SÁNG THẾ KÝ - Phần 1 - Cuốn Sách Nền Tảng
Từ Kinh Thánh bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Biblia, nghĩa là Thư viện. Thư viện đặc biệt này có
66 sách, hợp lại tạo nên một Bộ sách lịch sử đặc biệt- lịch sử của vũ trụ chúng ta. Lịch sử ở đây khác hẳn ở mọi sách lịch sử khác (như lịch sử văn minh nhân loại, lịch sử vật lý học, lịch sử chính trị, lịch sử văn hóa, xã hội…). Nó bắt đầu sớm hơn - ngay từ thời điểm khởi nguyên của vũ trụ, và kết thúc muộn hơn - đi tới tận cùng của vũ trụ, thậm chí còn hơn thế. Nó là lịch sử được viết từ góc nhìn của Đức Chúa Trời. Ngài chọn ra điều gì là quan trọng với Ngài; những sự kiện ảnh hưởng sâu sắc đến Ngài nhất.
Có hai chủ đề trong Kinh Thánh. Một là, thế giới của chúng ta có gì không ổn? Hai là, làm sao để sửa lại nó cho đúng? Dường như mọi người đều đồng tình rằng thế giới của chúng ta chưa phải là một môi trường sống lý tưởng. Nó có điều gì đó rất không ổn. Sáng Thế Ký đã cho chúng ta biết chính xác đó là điều gì. Những phần còn lại của Kinh Thánh cho chúng ta biết cách mà nó sẽ được sửa lại - hay nói đúng hơn là cách Chúa sẽ sửa lại nó cho đúng. Chỉ có Chúa mới có thể giải quyết một vấn đề ở tầm mức hoàn vũ như vậy. Khi làm điều đó là Ngài giải cứu nhân loại khỏi chính nó. Vì thứ mà chúng ta cần được giải thoát khỏi nó là chính chúng ta. Từ cứu chuộc nghĩa là được giải cứu. Chúng ta cần được giải cứu khỏi chính mình. Cả bộ sách 66 cuốn được hình thành như một kịch bản hay, có thể gọi là Vở kịch Cứu rỗi. Sáng Thế Ký dẫn chúng ta đến với sân khấu, các vai diễn và tình tiết của vở kịch. Đặc biệt là vị trí các chương đầu, nếu không có nó thì ý nghĩa của toàn bộ Kinh Thánh sẽ thực sự thiếu hụt.
Trong tiếng Hê-bơ-rơ, tên sách này là Ban đầu. Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ ở dạng các cuộn giấy được kết nối lại. Họ đặt tên cho từng cuộn chỉ bằng một từ hoặc cụm từ đầu trong đó. Vừa mở cuộn giấy ra họ đã có thể biết đó là sách nào. Khi Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ được dịch sang tiếng Hy Lạp, vào khoảng 250 năm trước khi Chúa Giê-su ra đời, tên sách mới đổi thành “Sáng Thế Ký” (Genesis) nghĩa là “khởi nguồn” hoặc “ban đầu.” Cái tên rất phù hợp này cho chúng ta đến với các sự khởi nguồn: khởi nguồn của vũ trụ (của mặt trời, mặt trăng và các vì sao) và của trái đất. Sự khởi nguồn của các loài thọ tạo (cây, chim, cá, động vật) và con người. Sự khởi nguồn của giới tính, hôn nhân và cuộc sống gia đình. Sự khởi nguồn của nền các văn minh (thể chế, chính quyền, chính phủ, văn hóa, khoa học và nghệ thuật...) Cũng có khởi nguồn của tội lỗi (cái chết, sự giết chóc và chiến tranh). Thậm chí có khởi nguồn của sự hiến tế (lễ hy sinh, nghi thức, sinh tế bằng con vật và cả con người).
Như vậy, cuốn sách nhỏ đặc biệt chỉ có 50 chương, nhưng lại chứa đựng khởi nguồn của tất cả những tồn tại trong hoàn vũ. Nó trả lời cho những câu hỏi căn bản như: Vũ trụ của chúng ta bắt nguồn từ đâu? Tại sao chúng ta lại ở đây? Thậm chí còn cá biệt hơn: Tại sao mỗi chúng ta lại phải chết? - một vấn đề chúng ta thường tránh né, không muốn nói hay nghĩ đến, người ta ăn mặc như đi lễ hội để cố gắng giấu đi sự kinh hoàng về nó. Nhưng tất cả chúng ta đều không tránh được. Tại sao? Đây là những câu hỏi căn bản của cuộc sống và chúng ta cần có câu trả lời rốt ráo.
Nhưng không một người nào có thể trả lời chúng.
Các nhà sử học không thể trả lời vì họ không thể cho chúng ta biết mọi thứ bắt đầu như thế nào.
Có nhà sử học nào ở đó để quan sát hoặc ghi lại những gì đã xảy ra.
Các nhà khoa học không thể cho chúng ta biết về cơ chế khởi đầu của vũ trụ. Họ có thể trở lại
buổi ban đầu, nhưng không thể đi xa hơn. Họ không thể quan sát bất cứ điều gì trước đó. Nên họ không thể cho chúng ta biết nó bắt đầu như thế nào. Vì thế, và hơn thế nữa, họ không thể cho chúng ta biết tại sao nó có thể bắt đầu. Khoa học không thể biết được vũ trụ này ra đời để làm gì. Họ có thể cho chúng ta biết chút chi tiết về việc nó ra đời như thế nào, nhưng chắc chắn không thể cho biết lý do.
Các triết gia không thể trả lời những câu hỏi căn bản này, họ chỉ có thể đoán mà thôi. Chẳng hạn, khi các triết gia cố gắng trả lời cho câu hỏi về sự ác - vấn đề khiến phần lớn trong số họ bận rộn, thì cũng chỉ là phỏng đoán. Sự ác đến từ đâu? Tại sao trên thế giới này lại có nhiều sự ác đến như thế? Các nhà triết học cũng đã căng óc ra để cố gắng cho chúng ta một câu trả lời, nhưng nó đều là phỏng đoán, không ai thật sự biết cả.
Chỉ một Người có thể thật sự trả lời những câu hỏi này cho chúng ta, đó chính là Chúa.
Vậy, khi bạn mở Sáng Thế Ký, lập tức bạn phải đối mặt với một câu hỏi. Bạn đang đọc kết quả
của trí tưởng tượng của con người hay sự thần cảm thiên thượng? Liệu cũng chỉ cho chúng ta một loạt những suy đoán khác của con người về những điều này? Hay nó thật sự cho chúng ta câu trả lời từ Người duy nhất có mặt khi mọi thứ bắt đầu, và cũng chính là tác giả của nó?
Trên thế giới có nhiều giải thích khác về công cuộc tạo dựng. Có một giải thích được nhiều người biết đến là Sử Thi của người Ba-bi-lon. Nó phức tạp hơn nhiều nhưng độ tin cậy lại kém hơn nhiều so với nội dung của Sáng Thế Ký. Đó chỉ là một trong những thần thoại để kể cho chúng ta xem mọi thứ bắt đầu ra sao. Chúng ta cũng nên đọc một vài câu chuyện để so sánh với sự đơn giản tuyệt đối và bản chất thuyết phục của Sáng Thế Ký chương 1.
Phải thực hiện một bước Đức Tin
Trước khi mở cuốn sách này bạn phải quyết định xem mình đang đọc một tác phẩm từ trí tưởng
tượng của con người hay một sự thần cảm thiên thượng? Thực ra khoa học lại là ngành học có tiến trình dựa vào niềm tin. Trong quy trình nghiên cứu khoa học, bước đầu người ta phải đặt ra một giả thuyết, xây dựng một lý thuyết có thể chấp nhận được, rồi bố trí hệ thống thực nghiệm, phân tích đánh giá kết quả xem giả thuyết đó có khớp với thực tế hay không.
Vì vậy, quan điểm tiếp cận bằng đức tin trước cũng là một phương pháp khoa học. Phương pháp giả sử đó là câu trả lời của Đức Chúa Trời cho những câu hỏi nào đó, rồi phân tích xem nó có khớp với thực tế hay không. Có hai thực tế quan trọng đang đặt trước mắt ta, và Sáng Thế Ký đã đưa ra một lời giải thích hoàn hảo. Thực tế trước hết: Chúng ta đang sống trong một thế giới tuyệt vời. Vũ trụ này thật đáng kinh ngạc. Nhưng hành tinh này mới là thực thể kỳ thú nhất trong vũ trụ, bởi nó dung chứa sự sống với vô vàn sự đa dạng. Thực tế hiện tại: Hành tinh này lại đã và đang bị hủy hoại bởi chính những con người sinh sống trên mình nó.
Đó là hai thực tế mà tất cả chúng ta đang diện kiến. Nó làm chúng ta ngày càng ý thức hơn về môi trường cùng những điều mà chúng ta đã và đang làm với nó. Mỗi ngày có cả trăm loài khác nhau bị tuyệt chủng. Chúng ta đang hủy hoại thế giới mà chúng ta đang sống. Hai thực tế này đặt ra một câu hỏi thật đặc biệt: Chúng ta sống trong một thế giới tuyệt vời như thế; nhưng tại sao chúng ta lại đang hủy hoại nó? Thực tế đó vô cùng khớp với sự phản ánh trong Sáng Thế Ký. Phương pháp tiếp cận bằng Đức Tin quả là cách tiếp cận khoa học.
Vị trí của Sáng Thế Ký trong Kinh Thánh
Sáng Thế Ký không chỉ là sách đầu tiên, mà nó là cuốn sách nền tảng cho cả Kinh Thánh. Hầu
hết, nếu không nói là tất cả, lẽ thật Kinh Thánh về bản chất đều có trong Sáng Thế Ký. Nên nó còn được gọi là vườn ươm của Kinh Thánh. Các hạt giống của Sáng Thế Ký nảy mầm tại đây đều đơm hoa kết trái trong Kinh Thánh. Thực tế, Sáng Thế Ký là chìa khóa mở ra toàn bộ phần còn lại của Kinh Thánh. Có bao giờ ta tự hỏi: Kinh Thánh
Sẽ ra sao nếu nó không bắt đầu bằng Sáng Thế Ký, mà bằng Xuất Ê-díp-tô Ký? Ai đó sẽ nói rằng: Ồ, có gì đâu đáng quan tâm về một đám nô lệ Do Thái ở Ai Cập. Tại sao mình phải học lịch sử và tôn giáo của họ? Trừ khi bạn phải quan tâm đến nó do công việc nghiên cứu, học thuật.
Nhưng vì có Sáng Thế Ký nên bạn nhận ra: đọc Kinh Thánh là mình đang đọc về chính mình, về sự sống của mình. Trong đó, vấn đề lớn trong cuộc sống là cuộc tranh đấu bản thân về đạo đức. Hầu như ai cũng muốn tốt hơn chính mình, nhưng đều thất bại. Tại sao? Kinh Thánh đã chỉ dẫn bạn. Ngay từ đầu khi đọc tới A-đam, cứ như thể bạn đang soi gương và thấy chính mình vậy. Rồi đến Nô-ê, Áp- ra-ham, Gia-cốp (người được đổi sang tên Y-sơ-ra-ên)...
Tân Ước còn xây dựng trên nền tảng Sáng Thế Ký nhiều hơn Cựu Ước. Trích dẫn nhiều hơn. Sáu chương đầu của sách còn được khai thác rất chi tiết. Tất cả tám trước giả chính đều nhắc đến Sáng Thế Ký. Tất nhiên là Chúa Giê-su càng nhắc đến.
Đối với Cơ Đốc nhân, thái độ của Chúa Giê-su đối với Sáng Thế Ký đã giải đáp mọi câu hỏi. Vì chúng ta đã tin cậy Ngài, chúng ta tin rằng Ngài chỉ nói lẽ thật. Nên điều gì là thật với Ngài cũng là thật với tôi. Chúa Giê-su coi các nhân vật, các sự kiện trong Sáng Thế Ký là những nhân vật,sự kiện lịch sử có thật, không phải là truyền thuyết. Nô-ê và cơn đại hồng thủy là một sự kiện lịch sử có thật. Chúa còn khẳng định Ngài quen biết Áp-ra-ham cách riêng tư khi Ngài nói: “Trước khi Áp-ra-ham hiện hữu, Ta Hằng Hữu, và người vui mừng khi gặp Ta.” Người Do Thái thời đó nghe Chúa Giê-su nói vậy thì bảo: “Thầy chưa đầy năm mươi tuổi mà đã thấy Áp-ra-ham?” Chúa Giê-su đáp: “Ta đã ở đó.”
Chúa Giê-su luôn xác chứng cho Sáng Thế Ký.
Khi người ta hỏi Ngài về việc ly dị và tái hôn, Ngài đưa họ đến ngay Sáng Thế Ký chương 2 và
nói: “Ngươi sẽ tìm thấy câu trả lời ở ngay đó.”
Chúng ta sẽ không hiểu Thập tự giá nếu không có Sáng Thế Ký. Trước giả Tân Ước Phao-lô nói
đến trọng tâm của Thập tự giá bởi ông có nền tảng từ Sáng Thế Ký-chương 3: Sự không vâng phục của một người mang sự chết đến cho nhân loại thể nào, thì cũng vậy, sự vâng phục của một người mang đến sự sống.
Cuộc tấn công Sáng Thế Ký
Vì biết rõ: Nếu không tin Sáng Thế Ký thì không thể tin phần còn lại của Kinh Thánh, nên lực
lượng chống phá Kinh Thánh càng hiểu rằng nếu chứng minh được là Sáng Thế Ký sai thì phần còn lại của Kinh Thánh cũng lung lay. Nếu Sáng Thế Ký không đúng thì có thể Đấng sáng tạo cũng vậy. Chính loài cầm thú sẽ là tổ tiên của chúng ta. Nên không có gì đáng ngạc nhiên khi cuốn sách này bị tấn công nhiều hơn mọi sách khác trong cả Kinh Thánh.
Có hai mũi giáo tấn công.
Một là về mặt khoa học. Tại đây, chúng ta không đề cập tất cả các khía cạnh của lĩnh vực này.
Nhiều cuốn sách, video, bài ghi âm sẽ giải quyết vấn đề cách toàn diện và thấu đáo hơn. Nhưng cần xem xét nhanh về mũi này vì lớp người trẻ tuổi. Họ đang gặp vấn đề thực sự khi họ bước vào đọc Sáng Thế Ký trên nền tảng những điều họ được học ở nhà trường. Vốn liếng khoa học nơi đây đặt ra các câu hỏi về công cuộc tạo dựng từ trình tự, tốc độ và cách thức tạo dựng; về tuổi của trái đất, nguồn gốc của loài người, quy mô của cơn đại hồng thủy, tuổi của con người trước đó, và rất nhiều điều khác.
Đằng sau sự tấn công này, ta tin rằng là có sự tấn công của Sa-tan. Ma quỷ ghét hai cuốn sách trong Kinh Thánh: Sáng Thế Ký và Khải huyền. Hắn đặc biệt ghét những chương đầu trong Sáng Thế Ký và những chương cuối của Khải huyền. Vì một cái mô tả việc hắn đã bước vào thế giới của chúng ta như thế nào, và cái còn lại miêu tả việc hắn sẽ bị đá khỏi thế giới ra sao. Hắn thích đẩy người ta ra xa khỏi những chương đó. Hắn muốn thuyết phục bạn rằng Sáng Thế Ký là thần thoại và Khải Huyền là điều thần bí. Hắn biết rõ rằng nếu ai có thể hủy hoại niềm tin của con người vào Sáng Thế Ký thì, thực tế người đó đã hủy hoại được nền tảng của cả Kinh Thánh. Nên không có gì đáng ngạc nhiên khi đã và đang có nhiều tranh cãi về Sáng Thế Ký. Nếu không tin sách này thì bạn có xu hướng loại bỏ phần còn lại.
Sáng Thế Ký được viết ra thế nào?
Sáng Thế Ký là một trong năm sách hợp thành một đơn vị. Tinh thần này không hẳn có trong Kinh
Thánh của chúng ta nhưng chắc chắn là trong Kinh Thánh của người Do Thái. Năm sách này đã tạo thành bộ Ngũ kinh. (Có một tòa nhà năm mặt tại Washington DC-Hoa Kỳ, gọi là Pentagon: Lầu Năm Góc. Tên gọi đó cùng một gốc từ Pentagon: Ngũ Kinh-Năm Sách). Người Do Thái gọi chúng là Torah, nghĩa là ‘Sự Chỉ Dẫn’. Họ tin rằng Năm sách này tạo thành Những chỉ dẫn của Đấng Tạo hóa. Họ thật rất khôn ngoan. Đấng Tạo Hóa ban cho con người những chỉ dẫn suốt tận cuộc đời họ - làm cho con người trở nên thân thuộc với sách Kinh. Mỗi năm người Do Thái đọc hết Torah ít nhất một lần. Mỗi tuần họ cứ đọc thêm một chút. Khi đọc hết họ trở lại từ đầu. Đó là cuốn Kinh hằng tuần của họ.
Ai đã viết Ngũ Kinh?
Người Do Thái, Cơ Đốc Nhân, thậm chí những nhà sử học ngoại đạo từ lâu đều tin rằng Môi-se
đã viết năm sách này. Không có lý do gì để nghi ngờ điều đó. Đến thời Môi-se, bảng chữ cái đã thay thế cho chữ tượng hình vốn thịnh hành tại Ai Cập (và ngày nay vẫn còn dùng tại Trung Quốc và Nhật Bản). Môi-se được học đến đại học trong hoàng cung. Ai đã có dịp thấy tượng đài Cây kim của Cleopatra bên bờ sông Thames, thì nên nhớ đó là một trong hai di tích cây cột Ai Cập cổ đại. Cây còn lại đã được rời tới Rome, dựng ở cổng Trường đại học Ai Cập. Rất có thể mỗi sáng xưa trên đường đi học, Môi-se đã từng trông thấy hai cây cột ấy. Nên ông có trình độ học vấn cao, đủ hiểu biết để soạn ra Năm sách này, tuy không cuốn nào có ghi tên tác giả.
Tuy nhiên, vẫn còn hai vấn đề.
Vấn đề đầu tiên tương đối nhỏ là, ở cuối sách Phục Truyền, cái chết của Môi-se được ghi lại cẩn
thận. Khả năng ông tự viết điều đó là rất thấp. Có thể Giô-suê đã viết thêm vào để hoàn tất câu chuyện. Vấn đề chính là: Thời kỳ lịch sử trong bốn Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi ký, Dân số ký và Phục truyền luật
lệ ký là thời Môi-se sống, ông từng đảm nhiệm vai trò quan trọng trong thời kỳ này, ông đã chứng kiến tường tận mọi sự. Không có vấn đề gì khi nói Môi-se viết những sách đó. Nhưng khi đề cập thời gian kết thúc của Sáng Thế Ký, thấy nó diễn ra 300-400 năm trước khi Môi-se ra đời. Làm sao ông có tư liệu cho sách? Ta biết một điều về xã hội nguyên thủy là những người không viết chữ lại có một trí nhớ phi thường. Đến nay, dân các bộ lạc không có chữ viết có thể kể cho bạn về lịch sử của bộ lạc họ. Họ lưu truyền lịch sử từ đời cha sang đời con qua các câu chuyện kể những đêm lửa trại. Phương thức truyền khẩu là di sản của các cộng đồng nguyên thủy. Người Do Thái hẳn là không ngoại lệ. Đặc biệt khi họ phải sống cuộc đời nô lệ tại Ai Cập, họ lại càng ghi khắc sâu trong ký ức. Họ muốn con cháu họ cần biết mình là ai, và đã đến từ đâu.
Có hai điều thường được truyền lại ở dạng trí nhớ này. Một là phả hệ. Sáng Thế Ký đầy những phả hệ. Có một cụm từ xuất hiện tới mười lần: “Đây là dòng dõi của...” rải rác xuyên suốt sách. Một điều nữa được truyền lại là những chiến tích, những câu chuyện anh hùng, những điều lớn lao mà tổ tiên hộ đã làm. Phần lớn Sáng Thế Ký gồm cả hai điều này. Nên rõ ràng thấy đó là một tập hợp những kết quả sưu tầm mà Môi-se tích lũy được. Nhưng có một phân đoạn phải trừ ra. Phân đoạn này cho thấy ông không thể nào góp nhặt theo cách kể trên. Đó là phân đoạn từ chương 1 câu 1 đến chương 2 câu 3. Đây là một phần mà Môi-se không thể khai thác được từ bất kỳ người nào. Hẳn là ông đã nhận được phần đó từ chính Đức Chúa Trời. Đó là một trong những phần Kinh Thánh mà Chúa đã trực tiếp đọc cho con người ghi lại. Phần lớn Kinh Thánh không được viết theo cách này. Ta chớ nghĩ về các trước giả Kinh Thánh như họ là một loại công cụ tạo tác văn bản, là những chiếc máy đánh chữ Chúa dùng đến. Cách Đức Chúa Trời thần cảm các trước giả đó, là cách Ngài dùng trí nhớ, hiểu biết, cách nhìn và tính cách của chính họ để hình thành nên ngôn từ của Ngài, Ngài thôi thúc họ viết những điều Ngài muốn được viết ra. Nên ngoài phân đoạn đặc biệt trên đây, các sách trong Kinh Thánh đều có dấu ấn của trước giả Kinh Thánh.
Sắc thái Sáng Thế Ký
Xem xét kỹ hơn về phân đoạn đặc biệt “Sáng Thế Ký 1:1 - 2:3” cho thấy đây có mọi dấu ấn của
Lời Chúa. Khi Ngài phán, lời của Ngài là toán học hoàn hảo. Tiếng Hê-bơ-rơ không có con số. Họ chỉ có chữ cái, mỗi chữ cái biểu thị một con số: Aleph (hay A) là 1, B là 2, C là 3,...
Đó là cách đếm thông dụng. Khi đem chuyển các chữ cái của Sáng Thế Ký 1 thành các con số thì thật kinh ngạc. Tôi đã đến Giê-ru-sa-lem trò chuyện với những Ra-bi, họ đã làm mọi phép toán với từng câu và họ dành nhiều ngày để thảo luận về nó bởi sự hoàn hảo về mặt toán học này.
Ngay câu đầu tiên: “Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất” là một câu trong tiếng Hê-bơ- rơ chỉ có 7 từ - một trong các con số bí ẩn. Trước Môi-se chưa có sự kiện Ngày Sa-bát. A-đam làm việc suốt 7 ngày một tuần. Áp-ra-ham, I-sắc, Gia-cốp làm nghề chăn gia súc, thì bò của các ông có ngày nào nghỉ ăn được. Thực ra còn chưa có dấu vết phân định tuần lễ. Khi đó người ta tính tháng bằng sự vận hành của mặt trăng, năm bằng mặt trời. Để thấy rằng tại đây, chính Chúa đã bày tỏ cho ông việc Ngài “đã tạo dựng thế giới trong sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy.” Ông tuân theo chương trình làm việc của Ngài, để trong Các Điều Răn ông vâng lệnh Chúa ban ra mới có một nếp sống đặc trưng mới mà trước đó chưa ai từng biết: Làm việc 6 ngày, nghỉ 1 ngày. Ngày nghỉ này gọi là Sabat. Từ đây có một nhịp điệu sinh hoạt: làm việc - nghỉ ngơi - thờ phượng Chúa. Về các con số, sau sẽ xem xét tiếp.
Sáng Thế Ký là một tác phẩm văn học độc đáo. Có đủ các dấu hiệu chỉ ra rằng nó trực tiếp đến từ
Chúa. Có thể tưởng tượng rằng Môi-se thu thập mọi ký ức của dân chúng, các phả hệ và chiến tích, ghép chúng lại với nhau. Còn Chúa thì phán với ông: “Ta sẽ viết phần mở đầu, con hãy chép lại.” Thú vị là ở sách cuối cùng của Kinh Thánh cũng diễn ra như vậy. Sách Khải Huyền không phải do Giăng sáng tác. Chúa đã cho ông thấy những khải tượng và ban cho ông chính lời Ngài. Rồi Chúa cũng đã phán: “Hãy viết rằng….” Ở cả hai đầu của Kinh Thánh, có bao điều mà trí tưởng tượng của con người không thể hình dung và diễn tả được. Với những điều như thế Ngài như buộc phải đọc chính tả cho các trước giả vậy. Thi Thiên103 cũng đã xác nhận: “Chúa bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài.”
Một số đặc điểm trong các chương đầu
Năm từ đầu tiên là “Ban đầu, Đức Chúa Trời.” Sáng Thế Ký đầy những khởi đầu của mọi thứ -
trừ sự khởi đầu của Đức Chúa Trời!
Chúa không bắt đầu ở đây. Từ khi Kinh Thánh mở ra, Đức Chúa Trời đã hiện hữu. Ngài đã hiện
diện khi vũ trụ hình thành. Phải có một thứ gì đó vĩnh hằng hoặc một Đấng Vĩnh Hằng - người đã sẵn hiện diện để hình thành nên vũ trụ của chúng ta. Bởi vì từ ‘không gì cả’ không bao giờ có thể tự biến thành ‘một thứ gì đó.’ Lý lẽ đó có khiến ta căng não không? Đây thực chỉ là một chút triết lý thô kệch: “Không gì cả không bao giờ có thể tự biến thành một thứ gì đó.” Đơn giản là phải có một căn nguyên. Căn nguyên chỉ có thể từ: hoặc một thứ gì đó vĩnh cửu, hoặc một ai đó vĩnh cửa. Chính Kinh Thánh đã mở đầu bằng việc xác quyết: Đó là một Đấng Vĩnh Cửu, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Nên câu hỏi “Ai tạo ra Chúa?” của em học sinh kia là vô nghĩa. Giống như em đó hỏi: khi nào thì bạn có thể có một vòng tròn, hay một hình vuông? Hay: bạn có thể rán băng tuyết không? Nó vô nghĩa ở chỗ nó đã hỏi một điều không thích hợp.
Đức Chúa Trời chẳng hề do ai tạo dựng. Trái lại Ngài tạo nên muôn vật. Ngài luôn hiện diện. Aristotle cũng đã từng nói về một cái gì đó vĩnh cửu là: nó luôn hiện diện. Chính Danh Ngài là thì hiện tại của trợ động từ ‘là’: Đang là. Nhưng đã là sự lựa chọn, nên bạn phải chọn một trong hai.
Trước đây tôi có cầu nguyện: Xin Chúa ban cho một từ tiếng Anh tương ứng với từ “Yahweh”(tiếng Hê-bơ-rơ) để được trực tiếp cảm nhận ý nghĩa của nó. Một từ đã nảy ra trong đầu tôi: “Always”- Hằng hữu, một từ rất gần với danh Chúa: Always, Ngài hằng ở đó. Ngài là Always. Đó là từ tiếng Anh tương ứng nhất mà tôi có thể dùng mỗi khi cần thay cho từ Yahweh
Nói cách khác, Kinh Thánh không bao giờ cố gắng chứng minh sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Làm thế thật lãng phí thời gian. Đơn giản là Chúa hiện diện, Ngài đã và đang hiện diện. Ngài không cần ai giải thích hộ. Điều cần được giải thích là sự tồn tại của mọi thứ khác. Tư duy hiện đại hoàn toàn trái ngược khi giải thích Lẽ thật này rằng: mọi thứ khác đã luôn hiện diện, điều phải chứng minh về sự tồn tại của Chúa.
Sáng Thế Ký đã tiếp cận câu hỏi nổi cộm này như vậy. Ở thời Môi-se thì mọi người đều nhận biết là Chúa có thật. Họ hiển nhiên thấy Ngài đã cứu họ ra khỏi Ai Cập. Ngài đã rẽ Biển Đỏ, Ngài đã nhấn chìm quân đội Ai Cập. Khi đã trải qua một kinh nghiệm như vậy, bạn không cần đến những bằng chứng nào đó nữa về sự tồn tại của Chúa. Nhưng e rằng con người hiện đại lại cần, vì họ không được trải nghiệm những sự kiện này.
Khi đọc Hê-bơ-rơ chương 11, bạn thấy hai điều về công cuộc sáng tạo. Một là: “Bởi đức tin,
chúng ta biết rằng vũ trụ đã được dựng nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật thấy được hình thành từ những vật không thấy được.” Và hai là: “Người nào đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài thực hữu, và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài..” Kinh Thánh nói: Cứ thừa nhận rằng Ngài hiện diện, rằng Ngài muốn bạn tìm kiếm Ngài, biết Ngài, yêu Ngài và phục vụ Ngài, rồi hãy xem điều gì xảy ra. Hãy bắt đầu từ việc chấp nhận một lẽ thật hiển nhiên “Ban đầu, Đức Chúa Trời.”
Chủ đề của Chương 1 Sáng Thế Ký
Sáng Thế Ký 1 không nói về công cuộc sáng tạo, mà nói về chính Đấng Tạo Hóa. Đó là sai lầm
đầu tiên mà chúng ta thường mắc, đã không nhận ra, ngộ nhận. Sáng Thế Ký 1 không nói đến cách thế giới của chúng ta được hình thành, mà chủ yếu nói đến Đấng khiến nó hình thành.

1. Chúa là một ngôi vị: Chỉ trong 31 câu, từ ‘Đức Chúa Trời’ được nhắc đến 35 lần, cho thấy đây không phải là đang kể về công cuộc sáng tạo, mà là công bố hình ảnh Đấng Sáng Tạo, Đấng Tạo Hóa. Một hình ảnh sống động về Chúa: Ngài có một trái tim biết cảm nhận. Ngài có một tâm trí biết suy nghĩ, có thể nói lên suy nghĩ của mình. Ngài có ý muốn, Ngài đưa ra quyết định và làm đúng như vậy. Tất cả những phẩm chất này là một nhân cách. Chúa không phải là “một thứ gì đó” mà Chúa là “một ai đó.” Ngài là một thân vị trọn vẹn với những cảm xúc, suy nghĩ và động cơ giống như chúng ta.
2. Chúa rất quyền năng. Hồi cô con gái quá cố của chúng tôi còn nhỏ, tôi nhớ mình đã đọc Sáng Thế Ký 1 cho con bé từ Kinh Thánh thiếu nhi. Khi tôi đọc xong, con bé chỉ lặng lẽ ngồi nghe, rồi nói: “Phán một cái là xong luôn.” Đó là tóm tắt của con trẻ, kiểu tóm tắt rất hay, thật quyền năng! Quyền năng đến mức chỉ cần nói đến một điều nào đó thì điều đó xảy ra. Thật có thẩm quyền. Để có thẩm quyền đó thì phải ở một vị trí rất cao! Và mười điều răn đầu tiên trong Kinh Thánh đều nằm trong
Sáng Thế Ký 1. Bạn có biết là ở đó có mười điều răn không? Hãy tìm và đếm thử. Ngài sẽ ban mười điều răn cho chúng ta về sau này. Mười điều răn ban đầu được Ngài ban cho vũ trụ của chúng ta.
3. Ngài tự hữu. Ngài đang hiện diện, Ngài đã luôn hiện diện. Ngài hằng như vậy.
4. Ngài sáng tạo. Là một nghệ sĩ tạo hình với khả năng sáng tạo siêu việt, Ngài tạo ra tới sáu
ngàn loài ong khác nhau. Ngài làm chẳng hề có sự giống hệt nhau giữa hai ngọn cỏ, hai bông tuyết, hai hạt cát, nhất là giữa hai con người. Trong khi chúng ta thì có thể sản xuất ra hàng triệu chiếc xe hơi cùng một mẫu, giống hệt nhau.
5. Ngài là một Đức Chúa Trời có trật tự. Tính đối xứng của vũ trụ là điều mà người Do Thái phát hiện ra bằng công thức toán học E=mc2 đã được áp dụng với toàn vũ trụ.
6. Ngài là Đức Chúa Trời có một. “Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo.” Từ “sáng tạo” ở dạng số ít để nói lên rằng duy chỉ có Ngài làm nên công cuộc sáng tạo.
7. Nhưng Ngài cũng là số nhiều vì từ “Đức Chúa Trời” không phải là từ số ít. Nhưng cũng không ở dạng số nhiều đơn giản. Ở đây có ba từ: Eloha nghĩa là một Đức Chúa Trời. Eloheim nghĩa là hai. Còn Elohim nghĩa là ba hoặc nhiều hơn. Như vậy, trong câu đầu tiên “Ban đầu, Đức Chúa Trời…” Tạo Hóa là ba, nhưng công cuộc sáng tạo, duy chỉ có Ngài làm, Danh Ngài là một. Điều tiên báo về giáo lý ba ngôi có ngay từ Cựu Ước không đáng kinh ngạc sao? Ngài là Đức Chúa Trời ba ngôi nhất thể ngay từ câu đầu tiên. Phải mất tất cả phần còn lại trong Kinh Thánh để giải thích xem điều đó nghĩa là gì. Nhưng thú vị ở chỗ, từ “Đức Chúa Trời ba ngôi” được chia ở dạng số ít xuyên suốt Sáng Thế Ký 1.
8. Trên hết, Sáng Thế Ký 1 nói rằng Ngài là Đức Chúa Trời Tốt Lành. Thi thoảng tôi phải chọn một chủ đề vào sáu tháng trước một buổi nhóm. Khi tôi không thể nghĩ xa hơn, tôi chỉ ghi “Đức Chúa Trời Tốt lành,” và tôi nói chủ đề này bao hàm mọi điều mà tôi muốn nói. Đã hai lần người ta đăng những tấm poster chứa tấm hình khó nhìn của tôi, phía trên đề dòng chữ “Đức Chúa Trời Tốt lành.” Ấy thế mà buổi nhóm lại chật kín người. Quả thật Chúa là tốt lành. Vì vậy, mọi điều Ngài dựng nên là tốt lành vì Ngài là tốt lành. Đó là thông điệp của Sáng Thế Ký. Đừng nhầm lẫn về điều này: sự ác không phải là tạo vật của Chúa.
9. Ngài là một Đức Chúa Trời yêu thương và muốn chúc phước cho những điều Ngài dựng nên. 10. Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống.
11. Ngài là Đấng hành động. Ngài phán và làm nhiều điều trong thế giới này. Khi Ngài phán, là
Ngài đang giao tiếp và muốn liên hệ với chúng ta.
12. Ngài là Đức Chúa Trời - Đấng giống với chúng ta. Nếu chúng ta được dựng nên theo hình ảnh
Ngài, thì hẳn là Ngài giống với chúng ta, như chúng ta cũng giống Ngài.
13. Nhưng Ngài là Đức Chúa Trời - Đấng không giống chúng ta, ở điều mà chúng ta không thể
làm, đó là tạo dựng. Chúng ta có thể tạo ra những thứ khác nhau từ thứ gì đó, nhưng không thể tạo nên thứ gì đó từ chỗ không có gì. Chúng ta không thể “phán thì có như vậy.”
Chìa khóa giải mã Kinh Thánh
Cuối cùng, kết thúc chương này là chiếc Chìa khóa đầu tiên để giải mã Kinh Thánh: Không bao giờ được đánh đồng Chúa với tạo vật của Ngài. Có sự khác biệt giữa Đấng Tạo hóa và tạo vật ngay từ đầu Kinh Thánh. Đừng bao giờ nhầm lẫn.
Phái Thời Đại Mới đang ra sức xóa nhòa ranh giới khác biệt căn bản này. Đấng Tạo Hóa khác hoàn toàn với tạo vật của Ngài. Ngài có thể nghỉ một ngày và tách ra khỏi tất cả những gì Ngài đã tạo nên. Đừng bao giờ đánh đồng Ngài với những điều Ngài tạo dựng. Thờ lạy tạo vật của Ngài là thờ thần tượng. Thờ phượng Đấng Tạo Hóa là lẽ thật.
Trong các chương kế tiếp, chúng ta sẽ xem xét một số hàm ý lan tỏa khác của chương đầu sách tuyệt vời này.
SÁNG THẾ KÝ - Phần 2 - Đấng Tạo Hóa Và Công Cuộc Sáng Tạo Một bài học học nhỏ về triết học

Tôi muốn cho bạn một bài học học nhỏ về triết học. Ai cũng có một triết lý. Đó là cách bạn suy nghĩ về sự vật. Từ triết học đơn giản là yêu mến sự khôn ngoan hay tìm câu trả lời cho những câu hỏi lớn, và tất cả chúng ta đều có một triết lý. Nhưng vấn đề là trong thế giới ngày nay, người ta quẳng cho chúng ta quá nhiều triết lý qua các phương tiện thông tin đại chúng, và theo quá nhiều cách khác nhau, đến nỗi chúng ta bối rối. Nếu bạn thừa nhận Sáng Thế Ký 1 thì có rất nhiều triết lý hiện đại bị loại trừ ngay từ trang đầu của Kinh Thánh. Tôi vừa mới lập danh sách một số triết lý. Tôi rất e ngại khi nghe thấy một từ kết thúc bằng ‘-ism’ trong tiếng Anh - có chữ ‘thuyết’ hoặc ‘chủ nghĩa’ trong tiếng Việt. Tôi chỉ thích hai cái ‘-ism” là baptism - lễ báp tem và evangelism - việc truyền giảng, ngoài ra, những -ism khác thường là một triết lý sai lệch. Ví dụ, nếu bạn tin vào Sáng Thế Ký 1 thì thuyết vô thần (atheism) bị loại trừ. Thuyết vô thần tin rằng không có Đức Chúa Trời. “Ơn giời, tôi là một người vô thần,” ai đó nói vậy. Thuyết bất khả tri (agnosticism) bị loại trừ. Thuyết bất khả tri nói rằng: Tôi không biết là có Đức Chúa Trời hay không. Sáng Thế Ký 1 nói là có, nên bạn không thể vừa tin vào Sáng Thế Ký 1 vừa theo thuyết bất khả tri. Thuyết duy linh (animism) là niềm tin vào nhiều thần linh kiểm soát thế giới của chúng ta, các thần sông, thần núi. Còn nhiều thuyết duy linh trên thế giới - điều đó bị loại trừ. Thuyết đa thần (polytheism) là niềm tin rằng có nhiều thần. Sáng Thế Ký 1 loại trừ điều đó. Nhị nguyên luận (dualism) tin rằng có hai thần, một tốt và một xấu, và thần tốt chịu trách nhiệm với những điều tốt xảy đến và thần xấu chịu trách nhiệm với những điều xấu. Đó cũng không phải là triết lý theo Kinh Thánh. Thuyết duy thần (monotheism) tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời. Do Thái giáo (Judaism) tin rằng Đức Chúa Trời có một ngôi. Nhưng Sáng Thế Ký dùng từ Elohim là số nhiều.
Tự nhiên thần giáo (deism) tin rằng Chúa là Đấng Tạo hóa, nhưng giờ đây Ngài không thể kiểm soát những gì Ngài đã tạo dựng. Ngài đã tạo nên một thứ như cái đồng hồ, lên dây cót cho nó, và giờ nó tự chạy theo quy luật của riêng nó, nên không thể có phép lạ. Tự nhiên thần giáo rất phổ biến, ngay cả trong hội thánh. Bạn có tin rằng Chúa có thể thay đổi thời tiết không? Nếu bạn không tin vào điều đó thì bạn theo tự nhiên thần giáo - bạn có thể tin rằng Ngài sáng tạo vũ trụ nhưng không thể kiểm soát nó. Thuyết hữu thần (theism) tin rằng Chúa không chỉ sáng tạo thế giới mà còn kiểm soát mọi thứ và mọi người mà Ngài đã tạo nên và thuyết hữu thần là một bước tiến đến triết lý theo Kinh
Thánh. Thuyết hiện sinh (existentialism) tin rằng kinh nghiệm là Đức Chúa Trời. Những lựa chọn của chúng ta, sự khẳng định của chúng ta về chính mình - đó là một tôn giáo. Chủ nghĩa nhân văn (humanism) tin rằng con người là chúa. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) tin rằng lý trí là chúa. Chủ nghĩa duy vật (materialism) tin rằng chỉ có vật chất là thật. Thần bí học (materialism) tin rằng chỉ có tâm linh là thật. Thuyết nhất nguyên (monoism) khá nực cười, nhưng lại rất phổ biến vào thời nay: rằng vật chất và tâm linh, về cơ bản là một và là cùng một thứ. Phiếm thần thuyết (pantheism) tin rằng mọi thứ là thần, và một phiên bản hiện đại của nó gọi là Phiếm tại thần thuyết (Panentheism): Thần ở trong tất cả.
Những thuyết đó đều bị Sáng Thế Ký 1 loại bỏ. Nếu bạn muốn một ‘ism’, một thuyết tóm tắt triết lý của Kinh Thánh thì đó là thuyết Ba Ngôi hiệp nhất (Triunetheism) - ba ngôi nhất thể; Đấng Tạo hóa và Đấng kiểm soát vũ trụ. Đó là lối tư duy theo Kinh Thánh xuất phát từ chính Sáng Thế Ký 1, và nó còn đến tận chương cuối của Khải huyền. Chúng ta hãy chuyển từ những chủ đề trí thức và nhìn vào chính Sáng Thế Ký 1, và điều đầu tiên mà chúng ta nghĩ đến là văn phong của chương này. Nó không được viết bằng ngôn ngữ khoa học. Hallelujah vì điều đó! Nếu không thì ngay cả trong kỷ nguyên khoa học của chúng ta cũng sẽ có rất ít người có thể hiểu được. 
Bạn không vui mừng khi thấy Sáng Thế Ký chương 1 không được viết bằng ngôn ngữ khoa học sao? Nếu không thì sẽ rất ít người trong chúng ta có thể hiểu được nó. Nó được viết bằng ngôn ngữ giản lược.
Ví dụ, trong Sáng Thế Ký 1 chỉ có ba loại thực vật: cỏ, thảo mộc và cây. Đó thật là một phân loại thực vật thật đơn giản, đúng không? Ai cũng biết cỏ, thảo mộc và cây. Chỉ có ba loại động vật được nêu trong Sáng Thế Ký 1: gia súc, các loài thú mà chúng ta săn bắn làm thức ăn, và thú rừng. Mọi người, ở mọi nơi đều có thể hiểu được những phân loại đơn giản này. Ba loại cây có kích thước khác nhau, ba loài động vật khác nhau, tùy theo mối quan hệ của chúng với chúng ta. Giản lược là như vậy đó. Chỉ có 76 từ gốc khác nhau trong toàn bộ Sáng Thế Ký 1. Thật là ít. Hơn nữa, mọi ngôn ngữ trên đất đều có tất cả những từ đó. Vậy nên Sáng Thế Ký 1 là chương dễ dịch nhất trong cả Kinh Thánh. Phải là thiên tài mới có thể đơn giản như thế. Đức Chúa Trời - giống như mọi tác giả khác - phải hỏi xem ai sẽ đọc những gì mình viết? Bạn phải hướng tác phẩm của mình tới người đọc tiềm năng và có một chỉ số gọi là fog index để các tác giả kiểm tra tác phẩm của mình: bạn lấy rất nhiều câu, bạn đếm
số từ đa âm tiết và số câu, bạn cho nó vào một công thức toán học và ra kết quả - bạn biết đích xác rằng những ai có thể đọc những gì mình viết. Đó là một cách kiểm tra hay. Chúa muốn câu chuyện sáng tạo chạm tới mọi người, thuộc mọi thời đại và ở mọi nơi. Nên Ngài đã khiến nó trở nên cực kỳ đơn giản và kết quả là một đứa trẻ có thể đọc Sáng Thế Ký 1 và hiểu được thông điệp, và chương này có thể được dịch ra bất kỳ ngôn ngữ nào.
Phải là thiên tài mới có thể đơn giản như thế. Người ta bảo Einstein giải thích thuyết tương đối về thời gian, và ông nói: “Một phút ngồi trên cái lò nóng dường như dài hơn nhiều so với một giờ trò
chuyện với gái xinh.” Phải là thiên tài mới có thể đơn giản như thế, và giờ đây, ai cũng có thể hiểu thuyết tương đối về thời gian. Chúa muốn đơn giản như vậy, nhưng Ngài không viết một bản tường thuật khoa học về tạo vật, Ngài đã viết một bản văn giản lược. 
Đức Chúa Trời là chủ ngữ, cùng với Ngôi Lời và Thánh Linh - ở đây đã có Ba ngôi Đức Chúa Trời, đặc biệt là sau đó có chép: “Chúng ta hãy tạo nên loài người.” Các động từ rất đơn giản, và tôi muốn chỉ ra sự khác biệt giữa “sáng tạo” và “tạo nên.” Từ sáng tạo - bara trong tiếng Hê-bơ-rơ nghĩa là tạo ra thứ gì đó từ chưa có gì, và nó chỉ xuất hiện ba lần trong cả Sáng Thế Ký 1, cho vật chất, sự sống và con người. Chỉ trong ba thời điểm đó, Chúa mới sáng tạo một điều hoàn toàn mới. Giữa đó, Ngài dùng từ “tạo nên” nghĩa là tạo ra một điều từ thứ gì đó. Chúng ta có thể tạo nên nhiều thứ, có thể sản xuất nhiều thứ, nhưng không thể sáng tạo. Đó là một điểm rất quan trọng trong Sáng Thế Ký 1. Có thời điểm mà tại đó, Chúa làm một điều hoàn toàn mới từ chưa có gì: vật chất, sự sống và con người. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng: vật chất, ADN và con người.
Các tân ngữ, (đối tượng bị tác động bởi chủ ngữ - ND) các ngày từ 1 đến 7 - lại cực kỳ đơn giản. Mỗi câu rất đơn giản. Nó có một chủ ngữ, một động từ và một tân ngữ. Ngữ pháp rất đơn giản và dễ hiểu, và lại một lần nữa, ai cũng có thể hiểu được. Đây là một sản phẩm đáng kinh ngạc.
Cấu trúc của Sáng Thế Ký chương 1

Cấu trúc của Sáng Thế Ký 1 được kết hợp thật ăn khớp với nhau. Nó quá tuần tự, trải qua sáu ngày, nhưng sáu ngày lại được chia thành ba cộng ba. Bạn có thể chưa hề chú ý đến điều này, nhưng có hai loạt, mỗi loạt ba ngày. Phần đầu có chép rằng trái đất không thể trú ngụ và không có cư dân. Nó không có hình dạng và trống không, hoặc trống rỗng, và Đức Chúa Trời mất ba ngày để cho nó có hình dạng và ba ngày để nó thành nơi được cư ngụ. Trong ba ngày đầu, Ngài sáng tạo môi trường,
nhưng trong ba ngày sau, Ngài sáng tạo những thứ hoặc tạo vật để cư ngụ trong môi trường đó. Nên Ngài đã thực hiện theo thứ tự: Ngài chuẩn bị môi trường trước, rồi đặt các tạo vật vào trong môi trường; ba ngày đầu và ba ngày sau thật quá ăn khớp với nhau. Ba ngày đầu, Ngài sáng tạo ra môi trường đa dạng bằng sự tương phản - sự tương phản giữa ánh sáng khỏi bóng tối, bầu trời khỏi biển cả, đất liền khỏi biển khơi. Ngài đang tạo ra sự phân biệt cần thiết cho sự đa dạng. Khi đã sáng tạo như vậy, vào ngày thứ ba, Ngài đặt cây cối vào, nhưng giờ đây, Ngài sáng tạo những cư dân trong đó. Nói theo nghĩa đó, mặt trời và mặt trăng là những cư dân của ánh sáng. Tôi sẽ quay trở lại điều đó sau. Ở đây có một điểm rất quan trọng, nhưng ánh sáng khỏi bóng tối là điều chung chung; giờ đây chúng ta có những điều cụ thể - mặt trời, mặt trăng và các vì sao - cư ngụ trong ánh sáng đó và bóng tối đó. Bầu trời khỏi biển cả - lấp đầy chúng bằng chim và cá, và vào ngày thứ sáu, trên đất khô, động vật và con người xuất hiện. Bạn đã bao giờ để ý đến sự tương đương đó giữa ba ngày đầu và ba ngày sau chưa? Chẳng phải nó tuần tự đến đáng kinh ngạc sau? Nó được thực hiện một cách tuyệt đẹp. Chúa đang thực hiện nhiều điều theo cách rất tuần tự và chính xác;
Ngài đang thực sự mang trật tự ra khỏi sự hỗn loạn, Ngài thích làm như vậy. Sáng Thế Ký 1 mang tính toán học. Ba con số liên tục xuất hiện trong bài tường thuật, thậm chí cả trong tiếng Anh là 3, 7 và 10. Ba là về Đức Chúa Trời, 7 là một con số hoàn hảo trong suốt Kinh Thánh, và mười luôn luôn là một sự trọn vẹn. Khi nhìn vào những số ba, bảy và mười, bạn sẽ thấy kinh ngạc. Chúa chỉ thực sự sáng tạo điều gì đó tại ba thời điểm. Ba lần Ngài gọi đích danh điều gì đó, ba lần Ngài tạo nên điều gì đó, ba lần Ngài chúc phước cho điều gì đó. Từ đầu đến cuối, ngay cả trong tiếng Anh, bạn cũng sẽ thấy rằng mọi thứ đi theo số ba. Các động từ theo các số ba.
Tiếp theo là các số bảy. Có chép bảy lần rằng “Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.” Bảy lần! Có bảy ngày, điều đó rất rõ ràng. Câu đầu tiên trong tiếng Hê-bơ-rơ có bảy từ, ba câu cuối trong bài tường thuật về công cuộc sáng tạo này đều là các câu có bảy từ (tôi e là không phải trong tiếng Anh, nhưng bạn phải hiểu là tôi đang nói về tiếng Hê-bơ-rơ). Trong tất cả những điều này, Sáng Thế Ký 1 trái ngược hẳn với, sử thi của người Ba-bi-lon chẳng hạn, về công cuộc sáng tạo, một sử thi rất phức tạp và kỳ cục đến nỗi khi bạn so sánh nó với sự đơn giản của Lời Chúa, bạn sẽ không còn nghi ngờ gì về thật giả nữa.

Tôi e là đến lúc này, tôi phải thọc sâu vào vấn đề. Nhưng trước khi tôi làm như vậy, chúng ta hãy nhấn mạnh điểm này: rằng Sáng Thế Ký 1 rất giản lược. Tôi nghĩ là dễ nhất thì mình có thể làm điều đó bằng cách tưởng tượng ra một cuốn sách thiếu nhi miêu tả cách xây một căn nhà. Nếu muốn viết sách thiếu nhi thì bạn phải có một tóm tắt giản lược. Bạn sẽ nói rằng: đầu tiên là thợ xây sẽ đến xây gạch, rồi thợ mộc đến để đặt khung cửa sổ và cửa ra vào, lắp mái nhà bên trên, rồi thợ nước đến lắp các đường ống vào, ống nước và ống thải. Sau đó, thợ điện đến lắp các đường dây. Rồi thì thợ hồ sẽ trát các bức tường, người trang trí sẽ sơn tường rồi tất cả được nghỉ ngơi. Nên để giải thích cách đơn giản cho thiếu nhi thì có lẽ bạn phải giải thích theo bảy công đoạn. Nhưng đó là cách giản lược, và là một người tham gia vào việc thiết kế các nhà thờ và sắp xếp việc xây dựng, tôi biết là cuộc sống không đơn giản như thế. Bạn phải có thứ gọi là phân tích đường dẫn quan trọng, và bạn sắp xếp xem khi nào thợ xây phải đến, khi nào thợ mộc phải đến - và có thể anh ta phải đến hai lần, rồi cả thợ ống. Xây được một tòa nhà là một công việc rất phức tạp.
Nhưng chỉ những người xây nhà mới cần biết những điều đó. Còn như vậy là đủ rồi, nếu bạn kể chuyện cho tất cả mọi người, trong mọi lúc, mọi nơi thì bạn sẽ làm như vậy. Chẳng trách Sáng Thế Ký lại giản lược như vậy để khoa học có thể điền thêm rất nhiều chi tiết cho chúng ta, nhưng Chúa muốn mọi người đều hiểu rằng Ngài đã làm điều đó, rằng Ngài làm điều đó một cách tuần tự, rằng Ngài biết điều mình đang làm. Nhưng ngay khi bạn nói theo cách đó thì ông ba bị khoa học chống lại Kinh Thánh xuất hiện và nảy sinh căng thẳng. Nhiều nhà khoa học căng thẳng với bất cứ thứ gì siêu nhiên, bởi vì khoa học chỉ có thể nghiên cứu thế giới tự nhiên, nó không thể nghiên cứu điều siêu nhiên. Vậy điều siêu nhiên là điều mà khoa học không thực sự tiếp xúc và thấy khó để nghĩ đến.
Những thắc mắc của khoa học
Nhưng có những thắc mắc khoa học cụ thể nổi lên liên quan tới phần tường thuật của Sáng Thế
Ký 1 về công cuộc sáng tạo và tôi cảm thấy mình phải đề cập đến chúng. Tất nhiên, một số thắc mắc rất hời hợt. Có người đã hỏi tôi rằng: “A-đam có rốn không?” Sâu sắc chứ hả? Hay “Loài rắn có nói được không?” hay “Ca-in kiếm vợ ở đâu ra?” Có người từng hỏi Lord Soper câu đó tại Hyde Park Corner và ông chỉ bảo người hỏi mình rằng: “Sao anh lại quan tâm đến vợ của những người khác thế?” Thực tế là có thể có ba câu trả lời, nhưng tôi sẽ không cho bạn biết. Một trong những câu mới
nhất mà tôi đọc được trong báo chí quốc gia là “Nô-ê có cho con mọt vào tàu không?,” hay đúng hơn là hai con mọt. Ngày nay người ta hay hỏi tôi câu này: “Sao Kinh Thánh không bao giờ nhắc đến khủng long?” - vì chúng ta quá thích chúng. Nhưng nói thật là những câu hỏi này rất hời hợt.

Chúng ta phải đối diện với những vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều. Tốc độ của công cuộc sáng tạo. Các nhà địa chất học nói với chúng ta rằng đó là 4.25 tỉ năm. Sáng Thế Ký dường như nói đó là sáu ngày. Có chút khoảng cách cần được nối liền. Tương tự như vậy là tuổi của trái đất, rồi thứ tự sáng tạo. Thực chất, điều đáng chú ý là khoa học đồng ý với thứ tự của Sáng Thế Ký 1, trừ một ngoại lệ, và tôi nghĩ là có thể giải thích cho ngoại lệ đó. Ngoại lệ đó là mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao phải đợi đến ngày thứ tư, sau khi trái đất có cây cối, mới xuất hiện. Nhưng thực tế, giờ đây chúng ta biết rằng trái đất ban đầu được bao phủ bằng một màn mây dày, bằng màn sương mù. Thực ra Sáng Thế Ký 2 chép rằng có màn sương bao phủ cả trái đất. Giờ đây, khoa học biết rằng điều đó là đúng. Nên khi ánh sáng đầu tiên xuất hiện, nhìn chung, nó chỉ được coi như một màn mây sáng hơn, rồi cây cối xuất hiện và bắt đầu biến carbon dioxide thành oxy, từ đó màn sương mù bị xua tan và lần đầu tiên, mặt trời, mặt trăng cùng các ngôi sao xuất hiện trên các từng trời. Cứ mặc định là mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao xuất hiện sau cây cối vì màn mây dày bao phủ trái đất được xua tan, thì khoa học hoàn toàn đồng ý với thứ tự của Sáng Thế Ký 1 - rằng các sinh vật xuất hiện trên biển trước khi xuất hiện trên đất; rằng con người xuất hiện cuối cùng.
Có sự ăn khớp đáng kinh ngạc về điều này, nên thứ tự không còn là vấn đề nan giải, nhưng nguồn
gốc của các loài động vật và con người thì đúng là như vậy - toàn bộ câu hỏi về tiến hóa đối lập với tạo hóa. Rồi có những điều khác như tuổi của những người sống trước cơn nước lụt: Mê-tu-sê-la, đó là người cao tuổi nhất, rồi quy mô của chính cơn nước lụt. Bi kịch là ở chỗ đối với tâm trí hiện đại, những vấn đề này lại xuất hiện đầu tiên liên quan đến Sáng Thế Ký. Vậy nên tôi mới không nêu ra sớm hơn, vì tôi tin rằng chúng ta phải hiểu thông điệp của Sáng Thế Ký trước đã, rồi xử lý vấn đề sau. Nếu chỉ thảo luận về những vấn đề trong Sáng Thế Ký thì bạn sẽ bỏ lỡ chính những thông điệp quan trọng mà nó mang đến cho chúng ta. Tuy vậy, chúng ta không được bỏ qua những bất đồng.
Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng có ba cách giải quyết vấn đề khoa học chống lại Kinh Thánh. Cách bạn sẽ làm điều đó rất quan trọng. Ba cách đó là bác bỏ, tách bạch hoặc kết hợp. Tôi sẽ nói ngay rằng theo tôi thì cách thứ ba là đúng. Cách thứ nhất là của những Cơ Đốc nhân khờ khạo, họ nói rằng bạn phải lựa chọn. Hoặc là chọn Kinh Thánh là đúng, hoặc khoa học là đúng, nhưng bạn phải bác bỏ một trong hai, bạn không thể chấp nhận cả hai - và điều này khiến nó trở thành một lựa chọn đơn giản. Kết quả là người vô tín chọn khoa học còn tín đồ chọn Kinh Thánh, và cả hai đều vùi đầu trong cát. Đó không phải là câu trả lời cho vấn đề này, một phần vì khoa học đã và đang đúng trong nhiều điều.
Nói khoa học là sai có lẽ là sự phân biệt dại dột nhất trong thế giới hiện đại của chúng ta. Nhưng nói rằng chúng luôn đúng cũng dại dột không kém. Cách bác bỏ này không phải là câu trả lời - tức là nói rằng điều này đúng còn điều kia sai, và bắt người ta phải lựa chọn. Nó dẫn đến sự thiếu trung thực. Nó khiến người ta cảm thấy rằng để tin vào Kinh Thánh thì họ phải tự tử về mặt trí tuệ, và đó là một sai lầm.
Cách thứ hai là để khoa học và Kinh Thánh càng xa nhau càng tốt, và nói rằng khoa học liên quan đến một loại sự thật, còn Kinh Thánh thuộc loại khác, rằng khoa học liên quan đến sự thật về vật lý, sự thật về vật chất và sự thật về tự nhiên, còn Kinh Thánh liên quan đến lẽ thật về đạo đức và lẽ thật siêu nhiên, nên chúng giải quyết những vấn đề hoàn toàn riêng biệt: rằng khoa học cho chúng ta biết cách thức và thời gian thế giới xuất hiện như thế nào và khi nào, còn Kinh Thánh chỉ cho chúng ta biết về ai và tại sao, và chúng phải được tách biệt hẳn ra; tách bạch càng xa càng tốt, thì chúng mới có thể cùng tồn tại. Đó là một cách tiếp cận khá lạ lùng.
Hãy thử và mặc cho nó cái mốt hiện đại: khoa học nói đến thực tế, còn Kinh Thánh nói đến giá trị, nên chúng ta không tìm thực tế trong Kinh Thánh mà tìm giá trị trong đó. Đó là một cách nói hay gặp vào thời nay, thậm chí là từ những người giảng đạo trong các hội thánh. Nhưng đó là một giải pháp sai. Nó hợp với tư duy Hy Lạp của chúng ta và không may là phần đa chúng ta nghĩ giống như người Hy Lạp, chúng ta giữ vật chất và tâm linh ở hai ngăn kín mít - những điều thiêng liêng và thế tục, những điều hữu hạn và đời đời. Kiểu tư duy đó hoàn toàn xa lạ với tâm trí người Do Thái, họ thấy Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa và Đấng Cứu Chuộc, nên vật chất và tâm linh có liên quan đến nhau.
Nên tôi cũng không nghĩ đây là câu trả lời. Nó coi Sáng Thế Ký là một thần thoại. Sáng Thế Ký chương 3 trở thành một truyền thuyết mang tên “Con rắn đã mất chân như thế nào?” và A-đam trở thành Mọi người chứ không phải một người. Chắc hẳn là bạn đã nghe thấy dạng này, tức đây là những câu chuyện hư cấu dạy chúng ta về những giá trị - về Chúa và về chính chúng ta, dạy chúng ta cách nghĩ về Chúa, về chính mình, nhưng đừng ép chúng vào sự kiện lịch sử. Nếu bạn đi theo con đường đó và coi A-đam và Ê-va là thần thoại - như một câu chuyện có lẽ thật đạo đức, không phải sự thật
lịch sử - thì khi đọc Kinh Thánh từ đầu tới cuối, bạn sẽ dừng lại ở đâu? Ban đầu, người ta nói rằng A-đam và Ê-va là thần thoại, rồi họ lấn thêm một chút, nói rằng Nô-ê là một thần thoại. Câu chuyện cơn nước lụt có lẽ thật trong đó, nhưng là lẽ thật đạo đức, không phải sự thật lịch sử. Rồi họ tiếp tục và nói rằng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp là những thần thoại.
Rồi họ tiếp tục và nói rằng Môi-se là một thần thoại. Rồi họ cứ tiếp tục như vậy, và đến nay, có những nhà thần học coi sự phục sinh và sự giáng sinh từ nữ đồng trinh của Chúa Giê-su là một thần thoại: là những câu chuyện với một lẽ thật trong đó. Đó là vấn đề mà tôi đặt ra cho cách tiếp cận này - bạn sẽ dừng lại ở đâu? Cuối cùng thì trong Kinh Thánh chẳng còn chút lịch sử nào. Chỉ có các giá trị, không có những thực tế. Tất nhiên, nó khiến chúng ta có thể đặt Kinh Thánh cạnh kinh Koran, cạnh kinh Vệ đà và những cuốn sách về các giá trị khác. Nhưng tôi tin rằng nó đã hủy hoại Kinh Thánh. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của lịch sử - lịch sử là câu chuyện của Ngài (history is His story) và chúng ta đang đọc những sự kiện. Hơn nữa, như tôi đã chỉ ra trước đó, Chúa Giê-su thừa nhận Sáng Thế Ký là có thật. Vì vậy, đây không phải là câu trả lời cho vấn đề này, nhưng có lẽ là cách mà Cơ Đốc nhân hay dùng nhất để vượt qua nó.
Thực ra, cả Kinh Thánh và khoa học là những vòng tròn chồng lên nhau, và chúng đang giải quyết một số điều giống nhau, vì vậy, có những mâu thuẫn hiển nhiên giữa chúng mà chúng ta phải xem xét. Vậy chúng ta sẽ giải quyết như thế nào? Làm sao để chúng ta kết hợp chúng với nhau? Chúng ta cần nhớ hai điều căn bản và rất quan trọng. Đầu tiên là những nghiên cứu quá độ của khoa học, ý tôi là khoa học có thay đổi. Nó luôn quá độ và những điều được coi là thực tế khoa học từ nhiều năm trước có thể không còn được coi là thực tế khoa học trong thời nay. Khoa học thay đổi quan điểm của nó. Ví dụ, người ta từng tin rằng nguyên tử là thứ nhỏ nhất trong vũ trụ. Giờ thì chúng ta biết rằng trong mỗi nguyên tử là cả một vũ trụ. Trước đây, người ta vẫn nói là các nhiễm sắc thể x và y quyết định xem một bào thai trở thành người nam hay người nữ. Còn ngày nay, theo những gì tôi thu thập thì điều đó đã bị loại trừ và trở nên một điều hoàn toàn khác. Thực sự là bạn phải luôn thay đổi tâm trí của mình để bắt kịp.
Toàn bộ phát hiện về ADN đã cải tổ suy nghĩ của chúng ta về sự sống, vì giờ đây, chúng ta biết rằng hình thái sớm nhất của sự sống có ADN phức tạp nhất, và rằng về mặt toán học, ADN là một ngôn ngữ. Đây không phải là một sự kết hợp tình cờ, mà là một ngôn ngữ truyền thông điệp từ thế hệ này sang thế hệ khác, nên ADN phải có một Đấng đằng sau nó. Điều này thay đổi tư duy của rất nhiều người. Nên khoa học có thay đổi. Nó đang trong trạng thái quá độ.
Địa chất học đang thay đổi. Tôi đã đọc một bài báo của phóng viên khoa học của tờ The Times. Ông nói rằng hiện có bảy cách khác nhau để tìm ra tuổi của trái đất: Cacbon 14, heli phóng xạ, phân rã từ trường, niken đại dương,... Ông đưa ra một danh sách các niên đại mà những phương pháp mới này đã hé lộ. Thật thú vị, niên đại ngắn nhất là 9000 năm và dài nhất là 175,000 năm, không phải 4.25 tỉ năm; thế thì ai đúng? Tôi không biết. Theo tôi thì chúng ta hãy đợi tới khi các nhà khoa học đưa ra quyết định về nhiều vấn đề thực tế. Nhân loại học đang ở trong trạng thái hỗn loạn. Thứ mà chúng ta nghĩ là người tiền sử - tổ tiên của chúng ta - không còn là tổ tiên của chúng ta nữa, mà là những sinh vật đến, rồi đi, rồi biến mất. Cả sinh học cũng đã thay đổi. Ngày nay, rất ít người tin vào thuyết tiến hóa của Darwin. Nên đó là điểm đầu tiên mà tôi muốn nêu ra - rằng khoa học có thay đổi quan điểm, và nếu gắn Kinh Thánh với bất kỳ niên đại cụ thể nào của khoa học thì có nghĩ là đến thế hệ sau, Kinh Thánh cũng sẽ bị quẳng đi.
Điều thứ hai mà tôi muốn chỉ ra cũng quan trọng không kém. Những giải nghĩa Kinh Thánh truyền thống cũng có thể thay đổi. Kinh Thánh được thần cảm, nhưng sự giải nghĩa của chúng ta về nó có thể không như vậy. Tôi nghĩ chúng ta cần phân biệt thật rõ giữa bản văn Kinh Thánh và cách chúng ta giải nghĩa nó. Ví dụ, khi Kinh Thánh nói đến ‘bốn góc đất’, ai lại giải nghĩa rằng trái đất là một hình vuông hoặc hình lập phương? Kinh Thánh dùng đến cái mà chúng ta gọi là ngôn ngữ thể hiện (language of appearance). Nó nói đến mặt trời mọc đằng đông và lặn ở đằng tây, rồi chạy quanh bầu trời. Ai lại lấy điều đó để giải nghĩa rằng mặt trời quay xung quanh trái đất? Họ từng làm như vậy, nhưng đó là một giải nghĩa sai. Chỉ đơn giản là Kinh Thánh đang dùng ngôn ngữ thể hiện. Chúng ta cần suy nghĩ lại về cách chúng ta giải nghĩa Kinh Thánh, để có thể trở nên linh hoạt hơn một chút.
Tôi tin là theo cách này, khi ta nhận thấy khoa học đang quá độ và chúng ta giải nghĩa Kinh Thánh theo truyền thống, thì chúng ta sẽ bắt đầu sẵn sàng suy nghĩ lại.

Tôi nghĩ tôi sẽ minh họa điều này bằng cách suy xét các ngày trong Sáng Thế Ký 1, và tôi phát hiện ra rằng có ít nhất năm cách hiểu khác nhau về từ ‘ngày’ trong Kinh Thánh, và tôi sẽ nói đến cả năm cách để bạn tự lựa chọn. Như tôi đã nói, có sự khác biệt nhỏ giữa sáu ngày và 4.25 tỉ năm, và chúng ta cần rút ngắn khoảng cách bằng cách nào đó, vậy chúng ta sẽ hiểu từ ‘ngày’ trong Sáng Thế Ký 1 như thế nào? Trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ này là ‘yom’, đôi khi nó nghĩa là một ngày 24 tiếng; nó cũng nghĩa là một thời đại - như trong “ngày của ngựa và xe thồ đã kết thúc.” Tôi không nói đến một ngày 24 tiếng, tôi đang nói đến “thời đại của ngựa và xe thồ” đã kết thúc. Nhưng có năm cách giải nghĩa khác nhau. Cách thứ nhất là hiểu từ “ngày” theo nghĩa đen - một ngày 24 tiếng của trái đất. Vấn đề là bạn phải tìm thêm thời gian ở đâu đó, và bạn sẽ thấy nhiều chú giải tìm thêm thời gian theo một trong ba cách. Cách đầu là tìm một khoảng cách giữa câu 2 và câu 3, nói cách khác, Kinh Thánh chép rằng đất trở nên vô hình và trống không - trong một khoảng thời gian rất dài - và sáu ngày là thời gian Chúa sắp xếp lại nó. Đó là một lý luận rất phổ biến; bạn sẽ thấy nó trong Kinh Thánh Scofield và bạn sẽ thấy nó trong một số chú thích Kinh Thánh - rằng thực ra, sáu ngày là thời gian kiến thiết lại một thế giới đã trở nên hỗn độn trong một khoảng thời gian dài.
Cách thứ hai để tìm thêm thời gian là tìm toàn bộ trong Cơn nước lụt. Đã có nhiều cuốn sách, đặc biệt liên quan đến những cái tên Whitcombe và Morris, nói rằng dữ liệu địa chất học mà chúng ta có
đều ra từ Cơn nước lụt - không dễ để bảo vệ điều đó. Cách thú vị nhất để tìm thời gian là Chúa đã sáng tạo những đồ cổ thật sự. Nó bắt đầu với lý luận là A-đam bao nhiêu tuổi khi Chúa tạo nên ông? Ông không phải là một đứa trẻ, vậy có phải là ông đã 30 tuổi khi Chúa tạo nên ông? Nếu vậy thì ai gặp ông cũng sẽ nói rằng: “Anh 30 tuổi rồi.” Họ nói vậy là sai, vì tuổi của ông mới được có nửa tiếng. Bạn có tin vào giả thuyết đó, rằng Chúa có thể tạo nên những đồ cổ thật sự, và rằng Ngài có thể tạo nên một cái cây nhìn như 200 tuổi và có tất cả những vân gỗ trong nó? Đây là một giả thuyết có thể xảy ra. Đức Chúa Trời có thể làm điều đó, nhưng tất cả đều là các cách để hiểu từ ‘ngày’ theo nghĩa đen và tìm thêm thời gian ở đâu đó. Bạn hoàn toàn có thể tiếp nhận bất cứ giải nghĩa nào trong số đó. Rồi có những người hiểu một “ngày” theo nghĩa một thời đại địa chất. Đó là một thời gian dài, một “ngày tuổi.” Đó là một giả thuyết khá phổ biến. Vì vậy, chúng ta đang không nói đến sáu ngày mà nói đến sáu tuổi địa chất.
Cách thứ ba là theo thần thoại, mà tôi đã nói đến, coi sáu ngày hoàn toàn là thần thoại. Đó chỉ là cái khung thơ ca của câu chuyện, và điều chính yếu là rút ra bài học đạo đức từ câu chuyện và quên đi cái khung là một phần của thần thoại. Nghĩa là đó là một ngày trong truyền thuyết.
Một trong những cách hấp dẫn nhất là của Giáo sư Wiseman của Đại học London. Ông tin rằng các ngày là để dạy dỗ, nghĩa là Chúa bày tỏ công cuộc sáng tạo của Ngài theo các giai đoạn cho Môi- se, và vào ngày đầu tiên của tuần lễ trong đời Môi-se, Chúa phán rằng Ta đã làm thế này, và vào ngày tiếp theo, Ngài kể cho ông thêm chút nữa, và ngày tiếp theo, thêm chút nữa, thêm chút nữa. Vậy chúng là những ngày đến trường của Môi-se.
Có hai hình thức của giả thuyết đó; một là Chúa bày tỏ công cuộc sáng tạo bằng lời nói. Nhưng một giả thuyết hấp dẫn hơn là Ngài bày tỏ cách trực quan - như Ngài đã thực hiện sách Khải huyền cho Giăng - cho Môi-se thấy một kiểu băng hình: và Môi-se thấy ánh sáng được phân rẽ khỏi bóng tối, rồi màn hình tối đen và rồi Môi-se thấy một hình ảnh khác về hơi nước được phân rẽ khỏi biển cả, và trong hình ảnh tiếp theo, ông thấy cây cối, rồi động vật và chim chóc,... - một kiểu băng hình mà ông ghi chép lại.
Nhưng cả hai giả thuyết đó, dù bằng từ ngữ ngay hình ảnh, đều cho rằng các ngày thuộc về thời khóa biểu của Môi-se.
Cách giải thích cuối cùng là những ngày đó là “ngày của Chúa” - thời gian là tương đối với Chúa cũng như với chúng ta; một ngàn ngày giống như một ngày với Chúa và một ngày như một ngàn năm.
Vì vậy, Chúa đang phán rằng: “Đối với Ta, toàn bộ công cuộc sáng tạo đều là công việc của một tuần. Với Ta là như vậy.” Và nói như vậy nghĩa là nếu bạn lấy thời gian về địa chất thì sự sống của con người mất hết ý nghĩa. Ví dụ, hãy trở lại với Cây Kim của Cleopatra. Nếu bạn để Cây Kim của Cleopatra đại diện cho tuổi của hành tinh chúng ta và đặt một đồng xu trên ngọn cây kim, thì đó là tuổi của loài người, và nếu bạn cho một con tem thư trên đó, thì độ dày của nó tượng trưng cho con người văn minh. Bạn có nhận ra rằng chúng ta mất đi mọi ý nghĩa trong đó không? Chúng ta là ai? Và Đức Chúa Trời, tôi tin rằng Ngài muốn chúng ta nghĩ đến công cuộc sáng tạo là công việc của một tuần vì Ngài muốn xuống đến phần quan trọng - đó là chúng ta trên trái đất. Đó là giả thuyết. Hãy để ý đến độ dài của ngày thứ bảy vì nó đã trải dài nhiều thế kỷ. Nó đã trải khắp Cựu Ước.
Ngày nghỉ thứ bảy của Chúa kéo dài tới tận Chúa Nhật Phục Sinh khi Ngài khiến Con Ngài từ kẻ chết sống lại. Suốt Cựu Ước, không có điều gì mới được sáng tạo ra. Chúa đã hoàn tất công cuộc
sáng tạo. Từ “mới” hiếm khi xuất hiện trong Cựu Ước. Tôi nghĩ đến một lần: có một câu trong Truyền đạo - “Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời.” Nên Đức Chúa Trời đã nghỉ suốt cả Cựu Ước - đó là một ngày rất dài!
Vậy là có năm cách khác nhau. Tôi nghĩ chắc bạn đã đoán được là tôi chọn cái nào, nhưng tôi sẽ không nhấn mạnh điều đó - chúng đều là những giải nghĩa. Rõ ràng là Chúa muốn chúng ta nghĩ đến công việc của Ngài như là công việc của một tuần. Đó là thông điệp. Tôi hài lòng với thông điệp đó. Cá nhân tôi tin rằng chúng ta đang nói về “những ngày của Đức Chúa Trời.” Ngài đang cho chúng ta góc nhìn của Ngài về nó. Đối với Ngài, đó chỉ là công việc trong một tuần. Đối với Ngài, Chúa Giê- su mới chết được vài ngày. Thời gian là thực hữu với Chúa, nhưng nó cũng tương đối với Chúa và chúng ta cần nhớ điều đó. Tôi chỉ mới lấy một ví dụ ở đó. Tôi đang để vấn đề lớn - vấn đề tiến hóa sang chương sau vì đó là một vấn đề quan trọng, nhất là nếu con người được kể vào đó. Điều mà tôi cố gắng làm ở đây là cho bạn thấy rằng chúng ta, những người giải nghĩa Kinh Thánh đôi khi cần linh hoạt hơn đôi chút và nói rằng chúng ta có thể chưa hiểu đúng về nó. Tôi tin rằng các nhà khoa học cần khiêm tốn hơn chút ít - nhiều người trong số họ đang trở nên khiêm tốn hơn khi phát hiện ra nguyên tắc ngẫu nhiên trong tự nhiên, rằng mọi thứ không bị buộc chặt trong luật nhân quả. Khoa học đang ngày càng trở nên linh hoạt hơn. Trong tờ báo buổi sáng của tôi có bài báo mang tên “Khoa học có sắp chứng minh sự tồn tại của Đức Chúa Trời không?” - một cái tít đáng đọc.
Một trăm năm trước, bạn sẽ đọc thấy từ “bác bỏ,” nhưng đã có một sự thay đổi cởi mở rằng vũ trụ có sự can thiệp và kiểm soát cá nhân của Đức Chúa Trời, cởi mở hơn trước. Nên khoa học và cách giải nghĩa Kinh Thánh trong thời kỳ của chúng ta đang bắt đầu cùng nhau dịch chuyển. Tất cả đều theo chiều hướng tốt.
Tôi tin rằng cách thứ ba mà tôi chỉ ra về việc hòa hợp giữa khoa học và Kinh Thánh - kết hợp chúng với nhau - là cần thiết vì cả khoa học và Kinh Thánh đều quan tâm đến lẽ thật. Chúng ta đều cam kết với lẽ thật và chúng ta muốn tìm ra nó, và tôi tin rằng khoa học đã tìm ra nhiều lẽ thật về vũ trụ cho chúng ta, nhưng nó chưa thể cho chúng ta biết những lẽ thật quan trọng nhất về Đức Chúa Trời hoặc về chính chúng ta. Về chuyện đó, chúng ta đã có Kinh Thánh, và cảm tạ Chúa vì chúng ta có nó.
SÁNG THẾ KÝ - Phần 3 - Tạo Vật Và Tiến Hóa
Chúng ta đã đi đến Sáng Thế Ký chương 2 và còn 48 chương nữa - nên hãy xem chi tiết chương
2. Có một sự thay đổi triệt để trong phong cách, nội dung và trên hết là góc nhìn. Khi bạn đọc chương 1 và nhắm mắt lại, bạn cảm thấy mình đang chao liệng trên trái đất, nhưng khi đọc chương 2 và nhắm mắt lại, bạn cảm thấy mình đang đứng vững trên mặt đất và nhìn quanh chứ không còn nhìn xuống nữa. Bởi vì trong chương 2, con người đã trở thành trung tâm của bức tranh. Trong chương 1, Đức Chúa Trời là trung tâm và mọi thứ từ góc nhìn của Ngài, quan điểm của Ngài, nhưng giờ đây trong chương 2, con người là một cá nhân. Thực tế, những thuật ngữ chung trong chương 1 mở đường cho những cái tên riêng trong chương 2. Trong chương 1, nhân loại chỉ đơn giản là người nam và người nữ. Trong chương 2, người nam và người nữ đã trở thành A-đam và Ê-va, hai cá nhân cụ thể. Chính Đức Chúa Trời, giờ đây trong chương 2, cũng đã có danh xưng.

Trong chương 1, Ngài chỉ là Đức Chúa Trời mà thôi, nhưng giờ đây, trong Kinh Thánh tiếng Anh, Ngài đã là CHÚA Đức Chúa Trời (the LORD God). Nhưng khi bạn đọc thấy từ CHÚA (LORD) in hoa trong Kinh Thánh thánh tiếng Anh của mình nghĩa là trong tiếng Hê-bơ-rơ, danh Ngài có ở đó. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, vì không có nguyên âm nên danh Ngài gồm bốn phụ âm, JHVH, từ Giê-hô-va (Giê-hô-va) xuất hiện từ đó. Nhưng đó là một hiểu lầm vì J được phát âm giống như Y và V được phát âm giống như W. Vì vậy, trong tiếng Anh, phát âm của nó phải là YHWH, từ đó chúng ta mới
có từ Yahweh. Trong Kinh Thánh tiếng Việt bản truyền thống dịch là Đức Giê-hô-va, người Công giáo đọc là Đức Gia-vê, đều phản ánh chi tiết này - ND). Yaweh Đức Chúa Trời - tôi đã cho bạn từ tiếng Anh “always” (hằng hữu) là một từ rất gần với phân từ của động từ to be - “là.” “Being” - Đang là, “Always” - Hằng hữu, chính là danh đó.
Nên giờ đây Đức Chúa Trời có một danh xưng, giờ đây người nam đã có tên, và sau đó, trong chính chương này, người nữ đã có tên. Ở đây có những cái tên - không chỉ tên người, mà còn có tên nơi chốn. Chúng ta không nói đến “đất khô” nữa, chúng ta đang nói đến vùng đất Ha-vi-la, vùng đất Cút, lãnh thổ A-si-ri và Vườn Ê-đen. Giờ đây, không chỉ đất khô có tên, nhưng sông nước đã có tên và tại đây nói đến bốn con sông, và hai trong số đó thân thuộc với chúng ta ngày nay: Ti-gơ-rít và Ơ- phơ-rát. Nghĩa là Vườn Ê-đen ở đâu đó gần phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc Armenia, đâu đó mà thực ra Đỉnh Ararat vẫn còn đó và cũng thật tình cờ, nơi người ta vẫn đang tìm con tàu của Nô-ê. Nên điều đó định vị chúng ta, nhưng ý nghĩa của những cái tên còn lớn hơn thế. Nó không chỉ khiến mọi điều trở nên cụ thể - những cái tên khiến những mối quan hệ có thể xây dựng. Điều quan trọng xảy ra trong Sáng Thế Ký 2 là chúng ta thấy con người ở trung tâm của mạng lưới các mối quan hệ, và đối với chúng ta, ý nghĩa của cuộc sống nằm trong mối quan hệ. Những mối quan hệ này, chúng ta sẽ thấy, rằng chúng có ba khía cạnh: mối quan hệ bên trên chúng ta, mối quan hệ với những điều bên dưới chúng ta và mối quan hệ bên cạnh chúng ta. Nên có mối quan hệ theo chiều thẳng đứng với Chúa bên trên, mối quan hệ theo chiều thẳng đứng với tự nhiên bên dưới và mối quan hệ theo chiều ngang với bản chất con người ở những người khác và chính chúng ta. Nhưng trước khi đến với điều đó, chúng ta hãy chú ý đến một hoặc hai điều nữa.
Trong chương 1, Đức Chúa Trời chỉ được mô tả là Chúa - Elohim - nghĩa là có ba, nhưng là ba ngôi nhất thể với động từ số ít như chúng ta đã thấy, và một Đức Chúa Trời giống con người vì con người được dựng nên giống với Chúa. Đó là một hiểu biết rất quan trọng. Giữa con người và Đức Chúa Trời có một mối liên hệ mà tất cả những phần khác trong công cuộc sáng tạo của Chúa đều thiếu vắng. Không có loài vật nào có điều này. Bạn không bao giờ thấy một con tinh tinh cầu nguyện. Có điều gì đó trong chúng ta khá khác với mọi tạo vật khác trên đất và điều đó chính là chúng ta giống với Đấng Tạo hóa theo cách rất độc đáo.
Trong Sáng Thế Ký 2 dường như có sự thay đổi, khi nói đến sự khác biệt giữa Chúa và con người - rằng Ngài không giống chúng ta và chúng ta không giống Ngài, và chúng ta cần cân bằng hai thực tế này. Chúng ta giống Đức Chúa Trời, nhưng lại không giống Ngài. Ngài giống chúng ta, nhưng lại không giống chúng ta. Chúng ta cần phải giữ sự cân bằng đó để có mối quan hệ tốt với Ngài. Thực tế rằng Ngài giống chúng ta nghĩa là mối quan hệ giữa chúng ta và Ngài có thể trở nên thân mật, nhưng thực tế rằng Ngài không giống chúng ta sẽ giữ sự tôn kính trong mối quan hệ, và sự cân bằng giữa thân mật và tôn kính là điều cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong sự thờ phượng của chúng ta. Bạn có thể trở nên quá thân mật với Chúa, hoặc quá suồng sã với Chúa như thể Ngài chỉ là một người trong hội chúng. Hoặc bạn có thể trở nên quá sợ Ngài và gần như thu mình lại, không thể gọi Ngài là Cha. Ngài là Cha Thánh trên trời; Ngài giống chúng ta và không giống chúng ta, chúng ta giống Ngài và không giống Ngài, và chúng ta cần cân bằng điều đó; hai chương đầu giúp chúng ta làm như vậy.
Tên “A-đam” nghĩa là bụi đất vì điều đó thể hiện nguyên liệu mà Chúa đã dùng để dựng nên con người đầu tiên, nên ông được gọi là Bụi Đất còn vợ ông được gọi là Sinh Động, hay với bạn là Ê-va. Nhưng chúng là những cái tên mô tả và những cái tên trong Kinh Thánh đều luôn có tính mô tả. Thậm chí là tượng thanh, nghĩa là tên đó nghe giống âm thanh của sự vật, giống như từ cúc cu - đó là một
từ tượng thanh. Thực tế, khi con người đặt tên cho các loài động vật như lời Chúa dặn, ông dùng những mô tả của các loài động vật và điều đó trở thành tên của chúng. Những cái tên trong Kinh Thánh không chỉ có tính mô tả, chúng còn mang thẩm quyền. Nói cách khác. Người đặt tên có thẩm quyền trên người nhận tên, nên A-đam đặt tên cho tất cả các loài động vật, thể hiện thẩm quyền của ông trên chúng, và tình cờ, ông đặt tên cho vợ mình. Điều này vẫn được áp dụng với các lễ cưới khi người vợ mang tên của chồng. Điều đó có ý nghĩa sâu sắc. Nên những cái tên rất quan trọng, và với Sáng Thế Ký 2, chúng ta bắt gặp những cái tên, hoặc loại này, hoặc loại khác.
Giờ hãy xét đến ba khía cạnh của các mối quan hệ của con người. Đầu tiên là mối quan hệ mà chúng ta có với những tạo vật khác Chúa đã tạo nên và đây là mối quan hệ khuất phục chúng. Chúa ban cho chúng ta các loài động vật để phục vụ chúng ta. Không nghĩa là chúng ta được phép tàn nhẫn hay được phép xóa sổ chúng, khiến chúng tuyệt chủng, nhưng rõ ràng là động vật ờ thang giá trị thấp hơn con người. Điều đó rất quan trọng, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi người ta lẫn lộn hoàn toàn.
Tôi nhớ là mình đã thấy mấy người nữ tại Úc biểu tình tuần hành chống lại việc giết hải cẩu con và tôi biết là chính những người phụ nữ đó sẽ không ngại nạo phá thai. Chúng ta sống trong một thế giới điên rồ khi một con hải cẩu con được coi là có giá trị hơn một con người. Chúa Giê-su sẵn sàng hy sinh hai ngàn con lợn để cứu lấy tâm trí của một người và phục hồi anh ta về với gia đình. Chúng ta cần có sự cân đối. Không nghĩa là chúng ta phải đối xử với động vật như thể chúng không có cảm xúc, nhưng rõ ràng là có thang giá trị và các tạo vật được đặt dưới con người và phục vụ con người. Sau này, chúng ta sẽ thấy, rằng để cung cấp thức ăn cho con người, Chúa đã xóa bỏ chế độ ăn chay của tạo vật, sau Cơn nước lụt. Bạn nhớ rằng trong Sáng Thế Ký 1 và 2, Chúa cho con người chế độ ăn chay - ăn hoa quả và hạt - và tạo nên động vật là loài ăn cỏ, không phải là loài ăn thịt. Đó cũng là một điều quan trọng.
Nên liên quan tới tự nhiên bên dưới chúng ta, chúng ta cần có quyền thống trị trên tự nhiên và cai trị tự nhiên và vì vậy tác động tới nó. Chúng ta cần nuôi dưỡng tự nhiên và kiểm soát nó. Thật thú vị là con người cần một môi trường vừa tiện dụng và thẩm mỹ, vừa ích lợi vừa đẹp, và Chúa không đặt con người vào trong hoang mạc. Ngài đã trồng một khu vườn cho con người, nó vừa có giá trị thẩm mỹ vừa tiện dụng, khá giống với những khu vườn thôn quê cổ tại Anh Quốc đan xen hoa cỏ và khoai tây, cả vẻ đẹp và sự ích lợi gắn liền với nhau. Con người không chỉ cần sự tiện dụng, anh ta không chỉ cần đồ ăn. Anh ta cần vẻ đẹp quanh mình vì trong anh ta có yếu tố trân trọng vẻ đẹp.
Tôi chẳng bao giờ thấy một con chó lặng ngắm hoàng hôn và nói rằng: “Ôi thật tuyệt biết bao!” Trong chúng ta có yếu tố giống với Chúa, chúng ta không chỉ cần sự tồn tại đơn thuần. Chúng ta cần trân trọng và tận hưởng sự vật chứ không chỉ để tồn tại.
Mối quan hệ thứ hai mà chúng ta có là với Chúa bên trên, và hai cái cây trong vườn rất quan trọng. Một cây khiến bạn sống lâu hơn, và một cây khiến bạn sống ít đi. Hai cây đó chẳng phải là cây thần kỳ, tôi sẽ gọi chúng là những cây bí tích. Chúa có thể chỉ định những kênh vật chất để truyền đạt những phước hạnh hoặc sự rủa sả về thuộc linh với chúng ta. Thế nên dùng bánh và nước không đúng cách trong Tiệc thánh có thể khiến bạn ốm, thậm chí là thiệt mạng. Chúng không phải phép thần, bánh và nước, nhưng Chúa đã chỉ định cho những kênh vật chất đó ân điển và sự phán xét của Ngài, nên tôi không thấy có gì lạ khi những cái cây lại có tác động thuộc linh mạnh mẽ như vậy. Đó lại là nguyên tắc bí tích. Chúa dùng vật chất để truyền đạt những điều thuộc linh.
Một cái cây - Cây Sự sống - cho tôi biết rằng về bản chất, A-đam và Ê-va không bất tử, nhưng có thể trở nên bất tử. Họ sẽ không sống mãi nhờ những đặc tính vốn có của mình, nhưng khi tiếp cận Cây Sự sống, họ có thể tiếp tục sống mãi. Không nhà khoa học nào phát hiện ra tại sao chúng ta lại chết. Họ đã phát hiện ra nhiều cách khiến chúng ta chết, nhưng tại sao cái đồng hồ bên trong chúng ta lại bắt đầu suy giảm? Nhìn chung, đó là một cỗ máy tuyệt vời, thân thể, và nếu chúng ta tiếp tục cung cấp đồ ăn và không khí trong lành, và tập thể dục, nó có thể tiếp tục thay thế chính nó. Cứ vài tuần là tôi lại thay da. Phần đa số bụi trên phòng ngủ của bạn là do da bạn thải ra, và bạn có thể tiếp tục thay thế những bộ phận bị hư hỏng - một cỗ máy tuyệt vời. Tại sao nó không thể tiếp tục làm như vậy? Không nhà khoa học nào có thể cho chúng ta biết. Họ đang cố gắng tìm thần dược của sự sống, bí mật để giữ cho cái đồng hồ tiếp tục chạy. Nhưng bí mật là ở Cây Sự sống và Chúa cho con người có thể tiếp tục sống mãi mãi, Ngài đặt cây đó trong vườn cho con người. Nên con người vốn không bất tử, nhưng có thể bất tử khi liên tục nhận nguồn sự sống từ Chúa.
Cây kia, tuy nhiên, lại là một cái cây đầy ý nghĩa. Khi bạn đọc từ “hiểu biết,” hãy thay nó bằng từ “kinh nghiệm.” Vì trong Kinh Thánh, hiểu biết là kinh nghiệm cá nhân. A-đam biết Ê-va và bà thụ thai, rồi sinh một con trai. Trong Kinh Thánh, hiểu biết là như vậy. Nó là một kinh nghiệm cá nhân của ai đó hoặc điều gì đó; là biết. Chúa phán: Ta không muốn con biết điều thiện và điều ác, hoặc nói một cách đơn giản, Ta muốn con giữ sự ngây thơ của mình. Bi kịch là mỗi người chúng ta đã mất đi sự ngây thơ của mình theo cách này hay cách khác, vì khi bạn đã làm một điều sai trái, bạn sẽ không bao giờ như cũ nữa. Bạn có thể được tha thứ, nhưng bạn đã mất sự ngây thơ của mình. Thật tệ hại khi mất điều đó vì hạnh phúc thuộc về sự ngây thơ. Thế nên Phao-lô mới nói: Với những điều ác, tôi thà ngây thơ như con trẻ. Ngây thơ là hạnh phúc, và Đức Chúa Trời muốn A-đam và Ê-va giữ sự ngây thơ của mình. Vậy tại sao Ngài lại đặt một cây như vậy trong tầm với của họ? Đó là cách để Ngài nói rằng: Ta giữ thẩm quyền đạo đức trên con. Nói cách khác, con không tự mình quyết định đúng sai, con tin cậy rằng ta sẽ cho con biết đúng sai, và tất nhiên là bậc phụ huynh nào cũng hy vọng con cái mình làm như vậy. Bạn hy vọng rằng con cái mình sẽ không phải vất vả trải nghiệm rồi mới biết điều gì xấu với chúng. Bạn hy vọng rằng chúng sẽ tin cậy bạn và tránh xa điều xấu, nhưng đó là thẩm quyền làm cha mẹ của bạn. Chúa đang nói với nhân loại mà Ngài đã sáng tạo: con không phải là chủ đất mà chỉ là người tá điền, Ta là chủ đất và Ta giữ quyền bảo con xem điều gì tốt cho con, điều gì không. Cái khó là phần đa chúng ta - thực ra là tất cả chúng ta, theo cách này hay cách khác - sẽ không nghe lời chỉ bảo; chúng ta sẽ cố gắng tự thử nghiệm xem điều đó tốt hay xấu. Kết quả là bạn đánh mất sự ngây thơ của mình, bạn sẽ không bao giờ được như cũ nữa. Thật bi thảm! Ý nghĩa của cái cây là như vậy. Nó nói rằng: Con vẫn kết nối với Ta như thẩm quyền đạo đức của con. Ta vẫn quyết định là điều gì tốt và điều gì xấu với con.
Mối quan hệ cạnh bên - con người không chỉ cần kết nối với điều bên dưới anh ta, và Đấng ở trên anh ta, anh ta cần ai đó cạnh mình. Chúng ta cần những mối quan hệ theo chiều ngang. Thật buồn khi thấy một người lớn tuổi đã về hưu chỉ kết nối với một con mèo. Ở đây có gì đó không phải là nhân tính trọn vẹn. Chúng ta cũng không trọn vẹn về nhân tính nếu chúng ta chỉ kết nối với Chúa mà không kết nối với những người khác. Chúng ta cần mạng lưới này. Tôi thích từ shalom, tôi luôn ký chữ đó trong các sách, sau đó mới ký tên. Shalom là một từ rất đẹp: nó nghĩa là sự hòa hợp - hòa hợp với chính bạn, hòa hợp với Chúa, hòa hợp với những người khác và hòa hợp với tự nhiên. Bạn chẳng mong gì hơn cho một ai đó, đúng không?
Ở đây, trong Sáng Thế Ký 2, chúng ta có một bức tranh về sự hòa hợp đó, và Chúa cảnh báo A- đam rằng: khi phá vỡ sự hòa hợp đó, con sẽ phải chết. Không nhất thiết là chết ngay lập tức, nhưng
cái đồng hồ sẽ bắt đầu suy giảm. Lý do khiến Chúa nói như vậy rất đơn giản. Đó dường như là một hình phạt nặng cho một tội nhỏ, nhưng Chúa đang nói rằng một khi bạn đã kinh nghiệm cái ác, thì Ngài phải hạn chế thời gian bạn sống trên đất, nếu không thì cái ác sẽ tồn tại đời đời. Bạn có thể hiểu ý nghĩ của điều đó, đúng không? Rằng nếu Chúa để những người nổi loạn sống mãi thì họ sẽ hủy hoại vũ trụ của Ngài mãi mãi. Nên Ngài phải đặt một giới hạn thời gian trên những người không chấp nhận thẩm quyền đạo đức của Ngài.
Con người cần mối quan hệ theo chiều ngang này - một người bạn đồng hành thích hợp - và dù một con thú cưng có ý nghĩa thế nào đi chăng nữa, một chú chó hay mèo hay chim không bao giờ thay thế được tình bạn cá nhân với những người khác. Trong Sáng Thế Ký 1, người nam và người nữ có giá trị ngang nhau và sau đó, chúng ta sẽ thấy họ sa đọa và có số phận giống nhau. Đừng nhầm lẫn, khẳng định đầu tiên về người nam và người nữ trong Kinh Thánh là: Họ đều bình đẳng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Nhưng trong Sáng Thế Ký 2, chức năng của họ khác nhau, và chúng ta lưu ý đến bốn điều đều được nhắc đến trong Tân Ước.
Đầu tiên: người nữ được tạo nên từ người nam. Vì vậy, con người của bà từ ông mà ra. Hai là, người nữ được tạo nên sau người nam; vì vậy, người nam chịu trách nhiệm của con đầu lòng. Ý nghĩa của điều đó sẽ trở nên rõ ràng trong Chương 3 khi A-đam bị quở trách vì tội đó, không phải Ê-va. Ông phải chịu trách nhiệm với bà. Điều thứ ba được nói đến là người nữ được tạo nên cho người nam. A-đam có một công việc trước khi ông có vợ, và người nam được dựng nên chủ yếu cho công việc, và người nữ được nên chủ yếu cho các mối quan hệ. Không nghĩa là người nam không được có các mối quan hệ hay người nữ không nên ra ngoài làm việc. Đó là hỏi xem đâu là mục đích chính mà Chúa dựng nên người nam và người nữ, và thực tế là người nam đặt tên cho người nữ trong chương này, cũng thể hiện cách vận hành của mối quan hệ cộng tác - không phải như một chế độ dân chủ. Làm sao mà được, khi chỉ có hai lá phiếu, và mỗi người có một lá? Nhưng một mối quan hệ cộng tác mà một người có trách nhiệm - không phải quyền - lãnh đạo và làm việc trong sự hợp tác nghĩa là như vậy. Nó trở nên sự cạnh tranh khi sự lãnh đạo trở nên sự thống trị trong một phần người nam; điều đó khiến người nữ không phục và sự hòa hợp bị phá vỡ.
Nhiều điều nói ở đây, trong chương 2 rất thiết thực. Chúng là đây: tình dục là tốt lành, nó không phát âm là t-ội l-ỗi, nó rất đẹp. Thực tế, Chúa nói rằng nó rất tốt lành. Tình dục được dựng nên cho mối quan hệ cộng tác thay vì để làm cha mẹ. Đó là một điểm rất quan trọng liên quan đến vấn đề tránh thai. Khuôn mẫu cho sự vui thỏa tình dục là chế độ một vợ một chồng, nhưng thực chất, nó nghĩa là kết hôn với một người trong phần đời cùng tồn tại còn lại. Hôn nhân được tạo nên từ hai điều, lìa (cha mẹ) và gắn bó (với vợ), nghĩa là có một phương diện về thân thể và một phương diện về xã hội, chúng cùng tạo nên hôn nhân. Nếu chỉ có một điều mà thiếu đi điều kia thì không phải là hôn nhân. Quan hệ tình dục mà không được xã hội công nhận thì không phải là hôn nhân, nó là sự gian dâm. Được xã hội công nhận mà không động phòng thì không phải là hôn nhân, do đó cần bị bài trừ. Ở đây có một điểm quan trọng: hôn nhân được ưu tiên hơn mọi mối quan hệ khác.
Sẽ không có chuyện cười nào về bố mẹ chồng/vợ nếu người ta đã tuân thủ điều đó trong suốt lịch sử. Vợ/chồng của một người là ưu tiên hàng đầu của họ, trên mọi mối quan hệ khác, thậm chí trên cả con cái - vợ chồng cần đặt nhau lên vị trí hàng đầu. Ở đây, bức tranh lý tưởng về một cặp vợ chồng là họ không giấu giếm nhau điều gì, không ngượng ngùng và hoàn toàn cởi mở với nhau - một bức tranh tuyệt vời. Đây chính là bức tranh mà Chúa Giê-su đã gợi lại trong nhiều thế kỷ sau. Có nhiều điều nữa mà tôi có thể chỉ ra. Đây là một con người trong ma trận mối quan hệ với một Đức Chúa
Trời bên trên, với bạn đồng hạnh bên cạnh và với tự nhiên bên dưới - để chinh phục thứ ở dưới, để thuận phục Đấng ở trên, và phụ thuộc vào sự tương hỗ với những người bên cạnh.
Đó là bức tranh và chúng là ba mối quan hệ căn bản mà mọi người đều cần, và cần đặt cho đúng chỗ, và khi tội lỗi bước vào, như chúng ta sẽ thấy, mỗi một mối quan hệ trong đó đều bị hư hoại. Cả mạng lưới bị phá vỡ. Đây là Sáng Thế Ký 2 nhìn vào con người trong bối cảnh là một tạo vật trong công cuộc sáng tạo, và các thông điệp nó mang lại rất rõ ràng và thực sự rất cần thiết. Tuy nhiên, có những vấn đề về khoa học và đặc biệt là hai vấn đề, tôi nghĩ là ở đây chúng ta cần lướt qua chúng. Một là: người tiền sử thì cho vào đâu? Nói cách khác là mối quan hệ giữa người hiện đại và người tiền sử. Vấn đề kia, tất nhiên, là câu hỏi lớn hơn nhiều: liệu con người có liên quan trực tiếp tới thế giới loài vật về mặt thể chất? - toàn bộ câu hỏi về tiến hóa. Thảo luận về tiến hóa sẽ dễ hơn nhiều nếu nó chỉ giới hạn ở thực vật và động vật. Chính việc cho con người vào học thuyết đó đã khơi lên khủng hoảng nghiêm trọng và thực sự đặt ra câu hỏi quan trọng.
Hãy xét đến mối quan hệ giữa chúng ta và người tiền sử trước đã. Vì người ta đã tìm thấy nhiều hài cốt và cho rằng sự sống con người bắt đầu tại Châu Phi, không phải ở Trung Đông theo vị trí trong Kinh Thánh, điều này đặt ra đủ loại câu hỏi. Chúng ta cần xét đến mối quan hệ giữa người hiện đại và người tiền sử.

Khoa học nói gì về điều này, Kinh Thánh nói gì, và có thể khiến chúng hòa hợp với nhau không? Trước tiên, hãy xét đến điều Kinh Thánh chép về nguồn gốc của loài người. Rõ ràng là Kinh Thánh chép rằng con người được dựng nên từ nguyên liệu ban đầu giống với động vật. Các loài vật được dựng nên từ bụi đất, chúng ta cũng được dựng nên từ chính những khoáng chất được tìm thấy trong lớp vỏ trái đất. Tôi tập hợp những khoáng chất trên cơ thể mình thì nó đáng giá khoảng 26,000 đồng, nó không ích gì cho lòng tự trọng của tôi, nhưng tôi biết rằng tất cả những nguyên tố đó sẽ trở về bụi đất, hỏa thiêu thì nhanh, chôn cất thì chậm hơn, nhưng chúng thuộc về đâu và đến từ đâu thì sẽ về nơi đó. Nên con người và các loại vật được dựng nên từ những thứ giống nhau, và cụm từ trong Sáng Thế Ký 2 rằng Đức Chúa Trời hà hơi vào bụi đất và con người trở nên một sinh linh - đừng để từ “linh” (linh hồn) đánh lừa bạn. Chính cụm đó cũng được dùng với các loài vật trong Sáng Thế Ký 1. Chúng được gọi là “sinh linh” vì trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ “linh hồn” nghĩa là một cơ thể có hơi thở và vì
vậy, vì cả các loài vật và con người đều được miêu tả là sinh linh, chúng là cùng một loại hữu thể. Chúng ta là những cơ thể có hơi thở.
Thế nên khi cơ thể có nguy cơ ngừng thở, bạn gửi SOS (Save Our Souls - Cứu Lấy Linh Hồn Chúng Tôi) thay vì SOB (Save Our Breath Cứu Lấy Hơi Thở của chúng tôi). Ý bạn là hãy cứu lấy cơ thể có hơi thở của tôi - đó là cách nói Hê-bơ-rơ. Một lần nữa, có người hỏi Lord Soper tại Hyde Park Corner rằng “Linh hồn ông hình gì?” và ông đáp “Hình thuôn,” đây là một thần học hay. Tôi là một linh hồn hình thuôn. Tôi sẽ được chôn trong một cái hộp hình thuôn - linh hồn tôi hình đó và người đó lại hỏi ông: “Thế linh hồn ở đâu trong thân thể?” và ông đáp: “Nơi âm nhạc ở trong cái đàn organ,” đây lại là một thần học hay vì bạn có thể tháo một cây organ hoặc piano thành từng mảnh mà không tìm thấy âm nhạc, nhưng nó có ở đó. Nó ở đó khi ai đó khiến nó trở thành một điều sống động. Điều này rất quan trọng vì từ “linh hồn” trong Sáng Thế Ký 2 đã khiến nhiều người lầm tưởng rằng loài người độc đáo là vì anh ta có một linh hồn. Không, từ linh hồn đó chỉ nghĩa là một cơ thể có hơi thở. Nhưng tôi nghĩ mình phải nói rằng Sáng Thế Ký 2 nói rất rõ về con người như một tạo vật đặc biệt và dường như không phù hợp khi tin rằng con người và vượn người ra từ cùng một đàn, ở đó có một mâu thuẫn trực tiếp. Khẳng định rằng con người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, rằng con người được trực tiếp dựng nên từ bụi đất mà không phải từ các loài vật và dựng nên theo hình ảnh của Chúa, dường như đặt anh ta vào một phân loại tạo vật rất đặc biệt. Từ Hê-bơ-rơ ‘bara’ (sáng tạo) được sử dụng ba lần, như tôi đã chỉ ra, với vật chất, sự sống và con người, như thể có điều gì đó rất mới mẻ và độc đáo về con người vậy.
Hiểu biết lịch sử về con người nhấn mạnh sự đồng nhất của nhân loại. Phao-lô, khi phát biểu tại thành A-then, đã nói rằng Chúa đã dựng nên chúng ta từ một dòng huyết, và điều đó là đúng. Tôi biết là có nhiều loại máu khác nhau, nhưng mọi điều trong lịch sử chỉ ra sự đồng nhất của nhân loại hiện tại. Tôi đã nghiên cứu một chút về khảo cổ nông nghiệp và thật thú vị là khảo cổ học nông nghiệp xác định nguồn gốc của việc trồng ngô và thuần hóa súc vật ở đúng chỗ mà Kinh Thánh đặt vườn Ê- đen. Những vết tích lâu đời nhất mà chúng ta có về nông nghiệp ở vùng đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ và phía nam Armenia, chính vị trí của Vườn Ê-đen. Tôi thấy đó là một minh họa thú vị. Nhưng khi chúng ta hỏi khoa học nói gì, thì nhiều người sẽ yêu cầu chúng ta xét đến phản đề sai lầm này. Khoa học đã thực hiện những cuộc điều tra sai lầm về người tiền sử, hay Kinh Thánh cho chúng ta những thông tin sai? Một lần nữa, người ta lại bắt chúng ta phải bác bỏ một trong hai. Ví dụ Hóa thạch người Piltdown (ở Sussex, Anh) là giả mạo - người ta phát hiện ra nó là hàm của một con lợn, và nhiều Cơ Đốc nhân tung hoa ăn mừng, reo hò “Hallelujah” và nói rằng “Đấy nhé, khoa học sai rồi.” Nhưng chúng ta phải thành thật và xem ai phát hiện ra rằng Piltdown là giả mạo.
Không phải Cơ Đốc nhân phát hiện ra điều đó; khoa học phát hiện ra rằng nó là giả. Bạn không thể kết luận hai chiều thế được, Cơ Đốc nhân ạ, bạn không thể nói là khoa học là sai vì hóa thạch Piltdown là đồ giả khi khoa học phát hiện ra nó là đồ giả. Chúng ta phải thành thật về tất cả những điều này, và rõ ràng là khoa học đã tìm ra những hài cốt nhìn rất giống chúng ta. Một số các thuật ngữ khác - Người Neanderthal, Người Bắc Kinh, Người Vượn Java, Người Úc rồi Lekkes - được cho rằng có niên đại tới bốn triệu năm trước và tìm thấy những hài cốt người tại Châu Phi. Giờ, người ta gần như chấp nhận rằng nguồn gốc của loài người được tìm thấy tại Châu Phi chứ không phải tại Trung Đông.
Niên đại của nó rất thú vị. Người ta nó rằng Người Tinh khôn (Homo Sapiens) có niên đại 30,000 năm; Người Neanderthal 40-150,000; Swanscombe 200,000; Erectus, tức là Người Trung quốc và
Java - 300,000; Người Úc - 500,000 và giờ là Người Châu Phi, hai triệu năm trăm ngàn, ba triệu, bốn triệu. Chúng ta nói gì về tất cả những điều này? Điều đầu tiên mà chúng ta cần nói cách mạnh mẽ là người ta chưa tìm được cái gì nửa người, nửa vượn. Có những hài cốt của người tiền sử, nhưng không có cái nào nửa nọ nửa kia.
Điều thứ hai mà tôi muốn nói là không phải tất cả những nhóm này là tổ tiên của chúng ta và điều đó cũng đã được công nhận, nên nhân loại học đang trong trạng thái thay đổi, và chúng không phải tổ tiên chúng ta.
Sự tiến hóa của máy bay siêu thanh 
Điều thứ ba: chúng không theo trình tự tăng dần. Bạn đã bao giờ thấy những bức hình về một con vượn dần dần đứng thẳng lên, và có một cái đầu to hơn không? Tôi có thể làm như vậy với máy bay. Nếu tôi có thể bày ra bức tranh về sự tiến hóa của máy bay siêu thanh thì nhìn tất cả đều rất gọn gàng, nhưng cái này không tự phát triển thành cái này, và chỉ làm ra một bức tranh về sự phát triển cũng chẳng chứng tỏ được điều gì.
Thực ra thì nó có chứng minh rằng có một bộ não làm nên những điều đó. Một số hài cốt lâu đời nhất của con người có những bộ não lớn hơn ngày nay và đi thẳng hơn, và thực ra người ta đang nhất trí rằng không có nhóm nào là tổ tiên của chúng ta, không phải người tinh khôn. Chúng ta xử trí vấn đề này như thế nào? Có thể có ba cách. Một là nói rằng người tiền sử là
con người trong Kinh Thánh và thứ chúng ta đang đào lên cũng giống như A-đam - được dựng nên theo hình ảnh của Chúa. Thậm chí một số người còn đưa ra giả thuyết rằng Sáng Thế Ký 1 là thợ săn thời đồ đá cũ, và Sáng Thế Ký 2 là nông dân thời đồ đá mới.
Đó là một khả năng. Hai là ở một thời điểm nào đó, người tiền sử trở thành con người trong Kinh Thánh, và ở một thời điểm nào đó, loài động vật giống động vật hoặc giống người này trở nên hình ảnh của Đức Chúa Trời, rồi người ta còn tranh luận xem một loài thay đổi hoặc tất cả đều thay đổi, và điều đó dẫn đến nhiều tranh luận hơn.
Khả năng thứ ba là người tiền sử không phải là con người trong Kinh Thánh. Họ có ngoại hình ít nhiều giống chúng ta, họ sử dụng các công cụ, nhưng không có vết tích về tôn giáo hay sự cầu
nguyện. Họ không được dựng nên theo hình ảnh của Chúa. Chọn cái nào trong ba cái đây? Tôi sẽ không cho bạn biết suy nghĩ của mình vì tôi cảm thấy nhân loại học đang trong trạng thái thay đổi và chúng ta không cần phải trả lời câu hỏi đó, và kể cả chúng ta có thể, thì nó có thật sự quan trọng không? Tôi nghĩ đến việc hai con tinh tinh cãi nhau và con này bảo con kia là: “Con là người giữ em con sao?”

Hãy chuyển sang tiến hóa là vấn đề lớn hơn - không phải là chúng ta có liên quan gì đến người tiền sử, mà là chúng ta có liên quan gì đến các loài vật? Tôi phải cho bạn một số thuật ngữ để tiếp tục, nhờ đó chúng ta biết chúng ta đang nói đến điều gì. Hầu hết đều cho rằng tiến hóa là một học thuyết của Charles Darwin, nhưng thực ra không phải như vậy. Nó là của Aristotle và trong thời hiện đại, chính Erasmus Darwin đã đề xướng nó. Đó là ông của Charles, nhưng Charles đã góp nhặt từ người ông vô thần của mình và khiến nó trở nên nổi tiếng. Có những thuật ngữ nhất định mà chúng ta cần biết. Đầu tiên là biến dị, là niềm tin rằng có những thay đổi nhỏ và từ từ về hình thái được truyền cho mỗi thế hệ. Nên mỗi thế hệ thay đổi chút ít và truyền sự thay đổi lại. Hai là, từ những biến dị đó có chọn lọc tự nhiên, nghĩa là những loài phù hợp nhất với môi trường của chúng sẽ sống sót. Nói cái khác, với những đống than ở đông bắc nước Anh, loài bướm đen thích hợp để ngụy trang hơn bướm trắng, nên loài bướm trắng chết đi và loài bướm đen sống sót.
Giờ đây, vì những đống xỉ than đã biến mất ở vùng quê tôi, vùng đông bắc, những con bướm trắng đang trở lại, và những con bướm đen đang biến mất. Loài nào phù hợp hơn với môi trường của nó? Sự chọn lọc tự nhiên đang diễn ra để những loài thích nghi hơn với môi trường của chúng sẽ sống sót. Sự chọn lọc này thuộc về thiên nhiên, nó tự diễn ra trong thiên nhiên mà không cần sự giúp đỡ nào từ thiên nhiên bên ngoài; thiên nhiên tự chọn lọc những loài phù hợp hơn. Nhưng quá trình chậm rãi, từ từ đó đã và đang thay đổi. Một người Pháp tên Lamarque nói rằng thay vì những sự thay đổi chậm rãi, từ từ, đã có những thay đổi lớn và đột ngột - ông ta gọi đó là đột biến. Nó giống với cái cầu thang hơn là thang máy, và người ta đã và đang tranh luận về hai điều này.
Có hai thuật ngữ nữa mà chúng ta có thể xét đến. Đầu tiên - tiến hóa vi mô - tin rằng đã và đang có sự thay đổi nhất định trong những nhóm động vật nhất định, trong nhóm ngựa hoặc nhóm chó, và tôi tin rằng khoa học chắc chắn đã chứng minh được về tiến hóa vi mô. Nhưng tiến hóa vĩ mô là niềm tin rằng mọi loài động vất xuất phát từ cùng một nguồn gốc và tất cả đều liên quan đến nhau, rồi đều bắt nguồn từ cùng một dạng sự sống đơn giản và phát triển thành một sinh vật ngày càng phức tạp hơn. Một từ khác mà tôi muốn giới thiệu với các bạn, và cực kỳ quan trọng với tôi, là từ “đấu tranh” (struggle). Nó nghĩa là sự sống còn của loài phù hợp nhất và đó là một khái niệm gây nhiều đau đớn trong thế kỷ 20, khiến con người đau khổ hơn hầu hết mọi tư tưởng khác. Lát nữa tôi sẽ cho bạn biết tại sao.
Tôi sẽ không bảo vệ cho quan điểm ủng hộ hay chống lại tiến hóa, ngoài việc chỉ ra rằng nó vẫn là một học thuyết. Nó chưa được chứng minh và thực tế, chúng ta càng có nhiều bằng chứng từ sự sống hóa thạch thì nó càng có vẻ không phải là một học thuyết thỏa đáng về cách xuất hiện của các dạng sự sống khác nhau. Ví dụ, bằng chứng hóa thạch của hầu hết các nhóm khác nhau xuất hiện cùng lúc, khá nhanh trong kỷ Cambri. Chúng không dần xuất hiện theo thời kỳ, chúng xuất hiện gần như đồng thời. Hai là, những dạng phức tạp của sự sống và những dạng đơn giản của sự sống xuất hiện cùng nhau. Không có một chuỗi từ đơn giản đến phức tạp. Ba là, có rất ít những hóa thạch trung gian như cầu nối giữa loài này và loài kia. Tiếp theo, tất cả sự sống - ngay từ đầu - đều rất phức tạp. Nó luôn có ADN trong nó. Tiếp nữa, đột biến, những thay đổi đột ngột, thường biến dạng và khiến các sinh vật chết đi. Tiếp nữa, việc phối giống thường dẫn đến mất khả năng sinh sản, và tôi có thể tiếp tục như vậy. Trên hết, những thống kê không cho phép điều này xảy ra. Không có đủ thời gian, nên mới có một thuyết mới là sự sống bắt đầu từ một hành tinh khác, lơ lửng trong không trung và rơi xuống đây. Ở đây thực sự không có đủ thời gian, về mặt thống kê, cho tất cả những loài này phát triển.
Tôi muốn chuyển sang một điều khá khác: tác động của học thuyết này trên loài người. Nó không chỉ khiến chúng ta thêm kiêu ngạo khi nghĩ rằng mình đã đi được xa đến nỗi cứ tiến hóa lên, tiến hóa lên, rồi cứ tiếp tục như vậy, tiếp tục như vậy theo cách phát biểu của một Thủ tướng Anh, nhưng tôi sẽ cho bạn thấy ngay điều đã xảy ra với từ đấu tranh này. Bạn sẽ tìm thấy nó trong chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ. Những người như John. D. Rockefeller nói rằng “Kinh doanh là sự sống còn của kẻ phù hợp nhất” và điều đó dẫn đến những đau khổ khôn xiết. Bạn tìm thấy nó trong chủ nghĩa phát xít. Cuốn sách của Adolf Hitler gọi là Cuộc đấu tranh của tôi, và ông ta tin vào sự sống còn của giống loài phù hợp nhất, và giống loài phù hợp nhất là chủng tộc người Aryan ở Đức và nhất định không phải là người Do Thái. Bạn sẽ tìm thấy nó trong chủ nghĩa cộng sản. Karl Max viết về sự đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, và phải được thể hiện trong cuộc cách mạng. Bạn sẽ tìm thấy nó, từ “đấu tranh” này trong những ngày đầu của chủ nghĩa thực dân, khi con người bị xóa sổ nhân danh sự tiến bộ, và tôi dám nói rằng tư tưởng này, sự sống còn của kẻ phù hợp nhất, khi áp dụng với con người, đã gây ra nhiều đau khổ hơn mọi tư tưởng khác. Nhưng nó cũng đặt chúng ta trước hai lựa chọn lớn.

Chúng ta đang thật sự nói gì khi xem xét vấn đề tạo hóa và tiến hóa? Nó đặt ra cho chúng ta một lựa chọn về trí tuệ. Nếu bạn tin vào tạo hóa, bạn tin vào một Đức Chúa Trời Cha. Nếu bạn tin vào tiến hóa, dường như bạn ủng hộ mẹ thiên nhiên, một quý bà không tồn tại. Nếu bạn tin vào tạo hóa, bạn tin rằng vũ trụ này là kết quả của một lựa chọn cá nhân; hoặc (vào tiến hóa) một sự tình cờ bâng quơ: rằng có một mục đích được định sẵn theo tạo hóa, nhưng theo tiến hóa chỉ là một kiểu mẫu ngẫu nhiên. Với tạo hóa, vũ trụ là một tác phẩm siêu nhiên; trong tiến hóa, nó là một quá trình tự nhiên. Theo tạo hóa, cả vũ trụ là một tình huống mở, mở với sự can thiệp cá nhân, của cả Chúa và con người. Với tiến hóa, chúng ta có tự nhiên như một hệ thống khép kín tự vận hành. Với tạo hóa, chúng ta có khái niệm về Đấng Chu cấp, rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến sự sáng tạo của Ngài, chu cấp cho nó và canh chừng nó. Ở đây, chúng ta chỉ có sự trùng hợp; khi bất cứ điều gì tốt xảy ra, đó chỉ đơn thuần là sự trùng hợp. Ở bên này, chúng ta có đức tin dựa thực tế, ở bên kia là đức tin dựa trên sự tưởng tượng - vì nó đơn giản chỉ là một học thuyết. Ở bên này, Chúa được tự do dựng nên gì đó và dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài; ở bên kia, con người được tự do tạo ra thần thánh theo bất kỳ hình tượng nào mà anh ta chọn theo trí tưởng tượng của mình. Đó là kiểu khác biệt trí tuệ khi nghĩ đến tạo hóa và tiến hóa.

Nhưng khi nhìn xa hơn, chúng ta thấy đằng sau nó là một lựa chọn về đạo đức. Câu hỏi mà hiện chúng ta đang cố gắng trả lời là: Tạo sao người ta lại ôm ấp thuyết tiến hóa và giữ nó một cách gần như cuồng tín? Câu trả lời ở sâu bên trong. Nó là lựa chọn duy nhất nếu bạn muốn tin rằng không có Đức Chúa Trời ở trên chúng ta. Theo tạo hóa, Đức Chúa Trời là Chúa, còn theo tiến hóa, con người là Chúa. Tạo hóa - chúng ta ở dưới thẩm quyền thiên thượng, nhưng với tiến hóa, chúng ta là con người tự trị và có thể tự quyết định nhiều điều cho chính mình. Với tạo hóa, có những tiêu chuẩn tuyệt đối về đúng sai. Ở góc nhìn kia, chúng ta chỉ có những tình huống tương đối. Chúng ta nói đến bổn phận và trách nhiệm, nhưng ở bên kia, chúng ta nói đến nhu cầu và quyền lợi. Ở kia, chúng ta có sự phụ thuộc như trẻ sơ sinh, chúng ta trở nên như trẻ nhỏ và nói đến một Cha thiên thượng; nhưng ở đây, con người tự hào vì sự độc lập như người trưởng thành, con người đạt tới độ trưởng thành, không cần Chúa nữa. Ở kia, con người là một tạo vật sa ngã; ở đây, anh ta đang tiến hóa lên. Ở kia, sự cứu rỗi của người yếu đuối; ở đây, sự sống còn của kẻ mạnh.
Nietzsche, triết gia đứng sau Hitler, nói rằng ông ta ghét Cơ Đốc giáo vì nó tiếp tục giữ những người yếu đuối, nó chăm nom người bệnh và người hấp hối, nhưng triết lý của ông ta là sự sống còn
của kẻ mạnh. Ở kia, đúng đắn thì có sức mạnh, khi bạn làm điều đúng đắn thì bạn mạnh mẽ; còn ở đây thì sức mạnh là đúng. Một quan điểm dẫn đến tình hình hòa bình, quan điểm kia dẫn đến chiến tranh. Nó luôn như vậy. Một quan điểm nhấn mạnh sự vâng phục. Quan điểm kia nói rằng: hãy nuông chiều bản thân. Một nói rằng đức tin, hy vọng và tình yêu thương là ba đức hạnh chính trong cuộc sống; cái còn lại nói rằng định mệnh, sự bất lực và may mắn là nơi chúng ta thuộc về. Một dẫn đến thiên đàng, cái còn lại dẫn đến địa ngục. Tôi đã vạch ra điều này để bạn có thể thấy học thuyết đó bắt đầu dẫn đến đâu, khi bạn nghĩ rằng con người chỉ là một loài động vật phát triển lên. Tôi không ngạc nhiên khi thấy những đứa trẻ được dạy cả chục năm ở trường rằng “Con bắt nguồn từ các loài vật,” khi chúng rời trường học, chúng cư xử y như vậy.
Tôi đã cho bạn một cảm nhận về vấn đề này. Trong chương tới, chúng ta sẽ xem con người đã sa ngã như thế nào và những tác động của điều đó trên gia đình anh ta, xã hội của anh ta, và rất nhiều điều khác.
SÁNG THẾ KÝ - Phần 4 - Từ Ê-đen Đến Tháp Ba-bên
Khi Chúa sáng tạo xong thế giới của chúng ta, Ngài nói rằng điều đó thật rất tốt đẹp - và điều đó bao gồm cả con người. Nhưng ai dám nói rằng thế giới hiện tại thật rất tốt đẹp? Rất ít người khẳng định như vậy. Có cái gì đó bị rối loạn. Vậy có gì không ổn và nó không ổn từ khi nào? Sáng Thế Ký 3 đưa ra câu trả lời cho câu hỏi đó. Cả ba mối quan hệ giữa con người và Chúa, giữa con người và tự nhiên, giữa con người với nhau, đáng buồn thay, đều không ổn. Cái nào không ổn trước? Dường như thế giới của chúng ta bị rủa sả chứ không phải được phước; chúng ta đã trở nên bị xa lánh.
Chúng ta hãy nhìn vào ba thực tế của sự tồn tại chúng ta. Thực tế số 1, sự sinh nở rất đau đớn. Thực tế số 2, cuộc sống rất khó nhọc. Thực tế số 3, sự chết chắc chắn sẽ đến. Tại sao? Tại sao sự sinh nở lại đau đớn? Tại sao cuộc sống lại khó nhọc? Tại sao sự chết chắc chắn phải đến? Lại một lần nữa, Sáng Thế Ký 3 cho chúng ta câu trả lời. Triết học cho chúng ta rất nhiều câu trả lời khác nhau; một số triết gia nói rằng phải có một vị thần xấu cũng như một vị thần tốt. Gần đây, họ càng hay nói rằng có một vị thần tốt nhưng làm việc không được tốt lắm và vì vậy, họ cố tìm một giải thích nào đó cho nguồn gốc của cái ác. Sáng Thế Ký 3 cho chúng ta bốn hiểu biết cực kỳ quan trọng về vấn đề này. Một là, trước đây cái ác không luôn ở trong thế gian. Hai là, trước đây nó không bắt đầu với con người. Ba là, nó không phải là về vật chất mà là về đạo đức. Một số triết gia nói rằng chính phần vật chất của vũ trụ là nguồn của cái ác, hoặc, nói ở khía cạnh cá nhân, chính thân thể bạn là nguồn của sự cám dỗ. Đó không phải là câu trả lời của Kinh Thánh. Hiểu biết thứ tư là cái ác không tự tồn tại- có những con người độc ác. Độc ác là một tính từ, không phải một danh từ. Chính con người trở nên độc ác.
Chúng ta đang xem xét, trong Sáng Thế Ký 3, một sự kiện có thật trong lịch sử có thật và địa lý có thật. Chúng ta được cung cấp nơi chốn và thời gian của sự kiện đó. Ngay từ buổi đầu của lịch sử nhân loại, một thảm họa đạo đức khủng khiếp đã xảy ra. Đây không phải là chuyện ngụ ngôn hay thần thoại, nhưng đúng là ở đây chúng ta có một loài bò sát - giống con thằn lằn hơn là rắn vì nó có chân - và hầu hết những bức tranh trong Trường Chúa nhật mà tôi đã thấy là hoàn toàn sai, chúng chỉ vẽ một con rắn cắn quả táo trong miệng nó hay đại loại như vậy. Đó là một con thằn lằn, nhưng một con thằn lằn biết nói; chúng ta có thể tin vào điều đó không? Có ba khả năng. Một, nó là ma quỷ ngụy trang và hắn là bậc thầy ngụy trang. Một khả năng khác là Chúa cho một con vật có thể nói chuyện; khả năng khác nữa là con vật bị một linh ác khống chế. Khi Chúa Giê-su cho 2000 con lợn xuống vách triền dốc Ga-đa-ra, các quỷ đã nhập vào đàn lợn. Sa-tan hoàn toàn có thể khống chế một con vật và vì vậy tự ngụy trang thành một trong những tạo vật của Chúa, điều này có xu hướng lừa A-đam và Ê-va vì Sa-tan đang đặt chính hắn ở dưới họ - và hắn là tạo vật xảo quyệt nhất. Hắn, thực ra là một thiên sứ sa ngã.
Có những thiên sứ. Những người theo thuyết tiến hóa dường như có vấn đề với thiên sứ, về việc họ đến từ đâu, nhưng thiên sứ có thật, họ thông minh hơn chúng ta, mạnh mẽ hơn chúng ta. Tôi đã giải thích về những cái cây. Đáng chú ý là Sa-tan tìm đến Ê-va vì phụ nữ, nói chung, dễ tin người hơn đàn ông. Đàn ông là những tạo vật cực kỳ đa nghi. Nhưng phụ nữ tin người hơn, nên dễ bị lừa và dễ nhầm lẫn hơn. Nhưng quan trọng hơn là Sa-tan đang phá vỡ trật tự của Chúa và cư xử với Ê-va như thể bà là đầu gia đình. Thế nhưng, tôi lại thấy hổ thẹn cho chính giới của mình, vì thực ra A-đam đang đứng cạnh Ê-va mà chẳng hề mở miệng nói nửa lời. Chúng ta cần nói về điều đó một cách mạnh mẽ. Rất nhiều khi trên truyền hình, khi người ta phỏng vấn một cặp vợ chồng sau một bi kịch cá nhân nào đó, người chồng chỉ ngồi đó câm bặt và bắt vợ phải nói hết. Lẽ ra anh ta nên bảo vệ cô ấy, và lẽ ra A-
đam nên cãi lý với Sa-tan vì Ê-va chưa nghe lời của Chúa. A-đam thì nghe rồi, và lẽ ra ông nên nói với Sa-tan rằng hắn đang trích dẫn sai lời Chúa. Lẽ ra anh ta nên bảo vệ cô ấy, và lẽ ra A-đam nên cãi lý với Sa-tan vì Ê-va chưa nghe lời của Chúa.
Bạn có thể trích dẫn sai lời của Chúa theo ba cách: một là thêm gì đó vào chúng; cách khác là bớt gì đó đi, và cách thứ ba là thay đổi những gì đã có. Thực tế, nếu bạn đọc kỹ thì Sa-tan đã làm cả ba cách đối với mạng lệnh của Chúa. Sa-tan biết rất rõ Kinh Thánh của Ngài, nhưng hắn cũng trích dẫn sai, và hắn phạm phải cả ba lỗi. Tôi e rằng điều này cũng không có gì lạ giữa vòng các nhà giảng đạo. Thêm vào lời của Chúa, bớt gì đó đi hoặc thay đổi nó theo bất cứ cách nào là xâm phạm vào một điều bất biến.
Chúng ta không phải không biết những mưu chước của Sa-tan và chúng ta biết hắn đã chế ngự Ê- va như thế nào, và hắn cũng sẽ chế ngự chúng ta theo cách đó. Hắn làm như vậy theo ba bước. Hắn khiến bạn nghi ngờ trong tâm trí, ham muốn trong tấm lòng và rồi bất tuân bằng ý chí; đó luôn là chiến lược của hắn. Hắn khiến bạn nghĩ về điều gì đó sai trái trước, thường là bằng việc hiểu sai lời Chúa, rồi hắn khiến lòng bạn muốn có điều đó, khao khát nó, và sau khi hắn khiến tâm trí bạn suy nghĩ về nó và tấm lòng bạn ham muốn nó, bạn trở nên một tai nạn chực chờ sẵn - và đến đúng thời điểm, bạn sẽ bất tuân bằng ý chí. Hắn đã chế ngự Ê-va như vậy đó. Chúng ta cần rút ra bài học từ điều này.
Bây giờ, chúng ta thấy một khía cạnh rất khác trong bổn tính của Chúa mà trước đây chưa xuất hiện: khía cạnh phán xét tội lỗi. Đó là khía cạnh thánh khiết của bổn tính Ngài. Điều này chưa được đả động đến trong Sáng Thế Ký 1 và 2, nhưng giờ đây, nó xuất hiện rất rõ. Chúa ghét tội lỗi và Ngài phải xử lý nó. Nếu Ngài thật sự là một Đức Chúa Trời tốt lành thì Ngài không thể để con người xấu xa thoát tội. Đó là thông điệp của Sáng Thế Ký 3. Những sự trừng phạt của Ngài ở thể thơ. Tôi hy vọng là bạn có một cuốn Kinh Thánh chỉ cho bạn khi nào thì lời Chúa ở thể thơ còn khi nào nó ở thể văn xuôi. Ở thể văn xuôi, nó trông giống một cột báo viết dàn sang hai bên, nhưng khi ở thể thơ, bạn sẽ thấy nhiều khoảng trống và những dòng ngắn hơn. Khi Chúa nói ở thể văn xuôi, Ngài đang truyền đạt những suy nghĩ từ tâm trí Ngài đến tâm trí bạn, nhưng khi Ngài làm thơ, Ngài đang truyền đạt cảm xúc từ tấm lòng Ngài đến tấm lòng bạn.
Một câu trong Sáng Thế Ký 1 ở thể thơ và một câu trong Sáng Thế Ký 2 ở thể thơ, và cả hai đều về tình dục. Điều đó không tuyệt vời sao? Hai bài hát tình yêu đầu tiên - Chúa làm thơ khi Ngài nghĩ đến người nam và người nữ trong Sáng Thế Ký 1 và A-đam làm thơ khi ông bắt gặp cô gái trần truồng xinh đẹp, khi ông tỉnh dậy sau một cuộc phẫu thuật gây mê. Bạn có biết là A-đam thực sự nói gì không? Tôi sẽ dịch đúng theo tiếng Hê-bơ-rơ. Ông nói: “Ôi chà chà! Đã quá,” ông nói: “Đã quá!” Đến vài tuần sau thì ông không thích thú gì lắm khi nói: “ấy là người nữ Chúa đặt bên con.” Chúng ta thay đổi chóng mặt. Nhưng hai câu thơ nhỏ trong chương 1 và 2 là sự vui thích của Chúa và sự vui thích của con người với tình dục.
Nhưng trong Sáng Thế Ký 3, những câu thơ tiết lộ một cảm xúc khá khác trong Chúa - tức giận, bực bội, khó chịu, hoặc theo thuật ngữ thần học là cơn giận của Chúa. Chúa cảm thấy rõ điều này, rằng Ê-đen đã bị hủy hoại. Tất cả đều hỏng hết và Chúa cũng biết rằng nó sẽ dẫn đến điều gì. Từ chương 4 đến 11, chúng ta thấy những kết quả của chương 3. Chương 3 thường được coi là Sự Sa ngã, khi con người ngã khỏi trạng thái tươi đẹp đó. Cứ thử tưởng tượng rằng điều đó không xảy ra. Cứ thử tưởng tượng rằng A-đam không cố gắng đổ lỗi cho Ê-va, hay đổ lỗi cho cả Chúa. Ấy là người nữ mà Ngài đặt bên con. Ông đang cố gắng rũ bỏ trách nhiệm. Chẳng hạn như khi Chúa hỏi, A-đam trả lời rằng: “Con đã làm sai và con thú nhận điều đó” - và Chúa tha thứ ngay cho ông. Thì lịch sử hẳn đã khác.
Bạn thấy đó, khi Chúa hỏi A-đam những câu hỏi: “Con ở đâu?,” Chúa thừa biết là A-đam ở đâu - đây là một câu hỏi ở đầu phiên tòa. Con cho mình là vô tội hay có tội? Đó mới là điều Chúa đang hỏi. Ê-va, con đã đi đâu đó; con đã làm gì đó? Ngài muốn họ thú nhận - vì khi họ thú nhận, Chúa tha thứ cho họ. Ngài đang chờ đợi điều đó, nhưng ông A-đam đáng thương ấy, ẩn mình trong bụi cây, nói rằng ông không mặc quần áo. Thật đáng thương; bạn đã bao giờ thấy hình dạng của chiếc lá vả chưa? Bạn có thể tưởng tượng ra chính mình đang đan những chiếc lá đó vào với nhau để che thân không? Thật thảm hại. Nhưng Sự Sa ngã đó đáng bị trừng phạt và đúng như vậy, A-đam bị trừng phạt liên quan đến công việc của ông, còn Ê-va liên quan đến gia đình.
Điều đó rất đáng chú ý. Loài bò sát trở thành một con rắn. Có lần tôi vào cái ga-ra toàn rắn khổng lồ. Đó là sở thích của một người, tôi không tài nào hiểu nổi sở thích đó. Cậu ta nâng một con trăn xiết mồi hay đại loại như vậy, và nói: “Để tôi cho anh xem cái này,” và vạch những cái vảy trên thân trăn lên, khoảng 2/3 từ dưới lên, và dưới những cái vảy là cái chân nhỏ xíu. Cậu ta nói: “Anh có biết là con rắn nào cũng có những cái chân không? “Chúng không đủ dài để chạm xuống đất nên nó phải bò bằng bụng. Tôi nói tôi không hề biết; nhưng hãy đoán xem tôi nghĩ gì khi cậu ta nói vậy! Nên Chúa tách A-đam và Ê-va khỏi sự sống, và giờ đây, trong các chương từ 4-11, những ảnh hưởng của nó giống như ném tảng đá xuống hồ. Những gợn sóng của nó cứ thế lan ra, bao trùm phần thời gian và không gian ngày một gia tăng. Chúng truyền lại qua các thế hệ và lan ra, qua các quốc gia. Sự sa đọa về đạo đức lan ra mọi nền văn hóa và sự tiến bộ từ đây trở đi, mọi nghệ thuật và khoa học từ đây trở đi, mọi đời sống xã hội và chính trị từ đây trở đi.
Từ chương 4 đến 11, Sáng Thế Ký trải qua nhiều thế kỷ, nhưng Chúa chọn ra những điều ảnh hưởng tới Ngài và mục đích của Ngài nhất. Chúa có cảm xúc, điều đó xuất hiện rất mạnh mẽ và Ngài có thể vui và Ngài có thể buồn; Ngài có thể tức giận và Ngài có thể đau lòng. Chúng ta sắp nghiên cứu về những cảm xúc của Ngài - phản ứng cảm xúc của Ngài với những gì đang diễn ra dưới đó, trên đất, và ba sự kiện quan trọng nhất với Ngài trong nhiều thế kỷ tiếp đó là: Ca-in, và vũ khí hủy diệt hàng loạt ra từ dòng dõi của Ca-in; hai là Nô-ê và con tàu của ông; và ba là Nim-rốt và tòa tháp của ông. Ba sự kiện này bao trùm một thời gian dài trong lịch sử loài người, nhưng đây là ba điều quan trọng nhất với Chúa và điều Ngài sắp làm với nhân loại sa ngã của chúng ta.
Hãy xét đến Ca-in trước. Có người đã chỉ ra rằng tội lỗi của người nam đầu tiên khiến người nam thứ hai giết người nam thứ ba. Đây là gia đình của chính A-đam, và cậu con cả của ông giết cậu con thứ, và vì cùng một lý do khiến người ta giết Chúa Giê-su nhiều thế kỷ sau - lòng đố kỵ. Lòng đố kỵ là nguyên do cho vụ giết người đầu tiên trong lịch sử và vụ giết người tệ hại nhất trong lịch sử. Đó là một điều khủng khiếp, nhưng nếu thành thật, chúng ta đều kinh nghiệm nó theo cách này hay cách khác: đố kỵ với ai đó. Ca-in và A-bên - Ca-in nghĩa là “đạt được” vì Ê-va nói tôi đã đạt được (lấy được) nó từ Chúa, nên ông được gọi là đạt được.
A-bên được gọi là hơi thở, hay hơi nước. Ông bị bệnh hen hay ông có tạng người yếu? Có thể. Chúa ưu ái đứa nhỏ hơn trong hai đứa, Ca-in và A-bên. Chúa thường ưu ái đứa nhỏ hơn như sau này chúng ta sẽ thấy, vì Ngài không muốn ai nghĩ rằng họ tự động có quyền với những tài năng và sự thừa kế của mình. Nên Chúa thường chọn đứa nhỏ hơn, nhưng đó không phải lý do mà Ngài chọn lễ vật của A-bên mà không chọn của Ca-in. Lý do là A-bên đã học từ cha mẹ mình rằng của lễ duy nhất đáng cho Chúa, và đáng để tội nhân dâng lên, là của lễ bằng huyết, kết quả của một sự sống bị tước đi trong sự chết. Khi Chúa che đậy tội lỗi và sự hổ thẹn của cha mẹ ông, A-bên biết rằng Chúa đã giết các con vật để làm như vậy. Chút tính bông đùa trong tôi thích chỉ ra rằng chính Chúa đã làm ra chiếc áo choàng lông đầu tiên, nhưng chính Chúa đã giết con gì đó và mặc cho A-đam và Ê-va. Huyết đổ ra để che đi nỗi ô nhục của họ.
Đó là một nguyên tắc bắt đầu ngay tại đó và cứ thế tiếp diễn cho đến Đồi Sọ (Calvary). A-bên biết điều đó, nên khi A-bên đến thờ phượng Chúa, ông đã mang đến một con sinh tế. Ca-in chỉ mang thổ sản. Ông tổ chức một bữa tiệc thu hoạch nho nhỏ và Kinh Thánh chép rằng Chúa đoái đến A-bên và lễ vật của ông. Điều này khiến Ca-in tức giận. Chúa đã cảnh báo Ca-in: hãy thật cẩn thận, con đang ở một thế rất nguy hiểm. Tội lỗi đang rình rập trước cửa, chỉ chực xông vào và vồ lấy con. Nhưng Ca-in không nghe, và bạn biết phần còn lại của câu chuyện rồi đấy. Ông lừa em mình, bịa ra một cái cớ để dụ nó ra khỏi nhà rồi giết nó, chôn nó rồi chối bay chối biến, nói rằng ông không liên quan gì đến nó. Chao ôi, tội chồng tội!
Ở đây xuất hiện một khuôn mẫu là người xấu ghét người tốt và người không tin kính ghen ghét người tin kính, và điều này sẽ gây ra một sự chia rẽ kéo dài suốt phần còn lại của lịch sử loài người. Đây là một thực tế lạ lùng. Chính Plato đã nói rằng nếu có một người thực sự tốt sống trên đất thì anh ta sẽ bị đóng đinh. Ông nói điều đó nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giê-su đến. Chúng ta sống trong một thế giới sa nghĩ khi điều thiện bị ghét bỏ, nơi người ta nói rằng: “Ôi dào, có ai hoàn hảo đâu” để biện hộ cho điều ác trong chính họ; và bất cứ ai thách thức lương tâm của họ đều bị ghét bỏ. Chúa Giê-su nói rằng: thế gian ghét Ta, nó sẽ ghét con nếu con sống đúng đắn. Đó là một thực tế. Việc người xấu căm ghét người tốt là một thực tế trong lịch sử loài người. Chúng ta có thể nói rằng A-bên là người tử đạo đầu tiên vì cớ sự công chính. Thực ra không chỉ tôi mà Chúa Giê-su cũng nói vậy. Ngài nói máu của người công bình đã đổ ra từ A-bên cho đến Xa-cha-ri - và, tất nhiên, báo hiệu rằng Ngài chính là người kế tiếp.
Ca-in sinh ra một dòng dõi không tin kính và thật thú vị khi biết điều gì gắn với dòng dõi đó. Âm nhạc ra từ dòng dõi đó. Nghề luyện kim ra từ dòng dõi đó, và lần đầu tiên kim loại rèn ra là dùng để làm vũ khí hủy diệt hàng loạt, khởi xướng những thù hằn và khủng bố liên miên. Lần đầu tiên vũ khí được sử dụng là cho những hoạt động khủng bố từ dòng dõi của Ca-in. Đô thị hóa ra từ dòng dõi của Ca-in. Chính dòng dõi của Ca-in bắt đầu xây dựng các thành phố. Thành phố có chức năng gì? Nó tập trung tội nhân vào một chỗ, nên nó tập trung tội lỗi vào một chỗ, và các thành phố trở nên tội lỗi hơn vùng quê vì sự tập trung này. Nên bạn có thể thấy rằng mọi điều mà chúng ta gọi là sự tiến bộ của con người đều là vết nhơ từ Ca-in. Dấu ấn của Ca-in ở trên chúng, và đó là sự giải nghĩa theo Kinh Thánh về văn minh: rằng dù những phát hiện của chúng ta có tuyệt vời đến đâu, chúng ta có tiến bộ nhiều đến thế nào thì nó cũng luôn có vết nhơ của sự giết chóc trong đó. Theo tôi, điều đau lòng là gần như mọi sự can thiệp của con người đã được dùng để giết chóc và một số trong đó đã được dùng để giết chóc trước khi dùng cho những mục đích lành mạnh. Tôi nghĩ việc phân tách nguyên tử chỉ là một ví dụ.
Chế độ đa thê ra từ dòng dõi Ca-in. Tới tận thời điểm đó, một người nam và một người nữ kết hôn với nhau, trọn đời, nhưng qua dòng dõi của Ca-in, người ta bắt đầu có nhiều vợ và chúng ta biết rằng ngay cả Áp-ra-ham, Gia-cốp và Đa-vít cũng lấy nhiều vợ. Tất cả đều bắt nguồn từ Ca-in. Nhưng đồng thời có cậu em thứ ba, người con thứ ba của A-đam và Ê-va, Sết. Với người này, bạn thấy một dòng dõi khác, một dòng dõi tin kính, và Kinh Thánh chép rằng từ dòng dõi của Sết, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Chúa, “Always” - Đấng Hằng hữu. Nên bạn thấy đó, ở đây có hai dòng dõi phát triển và chúng xuyên suốt lịch sử loài người và sẽ đến tận cuối cùng, tới ngày mà hai dòng dõi đó được phân tách mãi mãi. Nhưng chúng ta sống trong một thế giới có dòng dõi của Ca-in và dòng dõi của Sết, và bạn chọn xem mình thuộc dòng dõi nào và chọn sống theo kiểu gì.
Đó là sự kiện quan trọng đầu tiên và Chúa phán rằng Ngài là Đấng giữ A-bên. Ca-in nói: “Con là người giữ em con sao?” Chúa phán: Là ta, và huyết của nó đang kêu thấu đến ta. Chúa để tâm đến mọi tội giết người. Ngài quan tâm đến; đó là gia đình của Ngài. Thật thú vị. Sự kiện quan trọng tiếp theo là con tàu của Nô-ê, câu chuyện này quá nổi tiếng, không chỉ từ trong Kinh Thánh nhưng có nhiều câu chuyện dân gian về một trận lụt trên toàn cầu, tìm thấy trong nhiều nền văn hóa khác nhau. Ký ức chủng tộc ở đâu đó về sự kiện này đã xuất hiện ở mọi nơi, nhưng ở đây, chúng ta có nguồn gốc của những câu chuyện đó. Người ta đã đặt câu hỏi không biết nó có thật không, và tôi nghĩ câu hỏi để ngỏ là cơn lụt xảy ra trên khắp địa cầu, hay chỉ bao phủ thế giới đã biết vào thời đó - toàn bộ lưu vực Trung Đông, sau này được gọi là Lưỡng Hà, nơi vùng đồng bằng rộng lớn mà sông Ti-gơ-rít và Ơ-phơ-rát chảy qua, thật sự là bối cảnh cho mọi câu chuyện thời đầu này. Nhiều năm trước, một người Anh tên Leonard Woolley gửi điện báo cho tờ The Times ở London rằng: “Chúng tôi đã tìm thấy Cơn Nước lụt!” Họ đã tìm thấy khoảng hơn 5 mét bùn dưới lớp cát và đất sét ở đồng bằng Lưỡng Hà và ông khẳng định rằng họ đã tìm thấy Cơn Nước lụt. Đúng là họ đã tìm thấy một trận lụt và rõ ràng là có nhiều hơn một trận lụt có sức tàn phá trên cả vùng này, và từ đó, họ đã tìm thấy nhiều tàn tích. Họ có tìm thấy đúng Cơn Nước lụt đó không thì tôi nghĩ đây vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ. Tôi không biết bạn đã xem những chương trình truyền hình về việc tìm chính con tàu Nô-ê chưa. Người ta đã và đang nghiên cứu những thứ nhìn giống như tàn tích của một con tàu lớn. Chúng ta sẽ xem nó có phải hay không.
Hình ảnh về tàn tích của cơn nước lụt
Kinh Thánh không quan tâm nhiều đến khía cạnh vật chất của câu chuyện này bằng khía cạnh đạo đức. Đó là điều cốt yếu. Tại sao điều này lại xảy ra? Câu trả lời thật đáng sợ. Bởi vì Chúa lấy làm tiếc vì Ngài đã dựng nên loài người. Tôi nghĩ đó là câu đáng buồn nhất trong Kinh Thánh. Tôi đã nghe những bậc cha mẹ nói về con mình rằng: ước gì chúng tôi không có chúng. Đó là một điều kinh khủng, và Chúa nói: Tại sao Ta lại đặt loài người trên trái đất đó cơ chứ? Nó từng là một nơi tươi đẹp. Tại sao ta lại đi tạo ra con người và hủy hoại nó cơ chứ? Điều này truyền đạt tấm lòng của Ngài, cảm xúc của Ngài, rất nhiều và Ngài quyết tâm không dính dáng gì với chúng ta nữa, xóa sạch chúng khỏi đầu. Điều gì đã xảy ra khiến cảm xúc của Chúa khủng hoảng đến vậy?Chúng ta chỉ một phần câu chuyện trong Sáng Thế Ký.
Chúng ta biết nhiều hơn từ một cuốn sách được viết giữa Cựu và Tân Ước trong cái gọi là Các sách thứ kinh (Apocrypha), trong sách Hê-nóc (Enoch). Vì sách đó được trích dẫn trong Tân Ước
như là lẽ thật bởi Giu-đe và Phi-e-rơ, chúng ta có thể mặc định rằng sách đó là chính xác, mặc dù nó không nằm trong Lời Chúa. Nhưng đó là một ghi chép về lịch sử và thực ra sách đó cho chúng ta biết rằng khoảng hai, ba trăm thiên sứ tại vùng núi Hẹt-môn, được sai đến để trông nom dân sự Chúa, thực ra lại đem lòng yêu những người nữ, quan hệ với họ, quyến rũ họ, và khiến họ có mang, để họ sinh ra một giống con lai đáng sợ, ở đâu đó giữa con người và thiên sứ, không theo trật tự của Chúa. Điều đó được nhắc tới trong Sáng Thế Ký chương 6 - con trai Đức Chúa Trời thấy con gái loài người, thấy họ đẹp; và những đứa con lai được gọi là Nephilim, đôi khi được dịch là “những người khổng lồ” trong các bản dịch tiếng Việt. Chúng ta không biết nó nghĩa là gì; đó chỉ là một thuật ngữ mới cho một loại tạo vật mới. Rất lạ là Hollywood đã bắt kịp điều này, sản xuất những phim như Đứa con của Rosemary (Rosemary's Baby), tưởng tượng Sa-tan khiến một cô gái mang thai. Đây là một màn nhại đùa kinh khủng về việc nữ đồng trinh mang thai, khi Đức Thánh Linh giáng trên Ma-ri. Đó là một câu chuyện lạ và kỳ cục, nhưng thú vị ở chỗ, sự giao cấu khủng khiếp giữa các thiên sứ và con người (và nhân tiện, sự giao cấu giữa con người và loài vật là một việc ghê tởm đối với Chúa, kinh tởm đối với Ngài cũng giống như vậy, không phải điều mà Ngài đã định), sự kết hợp khủng khiếp đó là khởi đầu của thuyết huyền bí, vì những thiên sứ đó dạy tà thuật cho những người nữ, và chúng ta có thể tìm thấy dấu vết của thuyết huyền bí từ sự kiện khủng khiếp này. Kinh Thánh nói rằng ảnh hưởng tức thì của kiểu tình dục đồi bại này là bạo lực đầy dẫy đất - vì điều này kéo theo điều kia: đối xử với con người như một vật dụng, không phải như những con người. Bạo lực, như Kinh Thánh chép, đã đầy dẫy đất, và cuối cùng nó đạt tới một ngưỡng mà Chúa thấy rằng mọi ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn.
Thật là một khẳng định mạnh mẽ! Mọi, chỉ là, luôn, không thể nào diễn đạt điều này mạnh mẽ hơn nữa, và đây là những con người được dựng nên theo hình ảnh của Chúa. Bạn có thể tưởng tượng được là Ngài cảm thấy ra sao không? Và Ngài phán: vậy thôi; vậy là đủ rồi. Nhưng Đức Chúa Trời, Ngài rất kiên nhẫn, và Ngài đã cảnh báo rất rõ cho họ. Ngài có được một người nam tên là Hê-nóc - vị tiên tri đầu tiên rao truyền sứ điệp từ Đức Chúa Trời tới nhân loại - và sứ điệp đó là: Chúa chuẩn bị phán xét và Ngài sẽ xử lý mọi sự không tin kính. Hê-nóc, ở tuổi 65, sinh một người con, một con trai, và Chúa ban cho ông một cái tên để đặt cho cậu bé, và cậu bé được gọi là “Khi nó chết, điều đó sẽ xảy ra.” Thật là một cái tên khác lạ cho một cậu bé! Bạn có thể tưởng tượng ra người giáo viên ở trường không? “Con ơi, tên con là gì?”
“Khi nó chết, điều đó sẽ xảy ra.”
“Con đã làm bài tập chưa hả ‘Khi nó chết, điều đó sẽ xảy ra’?”
Chỉ là, tất nhiên là “Khi nó chết, điều đó sẽ xảy ra” không phải bằng tiếng Việt mà bằng tiếng Semit. Bạn có biết trong tiếng Semit, nó là gì không? Mê-tu-sê-la; và Hê-nóc biết rằng khi con mình chết, Chúa sẽ phán xét thế gian. Thế nên Mê-tu-sê-la mới sống lâu hơn tất cả những người khác - vì Chúa rất kiên nhẫn. Điều đó không tuyệt vời sao? 969 năm sau, Mê-tu-sê-la qua đời, và vào ngày ông qua đời, trời bắt đầu đổ mưa. Mưa như trút nước. Những trận lụt. Chắt của Hê-nóc, cháu của Mê-tu- sê-la, là một cậu bé tên là Nô-ê. Ông cùng ba con trai của mình đã dành 12 tháng để đóng một cái bè lớn có mái che theo những đặc tả kỹ thuật của Chúa. Bạn biết câu chuyện đó.
Có một bức ảnh chụp từ bộ phim tên là Khởi nguyên (In the Beginning - the Bible) trong đó Charlton Heston đóng vai Nô-ê, và khi anh ta thổi chiếc sáo nhỏ và bước vào tàu thì mọi loài vật đi theo ông. Đó là điều thú vị nhất. Ngay lần đầu tiên, những con vật này cứ thế theo ông vào tàu và bạn sẽ thấy điều đó trong phim, nếu bạn từng xem nó.

Hình ảnh từ bộ phim khởi nguyên và tàu SS Canberra 
Một trong những tàu đi biển tốt nhất là tàu SS Canberra. Khi còn học đại học, năm 1950, tôi có anh bạn tên John, tôi học khoa học còn anh này học kiến trúc hàng hải, hay thiết kế tàu, và đó là công việc của cậu ấy. Tôi được biết đó là con tàu đầu tiên trong lịch sử từng được mô phỏng theo tỉ lệ của con tàu Nô-ê vì cậu ấy tranh luận rằng Đức Chúa Trời, Đấng biết những ứng suất và biến dạng của sóng biển, sẽ biết tỉ lệ hoàn hảo của sườn ngang tới chiều dài, nên cậu đã thiết kế nó theo tỉ lệ đó. Đó là một trong những con tàu tốt nhất từng được đóng ra. Tôi cho nó vào, nó cho thấy rằng Kinh Thánh là đúng đắn. Kinh Thánh có thể giúp bạn trong công việc kinh doanh của bạn.
Tôi đã kể cho bạn điều đã xảy ra trước Cơn Nước lụt, trừ việc có đúng một gia đình, một nhà giảng đạo, ba cậu con trai và ba cô con dâu, cùng vợ ông, và họ đều rao giảng và thực hành sự công chính. Họ sống theo nó, họ nói về nó và người ta cười nhạo họ. “Mấy người đóng tàu ở đây làm cái gì? Biển nào cũng cách đây nhiều cây số.” “Biển sẽ đến với con tàu,” Nô-ê nói vậy. Họ cười nhạo ông. Nhưng tám người đã được cứu khỏi Cơn Nước lụt đó. Sau Cơn Nước lụt, Chúa đã hứa rằng hễ còn trái đất thì Ngài sẽ không bao giờ làm như vậy nữa. Ngài cũng lập một giao ước, một lời hứa thiêng liêng với cả nhân loại, rằng Ngài không những không bao giờ hủy diệt loài người nữa, nhưng sẽ giúp đỡ loài người bằng cách cung cấp đủ thực phẩm, sẽ thấy mùa hạ, mùa đông, mùa xuân và mùa gặt hái đến cách đều đặn. Đó là lời hứa Chúa đã lập, và Chúa đặt cầu vồng trên trời.
Lý do là chúng ta cần hai điều để có sự sống trên đất - ánh sáng và nước, và khi chúng gặp nhau,
bạn sẽ thấy cầu vồng. Đó không phải là thứ nhắc chúng ta nhớ đến lời hứa của Chúa. Chúa phán: đó là thứ nhắc Ta nhớ đến lời hứa của Ta cho các con. Hơi giống với chiếc nhẫn cưới của Chúa trên bầu trời, thứ nhắc nhở Ngài thành tín với lời hứa của mình. Ngài đã giữ lời hứa đó, dù người ta muốn Ngài làm điều đó thêm lần nữa. Chúa, khi nào thì Ngài sẽ hủy diệt tất cả những kẻ ác trên thế giới, để chúng con có thể tận hưởng nó? Bạn có bao giờ nghe thấy người ta nói vậy, cứ như thể Chúa sẽ đến và hủy diệt tất cả những người khác, cứ như thể chúng ta vô tội không? Chúng ta luôn nghĩ như vậy, phải không? Nhân tiện, khi Chúa lập lời hứa đó, Ngài cũng đòi hỏi nơi chúng ta một điều, đó là coi sự sống con người là thiêng liêng, và vì thế phải hành hình để trừng phạt tội giết người.
Ziggurat, những tòa tháp bằng gạch vĩ đại 
Đó là một trong những điều mà Ngài đã đặt ra. Ngài phán: Ta sẽ giữ cho nhân loại được sống; mỗi năm ta sẽ ban cho các con mùa gặt và, dù có tin hay không, thì mỗi năm thế giới đều có đủ thực phẩm để nuôi sống số dân trên đó. Thực tế, trong năm xảy ra nạn đói tại Ethiopia và Sudan, thế giới có hơn 13% số ngô so với nhu cầu của chúng ta. Đó không phải là lỗi của Ngài, đó là lỗi của chúng ta. Chúng ta quá ích kỷ. Nên Ngài đã giữ lời hứa của Ngài, nhưng Ngài phán: giờ đây, các con phải coi sự sống là thiêng liêng; quá thiêng liêng tới mức nếu ai tước nó đi, thì người đó phải đền mạng. Tôi tin rằng nước Anh này ngừng áp dụng án tử hình vì chúng ta đã không còn coi sự sống là thiêng liêng. Tôi đã nói rằng điều tiếp theo sẽ là nạo phá thai, và đúng như vậy.
Chúa đã lập giao ước với toàn nhân loại. Biến cố tiếp theo có ảnh hưởng sâu sắc đến Chúa là Ba-bên. Có một người tên Nim-rốt là một tay thợ săn khỏe mạnh, nhưng ông ta săn cả người lẫn thú. Ông ta cũng là một người ủng hộ chiến tranh, một kẻ xâm lược, và ông ta có tham vọng; tham vọng để loài người xây một tòa tháp vươn tới tận trời, để thách thức thiên đàng - để làm, theo Kinh Thánh chép, cho rạng danh, xây dựng thanh danh. Chúng
Những tòa nhà được xây rất cao trong thời hiện đại 
ta không biết là vào thời đó, những tòa tháp trông như thế nào. Chúng được gọi là Ziggurat, những tòa tháp bằng gạch vĩ đại. Chúng không được làm bằng đá - vì ở vùng đó không có đá, chỉ có đất sét, nhưng là những tòa tháp vĩ đại với những bậc thang cứ thế cao lên, cao lên. Trên đỉnh tháp thường có dấu hiệu của chiêm tinh học. Nhưng không hẳn là để thờ cúng các ngôi sao mà Nim-rốt xây tòa tháp đó, mà chủ yếu để thể hiện quyền lực và sự vĩ đại của chính ông ta.
Nhiều tòa nhà rất cao đã được xây dựng trong thời hiện đại và bạn thật sự kinh ngạc về sự cao ngạo, trơ tráo và tự tin thái quá của con người, nói rằng: chúng ta có thể xây một tòa tháp cao hơn tất cả mọi người. Chúng ta cứ tiếp tục trong sự cao ngạo của con người, xây những tượng đài cho chính mình - và sau đó chỉ là sự vô thần. Tháp Ba-bên đã xúc phạm nhiều tới Chúa và Ngài nói: Nếu ta cứ để chúng xây cho mình như vậy, không biết bao giờ nó sẽ chấm dứt. Đó là lần đầu tiên Chúa ban ân tứ nói tiếng lạ, và thực ra Ngài đã ban cho họ những ngôn ngữ khác nhau để họ bối rối và không thể hiểu nhau; và từ đó trở đi, nhân loại bị tản ra. 
Tôi sẽ không diễn giải tất cả những câu chuyện này. Bạn hãy tự đọc chúng, tôi chỉ đưa cho bạn chìa khóa để giải mã mà thôi. Bạn có thể thấy Sự Sa ngã của A-đam lan rộng ra sao, ảnh hưởng đến quá nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, và cứ tiếp diễn như vậy. Vẫn có sự cao ngạo của con người. “Chúng ta có thể làm tất cả những điều này mà không có Chúa; chúng ta có quyền tối cao.” Chúng ta thấy hai điều qua những chương này. Một mặt, chúng ta thấy sự công bình của Chúa. Ngài luôn xử lý tình huống, Ngài luôn trừng phạt. Ngài phải làm như vậy nếu Ngài là một Đức Chúa Trời tốt lành, công bình, công bằng. Ngài đã trừng phạt A-đam và Ê-va, Ngài đã trừng phạt Ca-in, ông trở thành kẻ lang thang phiêu bạt, một kẻ tị nạn, dễ bị tổn thương, không thể tự vệ, sợ bị giết hại. Ngài trừng phạt thế hệ của Hê-nóc - không phải chính Hê-nóc, nhưng thế hệ đó, và chúng ta cần nhớ rằng Chúa có thể xóa sạch loài người vào bất cứ lúc nào, và đến một ngày, ở thời kỳ cuối cùng, Ngài sẽ làm như vậy. Vì Chúa Giê-su phán rằng: “Như trong thời Nô-ê thể nào thì lúc Con Người đến cũng thể ấy.” Chỉ một lần nữa thôi, cơn giận của Chúa sẽ sục sôi. Nên chúng ta cũng thấy sự công bình của Ngài tại Ba-bên.
Nhưng cùng với sự công bình của Ngài, bạn cũng thấy sự thương xót Ngài. Đó là một điều tuyệt vời. Ngay cả với A-đam và Ê-va, Ngài đã kết áo cho họ để giấu đi nỗi nhục nhã của họ. Ngay cả với Ca-in, Ngài đánh dấu trên ông để ông không bị giết hại, và trên hết, Ngài để dòng dõi thánh của Sết tiếp nối xuyên suốt những chương này. Có những con người tin kính, Nô-ê và gia đình ông nằm trong số đó, và họ kêu cầu danh Chúa, và qua họ, Đức Chúa Trời sẽ cứu chuộc thế giới.
Chúng ta thấy sự công bình và lòng thương xót của Chúa song hành với nhau. Nhưng chúng mâu thuẫn với nhau. Chúa sẽ phản ứng ra sao khi dân Ngài nổi lên chống lại Ngài? Bằng sự công bình hay lòng thương xót? Mâu thuẫn đó trải khắp Cựu Ước. Nó chỉ được giải quyết nơi Thập tự giá. Có bài thánh ca: ‘Nơi chân thập tự giá muôn đời, nơi tôi nương dựa thỏa vui, lòng luôn rung cảm xuyến xao,” và có câu: “nơi công bình và thương xót thiên đàng gặp nhau.” Đó là khi mọi sự được giải quyết.

Tôi muốn khép lại phần học này của chúng ta theo một cách khá thú vị. Trong những người bị tản ra ở Ba-bên, có một nhóm người trèo qua các ngọn núi, đi sang phía đông và tiếp tục qua hết dãy núi này đến dãy núi khác và định cư khi gặp biển. Họ trở thành Trung Hoa, một quốc gia hùng mạnh, và văn hóa Trung Hoa bắt nguồn từ chính thời đó, và họ rời đi trước khi bảng chữ cái thay thế ngôn ngữ tượng hình của Ai Cập cổ đại, Chữ hình nêm (Cuneiform). Mọi ngôn ngữ đều ở dạng tượng hình cho đến thời Ba-bên. Thứ tiếng mà họ mang đến Trung Quốc, họ viết ra ở dạng tượng hình, và điều thú vị là đây: trong tiếng Trung, bạn có thể dựng lại toàn bộ câu chuyện từ Sáng Thế Ký 1 đến Sáng Thế Ký 11 từ những hình ảnh trong ngôn ngữ của họ.
Thực tế, các giáo sĩ có thể đến Trung Quốc và nói: mười một chương đầu của Kinh Thánh có trong ngôn ngữ của các anh. Các anh mang ký ức về mọi sự kiện đó từ Ba-bên, và chúng tôi đến để kể cho các anh phần còn lại của câu chuyện. Một người ở Trung Quốc đã nói với tôi điều này, từ “sáng tạo” của họ gồm những hình ảnh của bùn, sự sống hay chuyển động, và ai đó bước đi. Từ “ma quỷ” của họ gồm một người, một người nam hoặc một con trai, hình ảnh một khu vườn; hình ảnh về bí mật - nên ma quỷ là một người bí mật trong vườn. Từ “kẻ cám dỗ” của họ gồm từ “ma quỷ” cộng với hai cái cây và hình ảnh về chỗ ẩn núp. Từ “thuyền” của họ gồm vật chứa, miệng và tám, nên một con thuyền trong tiếng Trung là vật chứa tám người. Chúng ta có thể tiếp tục như vậy. Bạn có thể dựng lại toàn bộ Sáng Thế Ký 1-11 từ ngôn ngữ tượng hình của Trung Quốc, và ở nơi đầu tiên mà họ đến, họ tin vào chỉ một Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên trời và đất. Chỉ sau khi có Khổng Tử và Đức Phật, họ mới sa vào thờ thần thượng. Nên tiếng Trung là một sự chứng thực độc lập từ bên ngoài Kinh Thánh rằng những điều này đã xảy ra và được lấy từ ký ức của những người bị tản ra tại Ba-bên và định cư tại Trung Quốc. Chẳng phải là rất tuyệt diệu đó sao?
SÁNG THẾ KÝ - Phần 5 - Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp
Có sợi chỉ đôi chạy xuyên suốt Cựu Ước và cần được giải thích. Một bên, Cựu Ước khẳng định
rằng Đức Chúa Trời của người Do Thái là Đức Chúa Trời của cả vũ trụ. Trong những ngày đó, mọi dân tộc đều có thần riêng của họ, Ba-anh, Isis, Moloch hay bất cứ ai, nên tôn giáo đặc biệt mang tính dân tộc và vì vậy, mọi cuộc chiến tranh đều mang tính tôn giáo - giữa thần này và thần khác, hoặc giữa dân của thần này và dân của thần khác. Vì vậy, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, gọi là Yahweh, hay Đấng Hằng hữu (Being hay Always) được những quốc gia khác coi là Chúa của dân tộc Y-sơ-ra- ên; và vì mọi dân tộc đều có thần của họ nên điều đó cũng dễ hiểu. Nhưng chính Y-sơ-ra-ên đã khẳng định rằng Chúa của họ là Chúa trên muôn Chúa - và cụm từ đó được sử dụng trong Cựu Ước. Họ còn nhấn mạnh thêm và nói: Chúa của họ là Đức Chúa Trời duy nhất thực sự tồn tại; mọi thần khác là sản phẩm của trí tưởng tượng con người. Rồi họ còn nhấn mạnh thêm nữa và nói: Chính Đức Chúa Trời của chúng tôi là Đấng không chỉ tạo dựng mà còn duy trì cả cõi vũ trụ. Tất nhiên là những khẳng định như vậy cực kỳ xúc phạm, và bạn sẽ thấy những khẳng định này trong Ê-sai, đặc biệt là chương 40 cũng như trong sách Gióp và nhiều Thi Thiên.
Đó là một bên của sợi chỉ đôi xuyên suốt Cựu Ước: rằng Chúa của người Do Thái thực chất là Chúa của cả vũ trụ. Bên kia của nó là Chúa của cả vũ trụ là Chúa của người Do Thái, và họ thực sự khẳng định rằng Đấng Tạo dựng mọi điều hiện có - những ngôi sao xa xôi treo trong không gian - đã thực sự tạo một mối quan hệ rất cá nhân và thân mật với một nhóm người nhỏ trên đất; rằng Chúa của vũ trụ đã trở nên Chúa của người Do Thái. Thực tế, Ngài đã gắn chính danh Ngài với một gia đình trên đất, một người ông, một người cha và một người con; giờ đây, Chúa của cả cõi vũ trụ gọi chính Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Bạn có thể tưởng tượng được những dân tộc khác phản ứng thế nào không? Đó là một khẳng định hai chiều đáng kinh ngạc, rằng Chúa của người Do Thái là Chúa của cả vũ trụ, và Chúa của cả vũ trụ đặc biệt là Chúa của người Do Thái. Điều này được giải thích trong Sáng Thế Ký, và nếu không có Sáng Thế Ký, bạn sẽ không có nền tảng nào cho khẳng định đáng chú ý này.
Như tôi đã nói trước đó, nếu bạn chỉ có một cuốn Kinh Thánh bắt đầu từ Xuất Ê-díp-tô Ký, bạn sẽ nghĩ rằng: nó chỉ nói về Chúa của người Do Thái. Nhưng Sáng Thế Ký nói rằng: không, chính Chúa của cả vũ trụ đã trở thành Chúa của người Do Thái và không hổ thẹn khi gắn chính danh Ngài với chỉ ba người nam thuộc dân tộc nhỏ bé đó. Hãy nhớ rằng Sáng Thế Ký thực ra bao trùm khoảng thời gian dài hơn so với toàn bộ những phần còn lại của Kinh Thánh cộng lại.
Từ Xuất Ê-díp-tô Ký đến phần cuối cùng của Khải huyền bao trùm khoảng 1500 năm, một thiên niên kỷ rưỡi, trong khi Sáng Thế Ký bao trùm toàn bộ lịch sử của thế giới từ ban đầu đến tận thời Giô-sép, là khoảng thời gian dài hơn nhiều, nên khi đọc Kinh Thánh, bạn nhận ra rằng trong Sáng Thế Ký, thời gian đã được dồn lại cực kỳ nhiều. Nó bao trùm nhiều thế kỷ; và khi so sánh với toàn bộ phần còn lại của Kinh Thánh thì đó là một thời kỳ dài hơn. Rồi khi bạn nhìn vào chính Sáng Thế Ký, bạn thấy một tỷ lệ không gian rất lạ được dành cho những phần khác nhau của lịch sử. Chương 1-11 tạo nên một phần tư của sách, một phần khá ngắn, nhưng bao trùm một khoảng thời gian rất dài - nhiều thế kỷ - và cũng nói về nhiều người, thậm chí là nhiều dân tộc. Nhưng nửa sau của Sáng Thế Ký, chương 12-50 mà chúng ta đang xem xét, là một phần dài hơn nhiều. Nó lớn gấp ba lần chương 1-11, chiếm ba phần tư của sách, nhưng chỉ bao trùm một số năm, một khoảng thời gian rất ngắn, và nó chỉ nói đến một vài người, thực ra là một gia đình và chỉ bốn thế hệ của gia đình đó. Ở đây có sự thiếu cân xứng rất lớn, nếu nó khẳng định là lịch sử thế giới của chúng ta, nhưng nó khá có chủ đích,
và chính tỷ lệ đó có thông điệp của nó.

Nên có sự chậm lại của lịch sử trong Sáng Thế Ký. Chúa phóng to từ cả thế giới và mọi người trong đó tới một gia đình, và điều đó rất có chủ đích vì chúng ta đang nhìn vào lịch sử từ góc nhìn của Chúa. Chúa bắt đầu bằng cách nói đến cả nhân loại và toàn bộ lịch sử, nhưng rồi Ngài tập trung, Ngài phóng to gia đình này ra như thể họ là gia đình quan trọng nhất từng sống trên đời - và xét ở một khía cạnh thì đúng là như vậy. Họ thuộc dòng dõi rất đặc biệt từ Sết, những người cầu khẩn danh Chúa. Những người cầu khẩn danh Ngài ở trong tâm trí Ngài - trong mắt Ngài - quan trọng hơn mọi người khác vì qua họ, Chúa có thể hoàn thành những kế hoạch và mục đích của Ngài. Nên chúng ta mới có tỷ lệ kỳ lạ này.
Bạn thấy đó, Kinh Thánh không phải là câu trả lời của Chúa cho những vấn đề của chúng ta, đó là câu trả lời của Chúa cho vấn đề của Chúa. Tôi ước rằng nhiều người nhận ra điều này. Họ hay trình bày Phúc âm như câu trả lời của Chúa cho những nhu cầu của chúng ta: Bạn cô đơn ư? Bạn không hạnh phúc ư? Đời sống bạn không có mục đích ư? - Chúa Giê-su có thể đáp ứng nhu cầu của bạn. Bạn đã nghe thấy người ta giảng kiểu đó, nhưng thực ra Kinh Thánh hoàn toàn không phải là về nhu cầu của chúng ta. Nó nói về vấn đề của Chúa, và vấn đề của Chúa là phải làm sao với một giống loài không muốn biết mình, yêu mình hay vâng phục mình. Ngài phải làm gì đây? Đó là vấn đề của Ngài và một giải pháp cho vấn đề đó là xóa sạch chúng và bắt đầu lại từ đầu. Ngài đã thử làm như vậy, nhưng trong bài học trước, tôi không nhắc đến việc khi Nô-ê ra khỏi tàu, một trong những điều đầu tiên mà ông làm là say xỉn và cởi hết quần áo ra, và từ đó, toàn bộ câu chuyện đáng buồn, nhơ nhớp bắt đầu lại từ đầu. Nên ngay cả Nô-ê và gia đình ông cũng không ổn, nên Chúa phải tính kế khác, nhưng Ngài đã biết mình sẽ làm gì để cứu nhân loại khỏi chính họ, nhưng đúng hơn là để giải quyết vấn đề của Ngài.
Nếu ai hỏi tôi rằng: “Tại sao Chúa lại sáng tạo nên loài người?” thì tôi sẽ trả lời một cách rất đơn giản: Ngài đã có một con trai và Ngài ưa thích con trai đó quá đỗi, đến nỗi Ngài muốn có một gia đình đông con hơn. Tôi không thể nào diễn đạt điều này rõ ràng hơn thế. Thế nên tôi và bạn mới ở đây - vì Chúa không chỉ muốn có một người con trai, Ngài muốn có một gia đình đông con hơn và Ngài sáng tạo nên chúng ta để làm như vậy. Nhưng bi kịch ở chỗ, cuối cùng Ngài phải nói rằng: Ước gì chúng ta không có những đứa này. Vậy Ngài sẽ làm gì đây? Ngài đã biết, và với Áp-ra-ham, Ngài
bắt đầu giải quyết vấn đề của Ngài: phải làm gì với một nhân loại đầy nổi loạn? Ngài chọn làm điều đó qua một phần cụ thể của nhân loại và các triết gia gọi đó là “bê bối của sự cá biệt” (scandal of particularity). Thật là một cụm từ hay! Nhưng tôi muốn giải thích điều này, nó rất quan trọng. Bê bối của sự Cá biệt là, tại sao Chúa lại chỉ xoay quanh người Do Thái? Tại sao Ngài lại không cứu người Trung qua người Trung, người Mỹ qua người Mỹ, người Anh qua người Anh? Đối với chúng ta thì thật xúc phạm khi Ngài chọn giải quyết vấn đề của Ngài qua người Do Thái. Có hai nhà thơ, một ông tên William Norman Ewer và ông kia tên Cecil Brown. Cả hai người đều viết những bài thơ rất ngắn. William Norman Ewer, qua đời năm 1976, đã viết bài thơ này:
Chúa thật là chuối, khi khoái Do Thái (chọn người Do Thái)
Thơ thú vị thật, và tất nhiên nó là một trong những bài thơ được trích dẫn nhiều nhất mọi thời đại.
Rồi đến Cecil Brown, ông quyết định viết câu thứ hai và câu thứ hai của ông như sau: Nhưng chuối sao bằng,
Những người đi khoái (chọn),
Chúa người Do Thái,
Mà bài (bài trừ) Do Thái.
Hai câu thơ đó tóm lược lại “bê bối của sự cá biệt.” Vợ chồng tôi có ba đứa con và khi tôi mang kẹo đến cho chúng, tôi có thể chọn một trong hai điều sau: Tôi có thể mang một túi kẹo, đưa nó cho một đứa rồi nói: con chia cho anh chị nữa nhé, hoặc tôi có thể mang ba thanh sô-cô-la ra và cho mỗi đứa một cái. Theo bạn thì cách nào khiến nhà cửa yên bình hơn? Đưa cho mỗi đứa vài cái kẹo thì dễ dàng hơn nhiều, nhưng chúng ta lại muốn tạo ra một gia đình, và nếu bạn định làm như vậy thì bạn phải đưa hết kẹo cho một đứa, để nó chia cho những đứa khác. Đó là cách của Chúa. Chúa không sai Con Ngài đến làm một người Mỹ, một người Trung, một người Ấn hay bất cứ người nào, Ngài lại chọn người Do Thái. Ngài sai Con Ngài đến làm người Do Thái và Chúa Giê-su vẫn là một người Do Thái, và Ngài phán với người Do Thái rằng: giờ con đi chia sẻ điều đó với những dân khác nhé! Ngài đã chọn cứu chúng ta theo cách đó, và ấy là lựa chọn của Ngài. Bạn có thể tranh luận về điều đó, nhưng Chúa đã chọn như vậy, thế nên Ngài mới gọi mình là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
Chương 12-50, về cơ bản, là những câu chuyện của vẻn vẹn bốn người đàn ông, nhưng ba trong số đó được xếp với nhau, người còn lại thì khác. Ở đây, chúng ta chỉ xét đến ba thế hệ, sau đó mới xét đến thế hệ thứ tư. Người này thì khác, Chúa không bao giờ gọi chính Ngài là Đức Chúa Trời của Giô-sép. Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, chỉ ba thế hệ, và chúng ta phải hỏi tại sao. Khi chúng ta nghiên cứu câu chuyện của ba người này, chúng ta sẽ thấy rằng có một sự trái ngược hoặc tương phản giữa những người này và một trong những người bà con của họ. Trái ngược với Áp-ra-ham là Lót, cháu ông; trái ngược với Y-sác là Ích-ma-ên, người anh cùng cha khác mẹ; trái ngược với Gia-cốp là Ê-sau, người anh sinh đôi. Bạn để ý thấy những mối quan hệ này dường như ngày càng gần gũi hơn từ cháu ruột, đến người anh cùng cha khác mẹ đến người anh sinh đôi, và Chúa lại chỉ ra rằng vẫn có hai dòng dõi xuyên suốt lịch sử loài người và hoàn toàn trái ngược nhau. Những câu chuyện mời gọi bạn xếp mình vào một trong hai dòng dõi đó. Bạn là một Gia-cốp-hay một Ê-sau? Bạn là một Ích-ma-ên hay Y-sác? Bạn là một Áp-ra-ham hay Lót? Khi bạn đọc qua những chương này, bạn nên hỏi mình câu hỏi đó. Bạn thuộc loại nào? Bạn xếp mình vào đâu?
Nên về cơ bản, đó là câu chuyện của bốn người. Có những phản đối đến từ những người không
muốn tin vào những chương này - họ nói rằng chúng chỉ là những câu chuyện dân gian; rằng có thể có yếu tố thật trong đó, nhưng chúng chỉ là những truyền thuyết được dựng nên quanh những người này. Tôi không hiểu tại sao người ta lại phản đối như vậy. Vì một lẽ, kiểu tiểu thuyết như vậy là một dạng văn học mới xuất hiện. Người ta hoàn toàn không biết đến tiểu thuyết trong thời Áp-ra-ham. Không ai viết những câu chuyện hư cấu. Truyện hư cấu không có ở đó. Họ viết những gì đã xảy ra, họ không kéo căng trí tưởng tượng của mình, lại càng không tham gia vào một kiểu kết hợp giữa thực tế và hư cấu, như nhiều bộ phim truyền hình.
Một trong những điều cho tôi biết rằng những câu chuyện này là thật vì trong đó không có những phép lạ. Bạn có thể nghĩ rằng nếu người ta muốn bịa ra những câu chuyện về những con người vĩ đại của Đức Chúa Trời, thì họ sẽ cho vào đó đủ loại phép lạ. Bạn có để ý rằng hầu như không có phép lạ nào trong Sáng Thế Ký, tuy có hàng chục phép lạ trong Xuất Ê-díp-tô Ký không? Truyền thuyết thường đầy những điều kỳ diệu hoặc lạ lùng. Những câu chuyện này không có cái đó. Hơn nữa, không ai tìm được một thứ gì không hợp thời (anachronism) trong những câu chuyện này. Ý tôi là, nếu Sáng Thế Ký nói rằng Áp-ra-ham nhấc điện loại lên và liên lạc với Y-sác thì đó là điều không hợp thời, bạn sẽ biết ngay đó là giả vì thời đó làm gì có điện thoại. Nên nếu bạn thấy Sáng Thế Ký nhắc đến một chiếc điện thoại hay máy fax thì bạn sẽ nghi ngờ ngay. Nhưng thực tế, những chi tiết văn hóa xuất hiện trong những câu chuyện này, khảo cổ học đã cho thấy rằng chúng hoàn toàn đúng với thời đại mà họ sống. Nên tôi thật sự tin rằng không có bất cứ lý do gì để nghi ngờ tính trung thực của những sự kiện này.
Có một đặc điểm không thể giải thích theo lẽ tự nhiên là ở đây, các thiên sứ đóng vai trò khá quan trọng - nhưng họ xuất hiện xuyên suốt Kinh Thánh, nhất là vào thời Chúa Giê-su thực hiện chức vụ trên đất, thậm chí còn xuất hiện nhiều hơn trong sách Khải huyền, nên nếu bạn có vấn đề với các thiên sứ thì bạn có vấn đề với cả Kinh Thánh. Ngoài việc đó ra thì những câu chuyện này cực kỳ bình thường. Chúng nói đến những người nam, người nữ bình thường được sinh ra, đem lòng yêu nhau, cưới gả, sinh con và qua đời. Có gì mà khó tin? Họ nuôi chiên, dê, gia súc và trồng trọt vài loại cây, có vấn đề gì không? Họ bất đồng, họ cãi nhau, họ đánh nhau, có gì mới không? Họ dựng lều, họ lập những bàn thờ và họ thờ phượng Chúa. Tất cả những điều này đều hoàn toàn nằm trong chuỗi trải nghiệm bình thường của con người. Vậy những câu chuyện này có gì khác biệt? Câu trả lời là Chúa trò chuyện với họ và họ trò chuyện với Ngài; hai bên có những cuộc đối thoại. Đức Chúa Trời của cả vũ trụ làm bạn với một người tên Áp-ra-ham. Thật là một tấm văn bia tuyệt vời. Bạn có muốn bia mộ của mình khắc dòng đó không - bạn của Đức Chúa Trời? Chính Chúa đã gọi ông như vậy: đó là Áp- ra-ham, bạn ta. Điều đó thật đặc biệt phải không? Có bê bối của sự cá biệt. Người ta không thể hiểu một vị Chúa lại đi làm bạn với những con người. Không, họ cảm thấy điều đó có vẻ không đúng, nhưng đó lại đúng là những gì xảy ra ở đây.
Câu hỏi đáng chú ý là: sao Chúa lại chọn gọi chính Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp? Tại sao Ngài lại gắn chính danh Ngài với họ? Họ có gì đặc biệt đến thế? Đó là câu hỏi mà người ta đã đặt ra kể từ đó: Người Do Thái có gì đặc biệt đến thế? Tại sao họ lại là dân tuyển mà không phải chúng ta? Hoặc đó là ngụ ý của họ khi nói: “Tại sao họ lại là dân tuyển?” Gần như bạn có thể nghe thấy họ nói thầm rằng: mà không phải chúng ta, vì chúng ta quan trọng hơn, tài năng hơn họ nhiều, hay đại loại thế. Không phải như vậy. Nhưng câu trả lời nằm trong sự lựa chọn tối cao của Chúa. Không phải sự lựa chọn tùy ý, nhưng là sự lựa chọn tối cao. Có một điều khá rõ ràng là ba người này không có đặc quyền tự nhiên đối với Chúa. Chúa tự do thiết lập mối quan hệ với họ; họ không thể nói rằng: “Chúng tôi có đặc quyền với mối quan hệ đó,” và thực ra, trong mỗi thế hệ, thật thú vị khi người con thường được hưởng quyền thừa kế từ cha lại không được hưởng, vì vào thời đó, đứa con cả sẽ thừa kế công việc kinh doanh và tài sản của gia đình. Nhưng trong mỗi thế hệ, Chúa lại không chọn đứa con cả, mà lại chọn đứa em. Ngài chọn Y-sác, chứ không phải Ích-ma-ên; Ngài chọn Gia-cốp chứ không phải Ê-sau. Ngài muốn nói rằng: “Không ai có đặc quyền tự nhiên đối với tình yêu của ta, chỉ là ta ban tình yêu cho các con mà thôi.” Nên đó không phải là vấn đề thừa kế trực tiếp của người con cả. Y-sác và Gia-cốp đều không phải con đầu lòng, và điều họ được thừa kế luôn là món quà miễn phí. Nên họ không có đặc quyền tự nhiên. Thú vị hơn là thực chất, không người nào trong đây có đặc quyền về đạo đức với Chúa. Trong ba người, không ai có thể khẳng định rằng mình tốt hơn mọi người khác. Thực tế, Kinh Thánh là một cuốn sách rất chân thực và nói với chúng ta rằng cả ba người bọn họ đều là những kẻ nói dối. Cả ba người bọn họ! Kinh Thánh không cho chúng ta những hình ảnh tô hồng của ba vị thánh đồ vĩ đại. Kinh Thánh cho chúng ta một hình ảnh về những con người rất bình thường như chúng ta, họ cũng có những điểm yếu. Cả Áp-ra-ham và Y-sác đều nói dối trắng trợn về chính vợ mình để bảo toàn tính mạng của họ. Thế họ có điều gì mà những người khác không có - tại sao Chúa lại chọn họ? Và Gia-cốp là người tệ nhất trong ba người. Chẳng ai trong chúng ta muốn có một người bà con như Gia-cốp. Bạn sẽ sợ chết khiếp, không biết chuyện gì sẽ xảy ra với tiền bạc hay bất cứ thứ gì của bạn. Ông là một kẻ gian giảo; nhưng hãy nhớ rằng ông cũng đã lãnh hậu quả. Tôi không thể đọc câu này trong Kinh Thánh mà không cười khúc khích: “Sáng hôm sau Gia-cốp mới biết đó là Lê-a.” Bạn biết câu chuyện này, đúng không? Đó là buổi sáng đầu tiên của tuần trăng mật và ông thốt lên: “Ôi” và ông vớ phải cô chị xấu xí, vì ông đi ngủ khi đã tối trời còn cô vợ thì phải che mặt suốt cả lễ cưới, và ông đã làm việc suốt bảy năm trời để lấy được cô em xinh đẹp, thế mà ông bố vợ lại dúi cho ông cô chị xấu xí. Chuyện này mà xảy ra với bạn thì chắc bạn không cười đâu, nhưng nó mà xảy ra với anh bạn tốt nhất của bạn, chà - thì bạn sẽ hiểu sự hài hước của Kinh Thánh, nhỉ! Nhưng bài học đằng sau câu đó rất sâu sắc. “Ai gieo giống gì, sẽ gặt giống ấy.” Người này đã lừa chính người cha già cả, mù lòa của mình và giờ đây, có người đang lừa anh ta. Anh ta không thể oán trách gì, đúng không? Gậy ông đập lưng ông.
Đây là những con người rất người - họ có những điểm yếu, họ có những lỗi lầm, họ làm điều sai trái, và cũng làm một số điều đúng đắn. Vậy sao Chúa lại nói: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp”? Chúng ta phải nghiên cứu những chương này để biết một điều nữa. Họ đều có hai vợ, thậm chí nhiều vợ. Thế thì họ có điều gì? Câu trả lời là có một điểm đặc biệt ở ba người này. Một điều rất đơn giản: đức tin. Những người này tin vào Chúa và Chúa có thể làm những điều kỳ diệu khi một người có lòng tin. Chúa thà có một người tin Ngài hơn là một người tốt; thực ra, Ngài còn nói với Áp-ra-ham rằng đức tin của ông được ghi trong sổ của Chúa là công bình. Ông được kể là công bình. Điều tuyệt vời nhất mà bạn có thể làm là tin vào Đức Chúa Trời. Người ta đã hỏi Chúa Giê-su rằng chúng con phải làm gì, để làm theo ý muốn của Chúa; Chúa muốn chúng con làm gì? Chúa Giê-su trả lời khá rõ ràng. Ngài phán: “Hãy tin và Đấng mà Ngài đã sai xuống.” Chỉ vậy thôi. Đức tin là khởi đầu cho một đời sống tốt lành. Bạn có thể làm nhiều việc lành, nhưng nếu bạn không phải là một người tin Chúa thì nó sẽ dẫn bạn đến đâu? Chúa kể cho đức tin của Áp-ra-ham là công bình, và Y-sác có cùng đức tin như vậy, và Gia-cốp cũng có đứa tin này - theo những cách khác nhau, vì họ là những người khác nhau, với tính cách khác nhau, tính khí khác nhau. Nhưng một điểm chung là họ đều có đức tin.
Một tòa tháp ziggurat ở U-rơ 
Áp-ra-ham thể hiện đức tin khi rời U-rơ, xứ Canh-đê. Ở đó có một ziggurat lớn - một tòa tháp vươn tới tận trời - tại nơi Áp-ra-ham cư ngụ. Đó là một nơi rất ấn tượng, U-rơ. Có những cái lò sưởi điển hình trong những căn nhà tại U-rơ trong thời Áp-ra-ham. Bạn có tin vào điều đó không? Đó là một thành phố rất cầu kỳ và văn hóa - cực kỳ tân tiến so với thời đó. Chúa phán với một người đang ngồi cạnh một chiếc lò sưởi như vậy rằng: Ta muốn con sống trong một túp lều trong suốt phần đời còn lại của con. Mà người đó đã 75 tuổi rồi. Bạn có rời một chiếc lò sưởi như vậy để sống trong một túp lều ở tít trên núi, nơi có mùa đông lạnh lẽo đầy tuyết phủ, trong suốt phần đời còn lại, ở độ tuổi 75? Nhưng nếu ông lão đó không làm như vậy thì giờ đây bạn không thể trở thành một tín đồ. Áp- ra-ham là vậy. Ông rời một nơi tuyệt vời để sống trong một túp lều trên vùng đồi núi, nuôi vài con chiên và dê - vì Chúa phán: “Ta muốn con đi cùng ta - đến một nơi con chưa từng thấy, còn con sẽ không bao giờ thấy lại đất này nữa.” Ta muốn con rời bỏ gia đình và bạn bè mình. Thực ra Áp-ra-ham đã đưa cha mình và những thành viên khác trong gia đình đi được nửa đường - ông đến tận Cha-
Một lò sưởi điển hình trong những căn nhà ở U-rơ 
ran - và họ quyết định rằng thế là đủ rồi, và họ định cư tại đó. Ông lão Áp-ra-ham tiếp tục đi với cháu mình. Nhưng ông tin vào Chúa; và thậm chí tin rằng Chúa có thể ban cho ông một con trai. Hãy nhớ là lúc ấy vợ ông đã 90 tuổi, chẳng trách khi cậu bé ra đời, họ gọi cậu là “Trò đùa.” “Y-sác” trong tiếng Hê-bơ-rơ là “cười.” Thật là một trò đùa! Vì Sa-ra, khi nghe là mình sẽ mang bầu khi ở vào tuổi đó, đã cười phá lên, và Chúa cũng nghe thấy tiếng cười đó. Nhưng thật là một đức tin phi thường!
Hãy nhớ là đức tin của ông cũng bị rúng động đôi chút. Lúc đầu ông đã đợi 11 năm, và đứa trẻ không hề xuất hiện, rồi vợ ông cứ thế già đi. Khi bà bảo Áp-ra-ham thử có con với một trong những đầy tớ gái trẻ tuổi, ông đã làm theo. Ích-ma-ên đã được sinh ra như vậy. Nhưng Ích-ma-ên không phải là đứa con ra bởi đức tin; ông là đứa con ra bởi xác thịt, và Chúa không chọn ông. Đừng bao giờ nghĩ rằng điều đó là không công bằng với Ích-ma-ên, vì Chúa đã chúc phước cho Ích-ma-ên, và Ngài hứa với ông rằng ông sẽ trở thành cha của nhiều dân tộc và sinh ra mười hai công hầu - và ông là tổ phụ của những quốc gia Ả-rập ngày nay. Nên Chúa không hạ ông xuống, nhưng cũng không chọn ông - không phải cho dòng dõi đức tin đó, vì Ích-ma-ên không bày tỏ đức tin, nhưng ông được chúc phước. Trên hết, Áp-ra-ham đã thực hành đức tin khi Chúa phán: “Con có sẵn sàng hy sinh con trai con, con một của con, cho Ta không? Đó là chuyện của mười sáu năm sau, và rồi cậu bé ra đời - Y- sác. Con có sẵn sàng hy sinh nó cho Ta không? Nó cho chúng ta thấy rằng Áp-ra-ham sẵn sàng giết Y-sác làm của lễ bởi vì ông tin rằng Chúa có thể khiến nó sống lại từ cõi chết sau khi ông giết nó.
Hãy nhớ rằng trước đó Chúa chưa từng làm như vậy, chưa từng khiến người chết sống lại, đó là một chút đức tin, thế nên Ngài mới sẵn sàng làm như vậy. Lý do khiến ông sẵn sàng tin rằng Chúa sẽ khiến Y-sác từ sống lại từ cõi chết là vì ông có thể sinh Y-sác khi đã là một ông già: khi, theo như Kinh Thánh có chép, thân thể ông “xem như đã chết.” Vì vậy, ông nói rằng, nếu Chúa có thể khiến thân thể đã chết của mình sản sinh sự sống thì Ngài cũng có thể khiến con mình sống lại từ cõi chết. Đức tin thật lớn! Đức tin của Y-sác được thể hiện ở chỗ, ông chịu làm của lễ hy sinh khi trạc tuổi ba mươi. Mọi hình ảnh tôi từng thấy về việc Áp-ra-ham dâng Y-sác đều minh họa một cậu bé mười hai tuổi. Có phải đó là hình ảnh trong đầu bạn không? Bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được một người Do Thái tin vào điều đó vì người Do Thái biết Kinh Thánh của mình và anh ta không chia nó thành các chương như chúng ta. Sau lần Y-sác suýt bị dâng làm của lễ, điều xảy ra ngay sau đó là Sa-ra qua đời ở tuổi 127, khi Y-sác được 37 tuổi. Nên Y-sác trạc ba mươi tuổi, và ông thuận phục cha mình là Áp-ra-ham, một ông lão, và ông làm điều đó trên một ngọn núi tên Mô-ri-a, sau này trở thành Gô-gô-tha, hay Đồi Sọ. Một câu chuyện rất tuyệt vời, đúng không? Nhân tiện, Y-sác cũng có đức tin rằng Chúa có thể chọn vợ cho ông, và ông tiếp nhận người vợ mà Chúa chọn - Rê-bê-ca.
Điều tiếp theo cần chú ý là Gia-cốp có đức tin. Hãy nhớ rằng ban đầu, ông tin vào chính mình. Ông có thể điều khiển phước hạnh và ông đã làm như vậy, nhờ mưu mô và sự lừa lọc, ông có được phước hạnh đó, nhưng ít nhất thì nó cũng thể hiện rằng có người muốn được chúc phước, ấy là điều tốt. Nhưng sau này, Chúa phải đánh người đó, và ông đi khập khiễng trong suốt phần đời còn lại. Sau khi vật lộn với Chúa cả đêm, ông bước đi như vậy trong cả phần đời còn lại, nhưng từ đó, ông thực sự tin vào Chúa - và ông tin rằng mười hai con trai của mình sẽ trở thành mười hai chi phái. Những người này, bất chấp những điểm yếu, thất bại và sự pha trộn giữa tốt và xấu, đã tỏa sáng như những người tin vào Đức Chúa Trời.
Họ có đức tin; và vì vậy, khi bạn xét đến sự tương phản nơi những người bà con của họ, bạn sẽ thấy những con người của xác thịt thay vì đức tin. Bạn sẽ thấy những người trọng vật chất chứ không phải những người có khải tượng thuộc linh. Chúng ta thấy Lót chủ định đi xuống vùng thung lũng Giô-đanh màu mỡ chứ không sống trên
Vùng thung lũng sông Giô-đanh 
những quả đồi cằn cỗi. Gia đình của Áp-ra- ham và Lót có chút bất hòa và Áp-ra-ham nói rằng tốt nhất là họ sống tách nhau ra - đôi khi đó là sự khôn ngoan - và Áp-ra-ham nói: Lót, cháu có thể chọn đất trước bác. Cháu chọn sống ở đâu? Bác sẽ đi chỗ khác. Thật kinh ngạc khi Áp-ra-ham có thể nói như vậy với Lót. Lẽ ra là phải ngược lại. Nhưng Lót đã nhìn xuống vùng thung lũng nơi sông Giô-đanh chảy qua, nơi có rừng rậm, đất đai màu mỡ, khí hậu nhiệt đới ấm áp và cả vùng đó cuốn hút Lót, ông nói: Cháu sẽ đi xuống vùng thung lũng, chỗ đó có vẻ tốt. Áp-ra-ham nói: được rồi, bác sẽ ở trên vùng đồi núi. Nhưng Chúa là Chúa của vùng đồi núi và Lót chỉ đi theo những gì mắt thấy.
Bạn không chỉ thấy điều đó ở Lót, mà còn thấy nơi Ích-ma-ên và nơi Ê-sau. Ê-sau thà có một đĩa súp ăn liền hơn là có sự chúc phước khi cha mình qua đời; và ông đã đổi cái này lấy cái kia, và hội chứng Ê-sau vẫn còn đến ngày nay. Người ta muốn có mọi thứ ngay bây giờ, hoặc muộn nhất là thứ ba tuần sau. Thực tế, thư gửi người Hê-bơ-rơ bảo chúng ta đừng giống như Ê-sau, ông đã hối hận về màn đổi chác của mình và sau đó khóc lóc cầu xin sự chúc phước, nhưng không có sự ăn năn trong đó. Vậy chúng ta có ba con người của đức tin trái ngược với ba người bà con của xác thịt, và kiểu phân biệt đó xảy ra trong hầu hết các gia đình thời nay - những người sống bởi đức tin và những người sống bởi xác thịt. Chúng ta cũng nhìn thấy sự trái ngược này nơi những bà vợ của họ. Các chị em ạ, khi đọc những chương này, hãy nghiên cứu đến các bà vợ, họ rất thú vị. Vì một lẽ, Sa-ra, Rê- bê-ca và Ra-chên có một điểm chung: họ đều rất đẹp. Không phải là quyến rũ, mà là đẹp, và sự quyến rũ sẽ phai tàn nhưng vẻ đẹp cứ gia tăng.
Tôi có ông bạn, một mục sư Giám lý, tổ chức một cuộc thi hoa hậu trong hội thánh của ông. Ấy là 35 năm về trước và điều này khiến cả hội chúng sửng sốt, nhưng ông đưa ra một điều kiện, đó là mọi thí sinh phải từ 60 tuổi trở lên, ông muốn thử và chứng minh rằng sự quyến rũ và vẻ đẹp là hai điều khác nhau. Kinh Thánh chép rằng ba người vợ của những tổ phụ này đều rất đẹp và họ có vẻ đẹp trường tồn trong nội tâm và họ đều thuận phục chồng mình. Chúng ta sẽ chuyển qua chuyện khác! Vợ của những người kia, một lần nữa, lại trái ngược với vợ của những anh hùng đức tin. 
Ngọn núi “Vợ Lót”
Có một ngọn núi có hình thù kỳ lạ ở phía cực nam của Biển Chết gọi là “vợ Lót.” Đó là hình dạng của một người nữ chạy trốn. Nhưng ngay cả Chúa Giê-su cũng nói rằng hãy nhớ đến vợ của Lót. Bà ngoái lại cuộc sống thoải mái mà họ đang rời bỏ, nhưng là một đời sống sẽ bị Chúa phán xét. Họ sống tại Sô-đôm, một địa danh đã trở nên khét tiếng trong lịch sử. Đó chính là điều chúng ta tìm kiếm khi đọc những chương này. Chúng ta đang tìm kiếm đức tin và xác thịt, và sự trái ngược giữa những người này và vợ của họ, và bạn bắt đầu hiểu tại sao Chúa lại nói rằng: Ta thuộc về bên này của gia đình mà không phải bên này.
Chúng ta hãy nhìn vào ba người đó một cách chi tiết hơn chút nữa. Chúa đã lập một lời hứa với Áp-ra-ham mà
chúng ta vẫn trông cậy vào đó. Chúa bắt đầu công cuộc sáng
tạo với một người và Ngài bắt đầu sự cứu chuộc với một người, ông Áp-ra-ham này. Ngài lập một giao ước - đó là một từ rất đẹp xuyên suốt cả đến khi chúng ta dùng bánh và chén cùng nhau - vì “này là huyết của giao ước mới,” nhưng từ giao ước này rất quý giá. Nó không phải là từ “hợp đồng.” Đây không phải là một giao kèo giữa hai bên có quyền lực và thẩm quyền ngang nhau. Giao ước hoàn toàn do một bên lập ra để chúc phước cho bên kia, và bên kia chỉ có hai lựa chọn - hoặc là chấp nhận các điều khoản, hoặc là từ chối chúng - nhưng họ không thể thay đổi chúng. Chúa đã lập những giao ước và Ngài giữ chúng, và Chúa thề trước chúng. Bạn đã bao giờ nghe Chúa thề chưa? Khi con người thề thì anh ta thề trước một thế lực cao hơn chính mình. Một số người nói: “Thề có trời là tôi sẽ làm điều đó.” Chúa thì không có ai cao hơn mà thề, nên Ngài chỉ chính Ngài mà thề. Trong khi một con người có thể nói rằng “trước Chúa, tôi hứa là tôi sẽ làm điều đó,” Chúa lại phán: “Ta chỉ chính mình mà thề.”
Chúa nói lẽ thật, toàn bộ lẽ thật và không gì ngoài lẽ thật, và Ngài lập một lời hứa với Áp-ra-ham. Giao ước gần giống với một lễ cưới, và những từ khóa luôn là “tôi sẽ,” và nếu bạn đọc Sáng Thế Ký 12, Chúa nói “Ta sẽ” những sáu lần. Sự thật là Chúa của cả vũ trụ kết hiệp chính Ngài với gia đình cụ thể này, và Ngài đã hứa cho họ một nơi để sống; Ngài ban cho họ một mảnh đất giao thoa giữa các châu lục. Trung tâm của khối đất liền trên thế giới là Giê-ru-sa-lem, và đó là nơi giao nhau giữa con đường từ châu Phi tới châu Á và con đường từ Ả Rập tới châu Âu, gần một quả đồi nhỏ tên Armageddon tại Hê-bơ-rơ, và đó là giao lộ của thế giới. Ngài phán: Đó là nơi ta sẽ ban cho con đời đời. Họ giữ chứng nhận quyền sở hữu với nơi đó, dù ai có nói gì, vì Chúa giao quyền sở hữu đó cho họ, cho Áp-ra-ham và dõng dõi ông đời đời.
Điều thứ hai mà Chúa hứa là ban cho họ những thế hệ sau - rằng sẽ luôn có dòng dõi của Áp-ra- ham trên đất. Lời hứa thứ ba là Ngài sẽ dùng họ để chúc phước - hoặc để rủa sả - mọi dân khác. Đó là sự kêu gọi của người Do Thái - chia sẻ về Chúa với mọi người, nhưng đó có thể là con dao hai lưỡi. Chúa phán với Áp-ra-ham rằng: những kẻ rủa sả con sẽ bị rủa sả; những người chúc phước cho con sẽ được phước - và đó vẫn là lẽ thật, như nhiều người đã khám phá ra. Đó là giao ước của Ngài. Đổi lại, Chúa muốn rằng một là, mọi người nam của dân Do Thái phải được cắt bì để chỉ ra rằng họ được sinh ra trong giao ước đó, và hai là Áp-ra-ham sẽ vâng phục Chúa và làm mọi điều Chúa bảo ông làm, và giao ước đó là trọng tâm của Kinh Thánh. Trên cơ sở giao ước đó, Chúa phán: “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của ngươi và ngươi sẽ làm dân Ta.” Cụm từ đó được lặp lại xuyên suốt Kinh Thánh cho tới trang cuối cùng, và nó lại xuất hiện lần nữa: Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng và chúng sẽ làm dân ta. Một cụm từ thật đáng yêu. Chúa muốn gắn bó với chúng ta, Ngài muốn ở cùng chúng ta và sống với chúng ta; và, như bạn đã biết, ở ngay cuối Kinh Thánh, chính Đức Chúa Trời lìa khỏi thiên đàng và hạ thế, để sống với chúng ta trên đất mới đời đời. Ngài muốn sống với chúng ta, Ngài muốn làm gia đình, muốn làm Cha của chúng ta: đó là toàn bộ mục đích của việc sáng tạo vũ trụ và chính chúng ta.
Một ngôi đền được khắc từ sa thạch đỏ 
Gia-cốp, người thú vị nhất, con trai cưng của mẹ - ngay cả khi sinh ra, ông đã nắm gót người anh sinh đôi của mình, Ê-sau, người anh lông đỏ. Nắm chặt ngay từ đầu, nhưng Chúa đã xử lý ông. Thực ra Ê- sau đến sống ở một nơi giờ đây chúng ta gọi là Petra. Có thể bạn đã nhìn thấy những ngôi đền tuyệt mỹ khắc từ sa thạch đỏ. Ê-sau đến sống ở đó và lập nên nước Ê-đôm, và sự thù hằn giữa Ích-ma-ên và Y-sác vẫn còn tại Trung Đông giữa người Ả-rập và Do Thái. Nhưng sự thù hằn giữa Ê-sau và Gia-cốp đã chấm dứt, vì những người Ê-đôm cuối cùng được biết đến dưới cái tên Hê-rốt, và chính hậu duệ của Ê-sau đã làm vua dân Do Thái khi Chúa Giê-su ra đời, và là người giết mọi con trẻ tại Bết-lê-hem để cố gắng trừ khử hậu duệ của Gia-cốp, Đấng được
sinh ra để làm Vua.
Cuối cùng, tôi chỉ muốn chỉ ra rằng cả Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đều thể hiện đức tin của họ
một cách phi thường. Mỗi người trong số họ đều để lại cho con trai mình những gì họ không sở hữu. Áp-ra-ham nói: “con trai ta, Y-sác, ta để lại cả xứ quanh con cho con.” Y-sác nói với Gia-cốp: “Ta để lại cả xứ cho con.” Gia-cốp nói với 12 con trai mình: “cả xứ ta để lại trong di chúc cho các con.”
Thế mà không ai trong số họ sở hữu bất kỳ mảnh đất nào trong xứ, trừ một cái hang, mộ phần của gia đình tại Hếp-rôn, hang đá Mặc-bê-la. Điều đó không tuyệt vời sao? Phải có đức tin lớn mới dám viết một di chúc để lại cả xứ cho con cháu mình trong khi không hề sở hữu nó. Nhưng họ tin rằng Chúa đã ban nó cho họ và rằng một ngày nào đó, cả xứ sẽ thành của họ.
Cuối cùng, khi tôi đọc Hê-bơ-rơ 11, tôi đọc về những người này - Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, và tôi đọc về đức tin của họ, và Kinh Thánh chép thế này: “Tất cả những người ấy đều chết trong đức tin.” Họ không chỉ tin trong một hai ngày. Khi họ chết, họ vẫn tin vì họ chưa thấy những lời hứa được làm trọn. Bây giờ, hãy nghe điều Kinh Thánh chép trong cùng chương đó: “Tất cả những người ấy dù đã được chứng nhận tốt nhờ đức tin, nhưng chưa nhận lãnh điều đã hứa cho mình.”
Chúa đã định ra một điều tốt hơn cho chúng ta, để chỉ khi cùng với chúng ta, họ mới trở nên trọn vẹn. Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp chưa chết. Tôi đã thấy mồ chôn thân thể họ tại Hếp-rôn, nhưng họ chưa chết. Chúa Giê-su phán rằng Chúa là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, không phải là từng là. Ngài không phải là Chúa của kẻ chết, Ngài là Chúa của người sống, và chúng ta đang thờ phượng Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Họ vẫn còn sống và nếu không có chúng ta, họ sẽ không trở nên trọn vẹn, họ nằm trong số đám mây lớn những người chứng kiến xem chúng ta chạy ra sao, vì sự trọn vẹn của họ, việc họ làm trọn những lời hứa của Chúa, phụ thuộc vào cả chúng ta nữa. Tất cả chúng ta đều sẽ cùng nhau đến với điều đó. Khi Chúa Giê-su trở lại trên đất, bạn sẽ thấy Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trở lại cùng Ngài và, cùng với chúng ta, trở nên trọn vẹn trong mắt Chúa, mọi sự yếu đuối được cất đi, và phản chiếu trọn vẹn hình ảnh của Đức Chúa Trời.
SÁNG THẾ KÝ - Phần 6 - Giô-sép và Chúa Giê-su
Tôi nghĩ rằng gần như ai cũng biết câu chuyện của Giô-sép. Nếu bạn lớn lên trong hội thánh, chắc chắn là các thầy cô trường Chúa Nhật đã dạy câu chuyện này cho bạn. Đó là một câu chuyện hấp dẫn với con trẻ: người tốt cuối cùng sẽ thắng kẻ xấu; và chủ đề này được phổ biến rộng rãi trong vở “Giô- sép và cái áo choàng nhiều màu” (Joseph and his Technicolour Dreamcoat) Thực ra, đây có lẽ là một sự nhầm lẫn: Đó có lẽ là một chiếc áo khoác dài tay chứ không phải một chiếc áo choàng nhiều màu, tuy Bản Dịch Mới nói đó là cái áo choàng nhiều màu sặc sỡ. Tất nhiên là nó đặc biệt, nhưng chắc hẳn nó là áo dài tay, lý do là một người con trai luôn được giao nhiệm vụ quản đốc trên những người khác, trong khi những người khác phải xắn tay áo lên hoặc mặc áo ngắn tay đi làm, thì người quản đốc có áo khoác dài tai.
Vì vậy Giô-sép được cha giao quản lý các anh mình, nhưng ông lại không phải là con trưởng, nên bạn có thể tưởng tượng được tình huống nảy sinh trong gia đình này. Đó là chuyện ngoài lề. Điều quan trọng là Giô-sép là thế hệ thứ tư - chắt của Áp-ra-ham - nhưng một lần nữa, ông không phải là con trưởng. Ở đây có một mô tuýp rõ ràng. Người thừa kế tự nhiên không nghiễm nhiên được phước hạnh. Chúa lựa chọn người nhận được điều đó theo ân điển của Ngài. Đó thường là một trong những đứa con thứ. Nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa Giô-sép và ba thế hệ trước. Chúa không bao giờ gọi Ngài là Đức Chúa Trời của Giô-sép; thiên sứ không bao giờ hiện ra với Giô-sép, mặc dù rõ ràng là họ có làm như vậy với những người khác. Các anh của ông không bị loại ra. Các anh em của ông được kể vào trong dòng dõi tin kính của Sết, nên không có sự tương phản như trước, tuy các anh của ông cũng không đối xử tốt lắm với ông lúc đầu. Chúa không bao giờ trò chuyện trực tiếp với Giô-sép; có thể bạn chưa để ý đến điều đó. Tất nhiên là Ngài bày tỏ nhiều điều qua những giấc mộng và cho ông giải mộng, nhưng thực ra Ngài không bao giờ nói chuyện trực tiếp với Giô-sép, và, Kinh Thánh cũng không ghi lại lần trò chuyện trực tiếp nào của Giô-sép với Ngài. Nên ở đây có sự khác biệt, và khi bạn đọc Sáng Thế Ký, bạn nhận thấy rằng theo một cách nào đó, Giô-sép là người tự lập. Tại sao? Ông có gì khác vậy? Tại sao chúng ta lại có câu chuyện này? Một lý do rõ ràng là ở ngay sách tiếp theo của Kinh Thánh, chúng ta thấy cả gia đình này bị nô lệ tại Ai Cập, và bằng một cách nào đó, bạn phải giải thích xem họ đến đó như thế nào. Tất nhiên, câu chuyện của Giô-sép là mắt xích quan trọng cho việc Gia-cốp và gia đình ông di cư tới Ai Cập - vì cùng một lý do khiến Áp-ra-ham và Y-sác đã từng xuống Ai Cập, vì nạn đói, thiếu thực phẩm, trong khi Ai Cập không phụ thuộc vào mưa. Nó có sông Nin chảy xuống từ cao nguyên Ethiopia, nên nó có nguồn cung cấp độ ẩm liên tục ở sông Nin trong khi vùng đất Y-sơ-ra-ên hoàn toàn phụ thuộc vào lượng mưa được gió tây từ Địa Trung Hải mang tới để canh tác.
Nên ít nhất, câu chuyện của Giô-sép ở đó để kết nối với chúng ta với phần tiếp theo của Kinh Thánh. Sau Giô-sép, bức màn hạ xuống, trong vòng bốn trăm năm và chúng ta không biết gì thêm nữa, và khi nó lại vén lên, gia đình đó đã trở nên một dân tộc nhiều trăm ngàn người, nhưng họ là những nô lệ tại Ai Cập. Nếu đó là lý do duy nhất mà câu chuyện của Giô-sép ở đó thì thật khó để giải thích tại sao câu chuyện của ông lại chiếm phần nhiều đến vậy. Y-sác và Gia-cốp chiếm phần nhỏ hơn nhiều. Vậy người này có gì quan trọng đến vậy? Tại sao Kinh Thánh lại kể chi tiết đến vậy? Đó chỉ là tấm gương của một người tốt, và một câu chuyện đạo đức mà người tốt cuối cùng sẽ chiến thắng ư? Không, còn nhiều hơn thế.
Có ít nhất bốn mức độ mà tại đó, bạn có thể đọc câu chuyện của Giô-sép. Đầu tiên chỉ là mức độ con người. Đó là một câu chuyện sống động được kể một cách xuất sắc với những nhân vật rất chân thực. Đó là một chuyến phiêu lưu tuyệt vời, lạ lùng hơn cả tiểu thuyết. Trong đó có những sự trùng hợp đến kỳ lạ, và bạn có thể tóm tắt cuộc đời của Giô-sép trong hai chương: chương 1, “xuống chó”; chương 2, “lên voi.” Đó là những gì xảy ra với ông. Ông xuống tới cùng cực từ con trai cưng của cha mình xuống thành một gia nô, và ông lên tới đỉnh cao, từ một tù nhân bị lãng quên lên thành Thừa tướng. Đây là một câu chuyện đáng kinh ngạc - xuống tới tận cuối nấc thang xã hội và lại leo lên tới tận đỉnh. Điều đó cuốn hút chúng ta, và ở giữa là sự ganh tị của các anh Giô-sép - chìa khóa mở ra tất cả những điều này dường như là những giấc mộng.
Thế nhưng tôi không nghĩ Giô-sép là người khéo léo nhất trong Kinh Thánh. Tôi nghĩ ông khá bất cẩn. Lại đi khoe mẽ với các anh rằng: Em mơ thấy các anh đều cúi rạp trước em. Đó không phải là cách để kết bạn và ảnh hưởng đến người ta, nhưng đó là sự thật. Ông đã mơ như vậy, chỉ có điều là có nên kể ra hay không thôi. Nhưng ai cũng phạm sai lầm về thời điểm chia sẻ những sự mặc khải từ nơi Chúa, nên chúng ta cũng không trách gì được ông. Đó là một mức độ - đó là một câu chuyện của con người và nó đã tạo ra một chương trình nhạc kịch vui nhộn ở khu Tây London. Tôi đã xem chương trình đó, và nhiều trường học cũng diễn lại chương trình này.
Mức độ thứ hai mà bạn có thể đọc câu chuyện là đọc nó từ góc độ của Chúa. Chúa ở trong câu chuyện này. Tuy không thực sự trò chuyện với Giô-sép nhưng Ngài ở hậu trường. Ngài là Đức Chúa Trời không thấy được đang sắp xếp các sự việc để phục vụ mục đích và kế hoạch của Ngài, và Ngài chọn bày tỏ qua những giấc mơ. Người ta sẽ dễ tiếp nhận những điều trong giấc mơ hơn khi họ tỉnh táo. Tôi có vài giấc mơ rất kỳ lạ, thường là đến một buổi nhóm nhầm ngày, mang nhầm phần ghi chép bài giảng vào nhầm giờ, người vã mồ hôi khi tỉnh dậy - nó giống ác mộng hơn. Nhưng rất thú vị - trong giấc mơ, bạn thừa nhận mọi thứ là thật và đôi khi Chúa cần nói theo cách này để giao tiếp với chúng ta, nhưng nó luôn cần sự thông giải.
Giô-sép nói rằng những giấc mộng này là của Chúa và rằng sự giải mộng sẽ đến từ Chúa. Kinh Thánh chép là Đa-ni-ên cũng có ân tứ này. Thực ra Chúa là nhân vật chính trong câu chuyện, tuy điều đó không được thể hiện trong chương trình âm nhạc. Chúa ở hậu trường, sắp xếp tất cả những điều này, không có những phép lạ trực tiếp, nhưng là những hoàn cảnh do Chúa sắp đặt, và đó thường là cách vận hành của Chúa. Không quá ngoạn mục hay giật gân, nhưng Chúa có cách sắp đặt những cuộc gặp gỡ với con người, và hướng đi của cuộc sống bạn thay đổi. Ngài ở hậu trường, khiến mục đích của Ngài được hoàn thành - sự tể trị của Ngài.
Điều này rất trái ngược với việc tin vào may mắn. Không biết là bạn có biết không, nhưng trong tiếng Hê-bơ-rơ, may mắn là “gad” và trong tiếng Anh có cụm từ cổ là “by gad” - nhờ may mắn. Bạn có thể sống nhờ Chúa hoặc nhờ may mắn (mặc màu đỏ trong lễ cưới và tất cả những thứ đại loại như vậy) Thật kinh ngạc khi có nhiều người sống nhờ may mắn - xổ số kiến thiết. Người ta tin rằng hoàn cảnh là kết quả của sự tình cờ, của sự may mắn.
Nhưng Giô-sép không tin vào điều đó. Ông tin rằng Chúa tể trị những hoàn cảnh mà mình gặp phải và Chúa đứng sau những điều xảy đến với ông. Khi đó ông không thấy như vậy, nhưng sau này ông mới nhận ra, và thường thì mãi sau chúng ta mới thấy bàn tay của Chúa trên đời sống mình, còn không nhận ra vào thời điểm sự việc xảy ra. Thực tế, câu then chốt trong câu chuyện của Giô-sép là 45:7. Cuối cùng, ông đã tiết lộ thân phận với các anh sau khi khiến họ phải khúm núm và xấu hổ. Cuối cùng, ông đã tha thứ cho những gì họ đã làm với ông khi bán ông làm nô lệ và nói: “Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước để duy trì cho các anh một dòng dõi trên đất, và cứu mạng sống các anh bằng một cuộc giải cứu vĩ đại.” Đó là một khẳng định rất quan trọng. “Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước.”
Họ nghĩ rằng mình đã trừ khử thằng em mình và bán nó làm nô lệ cho mấy lái buôn lạc đà, và thế là xong. Họ đã lấy cái áo đặc biệt của cậu, nhúng nó vào máu dê và mang nó về cho Gia-cốp già nua, tội nghiệp và nói: “Chúng con tìm thấy cái này trên cánh đồng; con trai cưng của cha chắc chết rồi.” Họ làm điều thật tệ hại, nhất là với Gia-cốp già cả, nhưng - “Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước” Bạn thấy đó, Chúa cho phép nhiều điều xảy ra; Ngài không buộc ai làm hại người khác, nhưng Ngài có cho phép điều đó, và đôi khi Ngài cho phép để phục vụ mục đích của chính Ngài; và đó là đức tin của Giô-sép - rằng “Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước.” Tất nhiên, đó thực chất là kết quả, vì ông trở thành người quản lý lương thực. Ông đã thông giải giấc mơ của Pha-ra-ôn rằng sẽ có bảy năm mập béo với mùa màng bội thu, và bảy năm gầy còm tiếp theo, và ông đã nói rằng: Tốt nhất là chúng ta dự trữ lương thực từ bây giờ, thì chúng ta sẽ đủ sống. Tầm nhìn xa trông rộng của ông qua giấc mơ đó đã cứu cả Ai Cập, và gia đình của chính ông khi họ thiếu lương thực và phải sang Ai Cập. Ông trở thành vị cứu tinh của họ.
Thực chất, Chúa muốn dân Ngài ở Ai Cập và điều này đã xảy ra như vậy. Tại sao Chúa lại muốn họ ở Ai Cập khi Ngài đã hứa ban cho họ đất Y-sơ-ra-ên, hay đất Ca-na-an? Câu trả lời, thực chất đã được ban cho Áp-ra-ham - từ nhiều năm trước. Chúa phán với Áp-ra-ham: Ta sẽ phải để gia đình con ở Ai Cập trong vòng bốn trăm năm cho tới khi tội ác của dân A-mô-rít đến cực độ. Nói cách khác, Chúa không để họ chiếm đất hứa từ tay những cư dân tại đó, chỉ khi những cư dân tại đó trở nên quá tệ hại đến nỗi họ đánh mất quyền sống của họ, chứ chưa nói đến quyền với đất đai. Nên Chúa là một Đức Chúa Trời có đạo đức; Ngài không cứ thế đẩy người ta ra và đẩy dân Ngài vào. Chỉ khi cư dân trong đó trở nên quá tệ hãi - và khảo cổ học đã cho thấy họ tệ hại đến thế nào. Các bệnh hoa liễu lây lan khắp nơi trên đất Ca-na-an. Họ đồi bại, họ sa đọa, và chỉ khi họ đạt tới mức độ không thể quay đầu, Chúa mới nói: giờ thì các con có thể lấy đất của họ. Nên mọi phàn nàn rằng Chúa bất công khi ban mảnh đất đó cho người Do Thái đều là sai lầm, Ngài phải để họ xa khỏi đất đó cho tới khi tình trạng của người dân sống tại đó quá tệ đến nỗi bị đẩy đi, đó chỉ là sự phán xét.
Nhưng cũng có những lý do khác nữa. Chúa đã muốn họ trở thành nô lệ. Đó đều là một phần trong kế hoạch của Ngài - giải cứu họ khỏi ách nô lệ để họ thật biết ơn Ngài, họ sẽ sống theo đường lối Ngài và trở nên một tấm gương - cho cả thế giới thấy - rằng người ta sẽ được phước đến thế nào khi sống dưới sự tể trị của thiên đàng. Đó là kế hoạch. Nên khi Ngài để họ rơi vào những khó khăn như vậy, làm việc bảy ngày mỗi tuần - không được trả công, không đất đai, không tiền bạc, không có gì cả; và chính lúc đó, Ngài đưa tay xuống và giải cứu họ bằng cánh tay quyền năng của Ngài. Nên bạn thấy đó, tất cả phải xảy ra, và Chúa để nó xảy ra, để phục vụ mục đích của chính Ngài. Ngài đã muốn cứu chuộc họ và giải cứu họ để họ biết rằng chính Chúa đã mang họ ra, và đưa họ vào vùng đất của chính họ. Nên đó là góc nhìn của Chúa về câu chuyện này.
Nhưng chúng ta vẫn chưa thật sự đi vào trọng tâm của vấn đề. Cách tiếp cận - hoặc mức độ tiếp theo - mà chúng ta có thể đọc câu chuyện là nghiên cứu về tính cách của Giô-sép và đây là một điều rất đáng chú ý, vì Kinh Thánh không chép bất cứ điều xấu nào về Giô-sép. Chúng ta đã thấy rằng Kinh Thánh kể toàn bộ sự thật về Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, và tất nhiên là họ có những nhược điểm và tội lỗi, nhưng không một lời chỉ trích nào nhắm vào Giô-sép. Tôi đã kể với bạn rằng điều tệ hại nhất ông từng làm chỉ là hơi bất cẩn và kể cho các anh về giấc mộng, còn không hề có thái độ hoặc phản ứng sai trái trong tính cách của Giô-sép - ngay cả cách ông phản ứng khi xuống đến tận đáy cùng của xã hội. Không hề có sự cay đắng, không oán trách, không nói rằng: Tại sao Chúa lại làm như vậy? Không có cảm giác bất công khi ông phải kết thúc nơi ngục tù, lãnh án tử hình trong trại giam của Pha-ra-ôn. Hơn nữa, tuy sống xa nhà và không người thân thích, ông vẫn giữ sự ngay thẳng khi vợ của Phô-ti-pha cố gắng quyến dụ ông. Khi bà ta làm như vậy, ông đáp lại rằng: “Làm sao tôi dám phạm tội với Đức Chúa Trời như thế!” - và bạn biết là sau đó bà ta đã đổ oan cho ông, khiến ông phải lãnh án tử hình trong tù, nhưng không hề có một lời chỉ trích, ngay cả với vợ của Phô- ti-pha. Đây là một hình ảnh đáng kinh ngạc.
Hơn nữa, ngay cả khi ở dưới đáy cùng, dường như ông vẫn chú tâm đến việc giúp đỡ người khác. Quan hầu rượu và hầu bánh của Pha-ra-ôn phạm tội khi quân và Giô-sép cố gắng an ủi họ. Ông là người dường như không quan tâm đến bản thân, nhưng rất quan tâm đến mọi người khác, và tuy xuống đến tận đáy cùng nhưng ông chưa từng chất vấn Chúa, chưa từng nghi ngờ là Chúa không biết điều Ngài đang làm, trong khi chúng ta từng như vậy. Rồi phản ứng của ông khi lên tới đỉnh cao. Tôi không biết cái nào thử thách tính cách của con người hơn - bị vùi xuống đáy cùng hay được nhấc lên cao. Tôi nghĩ có lẽ điều thứ hai là thử thách lớn nhất đối với tính cách của ông.
Nhưng hãy xem ông phản ứng ra sao với những người anh đã bán ông làm nô lệ. Ông cho họ thực phẩm mà không tính tiền với họ, ông lại cho tiền vào trong bao của họ. Ông tha thứ cho họ trong nước mắt, ông cầu thay cho họ với Pha-ra-ôn, và ông đã mua cho họ vùng đất màu mỡ nhất tại đồng bằng sông Nin, một vùng đất tên là Gô-sen, và nói: “Tôi sẽ lo cho các anh.” Họ đã quẳng ông ra và nói với người cha già của ông rằng ông đã chết, nhưng giờ đây ông lại chu cấp cho mọi nhu cầu của họ. Một người quá tốt!
Giô-sép không hư hỏng cả khi bị sỉ nhục lẫn lúc được tôn trọng. Ôn là một người hoàn toàn chính trực và chỉ có một người được khắc họa như vậy trong Cựu Ước. Tất cả các nhân vật Cựu Ước được khắc họa cả điểm yếu lẫn điểm mạnh, nhưng tại đây có con người chỉ có điểm mạnh. Chỉ có một người nữa trong Kinh Thánh giống người này.
Có một chương giữa câu chuyện về Giô-sép xuất hiện rất bất ngờ. Đó là Giu-đa, anh của Giô-sép. Giữa câu chuyện về người tốt này xuất hiện một sự tương phản hoàn toàn với người anh của ông, Giu-đa. Giu-đa đến với một phụ nữ vì nghĩ rằng cô ta là gái điểm, chỉ để sau đó mới biết đó chính là con dâu của ông đang đeo mạng che mặt. Ông đã phạm tội loạn luân và câu chuyện dơ dáy này được kể ngay giữa câu chuyện về Giô-sép. Vì sao nó lại ở đó? Nó ở đó để làm bật lên sự chính trực của Giô-sép bởi tương phản. Hệt như Áp-ra-ham tương phản với Lót, I-sác với Ích-ma-ên và Gia-cốp với Ê-sau, Giô-sép tương phản với Giu-đa.
Suy ngẫm về Chúa Giê-su
Cho đến giờ chúng ta đã bàn về câu chuyện này ở ba cấp độ: Câu chuyện của con người về một người bị vùi xuống đáy rồi sau đó leo đến đỉnh, và trở thành người cứu dân mình và cai trị người Ai- cập; câu chuyện về sự quản trị của Đức Chúa Trời trên đời sống của một người, sử dụng điều đó để cứu dân mình; và cuối cùng câu chuyện về một con người hoàn toàn chính trực, người mà trong suốt hành trình xuống đáy sâu và suốt hành trình lên đỉnh cao vẫn là một con người chân thật và đáng trọng.
Mỗi cấp độ của câu chuyện này gợi nhắc chúng ta về một người khác: Chính Chúa Giê-su. Giô- sép đã trở nên điều được gọi là hình bóng về Chúa Giê-su. “Hình bóng” trong nghĩa này là “điềm báo.” Kiểu như Đức Chúa Trời đang bày tỏ trong cuộc đời của Giô-sép điều sẽ xảy ra với con Ngài. Giống như Giô-sép, con một Ngài sẽ bị các anh em khước từ và vùi dập xuống đáy sâu, rồi được nhấc lên để trở thành Đấng Cứu và là Chúa của dân Ngài.
Một khi nhìn nhận “hình bóng” này, sự tương phản trở nên thật kinh ngạc. Càng đọc câu chuyện Giô-sép, chúng ta càng thấy hình ảnh này của Chúa Giê-su, như thể Đức Chúa Trời đã biết ngay từ đầu điều Ngài sẽ làm và đưa ra gợi ý cho dân Ngài. Chính Chúa Giê-su đã khích lệ người Do Thái “tra xem Kinh Thánh, vì Kinh Thánh làm chứng về Ta” khi nói đến Cựu Ước. Khi đọc Cựu Ước, chúng ta cần luôn tìm kiếm Chúa Giê-su, tìm điều giống Ngài, hình bóng của Ngài. Chúa Giê-su là bản thể thật, nhưng hình bóng của Ngài phủ trên các trang của Cựu Ước, đặc biệt trong Sáng Thế Ký. Chúa Giê-su trong Sáng Thế Ký
Một khi đã thấy Giô-sép là hình ảnh của Chúa Giê-su, chúng ta có thể thấy Chúa Giê-su ở nhiều chỗ khác nữa trong cả Sáng Thế Ký. Giô-sép là mô hình cho thấy cách Đức Chúa Trời đáp ứng với đức tin nơi Ngài, và câu chuyện của ông minh họa cách Đức Chúa Trời có thể sử dụng đời sống của một người để giải cứu dân Ngài khỏi vấn đề của họ, nâng người ấy lên thành Cứu Chúa. Gia phả
Các gia phả trong Sáng Thế Ký thực chất là gia phả của Chúa Giê-su Christ của chúng ta. Nếu bạn đọc Ma-thi-ơ 1 và Lu-ca 3 bạn sẽ thấy các gia phả tại đó có những cái tên của sách Sáng Thế. Chúa Giê-su ra từ dòng của Sết, đến tận con của Ma-ri. Như vậy hễ ai ở trong Đấng Christ cũng là đang đọc câu chuyện cây gia đình của chính mình. Đây là những tổ phụ quan trọng nhất của chúng ta, bởi vì qua đức tin nơi Đấng Christ chúng ta trở thành con cái của Áp-ra-ham.
I-sác
Khi xem xét các nhân vật trong Sáng Thế Ký, chúng ta có thể nhìn thấy những điểm giống Chúa Giê-su. Chúng ta đã lưu ý đến Giô-sép rồi, nhưng hãy trở lại với thời mà Áp-ra-ham được lệnh dâng I-sác làm của lễ. Ông được lệnh đến một ngọn núi cụ thể, gọi là núi Mô-ria. Sau đó nhiều năm, chính ngọn núi đó được gọi là Gô-gô-tha, nơi Đức Chúa Trời dâng con một của Ngài. Sáng 22 kể về việc I- sác là con một yêu quý của Áp-ra-ham - và chúng ta đã thấy cách I-sác khi đã tuổi ngoài ba mươi, đủ sức để kháng cự cha mình, nhưng đã đầu phục để bị trói và đưa lên bàn thờ. Đức Chúa Trời đã chặn Áp-ra-ham tại thời điểm mấu chốt và đã cung ứng một của lễ khác, một con cừu đực đầu bị mắc trong bụi gai. Sau đó nhiều thế kỷ, Giăng Báp-tít đã nói về Chúa Giê-su, Kìa là Chiên (tiếng Anh là cừu đực) của Đức Chúa Trời, Đấng nhấc đi tội lỗi của thế gian. Từ chiên thường được áp dụng cho Chúa Giê-su, nhưng những con chiên con, bé bỏng và dễ thương không bao giờ được dâng làm của lễ - của lễ phải là cừu đực một tuổi đã có sừng. Chúa Giê-su được khắc họa trong sách Khải huyền như là cừu đực có bảy sừng tượng trưng cho sức mạnh - “một cừu đực của Đức Chúa Trời.” Đức Chúa Trời đã sắm sẵn một con cừu đực cho Áp-ra-ham dâng làm của lễ thay cho con ông, một cừu đực có sừng bị mắc vào bụi gai, và Đức Chúa Trời cũng tuyên bố một danh xưng mới cho chính Ngài: “Ta là Đức Giê-hô-va Đấng cung ứng cho con.” Cũng tại địa điểm đó một người nam trẻ tuổi ngoài ba mươi đã được dâng làm của lễ, đầu đội mão gai. Bạn có nhìn thấy tại đó một hình anh của Chúa Giê-su?
Mên-chi-xê-đéc
Cũng đáng xem xét cẩn thận một cuộc gặp kỳ lạ của Áp-ra-ham với một người vừa là vua vừa là thầy tế lễ. Người ấy là vua của thành Sa-lem (về sau trở thành Giê-ru-sa-lem). Khi Áp-ra-ham trên đường trở về nhà sau khi giải cứu người nhà của mình bị bắt cóc, ông mang về các chiến lợi phẩm từ kẻ thù gần thành Sa-lem. Đây là một thành phố người ngoại, không liên hệ gì với dòng dõi tin kính của Áp-ra-ham. Có một nhân vật kỳ lạ tên là Mên-chi-xê-đéc đã ra gặp ông, là người vừa là vua vừa là thầy tế lễ, một sự kết hợp không bình thường, chưa bao giờ được thấy ở Y-sơ-ra-ên. Vị Vua và Thầy Tế Lễ này đã mang bánh và rượu ra để tiếp sức cho Áp-ra-ham và quân của ông, và Áp-ra-ham đã dâng phần mười từ các chiến lợi phẩm của mình, một phần mười từ những vật quý báu. Trong Tân Ước chúng ta được biết Chúa Giê-su là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời theo dòng Mên-chi-xê-đéc.
Cái thang của Gia-cốp
Thế còn cái thang của Gia-cốp thì sao? Khi Gia-cốp bỏ chạy khỏi nhà, ông đã ngủ ngoài trời vào một đêm nọ, dầu gối lên hòn đá, và có một giấc mờ về cái thang (thực ra giống thang máy). Tiếng Hê-bê-rơ ngụ ý cái thang ấy đang chuyển động, và rằng có một thang lên và một thang xuống, có các thiên sứ lên và xuống. Gia-cốp biết rằng trên đỉnh thang là thiên đàng, nơi Đức Chúa Trời ngự. Khi tỉnh dậy ông hứa sẽ dâng phần mười tất cả mọi thứ làm được cho Đức Chúa Trời. Việc dâng phần mười không phải là một phần trong luật pháp trước thời Môi-se (cách Gia-cốp dâng phần mười của cải của ông về bản chất giống như một vụ mặc cả với Chúa: Ngài đưa con về nhà bình an và con sẽ dâng Ngài phần mười. Tuy nhiên, không thể mặc cả với Chúa - Chúa lập giao ước với bạn, chứ không phải ngược lại - và Gia-cốp đã phải học biết điều đó một cách khó nhọc về sau.) Sau đó nhiều thế kỷ, khi Chúa Giê-su gặp một người tên là Na-tha-na-ên, Ngài đã nói với ông: “Ta đã thấy ngươi ngồi dưới cây vả. Ta đã thấy con và con là một người Giu-đa thật, không có sự gian dối.” Na-tha-na-ên đã hỏi Ngài làm sao mà Ngài biết điều này. Chúa Giê-su đáp rằng: “Con nghĩ thật tuyệt vời là Ta biết những chi tiết trong đời sống con. Con sẽ nghĩ gì nếu con thấy thiên sứ lên và xuống trên con người? Ngài đang nói rằng: “Ta là thang của Gia-cốp, Ta là sự kết nối giữa đất và trời. Ta là thang mới.”
A-đam và Ê-va
Lùi lại, trong Sáng Thế Ký chương 3, Đức Chúa Trời đã đưa ra một lời hứa khi đang tuyên bố sự trừng phạt trên A-đam và Ê-va. Ngài nói với con rắn rằng hạt giống - hay dòng dõi - của một người nữ (hạt giống trong tiếng Hê-bê-rơ là danh từ giống đực) sẽ làm cho con rắn bị thương ở đầu, còn con rắn sẽ làm dòng dõi ấy bị thương ở chân. Bị thương ở chân thì thì chưa chết, nhưng bị thương ở đầu thì nguy kịch và dây là lời hứa đầu tiên rằng có ngày Đức Chúa Trời sẽ khiến Sa-tan tàn tạ. Ngày nay thì chúng ta biết rằng ai đã trói buộc kẻ mạnh và giành lấy của cải của hắn. Trong Rô-ma 5, Phao-lô nó rằng sự không vâng lời của một người dẫn đến sự chết, nên sự vâng lời của một người mang đến sự sống, ám chỉ rằng Chúa Giê-su là A-đam thứ nhì. Chính tại một khu vườn, vườn Ê-đen mà A-đam đã nói: Con không, và cũng tại một khu vườn, vườn Ghết-sê-ma-nên mà Chúa Giê-su đã nói: không phải ý con mà ý Cha được nên. Thật là một sự tương phản! Cả hai đã khởi đầu cho một dòng dõi loài người: A-đam là người đầu tiên của loài người homo sapiens (người tinh khôn), Chúa Giê-su là đầu tiên của homo novus - nhân loại mới.
Tất cả chúng ta đều sinh ra là homo sapiens, và qua Đức Chúa Trời chúng ta có thể trở nên homo novus. Tân Ước nói về con người mới, nhân loại mới. Có hai loại người trên đất ngày nay: bạn hoặc là trong A-đam hoặc là trong Đấng Christ. Có một nhân loại mới hoàn toàn và nhân loại mới ấy sẽ cư ngụ trên một trái đất hoàn toàn mới - thực tế là một vũ trụ hoàn toàn mới.
Sự sáng tạo
Một trong những điều kỳ diệu nhất mà Tân Ước nói về Chúa Giê-su đó là Ngài là Đấng chịu trách nhiệm sáng tạo vũ trụ. Các môn đồ thời đầu đã đến với nhận thức rằng Chúa Giê-su có dự phần vào các sự kiện của Sáng Thế Ký 1. Như Giăng nói trong phần mở đầu Phúc âm của mình, “chẳng có vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.”
Vì vậy, khi đọc Sáng Thế Ký 1, chúng ta thấy Chúa Giê-su có ở đó. Đức Chúa Trời phán: Chúng ta hãy làm nên loài người theo hình ảnh của chúng ta.” Chúa Giê-su là một phần trong tính số nhiều của Đức Chúa Trời.
Vài thập kỷ nay, chúng ta đã biết rằng bề mặt trái đất là những cái đĩa đá phẳng nổi trên đá nóng chảy, và những chiến đĩa đó liên tục di chuyển, cọ xát vào nhau gây ra động đất. Khi khám phá ra những chiếc đĩa này chuyển động để tạo thành khối đất chúng ta có ngày nay, các nhà khoa học đã phải đưa ra một từ mới cho những chiếc đĩa này. Họ gọi chúng là “các mảng kiến tạo” (tectonic plates). Trong tiếng hy lạp, từ tectone nghĩa là “thợ mộc.” Cả hành tinh trái đất trên đó chúng ta sinh sống là công việc của một người thợ mộc từ Na-xa-rét, và tên gọi của Ngài là Chúa Giê-su Christ. Như vậy, chúng ta kết thúc phần nghiên cứu sách Sáng Thế tại nơi chúng ta đã bắt đầu, tức là sự sáng tạo. Đức Chúa Trời quả thật đang trả lời cho vấn đề của chính Ngài là làm gì khi nhân loại nổi loạn. Giải pháp là Chúa Giê-su Christ, qua Ngài mà có thế giới, vì Ngài mà thế giới được tạo nên và bởi Ngài mà chúng ta khám phá được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi của mình.