TRUYỀN ĐẠO
1. VẤN NẠN (Tr 1:1-3:22)
Ngay sau khi nêu tên sách (Tr 1:1) vấn nạn trong cuộc sống liền được mổ xẻ (1:2-2:23), rồi kết thúc với một bức tranh của sự thất bại và tuyệt vọng (2:23). Sau đó xuất hiện khúc quanh. Trong 2:24-3:22 thực tế cuộc đời không có gì khác nhưng tác giả thêm lòng nhân từ của Đức Chúa Trờivào khung cảnh này. Kết quả là cuộc đời có triển vọng tươi sáng hơn (nhưng không phải là ít khó khăn trục trặc hơn).
1. Đầu sách (Tên sách) (Tr 1:1)
Từ Nhà Giáo trong nguyên ngữ Hi Bá Lai là Qohelet, là một động tính từ quá khứ. Từ này có một ý nghĩa (tương tự như tên riêng Baker, người nướng bánh trong tiếng Anh). Xem lại phần Dẫn Nhập.
2. Các vấn đề khó khăn trục trặc của người bi quan (Tr 1:2-2:26)
(Tr 1:2-11) Vài sự kiện 2 Hư không là nghĩa của một từ Hi Bá Lai bao gồm các ý là ngắn ngủi chóng qua, không thể nương cậy, mong manh phù phiếm, không có mục đích rõ ràng. 3 Không thể tìm thấy sự tiến bộ thực sự trong cuộc đời. Ích lợi là một từ trong thương trường thời xưa, có ý chỉ về những thành quả cụ thể về vật chất có giá trị nhìn thấy được. Lao khổ có thể nói về những nỗi nhọc nhằn về thể xác (2:4-8 Thi 127:1), hay về tinh thần và gánh nặng cảm xúc (Tr 2:23 Thi 25:18). Nhà Giáo muốn nói về những điều ông nhận thấy ở dưới mặt trời. Hẳn là nhóm từ này gói ghém một chủ ý quan trọng vì tác giả lập lại nhiều lần và vì tác giả phân biệt rõ ràng dứt khoát trong Tr 5:2 dưới trời và trên trời. Nhóm từ đó chỉ về thế giới trần gian địa cầu trái với “thế giới thiên đàng” là nơi Đức Chúa Trời tối cao tự mặc khải. Cụm từ “trên mặt đất”, “dưới trời” và “dưới mặt trời” đều đồng nghĩa với nhau. Xem thêm phần Dẫn Nhập. Lúc này rõ ràng Nhà Giáo giới hạn triển vọng trong những nguồn lợi hạn hẹp của thế giới mà ông nghiên cứu. 4 Các thế hệ loài người kế tục nhau không thay đổi thực trạng căn bản của nhân loại. Vấn nạn “hư không, vô nghĩa” đã thấm đẫm trong toàn thế giới. Ro 8:20 luận về điều này và có lẽ ông Phao-lô cũng ngầm nghĩ đến Truyền Đạo (Từ Hi Lạp mà ông Phao-lô dùng là chính từ được dùng ở Tr 1:2 trong bản dịch tiếng Hi Lạp). 5-7 Thiên nhiên không tỏ ra tiến bộ gì cả. Thiên nhiên bận rộn trên bầu trời (5), trên mặt đất (6) và trong biển cả (7) nhưng sự bận rộn của thiên nhiên không thay đổi hoàn cảnh căn bản của con người. 8 Chán gói ghém ý “cạn kiệt, kiệt sức”, ngụ ý là những sự hoạt động của thiên nhiên làm cho thiên nhiên rã rời hoặc con người kiệt lực vì cớ thiên nhiên. 9-10 Giờ thì chúng ta bước vào lãnh vực lịch sử. Hoàn cảnh (điều chi đã có) và hoạt động của con người (điều gì đã làm) tự lặp lại, tái đi tái lại nhiều lần. 11 Nhớ có thể chỉ về những hành động phát xuất từ trí nhớ. Cuộc sống hiện tại của chúng ta không khởi phát từ những điều chúng ta đã học tập được trong quá khứ. Người ta không học kinh nghiệm từ những thế hệ đi trước.
(Tr 1:12-18) Nỗi thất bại của sự khôn ngoan Đối với nan đề trình bày trong 1:2-11, phải chăng sự khôn ngoan là giải pháp cho sự kiện cho cuộc đời chẳng đem lại lợi lộc (1:2) gì cả? 12 Đây là sự khôn ngoan truyền thống của Sa-lô-môn mà tác giả trình bày. 13a Điều nghiên cứu và khảo cứu nói về tính cách triệt để và bao quát. Dưới trời giới hạn cho chúng ta phạm vi của vấn đề. 13b-15 Ba điểm kết luận nối tiếp: (i) Tìm kiếm mục đích là điều Đức Chúa Trời ấn định. Việc lao khổ với chủ ý là việc làm cưỡng bức. (ii) Hậu quả là thất vọng. Theo luồng gió thổi, đuổi theo luồng gió, ý nói về những nỗ lực chạy theo điều không thể đạt được. Con người “dưới mặt trời” không thể tháo gỡ những nan đề của họ. (iii) Trong cuộc sống có những chỗ xoắn lại, có những chỗ đứt đoạn. Điều gì cong vẹo, xoắn lại bao gồm đời sống của con người (1:3-4a) lẫn môi trường sống (1:4b). Ở đây không nói đến căn nguyên dẫn đến tình trạng cong vẹo nhưng trong 7:13,29 thì có. Trong sự sống và trong hoàn cảnh cũng xuất hiện những khoảng đứt đoạn, những bước nhảy bất chấp lý lẽ thông thường hoặc thiếu vắng dữ kiện khiến cho sự sống trở nên bí ẩn. Trong 16-18 cụm từ phiền não cũng nhiều và thêm sự đau đớn chứng tỏ tâm tư Nhà Giáo nghĩ đến một cách khác với sự khôn ngoan. Sự kiện này giáo đầu cho 2:1-11. Ông kết luận là nỗ lực tháo gỡ nan đề trong cuộc sống nới rộng tầm nhìn của đương sự đối với nan đề chớ không đem lại giải pháp nào cả. Phải đợi cho đến khi Chúa Giê-xu đến thế gian mới có thể tìm đến một giải pháp.
(Tr 2:1-11) Nỗi thất bại của cuộc sống mưu tìm khoái lạc Sau khi chứng minh nỗi thất bại của sự khôn ngoan, Nhà Giáo chuyển qua chứng minh nỗi thất bại của sự ngu dại. Ông quyết định (1a), rồi kết luận (1b-2), ông giãi bày một cách chi tiết (3-10) rồi lại kết luận (11).
Cười cợt (2) chỉ về những niềm vui nông nỗi cạn cợt vui sướng (trong cách dùng thông thường) có chiều sâu sắc hơn. Tất cả các dạng vui chơi đùa giỡn đều không tháo gỡ được nan đề của Nhà Giáo đưa ra. Điên là một từ liên hệ với sự kiện mất khả năng phán đoán. Đứng trước nan đề không có giải pháp: Vui sướng thì được chi? Chúng ta biết rằng ngay cả niềm vui thanh cao cũng không thể giải đáp điều bí ẩn trong cuộc đời.
Câu 3-10 liệt kê những điều Nhà Giáo đeo đuổi mưu tìm. Ông lăn xả vào mọi hình thức vui chơi giải trí. Nô lệ, bầy súc vật là dấu chứng chủ nhân rất giàu có. Trong câu 8 có một từ khó, có lẽ nên hiểu là “vợ lẽ, nàng hầu” (bản NIV, hậu cung). Câu 9 cho chúng ta biết uy thế của ông và sự kiện ông vẫn giữ được tinh thần sáng suốt để đeo đuổi mục đích (đó là ý của phần câu cuối). Hễ có một món nào ông muốn hưởng (mắt thấy 10) ở ngoài thể xác, hoặc trong nội tâm (những điều mà lòng ông vui thích) thì ông hưởng tất cả, không từ một điều gì. Kết quả là ông có được cảm giác thành công (10b) thế thôi, ngoài ra chẳng có gì khác.
Lời kết cuối cùng (11) không khác lời kết về vụ ông mưu tìm tra cứu sự khôn ngoan (so sánh Tr 2:11 với 1:17-18). Các từ hư không, theo luồng gió thổi, chẳng ích lợi gì hết chồng chất lên nhau diễn tả nỗi thất vọng chua cay nơi ông.
(Tr 2:11-23) Một số phận chắc chắn cho mọi người Tiếp theo sau vấn nạn về cuộc đời (1:2-11) và hai giải pháp vô hiệu quả (1:12-18 2:1-11), thì còn lại một câu thắc mắc: giữa sự khôn ngoan và mưu tìm khoái lạc nên chọn cái nào? Về một phương diện sự khôn ngoan tốt hơn là khoái lạc. Xét theo phương diện khác thì cả hai đều như nhau cả hai đều không có biện pháp gì đối với sự chết.
Nên hiểu câu 12 phần thứ hai theo nghĩa đen là “Mẫu người đến sau vua sẽ là con người như thế nào khi đối diện với thực trạng là mọi điều đã được thử nghiệm qua?” (xem thêm chi tiết trong Sách Truyền Đạo, do M.A. Eaton, TOTC (IVP 1983), trang 68). Bản dịch NIV hầu như chuyển đạt cùng một ý. Ý của câu thắc mắc này là: “Trong cuộc tìm kiếm này các vị vua kế nhiệm có khả năng đạt được thành quả hơn tôi hay không?”. Các vị vua trong tương lai cũng sẽ phải đối diện với cùng một nan đề mà Nhà Giáo đã gặp ông có thể dành cho họ một lời khuyên nào chăng? Vua cần sự khôn ngoan hơn hết mọi sự (IVua 3:5-28 Ch 8:14-16). Người ngu dại nổi tiếng về tài bép xép thiếu suy nghĩ cân nhắc và tâm địa hiểm độc hạng người này lấy gian ác làm “niềm vui” (thí dụ 9:13-18).
Câu 13-14a trả lời câu hỏi trên. Sự khôn ngoan có giá trị. Ánh sáng ví về sự hiểu biết, biết cách thức, khéo léo trong cuộc sống. Câu 14b-16 nói về khía cạnh khác. Một số phận là sự chết, dù khôn ngoan hoặc ngu dại, ai ai cũng phải đối diện với cái chết (14b). Cái chết tất nhiên đặt người khôn ngoan ngang hàng với kẻ ngu dại. Chẳng ai thắng nổi “kẻ thù cuối cùng” được (15). Ý trong câu 16 cũng tương tự như ý trong Tr 1:16 chỉ khác một chút là ở đây nói về cá nhân từng người. Trí nhớ người ta kém cỏi không đáng cho chúng ta phải nỗ lực tạo dựng thanh danh sự nghiệp (9:15).
Trong câu 17-23 Nhà Giáo xét đến cuộc sống ở dưới mặt trời. Sự chết chận đứng sự khôn ngoan lại, sự kiện này khiến cho chính sự sống có vẻ chẳng còn ý nghĩa gì cả. 17 Cho ta là một lối dịch đúng, nhưng ở đây cũng có nghĩa là “trên ta” và đôi khi chỉ về điều làm cho nặng nề (Es 1:14). 18 Một khi đã ghét cuộc sống, thì cùng ghét lao nhọc, đôi khi từ này chỉ về toàn bộ mọi nỗ lực mưu tìm sự hiểu biết (Tr 1:13) nhưng ở đây tập trung nhiều hơn về sinh hoạt hằng ngày. 19 Một hình thức trầm trọng hơn đó là một người có thể phá hỏng công trình của bậc tiền bối (Rô-bô-am, người kế vị Sa-lô-môn là một trường hợp điển hình, IVua11:41-12:24). 20 Đến đây phần suy tưởng của Nhà Giáo kết thúc bên vực thẳm tuyệt vọng. Có thể dịch nguyên ngữ Hi Bá Lai là “để cho tấm lòng rơi vào tuyệt vọng”. 21 Một hình thức bất công là kẻ khác lại hưởng lợi từ công khó nhọc nhằn của tiền bối. Bất chấp sự khôn ngoan (biết cách thức xoay sở trong thực tế), hiểu biết (lượng thông tin) và năng tài (sự thành công do khôn ngoan và hiểu biết) chẳng có gì có thể gạt sự chết qua một bên hoặc bảo đảm sự trường tồn. Chỉ Phúc Âm mới có thể đem lại một lối thoát: “công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICo 15:58). 22 Lao khổ (làm lụng, nỗ lực), cực lòng (những phấn đấu về mặt tình cảm và tri thức) thực hiện được điều gì? Câu 23 là đáp án. Có thể nỗi đau và buồn khổ chỉ về phương diện tinh thần hoặc thể xác. Phải tính đến cả hai phương diện vì ban đêm chỉ về tình trạng mất ngủ xảy ra khi thất vọng bực bội.
(Tr 2:24-26) Lối thoát cho chủ nghĩa bi quan Tr 1:2-2:23 không nói đến Đức Chúa Trời nhiều, ngoại trừ một lần trong 1:13. Lập luận trong phần này xoay quanh thế giới thuộc về đất (1:3,13-14 2:3,11,17-20,22) và chỉ nhắc sơ sơ đến Đức Chúa Trời là nguyên nhân của sự thất vọng. Nhưng ở đây Đức Chúa Trời là Đấng kiểm soát thế giới của Ngài, là Đấng sáng tạo vẻ đẹp, là quan toà xét xử những vụ bất công. Chủ nghĩa hư vô và tuyệt vọng biến thành niềm vui mừng, vẻ đẹp và lòng rộng rãi, sự an toàn và mục đích của Đức Chúa Trời trong cuộc đời.
24a Nhân loại nên vui hưởng những sự cung ứng phong phú tốt lành của Đức Chúa Trời. Ăn và uống nghĩa là sự cung ứng và niềm thoả vui mà Đức Chúa Trời dành cho mọi người. 24-25 Cuộc sống sẽ sung sướng khi kinh nghiệm cuộc sống đến từ tay của Ngài. 26 Ba phước hạnh đến từ Đức Chúa Trời là sự khôn ngoan (khéo léo trong cuộc sống), sự hiểu biết (biết dữ kiện, hiểu và kinh nghiệm) và niềm vui. Kẻ có tội, tội nhân là người không sống để làm hài lòng Đức Chúa Trời cách dùng ở đây khác với 7:20. Sự phán xét dành cho tội nhân cũng đến từ Đức Chúa Trời. Trong nguyên bản Hi Bá Lai không nói rõ là của cải chủ ý của Nhà Giáo là nói đến sự thâu góp về mọi mặt. Nhưng của cải chỉ trụ lại trong tay người công chính. Đây không phải là một điều quan sát được trong thực tế. Còn “của cải của tội nhân để dành cho người công chính” (Ch 13:22) thì có thể thấy trong trường hợp các thành trì của dân Ca-na-an rơi vào tay dân Y-sơ-ra-ên. Quan niệm của người Cơ-đốc về cõi đời đời giúp cho họ dễ hiểu điều này hơn (vì trong cuộc đời hiện tại thì dường như tình trạng trái ngược đang diễn ra trong thực tế) nhưng đối với Nhà Giáo thì điều đó hoàn toàn nằm trong lãnh vực đức tin. Có thể những biến cố như Xu 12:35-36 đã khơi dậy trong lòng ông niềm tin này.
3. Lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời (Tr 3:1-15)
(Tr 3:1-8) Đức Chúa Trời kiểm soát thời gian Phần này nhằm xây dựng trong chúng ta một quan niệm về sự tể trị của Đức Chúa Trời, quan niệm này vừa trấn an vừa cảnh tỉnh độc giả. Trấn an vì Đức Chúa Trời kiểm soát, nhưng cảnh tỉnh vì sự kiểm soát của Đức Chúa Trời vẫn ở trong vòng bí ẩn khó hiểu. Cuộc sống có mục đích vì Đức Chúa Trời điều hành thì tiết (Thi 31:15 “Thời gian của tôi ở trong tay Chúa”). Thời gian có nghĩa là “cơ hội” hoặc “thì tiết” có thể chuyển ngữ hoạt động là “mục đích” như vậy đặt nặng điều người ta muốn thực hiện.
2-8 Tự thân sự kiểm soát của Đức Chúa Trời trên thời gian khống chế chúng ta. Câu 2a khống chế sự khởi đầu và kết thúc của cuộc sống (và như vậy là khống chế luôn mọi chuyện ở giữa hai thời điểm đó). Câu 2b-3 gồm sáu hoạt động, xếp thành từng đôi, gây dựng vun quén và phá huỷ (các động từ được dùng rộng rãi theo nghĩa bóng). Và rồi đến những việc biểu lộ cảm xúc (4), trong chỗ riêng tư (khóc ... cười) và một cách công khai trước công chúng (than vãn ... nhảy múa). Có lẽ ném đá và gom đá lại diễn tả cuộc xâm lăng bằng những hành động phá hoại đồng ruộng, và công tác chuẩn bị đất đai để trồng trọt (IIVua 3:25 chép về một hành động trái ngược còn Es 62:10 nói về việc chuẩn bị đón rước quân chiến thắng). Câu 5a chỉ về thái độ thù địch và thân thiện, giữa cá nhân với nhau hoặc giữa các cộng đồng các dân tộc. Kế đến (6-7a) đề cập đến những hoạt động mưu tìm của cải hoặc đeo đuổi tham vọng, nhằm đạt cho bằng được mục đích hoặc bỏ ngang công cuộc mưu tìm điều lòng hằng ao ước, giữ gìn hoặc phá bỏ những điều mình đang có. Câu 7b-8 nói về việc lên tiếng thổ lộ (nín lặng ... nói ra) và những mối liên hệ trên bình diện cá nhân (yêu ... ghét), hoặc quốc gia (chiến tranh ... hoà bình).
(Tr 3:9-15) Toại ý và mãn nguyện Câu 9-11 cảnh tỉnh chúng ta. Câu hỏi trong câu 9 nhằm nhắn nhủ rằng chúng ta mưu cầu lợi lộc nhưng khó lòng kiếm lợi. Câu 10 nhắc chúng ta rằng Đức Chúa Trời đòi hỏi ý nghĩa trong những cuộc mưu tìm của chúng ta. Câu 11 kéo chúng ta trở về với khả năng hiểu biết hạn hẹp của mình. Câu 12-15 làm vững lòng chúng ta đôi chút, gồm có hai phần nhỏ (11-13,14-15) mỗi phần mở đầu với động từ tôi biết.
Câu 9 nêu lại câu hỏi trong Tr 1:3 (nhưng bỏ hết cụm từ “dưới mặt trời”). Còn câu 10, lặp lại 1:13b, nói về việc Đức Chúa Trời giao cho con người (tức là ấn định) mưu tìm ý nghĩa. Nhưng giờ đây, quan điểm đó đổi khác rồi. 11 Đức Chúa Trời sử dụng mọi thời cho công việc đều là tốt đẹp, đem lại niềm vui thích. Sự đời đời ở nơi lòng người, (ý niệm vĩnh cữu, Bản Diễn Ý) chỉ về khả năng bao quát điều to tát hơn, có tầm cỡ quan trọng hơn là tiến trình của các thời kỳ mà con người vô phương kiểm soát. (Thì tiết và “mục đích” / kỳ định trong câu 1 đối ngược với đời đời ở đây). Con người có khả năng hướng đến những việc “vĩnh cữu”, những việc vượt lên trên hoàn cảnh hiện tại. Dĩ nhiên sự kiện này không có nghĩa là con người hiểu hết về Đức Chúa Trời và mọi đường lối của Ngài con người vẫn không thể nào hiểu công việc của Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng.
Sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là một đặc ân (12-13) và cũng là mục đích của Đức Chúa Trời, được chính Ngài bảo tồn hoặc (theo một quan điểm khác) do Ngài xét đoán. 12 Nhà Giáo cổ vũ là nên hài lòng, thoả mãn. Làm lành ở đây không chuyển đạt ý nghĩa thông thường quen thuộc, mà có nghĩa là hãy thể hiện một cuộc sống hạnh phúc sung sướng. “Vui vẻ” nói về sắc thái của ý tưởng. 13 Hưởng thực phẩm và hài lòng là quà tặng của Đức Chúa Trời. 14 Không thể nào tìm được sự an toàn ở cõi đời này vì đời này chẳng qua chỉ là hư không vô nghĩa (1:2,4). Chỉ có việc của Đức Chúa Trời mới có tính cách trường tồn và hữu hiệu. Sự kiện này khiến chúng ta kính sợ, kinh ngạc pha lẫn nỗi e sợ và tôn kính đối với Đức Chúa Trời và mọi đường lối của Ngài (5:7 12:13). Câu 15 dùng lại lời lẽ trong 1:9-11 nhưng ở đây phản ánh thái độ lạc quan hơn. Quá khứ tái diễn trong hiện tại hiện tại sẽ lại tái diễn trong tương lai. Tạo ra một dòng đời ổn định, nhưng (không như 1:2-11) ở đây không vướng một chút bi quan nào vì Đức Chúa Trời hiện diện để bảo đảm sự chuyển động liên tục của dòng đời. Câu 15b trong bản NIV có ý nói rằng Đức Chúa Trời là quan toà trông coi những chuyển động của các thời kỳ, rồi đây sẽ đến ngày Ngài triệu quá khứ đến để khai trình. Một bản dịch khác chuyển đạt ý nghĩa Đức Chúa Trời “tìm kiếm việc đang vùn vụt trôi qua” tức là Đức Chúa Trời quan tâm đến thế giới ở cõi đời này là một thế giới đang vùn vụt xoay vòng (xem Sách Truyền Đạo, do Eaton, trang 83).
4. Sự phán xét của Đức Chúa Trời (Tr 3:16-22)
Nếu Đức Chúa Trời là Đấng kiểm soát như 3:1-15 giãi bày thì đương nhiên chúng ta phải liên tưởng đến tình trạng bất công nhan nhản trong thế giới. Vì thế tiếp theo đây là dữ kiện quan sát, hai lời nhận định, và lời kết luận (16,17,18-21,22). Câu 16 xác định vấn đề: những chuyện bất công. 17 Tác giả tháo gỡ tình trạng bất công, bất nghĩa trong khung cảnh tương lai (sẽ) với những biến cố do Đức Chúa Trời chủ động (Đức Chúa Trời sẽ) hoặc với thời kỳ phán xét của Đức Chúa Trời (sẽ đoán xét) liên hệ đến mọi người (kẻ công bình và người gian ác). Sự phán xét này xác định giá trị của mục đích sâu kín trong nội tâm (Từ mục đích trong bản dịch AV gói ghém luôn cả ý tưởng). Câu 18-21 trình bày dữ kiện quan sát thứ hai. Điểm chính là Đức Chúa Trời dùng những vụ bất công bất nghĩa để chứng tỏ rằng nếu không có Ngài thì con người không khác gì thú vật (18) con người và thú vật giống nhau trong sự kiện tất cả đều phải chết (19-20) ít người chấp nhận sự khác nhau giữa con người và thú vật sau cái chết (21). Câu 22 kết luận: đứng trước tính cách bí ẩn này của sự sống, giải pháp là hãy vui sống trong sự nhân từ của Đức Chúa Trời.
2. ĐỐI DIỆN VỚI THỰC TẾ (Tr 4:1-10:20)
Các câu châm ngôn trong phần này được sắp xếp đi với nhau: cuộc sống đầy nhọc nhằn và bối rối, cần có bạn bè, nhưng thường là bị lẻ loi, sống nghèo nàn hoặc giàu sang, gặp nghịch cảnh từ phía con người, sự khôn ngoan bị giới hạn, sự ngu dại lại ảnh hưởng mạnh. Mỗi khía cạnh đều có vấn đề, dầu vậy Nhà Giáo nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời hiện diện và niềm tin đặt nơi Ngài có giá trị lớn lao vô cùng. Cuộc sống của Cơ-đốc nhân cũng thường có lắm vấn đề nên cần chú trọng học tập lời dạy của Nhà Giáo chớ không phải chỉ xem đó là lời hay ý đẹp của cổ nhân.
1. Nỗi nhọc nhằn và bạn hữu trong cuộc sống (Tr 4:1-5:7)
Phần này gồm năm cụm (4:1-3,4-6,7-8,9-12,13-16) mỗi cụm liên quan đến sự lẻ loi cô thế, thiếu bạn bè hoặc thiếu sự trợ giúp của con người (không có người an ủi, 1 sự cạnh tranh huỷ phá mối quan hệ giữa con người với nhau, 4 một người hoàn toàn cô độc, 8 hai người hơn một, 9-12 các vị vua bị cô lập, 13-16). 5:1-7 đứng riêng lẻ, xác định lại sự thực hữu của Đức Chúa Trời.
(Tr 4:1-3) Bị áp bức mà không được an ủi Tình trạng áp bức là một điều có thật (tôi thấy, 1), là một sắc thái tàn nhẫn của thế giới này (dưới mặt trời, 1), gây căm ghét càng hơn vì người áp bức có quyền thế. Không thấy tác giả đề ra một giải pháp nào (dù 2:26 và 3:22 có ám chỉ). Vấn đề ngầm đặt ra ở đây là chúng ta đối diện với thực tế như thế nào đây?
(Tr 4:4-6) Đố kỵ và những thái độ khác Một khi sự áp bức phá huỷ mối quan hệ (1-3) thì lòng đố kỵ tàn phá còn tinh vi hơn (4-6). Phần lớn nỗ lực đều do lòng mong muốn vượt lên trên người khác. Câu 5 là thái cực của câu 4. Ở thái cực này lòng đố kỵ đúng ra là đáng ghê tởm, nhưng nếu hoàn toàn rút lui khỏi cuộc sống lại là một nguy cơ ở thái cực kia vì thái độ này huỷ hoại chính đời sống của đương sự . Thái độ mãn nguyện (6) tốt hơn là thái độ đố kỵ (4) hoặc lười biếng (5). Đầy một lòng bàn tay chỉ về một số lượng ít ỏi, đầy cả hai tay tức là có số lượng nhiều khó lòng xử lý. Trường hợp đầu dẫn đến sự thanh thản, an ổn trường hợp kế dẫn đến thất bại và thất vọng (đuổi theo luồng gió).
(Tr 4:7-8) Người ta sống cho điều gì? Một người cô độc, không có gia đình, không có bạn bè, nhưng lại thành công và giàu có. Tác giả nêu vấn đề trong câu 8, nhưng bỏ mặc câu hỏi lửng lơ, không có đáp án đây cũng là một khía cạnh khác của sự thất vọng đối với cuộc đời.
(Tr 4:9-12) Cần có bạn bè Câu 9 xác định nhu cầu này câu 10-12a đưa ra thí dụ cụ thể câu 12b xác định lại nhu cầu này. Ngã (10, hầm hố), đêm lạnh lẽo (11), nạn cướp bóc (12a) là những mối nguy đối với người bộ hành thời xưa, nói về nhu cầu có bạn đồng hành trong những lúc gặp tai nạn (10), thiếu hụt (11) và tai hoạ (12a). Từ số hai (9) tăng lên số ba (12a) là rất ý nhị: càng nhiều bạn bè càng tốt.
(Tr 4:13-16) Một thủ lãnh đơn độc Trong câu 14 có đại danh từ tổng quát tối nghĩa cho thấy là có thể dịch câu này theo nhiều cách. Bản dịch NIV chắc là đúng. Câu 13 viết về một vị vua lớn tuổi, có thời rất khôn ngoan (chẳng còn biết nghe lời khuyên can gợi ý một sự thay đổi) nhưng nay không còn khôn ngoan nữa. Từ nghèo chỉ về gốc gác khiêm tốn. Trẻ nằm trong khoảng tuổi từ thiếu niên đến tứ tuần. Trong câu 14 nước mình chỉ về vua. Một người trẻ tuổi vươn lên trong hoàn cảnh không thuận lợi gì cả, nhưng vua lại bị cô thế (ngụ ý trong câu 15). Tình trạng cô lập của nhà vua dẫn đến sự thành công của người trẻ tuổi. Người này được thành công trong một thời gian (15). Câu 16 cho thấy danh tiếng của người trẻ tuổi cũng không bền. Ông ta cũng lập lại chu trình cũ đó thôi. Từ câu chuyện này nổi bật hai điểm chính là hai điều xác thực đối với toàn thể nhân loại: tình trạng cô lập là một khía cạnh trong kinh nghiệm khổ đau của con người, và thế hệ đến sau không tháo gỡ được nan đề hoặc trục trặc của thế hệ đi trước (1:9-11).
(Tr 5:1-7) Đến gần Đức Chúa Trời Nếu chúng ta hiểu đúng hướng, tức là hiểu 4:1-16 nói về chủ đề bạn đồng hành, thì chúng ta thấy vấn đề bị bỏ dở không có một đề nghị giải quyết nào. Thay vào đó chúng ta đối diện với Đức Chúa Trời. 4:1-16 khuấy gợi lên trong trí của độc giả một ý tưởng là há chẳng phải Đức Chúa Trời là đáp án của vấn đề này sao? Nhưng phải biết cách thức đến với Đức Chúa Trời.
Nhà của Đức Chúa Trời (1) là đền thờ, là một cơ sở chỉ về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và tính cách bất khả tiếp cận của Ngài nếu không có của lễ. Kẻ ngu dại không ý thức rằng cách thức mình đến với Đức Chúa Trời là sai trái, là phạm luật. 2 Hấp tấp trong giờ cầu nguyện thì không thấy được sự khác biệt lớn lao giữa Đức Chúa Trời và con người. Thiên đàng là nơi bày tỏ sự vinh quang của Đức Chúa Trời người thờ phượng Đức Chúa Trời phải nhớ rằng mình không có phép đến gần Đức Chúa Trời với tư cách đồng hàng.
3 Trách nhiệm kéo theo những hiệu ứng phụ, vừa xáo trộn giấc ngủ vừa cũng khiến đương sự tuôn ra những lời nói thiếu suy nghĩ, cân nhắc. 4-5 Khấn hứa (đi kèm với điều thỉnh cầu hoặc tự phát tỏ lòng biết ơn) có thể là một lời hứa nguyện trung thành, một của lễ sẽ dâng cách tự nguyện hoặc sẽ biệt riêng một người con cho Chúa. Không làm trọn lời hứa nguyện phải lẽ hợp tình hợp lý là một việc xúc phạm Đức Chúa Trời. Sứ giả (6) có thể là thầy tế lễ hoặc người được thầy tế lễ sai phái. Chiêm bao (7) hẳn là kiểu mơ mộng, thất thường, không thật khi đến gần Đức Chúa Trời. Thái độ này lẫn những lời cầu nguyện tuôn rào rào cách cẩu thả thiếu nghiêm túc đều là dấu hiệu của cuộc đời vô nghĩa (hư hỏng, méo mó). Liều thuốc cứu vãn là sự kính sợ Đức Chúa Trời (3:14 12:13).
2. Nghèo khó và giàu có (Tr 5:8-6:12)
Phần này đề cập đến người nghèo (5:8), tiền bạc (5:10), “của cải” tăng nhiều (5:11), người giàu (5:12), “dành chứa của cải” (5:13-14), “giàu có và của cải” (5:19 6:2) và người nghèo (6:8).
(Tr 5:8-9) Người nghèo trong guồng máy quan liêu áp bức Nhà Giáo bàn về nỗi thất vọng đối với guồng máy quan liêu áp bức với lối làm việc trì trệ chậm trễ nhưng có lắm lý do tự bào chữa chống chế. Người nghèo không có thì giờ và tiền bạc để chờ đợi. Còn sự công bằng lặn biến giữa các cấp quan lại. Tác giả không đề ra một phương hướng cứu vãn nào cả. Bản chất con người là như vậy rồi.
Tr 5:8 Bản NIV chuyển ngữ là: một viên chức cao cấp hơn dòm ngó tới viên chức cấp dưới có khiến cho người ta hiểu là giữa các tầng lớp quan lại có nghi ngờ hiềm khích nhau (xem động từ trong ISa 19:11). Còn bản GNB chuyển ngữ là: “mỗi một viên chức đều được một viên chức cao cấp hơn bảo vệ” câu này phù hợp với bản văn hơn. Phần cuối của câu 8 không chỉ về Đức Chúa Trời hoặc vua mà chỉ về hàng ngũ các cấp quan lại trong guồng máy cai trị.
Câu 9 được giải nghĩa theo nhiều hướng. Nếu bám theo bản dịch NIV thì có thể hiểu là: bất chấp sự trì trệ chậm chạp của bộ máy quan liêu cửa quyền, có ruộng đất vẫn là hữu ích ngay cả vua cũng cần có ruộng đất. Một hướng chuyển ngữ khác có thể là: “nhưng đối với mọi người một điều lợi cho đất nước là: vua cai trị trên xứ được canh tác”.
(Tr 5:10-12) Tiền bạc và những hạn chế không thuận lợi Giá trị của tiền bạc có phương diện giới hạn như sau: tiền bạc không thể thoả mãn người tham lam (10), thu hút một đám người ăn bám (11) và gây ra xáo trộn, mất an ổn (12). Tiền bạc và của cải (10) là của cải dưới dạng tiền làm phương tiện mua bán trao đổi và của cải dưới dạng hàng hoá chán lắc trong câu 12 (bản Kinh Thánh Việt ngữ cũ) là của cải trong bản Diễn Ý (bản NASV dịch là đầy bao tử).
(Tr 5:13-17) Của cải - được ưa chuộng và bị mất mát Với mấy câu này chúng ta gặp những người có của cải như rồi mất hết của. Họ kiếm được của cải, tích trữ của cải (13) nhưng mất tất cả (14a), không thể để lại cho con được chút gì (14b) cũng không đem theo với mình được khi qua đời (15).
16-17 Sự kiện của cải có thể trôi tuột qua hai tay cách dễ dàng là một khía cạnh gây thất vọng đối với cuộc sống (16a) đến giây phút cuối cùng con người đem theo đúng số lượng (nhấn mạnh trong nguyên ngữ Hi Bá Lai) mình đã mang vào cuộc sống - tay không - tức là không mang theo gì hết.
(Tr 5:18-20) Nhắc lại biện pháp cứu vãn Khi bức tranh của Nhà Giáo mô tả tính cách nghiệt ngã của cuộc đời đã đến hồi dồn dập, ông nhắc chúng ta nhớ lại 1:2-3:22. Ông muốn chúng ta có cái nhìn đầy tin tưởng và một tâm hồn mãn nguyện để đối phó với nghiệt ngã trong đời sống. Ở đây ông nhắc là có một cách sống với đời, đó là vui trong lao nhọc, chớ không phải tránh né lao nhọc. Ăn và uống diễn tả tình thân giữa bè bạn, niềm vui và sự hài lòng, kể cả niềm vui thuộc linh (Phu 14:26). 19 Của cải có thể dẫn đến những điều bất hạnh (xem lại câu 14), nhưng nếu của cải là một phần trong một cuộc sống vui thoả đến từ tay Đức Chúa Trời thì rốt cuộc chúng ta có thể tiếp nhận với lòng cảm kích. Câu 20 vẽ ra một hình ảnh nỗi bật tương phản với kiếp sống trâu ngựa trong Tr 2:23. Hai hình ảnh này chứng tỏ Nhà Giáo cân nhắc hai lối sống. Nguyên ngữ Hi Bá Lai chép là khiến người bận rộn, tức là liên quan đến việc “làm ăn”, “kinh doanh” mà chúng ta đã gặp trong phần trước. Có những chuyện “làm ăn” gây thất vọng, bực bội, tức tối, rối rắm nhưng chuyện “làm ăn” tiếp nhận sự sống từ tay của Đức Chúa Trời cũng thu hút những người chủ trương theo nhân sinh quan này.
1-12 (xem giải nghĩa 5:8-12)
(Tr 6:1-6) Của cải và tính cách bấp bênh Của cải không bảo đảm rằng sở hữu chủ sẽ vui hưởng của cải do mình tạo ra (1-2). Có người trong thời thanh xuân sống sung túc với gia đình đông đúc, nhưng qua đời trong buồn khổ, không người than khóc (3). Thà chẳng bao giờ được sống còn hơn là sống một cuộc đời buồn chán, thất vọng (4-6a). Cái chết là chuyện không thể tránh được (6).
(Tr 6:7-9) Hoài vọng không nguôi Con người lao động không phải chỉ để tìm thú vui mà để kiếm sống với hi vọng tìm được sự thoả mãn trong cuộc đời nhưng không hề được thoả lòng ao ước (thay vì dùng từ khao khát vì câu này có ý nói về mặt tinh thần chớ không phải riêng về phần thể xác). 8 Hai câu hỏi này đều dẫn đến một câu trả lời thể phủ định. Vì tự thân sự khôn ngoan lẫn nếp sống phải đạo làm người của kẻ nghèo đều không thể cải thiện cuộc sống của họ. Có thể câu 9 có ý khuyên lơn và kêu gọi hãy hài lòng. Nhưng câu 9b dường như có ý nói rằng khi người nghèo nhìn thấy nhiều thứ thì nỗi thèm khát càng nhân rộng khiến cho nỗi thất vọng càng trầm trọng.
(Tr 6:10-12) Ngõ cụt “Tên riêng” chỉ về tâm tánh. Thế giới (làm điều có trước), con người và Đức Chúa Trời (Đấng mạnh hơn mình) đều có tính cách và bản tánh, bản thể nhất định cả rồi. Cho nên nan đề xác định trong Tr 1:2-3 sẽ không được hoá giải. 12 Con người cần một điều gì đó thích dụng hằng ngày (trong những ngày của đời hư không mà loài người trải qua như bóng), thích dụng trong suốt cuộc đời của con người, là điều có thể đương đầu với cuộc đời đầy bí ẩn (những ngày của đời hư không), cung ứng cho con người những điều có giá trị và cho họ được kinh nghiệm những giá trị đó. Hai câu hỏi trong câu 12 hàm ý là đa số nhân loại không tìm ra điều đó, còn đối với nhiều người thì khó lòng cứu giúp họ. Ít người có được câu giải đáp trong thực tại đối với thực tế trong tương lai thì không có gì là chắc chắn. Phần này đã tiến đến ngõ cụt. Chỉ có Tr 5:18-20 mới góp phần trợ giúp được.
3. Khổ đau và tội lỗi (7:1-8:1)
Phần thứ nhất trong khúc sách này trình bày trước tiên về sự đau khổ có thể đem lại cho chúng ta những bài học quí giá (1-6), kế đến là những nguy cơ trong khổ đau (7-10). Sự khôn ngoan là cần yếu (11-12) sự sống nằm trong tay của Đức Chúa Trời (13-14). Phần thứ hai trình bày từ sự cong quẹo trong cuộc đời (15) đến sự cong quẹo trong lòng người (29). Những vấn đề căn bản liên quan đến nguồn gốc, tính cách phổ quát và hư hoại của điều ác được nêu ra qua những lời xác định về sự kiện đan xen với những lời thúc giục hành động.
(Tr 7:1-6) Học hỏi qua nỗi khổ đau Tác giả nêu ra liên tiếp hai sự ví sánh (1) có thể dịch là “vì danh tiếng hơn ... nên ngày chết hơn ...”. Vì tâm tánh bên trong con người quan trọng hơn hương thơm bên ngoài nên những bài học rút tiả từ một đám tang tỏ ra hữu ích hơn những bài học từ một buổi mừng sinh nhật. Đám tang có thể khiến chúng ta suy nghĩ về cuộc sống còn có lẽ liên hoan mừng sinh nhật thì không. Chính vì lẽ đó mà nỗi khổ đau tốt cho cõi lòng (3) tức là điều kiện cho tận trong thâm tâm của chúng ta thực sự thực hiện những cuộc thẩm định giá trị. Câu 4a người kinh nghiệm rút tỉa được bài học từ tính cách không thể né tránh của sự chết nhưng người ngu dại thì không thấy những vấn đề thuộc linh liên quan và chỉ lo chú tâm vào lễ nghi bên ngoài. 6 Tiếng cười của kẻ ngu dại như ngọn lửa thình lình bộc phát, như tia sáng loé ra nhưng sớm lu mờ, dễ dàng tắt ngúm.
(Tr 7:7-10) Bốn nguy cơ Bốn chướng ngại đối với sự khôn ngoan là: tham ô (7), mất bình tĩnh kiên nhẫn (8), cay đắng (9) và nuối tiếc quá khứ (10). Cuối cùng (8) nghĩa là “kết quả” (như trong Tr 14:12). Thời gian thử nghiệm dẫn đến quả chung cuộc. Ở trong lòng (9) hàm ý tận trong thâm tâm. Nếu dung dưỡng cơn giận ở tận đáy lòng mình thì sự oán hận sẽ ngự trị trên nhân cách của đương sự.
(Tr 7:11-12) Khôn ngoan là cần yếu Với dân Y-sơ-ra-ên cơ nghiệp chính yếu chỉ về đất đai. Ở đây nói về lãnh vực thuộc linh. Sự khôn ngoan cũng thuộc về Đức Chúa Trời như đất đai vậy nhưng Ngài ban cho dân thuộc về Ngài. Sự khôn ngoan có khả năng bảo vệ tương tự như của cải nhưng ở bình diện sâu xa hơn.
(Tr 7:13-14) Cuộc đời dưới quyền của Đức Chúa Trời Câu 13 vang dội âm hưởng của 1:15. Tình trạng lắt léo cơ bản mà chúng ta kinh nghiệm trong cuộc đời không phải do định mệnh mà do Đức Chúa Trời sắp xếp. 14 Chặng đời sáng sủa lẫn chặng đời tối tăm đều có mục đích. Chặng đường đời sáng sủa đem lại niềm vui mừng chặng đường đời tối tăm khiến cho chúng ta nhận thức rằng cuộc sống “bị sự hư không bắt phải phục tùng” (Ro 8:20). Tình hình cuộc sống dao động buộc chúng ta phải lệ thuộc Đức Chúa Trời. Chúng ta chưa đến thiên đàng.
(Tr 7:15-18) Hiểm hoạ dọc đường Những ngày hư không của ta, cuộc sống vô nghĩa (15) là cuộc sống không bị những nan đề trong 1:2-11 chế ngự chi phối. Chuyện Giê-sa-bên (IVua 18:1-19:21 21:1-29) và Na-bốt (21:13) minh hoạ cho ý trong câu 15. Khi phải đối diện với sự bất công, phản ứng của người ta hoặc bày tỏ chủ trương theo điều mình cho là đúng, (ý câu 16, có thể dịch là “sắm vai trò người công nghĩa”) hoặc đầu hàng làm theo tội lỗi (17). Dòng cuối câu 17 có thể dịch là “sẽ thoát khỏi cả hai” chỉ về câu 15-16.
(Tr 7:19-22) Cần có sự khôn ngoan Đến đây cổ vũ về sự khôn ngoan là thích hợp. Sự khôn ngoan có thể có công năng lớn hơn cả ý kiến của cả một nhóm nhà lãnh đạo dạn dày kinh nghiệm (19). Rất cần có sự khôn ngoan vì cớ tình trạng tội lỗi của con người (20), biểu lộ đặc biệt nhiều qua lời nói (21). Không nên nặng lòng đến tinh thần báo thù, trả đũa của người khác. Câu 22 nhắc chúng ta là kinh nghiệm của chính chúng ta cho phép chúng ta kết luận rằng những lời nói trong tinh thần đó thường là không đúng.
(Tr 7:23-24) Khó lòng có được sự khôn ngoan Cần có sự khôn ngoan (19-22) nhưng lại khó đạt đến mức khôn ngoan. Câu 24 quay về với câu hỏi trong Tr 1:12-18. Ai có thể tìm được? là một câu hỏi hùng biện. Đáp án, nói chung, là không ai cả.
(Tr 7:25-29) Tình trạng tội lỗi của nhân loại Nhờ nhận thức rằng chúng ta khó lòng có được sự khôn ngoan nên chúng ta lo tìm hiểu thêm nữa về đặc tính của nhân loại và của thực tại (25). Muôn sự, từng điều từng vật (25) và chánh lý muôn vật (27) là lối nói toán học chỉ về “tổng cộng”, tổng kết. Nhà Giáo đưa ra những kết luận về nữ giới (26,28) và về nam giới (29). Trong nữ giới ông khiếp sợ một mẫu người (26). Trong nhân cách của mẫu người này có bản năng của một tay săn bắn. Những cử chỉ ân cần săn sóc của người này thu hút mạnh mẽ (tay tợ như dây xích). Không phải ai ai cũng thoát khỏi nanh vuốt của mẫu người này, người ta chỉ thoát được khi Đức Chúa Trời cho, thoát được là một món quà của Đức Chúa Trời cho (2:26). Câu 28 không phải là một câu xác định tập trung vào sự khôn ngoan (như ITi 2:14 Tit 2:2-6), nhưng tập trung vào một tầng lớp nữ giới nào đó mà thôi chớ không phải tất cả nữ giới. Từ ngay thẳng không có trong nguyên bản Hi Bá Lai. Cần so sánh với Tr 9:9 để hiểu câu này theo một hướng khác. Câu 29 là một lời kết luận về toàn bộ nhân loại, do nam giới cầm đầu hầu như hoàn toàn là như vậy trong thời của Nhà Giáo. Duy có một điều cho chúng ta biết là chỉ có một vấn đề duy nhất là vấn đề làm căn nguyên của mọi tai ương của nhân loại. Nhân loại được dựng nên ngay thẳng chớ không phải bất định về mặt đạo đức. Nhưng bất chấp sự công nghĩa mà con người có từ ban đầu, tội lỗi vẫn xâm nhập. Tội lỗi là gian ác (mưu kế nói về kế hoạch nhằm khắc phục những điều bất như ý), cố tình và phổ thông khắp hoàn cầu (loài người chỉ về tất cả mọi người, mọi dân tộc, không trừ một ai).
(Tr 8:1) xem giải nghĩa Tr 7:1-29
Ai khôn ngoan? Câu này nối tiếp chủ đề trong chương 7. Có ai tìm ra được câu trả lời cho những điểm bí ẩn trong cuộc đời. Gương mặt sáng sủa chỉ về cách cư xử khả ái (so sánh Phu 28:50 Da 8:23).
4. Quyền lực và sự bất công (8:2-9:10)
Sau khi xác định về thực tại của quyền lực (2-9), những sự bất công (10-15) và những điều rắc rối khó hiểu của cuộc đời (16-17) và cuối cùng là một kết cuộc kỳ quặc (Tr 9:1-6), Nhà Giáo đưa ra một bục cao làm chỗ đứng giữa tình trạng rối rắm (9:7-10).
(Tr 8:2-9) Quyền lực vua chúa Dân ở dưới quyền cai trị của một vị vua phải tuyên thệ trung thành với vua, có Đức Chúa Trời chứng giám. 3-4 Nhà Giáo cảnh báo chống lại việc bỏ nhiệm sở của mình, trốn tránh trách nhiệm của mình. Vội vàng lui ra khỏi sự hiện diện của vua là dấu hiệu của lòng bất mãn và bất trung (Os 11:2). Ủng hộ, đứng về phe, cũng có thể nghĩa là “ghì mài, miệt mài”. Cần nghiêm túc đối với quyền lực của vua. 5 Sống trong một thể chế chuyên quyền cần canh chừng chờ đón cơ hội và nắm bắt ngay cơ hội Đức Chúa Trời đưa đến (lời lẽ của câu này khiến chúng ta liên tưởng đến Tr 3:1-8) và nương theo phép lệ, thủ tục mà hành động. Giô-na-than, Na-than, Ê-xơ-tê đều đã nêu gương này cho chúng ta (ISa 19:4-6 IISa 12:1-14 Et 7:2-4). 6-7 Tai nạn bối rối nhiều tức là cảnh nghèo khó khổ cực thêm phần trầm trọng vì người ta không thể biết trước chuyện tương lai, gây thất vọng và rối rắm khó hiểu. Hai khía cạnh này nằm trong chủ đề của sách Truyền Đạo. Câu 8 đề cập đến sự kiện tất cả mọi nhà cầm quyền đều bị giới hạn trong bốn lãnh vực. Trước tiên, chẳng người nào có thể giam hãm tâm hồn của bất cứ ai (sanh khí) (lề của bản NIV dùng từ ăn ý với văn cảnh). Thứ hai, Sự chết nằm trong phạm vi kiểm soát của Đức Chúa Trời. Thứ ba, trong tranh chiến chẳng có sự miễn thứ có vẻ như nói về phạm vi quyền lực của vua. Nhưng nguyên ngữ Hi Bá Lai dùng lời lẽ có thể dịch là “trong cuộc chiến này” và như vậy là nối tiếp ý tưởng trong điểm thứ hai. Trong cuộc tranh chấp với tử thần thì chẳng có quyền lực nào có đủ khả năng tiếp cứu và giải thoát. Tranh chiến là lối nói ví về nỗ lực giành giựt lại sự sống khi tử thần đến gần. Thứ tư, không có biện pháp nào, dù tàn nhẫn, gian ác đến đâu, có thể cứu người ta ra khỏi cuộc chiến này. Bản NIV nối kết điểm ba và bốn với nhau nhưng thật ra những câu này vẫn có thể đứng riêng rẽ. Trong một số hoàn cảnh luật pháp, trật tự và những biện pháp chế tài của chánh quyền có vẻ như bị gãy đổ. Vào những lúc đó lời kêu gọi “hãy vâng phục vua” tỏ ra thích đáng và có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
(Tr 8:9-11) Chuyện bất công trong đời Một lần nữa Nhà Giáo nhận là ông quan sát (Ta có thấy), thẩm định (Ta chuyên lòng suy nghĩ), một phạm vi rộng lớn (mọi việc làm ra) nhưng có một giới hạn (ở dưới mặt trời). Giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên an táng là một nghi thức tỏ lòng tôn kính kẻ ác mà được tôn vinh trọng vọng là chuyện bất bình thường. Họ được qua đời bình yên, được tôn trọng, ca tụng là chuyện có vẻ bất công. Tâm trí chúng ta liên tưởng ngay đến những trường hợp điển hình cận đại. 11 Đức Chúa Trời trì hoãn sự hình phạt nên người ta hiểu lầm. Sự kiện Đức Chúa Trời án binh bất động, không có một hành động nào cả dường như biểu thị một thái độ thờ ơ, không quan tâm chú ý thay vì lòng nhẫn nại của Ngài.
(Tr 8:12-13) Câu trả lời của đức tin Tội lỗi của kẻ ác có thể là lớn và nhiều lắm (cả trăm lần) rồi họ cũng được sống lâu lắm, nhưng quan điểm của niềm tin xác định rằng: Tôi biết (động từ tôi có thấy trong câu 9 ngụ ý chỉ ra tất cả những điều có thể nhìn thấy còn động từ tôi biết trong câu 12 nêu lên một quan điểm không được mọi người chấp nhận). Theo một phương diện, người gian ác sống trường thọ (12), nhưng không thể kéo dài cuộc đời như cái bóng đổ dài. Lối nói mâu thuẫn này hàm ý là giống như gai nhọn bên kia nấm mồ sự gian ác không còn tung hoành gì được nữa, trong khi người công bình sẽ phồn vinh trong một dạng nào đó sau khi qua đời.
(Tr 8:14-15) Xác định lại nan đề, nhắc lại biện pháp tương ứng Đôi khi sự báo trả hoàn toàn không tương xứng với việc làm. Trong khi câu 14 đặt vấn đề cách nghiêm trọng hơn, thì câu 15 gợi lại nội dung Tr 2:23-24 và 5:18-20, tức là biện pháp xử lý của Nhà Giáo. Đó là tiếp nhận những quà tặng mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta và giao phó chính mình vào tay của Ngài.
(Tr 8:16-17) Điều không thể hiểu được trong cuộc đời (Tr 8:16-9:1) Điều không thể hiểu được trong đời khiến cho người ta đêm ngày ăn ngủ không yên (c.16 2:23). Vì vậy (17) chúng ta phải chấp nhận sự thể không hiểu biết hết tất cả mọi việc. Làm việc khó nhọc, cần cù, kinh nghiệm chồng chất, tất cả đều không tìm ra câu giải đáp. Ý chính trong phần cuối câu 1 làkhông một ai biết trước người ta sẽ đối xử với mình như thế nào. (Sự yêu hay là sự ghét chỉ về cách đối đãi của con người với nhau chớ không phải cách đối đãi của Đức Chúa Trời dành cho con người).
(Tr 9:1) xem giải nghĩa 8:16-17
(Tr 9:2-3). Đối đãi như nhau Không nhất thiết là người công nghĩa được đối đãi tốt hơn kẻ ác, cũng không hẳn sẽ sống thọ hơn hoặc qua đời êm ả hơn. Cụm từ sợ lời thề có thể chuyển ngữ là “né tránh thề hứa” tức là chỉ về những người tránh không tuyên thệ trung thành với Đức Chúa Trời. Từ điên cuồng dùng ở những đoạn văn khác có nghĩa là một lối sống thác loạn, vô nề nếp.
(Tr 9:4-6). Ở đâu có sự sống ở đó có hi vọng Sự sống là chủ yếu, còn cái chết gây ra một sự thay đổi dứt khoát. Câu kẻ chết không biết chi hết gợi nhớ lại một câu xác định tương tự trong Giop 14:21-22 và IIVua 22:20. Ý của câu này không phải là kẻ chết ngủ, mà là kẻ chết không liên lạc gì cả với dương gian này. Còn người trên dương gian, nam lẫn nữ chẳng bao lâu sẽ quên người quá cố. Phần thưởng được ban cho và được tiếp nhận khi người ta còn sống trên dương gian này. Câu 6 đề cập đến một số việc làm ở dương gian khi chết những việc đó sẽ kết thúc.
(Tr 9:7-10). Phương thuốc của đức tin Những lời vốn là khuyên bảo (Tr 2:24-26 3:12-13,22 5:18-20) nay trở thành lời kêu gọi thể hiện qua hành động. Lòng vui thoả đặt cơ sở trên sự ưu ái của Đức Chúa Trời. Nhân loại cần nhận lấy niềm vui thoả như một món quà của Đức Chúa Trời ban (so sánh 3:13), trên căn bản đó chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ tán thành hoạt động của chúng ta. Phục sức thoải mái (áo quần màu trắng trong thời tiết nắng nóng), da dẻ mởn mơ (nhờ xoa dầu cho khỏi ngứa ngáy), tình yêu của người bạn đời (9) là một số điều thiết thực. Cuộc hôn nhân đề cập ở đây là một cuộc hôn nhân có tình yêu một vợ một chồng kết hiệp với nhau trọn đời. 10 Dựa vào vốn liếng căn bản này, lòng vui thoả (7), thể xác dễ chịu (8), và người bạn đời bên cạnh mình (9), chúng ta lao vào gánh vác nhiệm vụ trong cuộc sống. Mọi việc tay người làm được chỉ về những phương tiện sẵn có và phạm vi năng lực của chúng ta. Sống là hoạt động năng nổ, thiết thực. Chết là không còn cơ hội nào nữa.
5. Khôn ngoan và ngu dại (Tr 9:11-10:20)
Tr 9:11-18. Mỗi phân đoạn trong phần này đều liên hệ ít nhiều đến hai chủ đề khôn ngoan và ngu dại.
(Tr 9:11-12) Thời gian và cơ hội Câu 11 liệt kê cơ hội thành công trong năm lãnh vực, nhưng có hai yếu tố hạn chế: thời gian (gợi lại 3:1-8 và ý chính của phân đoạn đó là thời cơ của cuộc đời nằm trong tay của Đức Chúa Trời) và biến chuyển bất ngờ (vận may rủi theo quan điểm của con người). Những lúc bị trục trặc rắc rối hoặc chết (thời thế, vận rủi, có thể chỉ về cả hai) đều bất ngờ và không thể chống trả được (như lưới và bẫy gợi ý).
(Tr 9:13-16) Sự khôn ngoan không được phát hiện Nhà Giáo thuật lại chuyện đấu tranh giữa địa vị đầy uy quyền (vua cường thạnh) và địa vị nhỏ nhoi khiêm tốn (một thành nhỏ), giữa sức mạnh (những thành luỹ cao lớn) và sự yếu đuối (một thành nhỏ). Không rõ sự việc này diễn ra đúng vào thời nào, nhưng tình tiết có vẻ tương tự với hai biến cố trong Cac 9:50-55 và IISa 20:15-22. Phần cuối của câu 15 có nghĩa là sau khi người nghèo đã lập thành tích giải cứu thành khỏi tai hoạ chẳng một ai nhớ đến công lao của người nghèo này nữa. Tuy nhiên phần câu trước đó có thể dịch là: “Thật ra người này đã có thể dùng sự khôn ngoan của mình mà giải cứu thành ấy”. Như vậy câu này ăn ý với câu 16: hoàn cảnh khiêm tốn của người nghèo kể như đã hại đương sự đến nỗi người ta không chịu nghe phương kế khôn ngoan do đương sự đề xuất. Dầu vậy, nhận định này không nhằm bảo chúng ta phế bỏ sự khôn ngoan như một thứ vô dụng nhưng nên kiên trì đeo đuổi sự khôn ngoan và giao phó phần kết cho Đức Chúa Trời.
(Tr 9:17-18) Sự khôn ngoan bị gạt bỏ Trong khi không ai đoái hoài tiếng nói của người nghèo (16), thì tiếng nói của giới cầm quyền dễ dàng được ủng hộ (17). Sự quát tháo của quyền lực đủ sức đè bẹp sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan cũng dễ bị thất sủng (17), vì một sai sót nhỏ toát ra mùi ngu dại mạnh hơn mùi thơm của sự khôn ngoan (10:1).
(Tr 10:1) xem giải nghĩa 9:17
(Tr 10:2-3). Ngu dại Phần còn lại của phân đoạn này mổ xẻ bề trái chìm ẩn ngoài tầm nhìn nơi đời sống của một người, trái ngược với khuôn mặt (7:3), đôi tay (7:26) hoặc thân thể (11:10). Vì trường hợp thuận tay trái khiến người ta liên tưởng đến tình trạng kém cỏi, vụng về (Cac 3:15 20:16), nên khi nói trái tim nghiêng về bên phải tức là có ý nói đương sự công minh ngay thẳng, khéo léo và tháo vát trong cuộc sống hàng ngày. Còn nói trái tim nghiêng qua bên trái là có ý cho rằng đương sự vụng về và kém cỏi bên “nguồn nước của sự sống” (Ch 4:23). Sớm muộn gì sự kém cỏi đó sẽ lộ ra (3).
(Tr 10:4-7). Ngu dại ở những cấp bực cao trọng Khi người cầm quyền cai trị nổi giận đừng vội bỏ việc thôi làm (hoặc vì sợ hãi hoặc vì cay đắng bất mãn). Lời khuyên trong câu 4a được nhấn mạnh và củng cố nhờ mấy lý do đi kèm theo (4b-7). Có thể xảy ra lỗi lầm dại dột ở cấp lãnh đạo quốc gia dân tộc (5) và những chuyện nâng cấp hoặc giáng cấp, cùng tăng thanh thế uy quyền hoặc tước quyền hạ uy thế cách sai trái bất hợp lý khiến cho sự khôn ngoan bị phế thải, gạt bỏ (6-7). Người có tiềm lực phong phú (người giàu) lại không gặp thời cơ người gặp thời cơ (quan tướng) lại có thể thiếu tiềm năng tiềm lực.
(Tr 10:8-11). Ngu dại chuyển vào hành động. Trong tinh thần phục thù đã gắn sẵn hậu quả. Hình ảnh trong câu 8 nói ví von về tánh hiểm độc (Gie 18:18-22). Có người cũng tiến hành những công việc hữu ích hơn (chẻ đá, chặt cây) nhưng kém thiếu khả năng (9) hoặc có khả năng có tài nhưng bị quá nhiều rủi ro của “thời thế” nhận chìm (Tr 9:11). Câu 10 nhắc chúng ta rằng biết suy nghĩ tính toán thì thành công hơn là sức mạnh vũ phu, cục súc, nhưng câu 11 cảnh báo chúng ta về thái độ thụ động ở thái cực kia: người có khả năng xử lý một vấn đề khó (thầy ếm chú, người dụ rắn) vẫn có cơ thất bại vì trì hoãn chậm chạp. Tánh uể oải, rề rà có thể vô hiệu hoá tài năng tiềm tàng.
(Tr 10:12-15). Lời nói và việc làm của kẻ ngu dại Nghe lời người ta nói là một cách trắc nghiệm mức độ kinh nghiệm nơi họ. Lời nói nhân hậu nghe tử tế, thích hợp, hữu ích và hấp dẫn. Còn lời nói của kẻ ngu dại phá hoại chính đương sự, giảm hạ uy tín của đương sự (c.3) và khiến cho đương sự mất cơ hội thực hiện những việc tốt, có giá trị. Khởi đầu (13) có thể nghĩa là “căn nguyên, nguồn cội”. Những lời nói ngu dại bắt nguồn từ sự ngu dại tiềm tàng trong lòng (c.2). Cuối cùng (bao hàm cả ý “kết quả” như trong 7:8) là điên cuồng nguy hiểm, ăn nói phi lý ngang ngạnh ngoan cố. Câu 14 nói về tính ngạo mạn của loại người này mặc dù nói năng huyên thuyên đương sự vẫn không nắm được tương lai. Câu 15 chuyển từ lời nói qua việc làm. Thành thị trải rộng lồ lộ trước mắt nhưng kẻ ngu dại vẫn lạc đường. Từ khước không tiếp nhận sự khôn ngoan hoàn hảo của Đức Chúa Trời luôn luôn đưa đến tình trạng mất hướng, mất ý nghĩa trong cuộc sống.
(Tr 10:16-20). Sự ngu dại ở cấp quốc gia. Nhà Giáo đem so sánh hai lối sống ở cấp quốc gia, lối sống dẫn đến thảm hoạ (khốn cho ...16) và lối sống dẫn đến an ninh yên ổn (phước cho ...17). Trước tiên cần có một người lãnh đạo già dặn chín chắn. Trong IVua 3:7 Sa-lô-môn tự nhận là non nớt kém cỏi cần sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ban cho. Dòng cao sang (nguyên ngữ Hi Bá Lai: “con trai của người tự do”) là địa vị trong xã hội cho phép người lãnh đạo dám hành động mà không e ngại gì cả. Thứ hai là cần đức tự chế. Ăn và uống trong buổi tinh sương hàm ý một cuộc sống buông thả, phè phỡn. Dù chủ đề vẫn còn ở cấp quốc gia (chú ý c.20), tác giả xoáy câu 18 vào cá nhân trong quốc gia. Tính uể oải, rề rà của kẻ ngu dại kéo theo án phạt là tình trạng đổ nát chắc chắn (18). Nhà Giáo không chủ trương khinh thường chê bai bầu không khí vui tươi, rượu và tiền bạc, vì vậy câu 19 có ý nói là không nên theo một nhân sinh quan hoàn toàn chỉ chú trọng đến những thú vui trong đời. Trật tự của những từ được dùng trong nguyên văn Hi Bá Lai nhằm làm nổi bật sự thất bại của cuộc sống lười biếng: “thức ăn” (tiệc) ... rượu ... tiền bạc ... là giới hạn của chân trời cuộc sống. Câu 20 kết thúc với một lời khuyên (nêu lại ý chính trong câu 4) và kêu gọi chúng ta trầm tĩnh trong khi cấp lãnh đạo buông thả phè phỡn hoặc rề rà trì trệ trong nhiệm vụ. “Chim trời” (20) (tức là nghe đồn, người ta đồn đãi) là một thành ngữ trong văn hoá của một số dân tộc từ thời Hê-tít cổ đại đến thời Hi Lạp muộn và về sau nữa.
Mọi lời bàn bạc về sự khôn ngoan và ngu dại đều nhằm nhấn mạnh một lần nữa nội dung 2:24-3:22 và nhắc nhở rằng từng ngày một chúng ta cần tiếp nhận cuộc sống từ tay của Đức Chúa Trời.
3. KÊU GỌI QUYẾT ĐỊNH (Tr 11:1-12:8)
Điểm đặc biệt của phần này, hơn hẳn các phần khác trong sách Truyền Đạo, là bền bỉ khuyến giục chúng ta hành động. Các lời truyền bảo giục giã chồng chất lần lần đến đỉnh điểm là một câu văn dài, sâu sắc và đầy ấn tượng trong Tr 12:1-7. Các từ trước khi ... trước khi ... trước khi ... (12:1,2,6) được lập lại để làm nổi bật sự chết và thôi thúc hành động gấp.
1. Cuộc đầu tư của đức tin (Tr 11:1-6)
Có thể gói trọn nội dung của 11:1-6 trong một từ “đức tin”. Tàu thuyền lênh đênh trên đại dương có thể bị chậm trễ lâu ngày. Vì vậy bất cứ công việc kinh doanh nào liên quan tới lãnh vực chuyên chở hàng hoá đến nơi khác đều cần tới niềm tin tưởng lớn (IVua 10:22). Bánh tức là “hàng hoá, thực phẩm” như trong Phục Truyền Luật Le 8:3. Nhà Giáo khuyến khích bắt lấy cơ hội trong nhiều lãnh vực. Tác giả tăng con số lên, bảy ... tám nhằm khuyên là hãy dọ dẫm thử đủ cách rồi thử thêm một cách nữa. Bối cảnh vấn đề có lẽ là lòng rộng rãi, phân phát phần bánh cho người nghèo. Hoặc nếu bối cảnh vẫn còn là chuyện buôn bán thì câu này nói về những vụ đầu tư của doanh nhân. Bất chấp sự kiện chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, hiện tại vẫn là thời điểm mà chúng ta cần hành động ngay. 3 Không nên để cho một viễn cảnh đáng ngại (mây mù sắp mưa) hoặc sự cố bất ngờ (một cây xanh ngã đổ) ngăn cản chúng ta hăng hái sống. Có những sự việc chúng ta không thể ngăn cản kiểm soát được dù chúng ta có thể lường trước (đám mây và trận mưa). Hơn nữa chúng ta cũng không thể xác định sự việc sẽ diễn ra chính xác là như thế nào, cây xanh nghiêng đổ về hướng nào là chuyện của tự thân cây xanh. Kế đến là một lời cảnh báo về tánh chần chờ lưỡng lự (4), và một lời cảnh báo là chúng ta không nên hoãn lại vì cớ ngu dốt (5). 6 Rồi Nhà Giáo kêu gọi hăng say gieo hạt giống. Mấy câu châm ngôn này không đơn thuần chú trọng đến nông nghiệp mà còn chú trọng đến toàn bộ cuộc sống.
2. Cuộc sống vui mừng (Tr 11:7-10)
Lòng nhân từ trong đời là ánh sáng. Còn thấy mặt trời là còn sống. 8-9 Vui mừng là chuyện kéo dài trong suốt cuộc đời, gồm có niềm vui nội tâm (đường lối của lòng mình) và niềm vui ngoại tại (nhìn xem sự mắt mình ưa thích). Nhưng cũng kèm theo một lời cảnh cáo: những ngày tối tăm dường như chỉ về thời kỳ tai ương và thử thách phàm điều gì xảy đến là hư không nhắc nhở chúng ta rằng vẫn còn đó những khúc mắc rắc rối khó hiểu của cuộc đời, còn phải động viên nhiều lắm mới có được niềm vui. Trong tương lai sẽ có cuộc thẩm định giá trị mọi thành quả của con người. Sự xét xử của Đức Chúa Trời là một biến cố chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai. Vì vậy đừng quên việc này trong khi đeo đuổi tìm kiếm niềm vui. 10 Cần hoá giải càng nhiều càng tốt những lo âu phiền muộn chuyên vây phủ tâm hồn và tâm trí chúng ta.
3. Gấp rút quyết định (Tr 12:1-8)
Không phải nhân loại chỉ lo hướng về cuộc sống vui mừng mà còn phải hướng về Đấng Sáng Tạo nên mình. Câu 1b dẫn vào một câu văn duy nhất (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai) tả vẽ tuổi già nua và cái chết một cách sinh động hoàng tráng. Các hình ảnh ví von trong câu này đã được diễn giải theo nhiều hướng, nhưng có một hướng khá thoả đáng là như sau. Chi tiết về sự giảm thiểu ánh sáng (2a) chỉ về sự giảm thiểu khả năng cảm nhận niềm vui. Mây, lại vần vũ sau trận mưa (2b) ví von về những nỗi bối rối phiền muộn liên tục chồng chất khi đến tuổi già nua. Kẻ giữ nhà ví von về đôi tay, những người mạnh sức ví von về đôi chân, kẻ xay cối ví von về hai hàm răng, những kẻ trông xem qua cửa sổ ví von về đôi mắt (3). Câu 4 mô tả tình trạng lãng tai, mối liên hệ với chung quanh suy giảm và ngủ nghỉ thất thường. Câu 5, tạm gác lối miêu tả ví von, mô tả nỗi sợ đối với độ cao. Trở lại lối miêu tả ví von, cây hạnh trổ bông chỉ về mái tóc bạc trắng. Cào cào trở nên nặng ví von về dáng đi lom khom. Sự ước ao chẳng còn nữa ví von về sự suy giảm trong ham muốn tình dục. Cuối cùng là chết (đi đến nơi ở đời đời) và lễ tang. Câu 6 nói về cái chết qua hai hình ảnh. Trong hình ảnh thứ nhất, chén vàng treo trên dây bạc. Khi từ trần thì tựa như sợi dây bị đứt. Trong hình ảnh thứ hai, cái vò (cái gàu) được thòng xuống giếng. Khi tắt hơi thì tựa như bánh xe trong trục quay bị gãy, cái vò (gàu) vỡ tan, và không bao giờ còn chứa được nước của sự sống.
Câu 7 thôi không miêu tả qua hình ảnh nữa. Qua đời tức là trả xác lại cho bụi đất. Thần linh (thành tố ý thức trách nhiệm, sự sống ý thức) có một số phận riêng biệt. Nhà Giáo ngầm ý nói về sự sống sau cái chết.
4. Kết (Tr 12:9-14)
Dân sự được nêu ra trong vai học tập với Nhà Giáo chứng tỏ Nhà Giáo được tôn trọng. Cân nhắc, tra soát và sắp đặt thứ tự chỉ về tư duy, nghiên cứu, và biên soạn. Tác phẩm của Nhà Giáo toát ra hai sắc thái đặc biệt (10) tính cách nghệ thuật (những câu luận tốt đẹp, đúng ra nghĩa đen là “lời lẽ lý thú”) và tính cách chân thật ngay thẳng (lời chánh trực và chân thật). Đót và đinh đóng chặt chỉ về cách dạy của ông thôi thúc người học hành động và vẫn ghi sâu trong tâm hồn. Đấng Chăn Chiên là Đức Chúa Trời sách Truyền Đạo cũng có một lời tự nhận là được hà hơi (11). Hai lý do đằng sau lời cảnh báo là: thứ nhất có loại kinh nghiệm không phải xuất phát từ Đức Chúa Trời thứ hai có những dự án công trình xuất phát từ tham vọng quá lớn (12). Nhà Giáo tóm tắt sứ điệp, xoay trọng tâm vào tính cách vĩ đại đáng kinh ngạc và đáng kính sợ của Đức Chúa Trời, vào tính cách cấp bách trong lời giáo huấn của Ngài (13) và sự xét đoán của Ngài là việc chắc chắn không sao tránh khỏi (14). Tất cả mọi người, sẽ bị xét xử về tất cả mọi hành vi thiện hoặc ác đã diễn ra cách công khai hoặc lén lút.