng, điều thứ tư mà tôi học được từ sách Lê-vi ký khi nghiên cứu nó - sự thánh khiết của Chúa, tình trạng tội lỗi của con người, sự đầy trọn của Đấng Christ để đáp ứng mọi nhu cầu của tôi -
và bốn là, sự tin kính của đời sống. Sách nhắc bạn nên thánh trong mọi khía cạnh của đời sống mình, mọi khía cạnh. Bạn biết không, có một lời cầu nguyện trong sách cầu nguyện của người Do Thái dùng khi đi vệ sinh. Lời cầu nguyện thú vị, ngợi khen Chúa vì cơ thể bạn vận hành tốt, và giờ bạn cảm thấy ổn hơn nhiều, bạn ngợi khen Chúa vì “nỗi buồn” đã được giải quyết và bạn bước ra khỏi nhà vệ sinh, miệng ngợi khen Chúa. Đối với những hội chúng phương Tây thì điều này nghe có vẻ thật điên rồ vì không được thuộc linh lắm, và tôi đã từng ở trong những nhà vệ sinh Cơ Đốc đầy câu gốc trên tường và có cả một đống sách tĩnh nguyện để lôi tâm trí tôi ra khỏi những thứ trong đó. Tất cả những thứ đó dường như được sắp đặt để tôi thoát khỏi trạng thái hiện tại và bước vào trạng thái thuộc linh trong tâm trí.
Đó là ví dụ quá điển hình về chúng ta, chúng ta giữ tính thuộc linh trong một khía cạnh nhỏ của đời sống mình. Nghe này, đến lúc bạn già đi, không thể kiểm soát được bàng quang và ruột của mình nữa, tôi nghĩ lúc đó bạn sẽ ước rằng mình đã ngợi khen Chúa khi nó còn hoạt động tốt. Tân Ước nói về “thân thể thấp hèn,” càng già chúng ta sẽ càng thấp hèn vì nó. Nhưng bạn thấy đấy, Chúa quan tâm đến mọi khía cạnh trong đời sống bạn. Sự thánh khiết là sự toàn vẹn, thế nên khi bạn đọc kỹ những tiểu tiết mà Chúa nói đến khi Ngài áp dụng sự thánh khiết với mọi khía cạnh trong đời sống - điều đó cho bạn biết rằng một đời sống tin kính là tin kính hoàn toàn, nếu không thì nó sẽ không tin kính chút nào.
Tuy nhiên, có hai sự dịch chuyển giữa sự thánh khiết của Giao ước Cũ và sự thánh khiết của Giao ước Mới - hai sự dịch chuyển. Khi chúng ta nói về điều này, hãy nhớ rằng việc phân tách ba điều thánh khiết, thanh sạch và ô uế này vẫn áp dụng trong Tân Ước, đó là điều xuyên suốt. Nhưng có hai sự biến đổi chính với điều đó, hai sự dịch chuyển tư duy chính. Đầu tiên là sự thánh khiết chuyển từ vật chất sang đạo đức. Điều đó khá quan trọng. Con dân Y-sơ-ra-ên là con trẻ và họ phải được dạy như con trẻ - như sự khác nhau giữa thanh sạch và ô uế, trong vấn đề đồ ăn chẳng hạn. Không có luật nào định cho Cơ Đốc nhân là đồ ăn này thanh sạch, đồ ăn kia ô uế. Phi-e-rơ phải khó khăn lắm mới nghiệm ra điều này ở Giốp-bê, bạn nhớ không?
Chúa Giê-su phán rằng chẳng phải vật gì vào miệng làm cho con người ô uế; mà chính là điều từ miệng ra. Tôi nhớ mình đã nghe một người giảng cho trẻ con từ nhiều năm trước, ông nói với đám trẻ con, tôi là một trong số đó rằng: “Các con có biết sự khác nhau giữa vết nhơ sạch và vết nhơ bẩn là gì không?” Chúng tôi im như thóc luôn. Ông nói là vết nhơ sạch ở bên ngoài các con, chỉ cần xà phòng, nước nóng và cây bàn chải tốt là dễ dàng loại bỏ nó. Nhưng vết nhơ bẩn ở bên trong, và ông nói: “Cái đó rất khó loại bỏ.” Chúng tôi hiểu điều đó. Đó là sự khác biệt lớn, với họ thì thanh sạch và ô uế là vấn đề của cơm ăn, áo mặc, với chúng ta, đó là vấn đề của đạo đức thanh sạch và ô uế - nó chuyển từ vật chất sang đạo đức. Giờ đây chúng ta không có tất cả những quy định nho nhỏ về cơm ăn, áo mặc nữa, nhưng chúng ta có nhiều sự dạy dỗ về cách nên thánh trong những vấn đề đạo đức.
Sự dịch chuyển chính thứ hai trong Tân Ước so với Cựu Ước, đó là phần thưởng và hình phạt được chuyển từ đời này sang đời sau. Trong thế giới này, những con người thánh khiết có thể phải chịu nhiều đau khổ và không được thưởng, nhưng điều đó được chuyển đổi, vì trong Tân Ước, chúng ta có cái nhìn dài hạn hơn. Đời này không phải là cuộc đời duy nhất. Đời này chỉ là sự chuẩn bị cho một sự tồn tại dài hơn nhiều ở nơi khác. Nên vì vậy, trong Tân Ước, “phần thưởng của các con ở trên trời là rất lớn,” không phải ở dưới đất. Như vậy, sự phân biệt giữa thánh khiết, thanh sạch và ô uế vẫn áp dụng, nhưng một là điều đó áp dụng với đạo đức chứ không phải với vật chất, và hai là phần thưởng cho sự vâng lời và hình phạt cho sự bất tuân được chuyển từ đời này sang đời sau. Xét đến hai sự dịch
chuyển chính đó, Lê-vi ký là cuốn sách mang lại nhiều ích lợi nhất cho Cơ Đốc nhân khi đọc. Sách cho chúng ta biết bốn điều đó, sự thánh khiết của Chúa, tình trạng tội lỗi của con người, sự đầy trọn của Đấng Christ và sự tin kính của đời sống.