CHÂM NGÔN
1. DẪN NHẬP (Ch 1:1-7)
Các câu này là phần dẫn nhập của chính sách châm ngôn cho biết sách thuộc thể loại nào và nhắm mục đích gì. Nhìn chung, có thể liệt nội dung của sách là châm ngôn, châm ngôn gồm có hai dạng khá khác nhau mà phần dẫn nhập có phân biệt. Tự thân sách Châm Ngôn này cho thấy châm ngôn là một từ được sử dụng rộng rãi hơn vào những thể loại đa dạng hơn. Đối với chúng ta châm ngôn là một cách nói ví von. Còn Kinh Thánh dùng từ này cách thoáng hơn. Trong nhiều khúc Kinh Thánh, thí dụ một lời tiên tri (Dan 23:7), một bài học có thị trợ (Phu 28:37), một câu ngạn ngữ (ISa 10:12), một bài phát biểu có tính cách tiên tri (Giop 27:1) và những câu nói trong những dạng khác đều được gọi là châm ngôn. Như vậy, châm ngôn có một nội dung súc tích hơn, năng nổ hơn và thách thức hơn chớ không phải chỉ là một lời nói suông.
Câu 6 mô tả nội dung của sách làngụ ngôn cùng là những danh ngôn và những câu đố của người khôn ngoan (bản dịch GNB “những ý nghĩa giấu kín của châm ngôn và những vấn đề mà các vị khôn ngoan đề ra”). Điều này khiến chúng ta chú ý hai nét đặc biệt khác trong phương cách giáo huấn của Châm Ngôn. Lời giáo huấn thường được lồng trong những hình thức khó hiểu thay vì nói trắng ra nhờ đó người thụ giáo phải động não. Điều này cũng phản ánh sự kiện là sách thường luận giải vấn đề sâu xa.
Tiêu đề Châm Ngôn của Sa-lô-môn giới thiệu toàn bộ sách, nhưng không phải Sa-lô-môn là tác giả của cả sách (Ch 24:23 25:1 30:1 31:1). Thật ra, câu đó xác nhận toàn bộ sách là một tuyển tập của sự khôn ngoan đích thực với tầm cỡ của Sa-lô-môn . Vì trong Kinh Thánh Sa-lô-môn là hiện thân vĩ đại của sự khôn ngoan (IVua 3:1-4:34). Sách chứa đựng tầm cỡ khôn ngoan mà vua dạy và biểu hiện. Không rõ những phần sách nào là tác phẩm của vua. Thực sự chúng ta cũng không rõ các phần khác nhau trong sách được viết vào thời điểm nào (ngoài ra hai mốc thời gian xa nhất là năm 2000 và 200 T.C.). Tuy nhiên, ý nghĩa của sách không phụ thuộc vào những thông tin thuộc loại này. Sách quan tâm đến những vấn đề hàng ngày của con người trong mọi thời đại.
Câu 1 xác định Sa-lô-môn là con của Đa-vít, vua của Y-sơ-ra-ên (so sánh Tr 1:1). Truyền Đạo còn đi một bước nữa là dùng Sa-lô-môn làm gương mẫu, vì là vua nên Sa-lô-môn ở trong một vị trí độc đáo để phát biểu 1:12-2:11. Tương tự, cũng có thể Sa-lô-môn là gương mẫu ngầm ẩn của các bài giảng trong chương 1-9. Các chương này trình bày những loại nguyên tắc mà một vị vua cỡ Sa-lô-môn phải đủ khôn ngoan để theo đó mà sống. Ở điểm này xem ra khá mỉa mai đấy!
Phần dẫn nhập tiếp tục xác định mục đích của sách, và lần lượt kê ra một bản tự vựng chuyên dùng trong lãnh vực khôn ngoan.
Trong câu 2, từ khôn ngoan có nghĩa trước nhất là cách thức làm trong thực tế hoặc sự khéo léo tinh tế khi hành động (Ch 30:24-28), dù sau này được dùng theo nghĩa trừu tượng liên hệ đến những vấn đề thần đạo cao siêu hơn (8:22-31). Lời khuyên dạy hoặc “dạy dỗ” (cùng một từ dùng trong câu 8) nhắc chúng ta nhớ rằng không dễ gì cầu đạt được sự khôn ngoan khuyên dạy đòi hỏi phục tùng (so sánh 3:11 6:23 13:1,24). Vì thế “trách” hoặc “quở trách” (1:23,25,30) thường đi kèm với khuyên dạy hoặc “dạy dỗ” (3:11 5:12 6:23 10:17). Phân biệt các lời thông sáng ngụ ý khả năng phân tích, khả năng nhận thức mặt trái của sự việc hoặc hiểu ý ngầm và khả năng phán đoán cân nhắc để quyết định thông qua những điều đã hiểu (so sánh c.6).
Sự khôn khéo trong câu 4 là một từ khác, có nghĩa là tinh khôn (bản dịch REB), khả năng khiến người ta làm theo ý mình mà chính mình lại không mắc vạ (22:3 Sa 3:1 theo ý xấu xa quỷ quyệt). Tri thức có thể nói về chuyện biết những sự kiện và biết con người, nhưng lại lấn qua phạm vi nhận biết và tức là dính dáng với dấn thân, giao phó, như vậy là liên hệ lý thuyết với thực hành (Ch 1:22,29 3:6). Vì thế, “tri thức của Đức Chúa Trời” (2:5) liên quan gần gũi với vâng lời Đức Chúa Trời hơn là có kinh nghiệm bản thân với Đức Chúa Trời. Từ dè dặt (4) gợi ý về tánh khôn khéo của một người thực tiễn biết làm sao cho công việc được tiến hành trôi chảy và không lùi bước trước nan đề theo chiều hướng xấu thì đó là mưu đồ, toan tính (12:2).
Trong câu 5 học vấn đến từ động từ “tiếp thu” và gợi ý về nỗ lực để hiểu và gợi ý về tinh thần sẵn sàng đón nhận mà sự khôn ngoan đòi hỏi phải có. Cũng một từ này lại được dịch là “lời êm dịu quyến dụ” trong một bối cảnh khác thường (7:21). Mưu trí (chỉ đạo, bản Diễn Ý) bắt nguồn từ từ dùng để chỉ về sợi dây thừng và gợi ý về khả năng lèo lái cuộc đời với giữa mọi bão tố (24:6).
Phần dẫn nhập của sách cũng xác định đối tượng mà sách nhắm đến. Người ngu dốt (4) là giới trẻ chưa được giáo dục đầy đủ, có nguy cơ trở nên khờ khạo, cả tin, dễ bị dụ dỗ và hài lòng với trình độ của mình (c.10 - “quyến dụ” là một từ liên quan và gợi ý về việc đưa đẩy kẻ cả tin vào lối lạc lầm 1:22,32 14:15). Nhưng không phải nhờ sự dạy dỗ của Châm Ngôn mà người ta trở nên người khôn ngoan và thông sáng (5). Từ thông sáng liên quan đến cụm từ hiểu biết sự khôn ngoan trong câu 2 (xem lời bình giải về cụm từ này). Người khôn ngoan và thông sáng biết rằng thường hầu hết mọi người có nhu cầu hành động theo mớ chân lý quen thuộc thay vì khám phá những chân lý mới.
Ngược lại, người ta trở nên ngu muội (7) khi họ không chịu học hỏi hoặc khi họ hài lòng tự tin rằng mọi việc sẽ ổn thoả, hoặc khi họ quay lưng từ khước những chân lý căn bản quen thuộc (1:32 12:15 17:12 27:3,22).
Một loại đối tượng nữa xuất hiện trong câu 22: “kẻ nhạo báng”. Từ này chỉ về những người luôn luôn mở rộng miệng thay vì dỏng đôi tai để nghe. Họ cho rằng mình biết tất cả mọi chuyện rồi, không cần nghe ai nữa. Đây là loại người kiêu căng, khó dạy và khó ưa (so sánh 9:7-8 13:1 15:12 21:24).
Chót hết, phần dẫn nhập cũng tiết lộ đám bè bạn của sự khôn ngoan, xác định rõ rằng sự học hỏi và những quyết định có tính cách thực dụng không diễn ra cách riêng rẽ độc lập. Trước tiên là có kèm chung với đạo đức (3b). Sự công bình, ngay thẳng và vô tư (3b, bản Diễn Ý) đều là mối quan tâm đặc thù của các tiên tri. Cả ba tiêu chuẩn đạo đức này lại xuất hiện trong 2:9 và 8:6,20.
Thứ hai, là đi chung với niềm tin (7 9:10 ở cuối tuyển tập các bài giảng huấn và 31:30 ở cuối sách). Sự kính sợ Đức Chúa Trời gợi ý về tôn trọng, và kính phục dẫn đến vâng phục (so sánh câu 29 với lời bình giải về tri thức đã trình bày ở phần trên), không có ý nói về sự sợ sệt Đức Chúa Trời. Chúa là Gia-vê, là Đức Chúa Trời đặc biệt, khải thị cho Y-sơ-ra-ên. Châm Ngôn không bàn về những nét đặc trưng trong niềm tin của người Y-sơ-ra-ên nhưng khi Châm Ngôn dùng danh của Đức Chúa Trời trong ngôn ngữ Y-sơ-ra-ên thuần tuý thì có ý ngầm là Châm Ngôn nói về niềm tin đó. Lương tri trong sự khôn ngoan của Châm Ngôn là lương tri dùng niềm tin này làm khung. Khởi đầu của tri thức có nghĩa là “cơ sở, nền tảng” (REB) của Châm Ngôn vì cớ chúng ta không bao giờ thôi không cần đến điều này. Châm Ngôn cho rằng chúng ta không thể tìm ra ýnghĩa của thế giới này hoặc sống một cuộc đời đầy trọn và thành công nếu chúng ta không nhìn thấy Đức Chúa Trời đằng sau thế giới và trong mọi việc của thế giới, rồi chúng ta tìm cách hiểu ý nghĩa của thế giới từ phía Đức Chúa Trời với tinh thần tôn kính và khiêm nhu.
2. KHUYÊN KHÔN NGOAN (Ch 1:8-9:18)
1. Khuyên tránh dính líu với bọn côn đồ cướp giựt (Ch 1:8-19)
Lời khuyên thứ nhất thật đặc biệt, mở đầu với một lời kêu gọi chú ý (8) trong lời kêu gọi này cả cha lẫn mẹ dẫn dắt gia đình trong tương quan với cuộc sống và với Đức Chúa Trời (Ch 6:20 10:1). Kèm theo lời kêu gọi là một lời hứa (9), bổ sung cho những lời hứa trong câu 2-7. Lời hứa này miêu tả khôn ngoan không những có lợi mà còn hấp dẫn nữa. Lời khuyên dạy là một từ trong lãnh vực khôn ngoan (xem lời bình giải 1:1-7), còn phép tắc là một từ thuộc lãnh vực “torah” (nghĩa đen “hướng”), gợi ý rằng nội dung và văn phong của sách Khôn ngoan và sách Torah đi đôi với nhau (2:1-2 “mạng lịnh” bên cạnh khôn ngoan). Trong chương 28 còn rõ ràng hơn nữa.
Tiếp theo là lời khuyên chính về một dạng hành vi cụ thể: câu 10 tóm tắt sự việc có khả năng xảy ra và cách đối phó, câu 11-14 và 15 bàn rộng hai mặt này. Yếu tố kích thích bản năng của giới trẻ là sự hồi hộp, bạo động, tiền bạc, quyền lực và tình đồng đội.
Câu 16-19 nêu lý do đằng sau lời khuyên này. Phần sách này đặt nặng lý luận: dạy với uy quyền nhưng không độc đoán. Thói côn đồ thật là dại. Bọn côn đồ lo làn đổ huyết người khác (11) nhưng thật ra họ đang vội vã làm đổ huyết chính mình (18). Họ ngu dại đến độ không còn khả năng thấy thảm hoạ khi mà thảm hoạ đang giăng trên đầu họ (17). Có lẽ câu 16 cũng nói về cùng một ý. Trong câu 33 và trong vài câu khác từ tội lỗi được dịch là “gây tổn hại”, ở đây cũng vậy có ý nghĩa hơn: họ ưa thích gây tổn hại cho người khác - té ra là hại chính mình họ họ vội vàng giết người - té ra là tự giết mình. Họ nhạo cười nạn nhân của họ dại dột giờ đây chính họ bị chế nhạo.
Chú thích. 12 Âm phủ và mồ mả: (27:20 30:15-16 Thi 49:1-20 Tr 9:1-18 Es 5:14). Khi người ta qua đời, nấm mồ của gia đình nuốt chửng xác của họ còn âm phủ tương ứng với nấm mồ nhưng thuộc cõi vô hình, nuốt chửng số phận của đương sự về mặt phi vật chất. Hình ảnh Âm phủ với cái miệng láu ăn tương ứng với hình ảnh của thần chết hăng hái nuốt chửng người ta trong chuyện thần thoại của các dân tộc láng giềng của Y-sơ-ra-ên. Bản dịch NIV dịch “Âm phủ” là “huyệt” , “sự chết”, hoặc “Sự chết”.
2. Sự khôn ngoan kêu gọi người đơn sơ, người dại dột, người nhạo báng chú ý nghe nếu họ muốn tránh thảm hoạ (Ch 1:20-33)
Câu 20-21 nhân cách hoá sự khôn ngoan trong vai một nữ tiên tri giảng dạy trong thành phố ở những tụ điểm có dân chúng tập họp, một nét sinh hoạt quen thuộc với dân Y-sơ-ra-ên. Câu 22-33 ghi nội dung lời nói của bà dưới dạng bài giảng của một vị tiên tri, bị người ta làm ngơ (so sánh Es 65:1-25) rồi đến lúc dân chúng cần tham khảo ý kiến của bà thì bà không sẵn sàng giúp nữa (c.23-24,28). Hình ảnh vị tiên tri góp phần biểu đạt lời kêu gọi cấp bách của sự khôn ngoan đến dân chúng trong cảnh nguy nan. Bà nói như thể hoàn cảnh quá trễ rồi, y như các tiên tri thường làm để thúc giục người ta đáp ứng trước khi thật sự quá trễ.
Phần đầu (22) và phần cuối (32-33) tóm tắt lời than vãn, cảnh báo và lời hứa của bà. Yêu mến và ghét bỏ (22) ở đây, cũng như thường thường trong Châm Ngôn và ở những chỗ khác trong Kinh Thánh bao gồm cả sự dấn thân về mặt ý chí lẫn cảm xúc.
Câu 23-25 bàn rộng thêm lời than vãn: người dân không đáp ứng và bỏ qua sự ban cho dư dật của sự khôn ngoan. Họ không sẵn sàng nghe lời quở trách và khuyên bảo - phần tiêu cực và phần tích cực bổ túc cho nhau. Câu 26-28 lại bàn rộng lời cảnh báo, với lời này vị tiên tri củng cố cho lời trách móc của bà: tai hoạ bất ngờ đe doạ họ và cảnh hiểm nguy làm họ kinh hãi. Với các câu này bà nói phóng đại để làm người nghe giật mình tỉnh trí mà suy nghĩ.
29-30 và 31 lập lại kiểu cách của câu 23-25 và 26-28. Vị tiên tri than vãn vì người dân cố tình không theo điều phải và không chịu sử dụng sự tự do của mình để vâng phục Đức Chúa Trời (29 so sánh với câu 22,32 về sự nhấn mạnh trên trách nhiệm và sự chọn lựa). Các câu đó cảnh báo rằng những quyết định đại loại của con người có hệ quả tương tự như cảm giác chán ngấy khi ăn uống quá nhiều (31).
Việc nhân cách hoá sự khôn ngoan trong vai một tiên tri cho phép sự khôn ngoan thay mặt Đức Chúa Trời và đứng về phía Đức Chúa Trời mà nói (Xem thêm chương 8). Lời dạy dỗ của bà phát xuất từ kinh nghiệm nhưng không phải toàn là quan niệm của con người. Đức Chúa Trời tham gia trong sinh hoạt của con người tức là trong những nỗ lực của con người nhằm hiểu sự thật mà chính cuộc sống có thể dạy họ. Sự khôn ngoan dạy rằng người ta không phát huy được một mức độ hiểu biết thấu đáo là vì cớ có chướng ngại về mặt tinh thần, đó là thái độ không bằng lòng nghe dạy về những sự thật khó chịu. Sự khôn ngoan cũng dạy rằng một khi chúng ta có tinh thần sẵn sàng sống theo cái nhìn thấu đáo của sự khôn ngoan, thì con đường đến cuộc sống thành công và an toàn sẽ mở rộng cho chúng ta. Sự an ổn thật nằm ở đây: đối ngược bội nghịch (tự thị tự mãn, bản Diễn Ý) với an ổn và bình tịnh (32-33). Các tai hoạ sẽ tuần tự đổ xuống, không phải đơn thuần do Đức Chúa Trời gây ra mà do hậu quả “tất nhiên” của những hành động ngu dại (31-32). Đó là những lời hứa cụ thể của Châm Ngôn. Nhưng những lời hứa đó không luôn luôn xảy ra trong thực tế. Đó là vấn nạn làm bàn đạp cho sách Gióp và sách Truyền Đạo.
(Ch 2:1-22). Lời hứa về những lợi ích tinh thần khi đeo đuổi sự khôn ngoan Tiếp theo những lời khuyên dưới dạng phụ huynh khuyên dạy con cái trong Ch 1:18-19 và những lời cảnh báo theo giọng điệu của một vị tiên tri trong 1:20-33, phần này được trình bày với một hình thức khác, đó là vâng lời và những lời hứa. Phần này không đưa ra một yêu cầu nào có tính cách mệnh lệnh đúng nghĩa: nội dung của 1:20-33 là tiên tri có tính cách cảnh báo, còn nội dung của phần này là một điều khoản trong tinh thần “nếu”, đi kèm với lời hứa. Do đó phần lớn các lời hứa đều là những lời thách thức ngầm. Hình ảnh “lối đi” nằm vắt ngang qua chương này.
Câu 1-4 trình bày lời kêu gọi chuyên tâm dưới hình thức “nếu” tế nhị hơn dạng trực diện thách thức trong 1:8. Dầu vậy đây vẫn là những mệnh lệnh, như trong sách Torah (xem bình giải 1:8) và vẫn là một cuộc tìm kiếm hết sức nghiêm chỉnh bao gồm nỗ lực trong bốn phương diện: tập tành ghi nhớ (1), chuyên tâm (2 xem bình giải 4:21 về ý nghĩa từ lòng), động lực mạnh mẽ (3), một sự tìm kiếm nghiêm túc y như tinh thần nỗ lực hết mức của sự khôn ngoan (1:20-21), và cần hăng hái tìm kiếm, như thể hăng say đào vàng vậy (4): khi đề cập đến việc tìm kiếm báu vật, cất giữ an toàn (1) tức là ngầm nói về lời hứa kèm với đối tượng của công cuộc tìm kiếm. Thụ đắc sự sáng suốt là một vấn đề đơn giản, không phức tạp trên một phương diện, nhưng đòi hỏi nhiều nỗ lực.
Cũng như 1:9, câu 5-11 trình bày về lời hứa đối với sự chuyên tâm chăm chú. Cuộc tìm kiếm nghiêm túc sự sáng suốt đạt được mục tiêu khi con người gặp được Đức Chúa Trời, và qui phục Ngài, coi Ngài là Đấng nắm giữ chìa khoá vào kho báu này. Cần nỗ lực nhiều để có được sự sáng suốt (1-4) nhưng khi đã tìm được rồi thì chúng ta lại được nhận như món quà cho không. Như vậy, tìm kiếm Đức Chúa Trời tức là tìm kiếm bí quyết của đời sống an nhiên vô sự, vì bí quyết của đời sống an ổn chắc chắn cũng là sự sáng suốt. Chuyện là thế vì cớ khía cạnh đạo đức trong sự sáng suốt thật sự sáng suốt tự biểu lộ qua một đời sống công bình còn tìm kiếm Đức Chúa Trời là tìm kiếm Đấng có sự sáng suốt một cách công bình.
Câu 9-11 bàn giải rộng thêm câu 5-8. Câu 9 và10 dùng lại từ bấy giơ và từ vì trong câu 5 và câu 6, còn lời hứa trong câu 11 đi cặp với lời hứa trong câu 7-8. Đối với ai muốn trở thành khôn ngoan muốn biết cách sống thì có lời hứa là họ sẽ tìm được (9).
Trong câu 12-22, lời hứa trong câu 5-11 trước hết áp dụng cho đường lối công bình một cách chung - hoặc đúng hơn là con đường ngay thẳng, vì hình ảnh của con đường cong quẹo của sự gian tà kéo dài suốt qua các câu 12-15. Sự khôn ngoan bảo vệ chúng ta khỏi kẻ nói dối trong câu 12-15 (kẻ nói dối là bà con gần với bọn côn đồ cướp giựt trong 1:10-19) là những người nói trắng là đen và đen là trắng một cách trâng tráo đến nỗi tưởng chừng điều họ nói trở thành đúng với sự thật.
Câu 16-19 tập trung xoáy vào đám phụ nữ bất trung cũng như vào bọn người xấu xa đó. Có thể các câu này đơn thuần viết về sự gian dâm trong nghĩa đen rõ ràng là sách Châm Ngôn đặt nặng đức chung thuỷ trong hôn nhân. Nhưng dâm phụ hoặc người vợ ngoại tình là mối quan tâm hàng đầu của các chương 1-9 (chương 5, 6:20-7:27 22:14 23:26-28 29:3) đến nỗi chúng ta phải ngờ là Châm Ngôn muốn bàn đến một vấn đề gì khác nữa đằng sau tội tà dâm. Có lẽ lòng bất trung trong hôn nhân được dùng làm ẩn dụ về lòng bất trung đối với Đức Chúa Trời như các sách khác trong Cựu Ước thường dùng ở đây, vấn đề là trung thành với Đức Chúa Trời như Châm Ngôn trình bày trường hợp trung thành với sự khôn ngoan. Tuy nhiên, các từ được dùng không phải là loại từ bình thường mô tả dâm phụ các từ này có nghĩa là “người phụ nữ ngoại quốc” và “người lạ” (bản dịch của J.B.). Có thể cách dùng này nhằm nói rằng đó là các bà tha thiết đeo đuổi các thần ngoại bang và sự khôn ngoan của dân ngoại bang. Những ai ngao du với họ sẽ bị họ gạ gẫm lừa phỉnh đến nỗi cũng công nhận các thần đó – và bị họ lôi kéo vào con đường lạc lầm về mặt tín ngưỡng cũng như về mặt tình dục. Như vậy, lời thôi thúc nghiêm túc đeo đuổi sự khôn ngoan (gồm có kính sợ Gia Vê) và chống lại những sự dụ dỗ của các phụ nữ khác (là những người sẽ lôi kéo chúng ta quan hệ với các thần khác) là hai mặt của một đồng tiền. Lối giải nghĩa này xem ra hợp lý đối với một số những phần Châm Ngôn về “dâm phụ” sau này, dù rằng đơn giản và rõ ràng nhất là phải hiểu câu 17 trong phần này nói về một phụ nữ người Y-sơ-ra-ên bỏ chồng mình là người bà đã tuyên hứa gắn bó trước mặt Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Cũng như phần Châm Ngôn 1:10-19, phần này khéo mô tả những việc sai trái biểu thị rõ tình trạng đạo đức lầm lạc (12-17), còn những lời cảnh báo nhấn mạnh rằng con đường lầm lạc dẫn đến tai hoạ cho bản thân (18-22). Tội phạm về mặt tình dục là sai trái, nhưng trong trường hợp này lại càng ngu dại hơn. Riêng xã hội của chúng ta tới tấp tán dương các hình thức tự biểu hiện về mặt tình dục dưới danh nghĩa là tình yêu. Thông thường mãi về sau người ta mới nhận ra rằng niềm vui sướng đó không đáng để họ đánh đổi với bao nỗi khổ đau và mất mát. Châm Ngôn cũng cho rằng ngoại tình dẫn đến cùng một số phận như tội côn đồ cướp giựt: xem 1:16-19 và phần mô tả Âm phủ trong 1:12.
(Ch 3:1-12). Khuyên nhủ về thái độ đối với Đức Chúa Trời Cũng như 1:8-19 khúc Châm Ngôn này gồm có phần dẫn nhập thông thường kêu gọi quan tâm chú ý vì sẽ có lợi (1-2) sau đó đến một loạt những lời khuyên dạy về một vấn đề cụ thể kèm theo từng lời khuyên dạy là lời hứa (3-12).
Khác hẳn 1:8 và 2:1 (xem phần bình giải về hai câu này), ở đây câu 1 chỉ sử dụng ngôn từ dùng trong bộ Torah (dạy dỗ và mạng lịnh). Chi tiết này chuẩn bị đưa chúng ta đến sự kiện là lời khuyên dạy trong câu 3-12 đi thẳng vào niềm tin rõ hơn các phần khác lời bình giải bên dưới sẽ đề cập đến những mối liên hệ cụ thể của phần này với Phục Truyền luật lệ Ký. Thật vậy, câu 3-12 cảnh báo về sự khôn ngoan thay vì tán dương sự khôn ngoan: khi quan tâm đeo đuổi sự khôn ngoan cách quá đáng thì sẽ mất liên lạc với Đức Chúa Trời. Nhưng trước tiên, với câu 2 phần dẫn nhập đưa ra lời hứa riêng về giá trị của lời khuyên dạy. Sự bình an (Shalom) là một ý niệm rộng rãi về hoà bình hạnh phúc, no đủ, đầy trọn trong đời này (so sánh câu 17).
Rồi đến lời khuyến khích chúng ta cần có năm thái độ. Thứ nhất, chúng ta phải kiên định đối với những điều chúng ta đã dấn thân đeo đuổi (3-4 so sánh Phu 6:8 11:18). Lòng nhân từ và chân thật là cặp từ chủ chốt trong Cựu Ước nói về quyết định chọn lựa cùng dấn thân và kiên trì đeo đuổi theo điều mình đã chọn. Những đặc tính đó thuộc về Đức Chúa Trời, và là những mục tiêu trong sự đáp ứng của con người đối với Đức Chúa Trời và đối với người khác (Ch 14:22 16:6 20:28 Thi 25:10 40:10-11).
Thứ hai, chúng ta phải có thái độ chịu phụ thuộc (5-6). Tin cậy và nương dựa, cả hai từ này miêu tả một kinh nghiệm về mặt thể xác là tựa mình vào một người nào hoặc một cái gì trong tình trạng hoàn toàn bất lực và với lòng tín nhiệm và phó thác.
Thứ ba, chúng ta cần có thái độ khiêm nhu khi vâng lời (7-8). Khôn ngoan theo mắt mình bộc lộ không những thái độ kiêu hãnh về sự khôn ngoan riêng của mình mà còn tỏ ra tự phụ tự mãn về sự khôn ngoan của bản thân, rồi không cảm thấy cần giao phó cho Đức Chúa Trời gì nữa (đây quả là một sự cám dỗ dai dẳng ám ảnh người ta dấn thân nỗ lực mưu tìm sự khôn ngoan.
Thứ tư, cần dâng hiến ban cho một cách rộng rãi (9-10 so sánh Phu 26:1-19).
Thứ năm, cần phục tùng khi bị sửa phạt (11-12 so sánh 8:5).
Chúng ta có thể có những thái độ đó vì nhờ đó chúng ta được ơn huệ (4), chúng ta thấy rõ phương hướng cho cuộc đời (6), có sức khoẻ (8), và được thịnh vượng (10) và vì cớ Đấng mà chúng ta phụ thuộc về nhiều mặt là Cha yêu thương của chúng ta (12). Xin xem phần bình giải của Ch 10:1-11:11 để giải toả những thắc mắc có thể bắt nguồn từ những lời hứa này.
3. Phước hạnh về sự khôn ngoan (Ch 3:13-20)
Lời Kinh Thánh kiên trì nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời hết lòng với chúng ta trong những phước hạnh cho một cuộc đời đầy trọn trong thế giới này. Lời Kinh Thánh cũng truyền đạt cho chúng ta qua nhiều cách khá bất thường (ICo 9:22). Có thể trình bày một bài giảng dưới nhiều hình thức! Ở đây (14-18) sự khôn ngoan được nhân cách hoá trong vai một phụ nữ. Bà sẽ xuất hiện nhiều lần nữa, thường là trong dáng dấp của một cô gái hấp dẫn hoặc một phụ nữ chín chắn có gia đình. Nhân vật đối ngược là sự ngu dại, được nhân cách hoá trong vai một cô gái ngu xuẩn hoặc một thiếu phụ vô trách nhiệm và thất vọng (Ch 4:1-9 7:1-27 8:1-36 9:1-18) chúng ta sẽ tạm gọi tên họ là cô Khôn Ngoan và cô Ngu Dại.
Một cây sự sống (18 so sánh 11:30 13:12 15:4) là một hình ảnh nói ví trong Châm Ngôn tương đương với “nguồn của sự sống” (10:11 13:14) được dùng để chỉ về một nguồn phát sinh sự sống, nhưng không mang nặng ý nghĩa về mặt thần học như trong Sa 2:1-3:24. Những chỗ khác trong phần đầu của sách Châm Ngôn có đề cập đến sự sống và sự chết đều mang ý nghĩa thông thường (Ch 1:18-19 2:18-19) nhưng từ “sự sống” trong Cựu Ước thường có nghĩa là sự đầy trọn của đời sống (sức sống, sức khoẻ, phước hạnh, thạnh vượng, thoả chí) còn “sự chết” có nghĩa là thiếu tất cả những điều trên. Cần tìm hiểu những từ đó trong bản văn của Châm Ngôn xem những từ đó có chuyển tải các ý nghĩa này không (3:22 4:4,13,22-23).
Rồi câu 19-20 ghi thêm một câu nói có ý nghĩa quan trọng. Chúng ta phải coi trọng sự khôn ngoan vì một lý do cơ bản là Đức Chúa Trời dùng sự khôn ngoan khi Ngài tạo dựng vũ trụ. (Từ Chúa đứng ở đầu câu là một vị trí được nhấn mạnh). Chương 8 sẽ triển khai cả hai phương diện của ý này.
4. Kêu gọi suy xét chính xác và ăn ở thuận hòa (Ch 3:21-35)
Nội dung trong phần này có phần rời rạc hơn những phần khác, có lẽ các vấn đề xuất phát từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhưng nhìn chung, bài giảng này cũng theo một dàn bài quen thuộc: mở đầu là kêu gọi hết lòng chú trọng đến sự khôn ngoan (21) kèm theo lời kêu gọi này là một loạt những lời hứa: sự sống (xem bình giải c.18), nổi danh, an ổn, bình yên, tin tưởng, tất cả đều đặt cơ sở trên sự bảo vệ của Đức Chúa Trời (22-26).
Kế tiếp là lời khuyên về hành vi trong các lãnh vực, lần này tập trung xoáy vào vấn đề ăn ở thuận hoàvới hàng xóm (27-31). Kèm thêm những lời hứa về việc tin cậy Đức Chúa Trời, kinh nghiệm phước lành của Đức Chúa Trời trong gia đình mình, nhận được ân huệ của Đức Chúa Trời, được ơn đối với cộng đồng (32-35 là một loạt những điều trái ngược). Ở đây, cho rằng trong thực tế ăn ở thuận hoà tốt bụng với người khác đi đôi với sáng suốt - còn tính toán mưu lợi trên sự thua thiệt của người khác không phải là khôn ngoan thật (21,27), vì đường lối Đức Chúa Trời điều hành thế giới là như vậy (32-35).
5. Lời kêu gọi tìm kiếm sự khôn ngoan và những lời hứa về những món quà của sự khôn ngoan (Ch 4:1-9)
Cũng như Ch 3:13-20, khúc Châm Ngôn này thúc giục chúng ta chú trọng đến sự khôn ngoan, nhân cách hoá khôn ngoan dươi dạng một con người, nhưng lại giống những khúc Châm Ngôn khác ở chỗ vừa khuyên dạy vừa củng cố bằng những lời hứa về những điều lợi ích do sự khôn ngoan đem lại. Lời khuyên dạy bao gồm quan tâm, chú ý, nỗ lực, đáp ứng, dấn thân, tiếp nhận, kiên định, hy sinh và nhiệt tình. Những lời hứa động viên bao gồm sự sống, sự bảo vệ và vinh quang.
Ở đây đặt nặng lề lối giáo dục trong gia đình (1-4). Thái độ của phụ huynh có thể đi từ thái cực giáo dục quá độc đoán đến hoàn toàn bỏ mặc con cái không hướng dẫn dạy bảo gì cả, Châm Ngôn đề ra phương hướng thứ ba là giáo dục nghiêm túc nhưng luôn luôn đặt dưới quyền của Đức Chúa Trời (dù rằng làm như vậy cũng có nguy cơ lôi kéo lung lạc người ta!)
Cô Khôn Ngoan kiều diễm (8-9) là hình ảnh tích cực trái ngược với cô Ngu Dại đầy sức quyến rũ trong 2:16-19. Một phụ nữ sáng suốt có khả năng đạt được mục tiêu của mình có thể khuyên bảo chồng và giữ cho chồng tránh khỏi những chuyện điên rồ. Để chiếm hữu cho được một phụ nữ đúng ý mình theo nghĩa đen hoặc nghĩa ẩn dụ, cũng vậy, thì không có giá nào là quá đắt (7).
6. Kêu gọi tránh lề lối của kẻ ác (Ch 4:10-19)
Một lần nữa vang lên tiếng kêu gọi quan tâm chú ý đi kèm với lời hứa về sự sống và sự vững vàng (10-13). Tiếp đến là lời cảnh báo tránh lề thói của người chỉ lo ăn uống và ngủ, gian ác và bạo tàn (14-17), kèm với lời hứa về ánh sáng và lời cảnh báo về bóng tối tăm (18-19).
7. Kêu gọi canh chừng tâm hồn và sự sống (Ch 4:20-27)
Thêm một lần nữa vang dội lời kêu gọi quan tâm chú ý nghe, kèm theo là lời hứa về sự sống và sức mạnh (20-22). Tiếp theo là lời khuyên về việc canh chừng con người toàn diện: tâm trí, lời nói, cái nhìn, bước chân (23-27). Nội tâm phải lành mạnh, lương thiện, vì đó là nguồn của tất cả mọi điều khác nhưng không có nghĩa là được nội tâm rồi thì bỏ mặc cho hành vi bên ngoài muốn ra sao cũng được. Chúng ta cũng phải nói ngay thẳng, nhìn thẳng thắn, và đi trong đường ngay lẽ phải.
8. Kêu gọi chung thủy trong hôn nhân (Ch 5:1-23)
Chương này mở đầu với lời kêu gọi quan tâm chú ý kèm theo một lời hứa như trong những phần châm ngôn khác, nhưng ở đây ngắn gọn hơn bình thường (1-2). Tác giả triển khai có phương pháp một chủ đề và nôn nả tiến tới vấn đề ông thực sự quan tâm, là chuyện phải kháng cự tránh xa dâm phụ và vui mừng sống bên vợ của mình (3-20) (cũng xem bình giải của Ch 2:16-19). Câu 19-20 tóm tắt phần trên, đặt bên cạnh nhau hai hình thức quyến rũ câu 15-18 dẫn vào câu 19, câu 3-14 dọn cơ sở cho câu 20.
Chương này kết thúc với lời nhắc nhở về nguyên tắc tổng quát trong những lời dạy về sự khôn ngoan là Đức Chúa Trời xét xử (21), nhưng sự hình phạt đến qua những biến cố diễn ra trong tự nhiên (22). Lời cảnh báo có nọc châm chích ở phần cuối, nhưng không lộ rõ trong bản NIV. Bị dẫn đi lạc (23) là động từ dịch từ quyến rũ (làm cho mê mệt, làm cho say mê) trong câu 19 và 20: bị cuốn hút trong tình yêu của một phụ nữ khác ngoài vợ mình là bị cuốn hút vào mớ bòng bong của sự ngu dại (bản dịch REB).
Như vậy, một mặt, tình yêu của một phụ nữ khác có thể là miếng mồi dữ rất hấp dẫn (3) nhưng một cuộc phiêu lưu tình ái chắc chắn sẽ kết thúc với nỗi đau khổ kinh khủng (4-5: hai câu này gói ghém một ý là tình yêu của loại phụ nữ này không bền, nhưng dù có bền đi nữa, vẫn phải gặt khổ đau). Cũng cần tính đến chuyện người phụ nữ đó không chịu công nhận sự thật này (6). Vì vậy cần tránh xa đừng bao giờ liều mình dính líu tới chuyện đó (7-8 Mat 5:28). Bằng không hậu quả không tránh khỏi là thiệt hại tài chánh, tổn thương tâm hồn, hối tiếc, cô đơn và sỉ nhục (9-14).
Có thể chọn một cách khác: học tập (như một quyển sách mới ra gần đây) “Cách ăn nằm với cùng một người suốt đời mình”. Hãy biến người đó thành niềm khoái lạc cho đôi mắt, thể xác, và toàn diện con người của bạn (15-19).
Thật là lý thú khi áp dụng lời khuyên của Châm Ngôn vào một xã hội trong đó nhan nhản chuyện ngoại tình dù là giữa những người Cơ Đốc vì họ tự thuyết phục rằng (như ở đây có vạch ra) trong hoàn cảnh của họ làm như vậy là thượng sách. Lời khuyên của châm ngôn có thể gây ra một vấn đề duy nhất là Châm Ngôn trình bày vấn đề hoàn toàn theo vị trí của người đàn ông. Mặt khác, thiếu phụ trong phần này cũng không phải là người đáng chê trách duy nhất: có thể lắm bà đau khổ cùng cực trong hôn nhân, và đương nhiên bà liều mạng để thoát khỏi tình trạng đó. Như vậy thêm một lý do thận trọng đối với tình cảm của bà. Mặt khác, cũng có những người đàn ông khốn khổ cùng cực trong hôn nhân và khao khát được thoát ra khỏi đó, cho nên phụ nữ cũng phải cảnh giác đối với những mánh khoé quyến rũ của nam giới tương ứng với những cách quyến rũ của nữ giới được mô tả ở đây.
9. Hai lời kêu gọi hành động lập tức thay vì trì hoãn và hai lời bình luận về con người châm ngòi cho sự rắc rối, trục trặc (Ch 6:1-19)
Trong 1-5 dường như đương sự đứng ra bảo lãnh với một người láng giềng về một người khác rồi sau đó người được bảo lãnh quỵt nợ. Từ người ngoại thường mô tả “người lạ” (Ch 5:10,17 20:16 27:13 trong một văn mạch tương tự so sánh với bản RSV), cho nên có thể là đương sự bảo lãnh cho một người lạ, sau đó người lạ này bỏ đi mất biệt. Trong cả hai trường hợp, nếu cứ hi vọng là chuyện sẽ tự giải quyết đâu vào đó thì thật là ngu dại. Cần hành động gấp rút để tháo gỡ tình trạng khủng hoảng này, cho dù phải chịu nhục thì cũng nên cầu xin người láng giềng thương tình. (11:15 17:18 22:26-27 về việc thoát ra khỏi chuyện rối rắm này, và xem 20:16 27:13 về cách xử thế nếu bạn ở trong vị trí người láng giềng). Đúng là chúng ta nên thương xót một thành viên trong gia đình hoặc thương xót cả một thành viên trong cộng đồng lâm cảnh nghèo khó, nhưng đây không phải là lý cớ biện minh cho hành vi khinh suất gây rủi ro cho khả năng tài chánh của mình, và như vậy là nguy hiểm đến sự tự do của bản thân.
Câu 6-11 (xem bình giải 24:30-34) với một giọng khinh khi, và có lẽ không mấy tia hi vọng, thôi thúc người biếng nhác học kinh nghiệm nơi loài kiến (30:24-28 và một bài học khác trong thế giới động vật).
Câu 12-15 và16-19 quan tâm đến mẫu người gieo mối bất hoà. Phần miêu tả trong câu 12-14 đạt đỉnh cao với cụm từ này. Rồi đến lối miêu tả với chữ số trong 16-19, tất cả bảy điều đều quan trọng như nhau, và dĩ nhiên với ý nghiêm túc đối với tất cả bảy điều, nhưng tiếp theo câu 12-15 thì điểm thực sự quan trọng trong câu 16-19 là điều cuối cùng (so sánh 30:18-19,29-31). Hai nhận định về mẫu người này là đương sự sẽ phải trả giá cho việc mình làm (15) và Đức Chúa Trời gớm ghét cách sống này (16). Ở đây đề cập đến cặp mắt, lưỡi, tâm hồn, đôi chân so sánh với lời khuyên 4:23-27.
10. Kêu gọi tránh ngoại tình, tà dâm vì phải trả giá cao (Ch 6:20-35)
Bài giảng này trở lại với bố cục quen thuộc, có phần mở đầu kêu gọi chú ý (20-21) kèm với những lời hứa (22-23), rồi một cách tinh tế nhẹ nhàng chuyển qua kêu gọi tránh tà dâm bằng cách cảnh giác đối với những lời dụ dỗ về những tia nhìn quyến rũ (24-25 xem bình giải về 2:16-19:5). Tiếp theo là bản liệt kê dài về các lý do, là phần chính dài nhất trong bài giảng này (26-35), tập trung nhận định về giá phải trả và nỗi nhục nhã đối với cộng đồng, đó là chưa kể đến cơn lôi đình thạnh nộ của người chồng có vợ ngoại tình, với cái giá đó một cuộc phiêu lưu tình ái như vậy rõ ràng là không đáng.
Ba sự ví sánh góp phần xoáy vào vấn đề. Thứ nhất, có thể ví chuyện phiêu lưu ngoại tình với chuyện đi chơi gái điếm - quả là xúc phạm đến người có cái nhìn lãng mạn về chuyện yêu đương của mình (26). Có thể người phụ nữ này bị liệt vào hạng điếm (dù thực tế bà không làm điếm) hoặc bà bị so sánh với điếm một cách bất xứng vì bà có giá hơn thật vậy về mọi mặt. Thứ hai, yêu đương kiểu đó chẳng khác gì đùa với lửa không sao tránh khỏi phỏng lửa (27-29). Các câu này chơi chữ với hai từ lửa và vợ vì trong nguyên ngữ Hi Bá Lai hai từ này có dạng rất giống nhau. Thứ ba, yêu đương kiểu này tương tự như ăn trộm (30-35): lén lấy một món gì đó thuộc quyền sở hữu của người khác vì mình đang chết đói. Bình thường ăn trộm thì bị hình phạt ăn trộm vợ người ta bị hình phạt càng “nặng hơn”. Ở đây xem quan niệm vợ là “tài sản” là chuyện tất nhiên, vì đây là lối suy nghĩ của người đương thời, dù rằng phản ứng mãnh liệt của người chồng có lẽ ngụ ý ông cảm thấy ngoại tình không phải đơn thuần là chuyện lén chiếm tài sản của ông.
11. Kêu gọi chống lại mọi sự cám dỗ yêu đương ngoại tình (Ch 7:1-27)
Phần dạy dỗ cuối về tư cách sống trong lãnh vực tình cảm mở đầu với lời kêu gọi quen thuộc là hãy chú ý (1-4), và chỉ đề cập sơ qua lời hứa cho việc này (2a). Bài dạy nhanh chóng tiến vào chủ đề đặc biệt là khả năng tự vệ chống lại một thiếu phụ ngoại tình (5 cũng xem bình giải Ch 2:16-19 5 6:20-35). Bài này cũng không nhấn mạnh lý do cần tránh xa bà ta (c.22-23,26-27) dù rằng có khuyến cáo về hậu quả nếu coi thường người dạy bảo. Những lời khuyến cáo này tạo một sự trái ngược với những lời hứa ngắn ngủi về “sự sống” trong câu 2 (xem bình giải 3:10).
Tác giả không ngại ngùng khi khuyên nên học thuộc lòng, tức là lối học vẹt mà thời nay xem là không đúng cách. Nhưng đây không phải đơn thuần học vẹt: ở đây lối học này thấm nhuần tới nội tâm, tâm hồn. Dù là Đức Chúa Trời viết những điều Ngài dạy bảo chúng ta trên tâm hồn của chúng ta (Gie 31:33) thì chúng ta vẫn có trách nhiệm phải ghi khắc những lời khuyên dạy đó trong tâm hồn của chúng ta nữa, thật ra sự kiện đó giúp cho chúng ta có thể hoàn thành trách nhiệm của mình (Exe 18:31). Câu 4 diễn tả thái độ nội tâm này dưới một hình thức khác: xưng nhận một người nào đó là em gái của mình tức là đề nghị đương sự kết tình vợ chồng với mình (Nha 4:9-12), như vậy đây là lời khuyến khích chúng ta đặt cô Khôn Ngoan vào một vị trí khác hẳn vị trí người thanh niên ngu dại dành cho thí dụ trong câu chuyện.
Chuyện tập trung mô tả mánh khoé quyến rũ của cô này với những từ rất gợi hình (6-21). Nhà Giáo đề cập đến chi tiết ông quan sát sự việc từ rèm cửa sổ của mình (6-7) minh hoạ về phong cách sự khôn ngoan tiến hành học tập qua sự quan sát người khác và chính mình, và qua những từng trải của mình cùng của những người khác. Có thể hiểu câu chuyện này theo nhiều chiều hướng khác nhau. Hoặc là thiếu phụ này đơn giản chỉ là một người lao vào con đường bán dâm khi có cơ hội thuận tiện, ở đây khi chồng bà đi vắng xa nhà, dầu vậy có thể câu 10-12 chỉ có nghĩa là bà phục sức cách diêm dúa và thích phiêu lưu tình tự. Hoặc giả bà là một tín đồ sùng đạo của một tôn giáo ngoại bang cần tìm một người đàn ông để thực hiện những nghi thức theo tôn giáo của bà, câu 14-18 có thể hàm ý này (về câu 14 xin tham khảo Le 7:15-16). Hoặc là bà và ông này đã yêu nhau lâu nay bà ngóng trông ông còn ông đi ngang nhà bà với hi vọng là chồng đi vắng. Nhà Giáo không quan tâm xác định hiểu theo hướng nào là đúng với những sự kiện trong câu chuyện vì vấn đề quan trọng không nằm ở đó. Dù cuộc tình tự này thuộc loại nào đi nữa thì vẫn là chuyện ngu dại. Những mánh khoé quyến rũ của bà khiến cậu thanh niên kia lầm tưởng là con đường đưa đến tình yêu chẳng qua chỉ là con đường dẫn đến sự chết. Như chúng ta đã ghi nhận trước đây, cần những cảnh tượng quyến rũ dụ dỗ này trong vị trí của phụ nữ nữa, hầu cho phụ nữ cũng biết cách đối phó với sự quyến rũ nguy hiểm của cánh đàn ông có vợ.
12. Sự khôn ngoan đề nghị ban cho lẽ thật và sự sống (Ch 8:1-36)
Một lần nữa, cô Khôn Ngoan đứng ở nơi công cộng (1-3). Cô cũng làm cho người ta chú ý đến mình như thiếu phụ hư hỏng đã làm, nhưng nội dung đề nghị thì hoàn toàn khác. Lời lẽ của cô gần gũi với lời mời mọc đầy khích lệ của Es 55:1-13 chớ không có giọng thẳng thắn trách móc của một vị tiên tri thời tiền lưu đày (so sánh Ch 1:20-33). Còn bài giảng thì mang một hình thức khác hơn nhằm chuyển đạt sứ điệp chính.
Trong câu 4-36 đích thân cô Khôn Ngoan lên tiếng, kêu gọi người ta chú ý với ba lý do. Thứ nhất, những điều cô nói là sự thật và sự công bình (4-11). Mối liên hệ giữa sự khôn ngoan và đạo đức đã xác định trong 1:1-7 được triển khai có hệ thống hơn: chú ý các từ chỉ về đúng sai, phải trái bên cạnh những từ chỉ về hiểu biết và ngu muội tới tấp xuất hiện. Chính nhờ đó mà những điều sự khôn ngoan dạy có giá trị đến vậy (10-11). Đồng thời những điều cô Khôn Ngoan nói trái ngược với những lời hứa hão huyền của các ông dối trá, và các bà bất trung.
Thứ hai là những điều cô nói có giá trị thực tiễn (12-21). Chính cô tạo điều kiện cho quyền lực được thi thố và cho của cải được tăng gia. Ở đây cũng ghi nhận thêm một mối liên hệ (13) giữa sự khôn ngoan và niềm tin đã được xác định trong 1:1-7, dù vẫn tập trung vào mối liên hệ giữa sự khôn ngoan và điều phải việc trái. Ở đây coi như quyền lực được hành xử đúng phép (c.13,15) còn của cải là món quà tặng cho người quan tâm đến sự công bình và ngay thẳng (18-21). Cô Khôn Ngoan là vị cố vấn chủ chốt của vua. Rõ hơn ở mọi chỗ khác, ở đây chúng ta thấy thế nào là khôn ngoan, và đôi khi sự khôn ngoan đó được dành cho một vị vua cỡ Sa-lô-môn.
Thứ ba, lý do thứ ba nằm trên một bình diện khác hoàn toàn: Cô Khôn Ngoan hợp tác với Đức Chúa Trời trong chính công tác sáng tạo vũ trụ (22-31). Còn có thể viện ra lý do nào nặng ký hơn nữa? Cần đứng chầu chực nơi cửa của cô Khôn Ngoan (32-36). Tuy nhiên không có gì phải quá trang trọng đâu (30-31).
Như vậy, Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan từ thuở ban đầu, từ khi chưa sáng tạo vũ trụ (22-26). Đức Chúa Trời vận dụng sự khôn ngoan - tâm trí, thông sáng, lý lẽ thông thường trong thực tế - khi Ngài thực hiện công cuộc sáng tạo (27-31). Càng hiểu về công cuộc sáng tạo, chúng ta càng thấy sự khôn ngoan gây ấn tượng mạnh mẽ sâu sắc trên chúng ta bấy nhiêu.
Có thể những tôn giáo thờ nhiều thần đã dùng hình ảnh của sự khôn ngoan là một thân vị theo nghĩa đen, nên ở đây Châm Ngôn dùng cách miêu tả này trong nghĩa “phi thần thoại”. Lời lẽ của Châm Ngôn cũng nhằm khuyến khích dân Y-sơ-ra-ên đừng thờ nữ thần song song với Gia-vê (xem Gie 44:17): nữ thần thật (nhưng trong ý ẩn dụ) đáng được tôn kính là sự khôn ngoan. Trong thời kỳ Cơ Đốc, nhờ hiểu hình ảnh nhân cách hoá theo nghĩa đen và nhờ nghĩ về sự khôn ngoan dưới dạng một thân vị có thật, phân biệt với Đức Chúa Trời mà người ta đạt được một hướng hiểu mối tương quan của Đấng Christ với Đức Chúa Trời. Sự hiểu biết này làm cơ sở cho Gi 1:1-4 và Co 1:15-17.
Từ tìm được (12) thường có nghĩa là tìm cầu trong Châm Ngôn (thí dụ Ch 1:5 4:5,7) nên lời lẽ của cô Khôn Ngoan dùng theo ý đó. Vì hiểu việc nhân cách hoá sự khôn ngoan theo nghĩa đen (xem ở trên) nên người ta thích dùng từ được sinh ra, ra đời trong câu 22 (xem lề NIV) là cách dịch thích đáng với Đấng Christ vì Ngài được sinh ra làm một thân vị, một con người thay vì thực hữu như có một món đồ. Trong câu 24 có một từ nghĩa là “sinh ra”. Câu này trái ngược với bản dịch Cựu Ước trong tiếng Hi Lạp đã dịch từ này là “tạo dựng”. Trong những cuộc tranh cãi về thân vị của Đấng Christ, phái Arians dùng chi tiết này làm chứng cớ củng cố cho quan điểm của họ về Đấng Christ: họ chủ trương rằng Ngài được dựng nên.
Từ được dịch là thợ cả chỉ xuất hiện ở câu 30 này trong toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước. “Em bé” (lề bản RSV) hoặc “người yêu dấu” (bản NEB) thích hợp với nội dung của 30-31 hơn. Hai câu này nhấn mạnh sự chơi đùa vui mừng của cõi thọ tạo thay vì sự lao động cực nhọc trong cuộc sáng tạo. Nếu đúng vậy, thì có thể câu 22-36 mô tả cô Khôn Ngoan từ khi ra đời, qua tuổi ấu thơ biết chơi đùa đến tuổi thành niên.
13. Những lời mời mọc của cô Khôn Ngoan tương tự với những lời mời mọc của cô Ngu Dại (Ch 9:1-18)
Bài giảng cuối cùng có bố cục rất cân đối: một lời mời mọc của cô Khôn Ngoan, một lời mời mọc của cô Ngu Dại nhại lại lời của cô Khôn Ngoan, xen giữa hai lời mời là những lời nhận định nhằm xác định lại những hàm ý của toàn bộ các bài giảng.
Lời mời cuối cùng của cô Khôn Ngoan (1-6) một lần nữa nhắc chúng ta nhớ lại Es 55:1-12. Ở đây, cô không nhập vai một tiên tri nữa mà nhập vai một người chủ nhà, nên đám gia nhân lên tiếng mời mọc chớ không phải cô nữa. Châm Ngôn trình bày chân dung của sự khôn ngoan dưới nhiều dạng: “đáng kính như một nữ thần, vui chơi thích thú như một trẻ thơ, êm ái như vòng tay mẹ, đầy thách thức như một vị tiên tri, làm thoả mãn như một bàn bày đầy thức ăn, bí hiểm như thể một người yêu trốn trong đám hoa huệ” (Camp).
Lời mời mọc của cô Khôn Ngoan không có chút tính cách ép xác tiết dục nào cả: thức ăn dồi dào, rượu hảo hạng (hoà với hương liệu) và khung cảnh thật là hoành tráng (1 về ý nghĩa của bảy cây trụ thì người ta mới chỉ có thể đoán mò). Nhưng trong câu 4-6 có lẽ có hơi hướm mỉa mai, vì những người thiếu trí hiểu lại là những người từ chối lời mời mọc của cô Khôn Ngoan.
Do đó, phần châm ngôn xen giữa (7-12) đượm giọng nhẫn nhục. Kinh nghiệm cho thấy là Nhà Giáo chẳng gây được ảnh hưởng nào trên nhiều người, vì thế nên thực tiễn (khôn!) trong vấn đề này (7-8). Nhưng Nhà Giáo cũng có những từng trải sáng sủa hơn (9). Câu nhận định này nhắc chúng ta nhớ lại phần dẫn nhập vào các bài giảng (Ch 1:5 1:3 về phần dẫn nhập vào các vấn đề đạo đức). Phần châm ngôn xen giữa này cũng dẫn đến phần xác định lại câu phương châm (10, so sánh 1:7), đính kèm với lời hứa thường lệ của (11) và sự nhấn mạnh quen thuộc trên trách nhiệm của từng cá nhân (12).
Phần châm ngôn xen giữa tạo thời gian cho cô Ngu Dại soạn lời mời mọc yếu ớt của mình nhại theo lời mời ăn tối của cô Khôn Ngoan. Trong khi cô Khôn Ngoan sắm vai một vị tiên tri, thì cô Ngu Dại sắm vai một phụ nữ hư hỏng. So sánh câu 13-18 với 7:10-27 và nước ăn cắp với 5:15-16 quan hệ tình dục bất chính thường có vẻ lý thú ly kỳ hơn những trường hợp đúng phép tắc. Nhưng cô Ngu Dại cũng đưa người ta đến cùng một số phận như thiếu phụ hư đốn đã làm (18). Như vậy, phần này kết thúc đầy kịch tính bằng cách đặt chúng ta trước sự sống và sự chết tuỳ ý chúng ta chọn lựa.
3. CHÂM NGÔN CỦA SA-LÔ-MÔN (Ch 10:1-22:16)
Phần chính thứ hai của sách gồm những châm ngôn trong nghĩa hẹp gần gũi với ý chúng ta thường dùng: những câu nói gói ghém trọn một vấn đề. Người ta đã sưu tầm và sắp xếp những câu nói đó dựa vào ít nhất là ba yếu tố căn bản:
Trước tiên, có thể chia làm bốn loại chính :
a. Những nhận định về cuộc sống (Ch 10:4,12,26)
b. Những nhận định về sự kinh nghiệm (10:1,5,8)
c. Những nhận định về sự công nghĩa (10:2,6,7)
d. Những nhận định về sự can dự của Đức Chúa Trời trong cuộc sống của con người (10:3,22,27)
Các loại này chồng chéo lên nhau, như chúng ta thấy qua các câu được nêu là thí dụ điển hình, tuy vậy một sự phân chia có tính cách bao quát vẫn hữu ích. Trật tự mà chúng tôi theo khi liệt kê các loại cũng được dùng để lần ra niên đại của các loại - loại châm ngôn thứ nhất là những nhận định về cuộc sống (như các câu châm ngôn thông thường trong tiếng Anh) và về sau các câu châm ngôn này được sử dụng rộng rãi để nói về sự khôn ngoan. Có thể là như vậy, nhưng cả bốn chủ đề đều là những vấn đề cổ xưa để dành cho người suy tư.
Các câu châm ngôn được phân làm bốn loại như trên là cách thức căn bản mà chương 10-22 đã gom các câu châm ngôn. Thí dụ, dù các chương 10-11 gồm có tất cả bốn loại, nhưng đặc biệt có nhiều câu tập trung nói về sự công nghĩa và sự gian ác.
Thứ hai, có thể sắp loại các câu châm ngôn theo chủ đề: thí dụ, trong 10:1-22 có nhiều câu nói về của cải và về lời nói của con người. Cách phân loại này chỏi lại cách phân loại chúng tôi vừa mô tả ở trên. Như vậy là chúng ta có thêm một nguyên tắc chi phối cách xếp loại các câu châm ngôn. Thí dụ, tất cả các câu châm ngôn trong 10:2-5 đều xoay quanh chủ đề thạnh vượng, nhưng cũng điển hình cho cả bốn loại châm ngôn đã bàn ở trên.
Cơ sở thứ ba mà người ta dựa vào để sắp xếp các câu châm ngôn là hoàn toàn có tính cách ngôn từ - tức là người ta sắp một số câu đi chung với nhau vì có cùng một từ hoặc một nhóm từ chủ chốt, dù có thể diễn tả hai ý khác nhau khi nằm trong hai câu khác nhau như vậy. Chương 10-11 lại cho chúng ta nhiều thí dụ: chẳng hạn như 10:6,7 cả hai câu này đều nói về (các) phước lành của người công nghĩa câu 10:6 và 10:11 cũng tương tự, 10:11 và 10:12 đều dùng động từ “che đậy” (giấu, lấp). Như trong thí dụ chót cho thấy những mối liên hệ này không luôn luôn rõ ràng trong bản NIV phần bình giải sẽ chú trọng đến vài trường hợp tương tự.
Có lẽ tác giả vận dụng mối liên hệ ngôn từ vì nhiều lý do. Hoặc là để dễ bề ghi nhớ các câu châm ngôn đó. Hoặc là vì thích chơi chữ, hoặc thích sắc thái nghệ thuật trong dạng này. Cũng có thể liên hệ ở dạng này phản ánh sự đồng nhất nội tại trong thực tế, phát xuất từ Đức Chúa Trời độc nhất.
Dù là những nét tổng quát và một số chi tiết trong trình tự các câu châm ngôn trong chương 10-20 cho thấy là trình tự đó được hình thành dựa vào ba yếu tố căn bản trên, nhưng thường thường cũng có những câu châm ngôn đơn lẻ có vẻ như không liên hệ gì đến các câu khác trong đoạn châm ngôn đó cả. Có thể là các cụm châm ngôn xưa nhất nói về nhiều vấn đề khác nhau đã được gom lại chung rồi các cụm đó được gộp chung thành chương. Một số cụm nằm trong một chương vì nội dung của một hoặc hai câu trong cụm có liên hệ sao đó với cụm khác trong chương thế là các câu châm ngôn nằm trong cụm dù khác với nội dung riêng lẻ cũng được đưa vào chương đó luôn. Nhưng cũng có thể là đến nay chúng ta vẫn chưa phát hiện ra “manh mối” chi phối việc sắp xếp các câu châm ngôn vào với nhau.
Sự phân đoạn dưới đây dựa vào thể loại của các câu châm ngôn hoặc chủ đề nổi cộm trong các câu châm ngôn. Đôi khi các phân đoạn chồng chéo lên nhau đôi chút vì nhờ đó mà chúng ta có thể nghiên cứu một câu trong mối liên quan đến nhiều câu chớ không phải liên quan đến một câu mà thôi.
1. Những câu châm ngôn nói về của cải và về lời nói (Ch 10:1-22)
(Ch 10:1-4). Dẫn nhập Ch 1:1 đã có câu giới thiệu Châm Ngôn của Sa-lô-môn (xem phần bình giải). Ở đây lại giới thiệu nữa nên có lẽ phần này xưa kia là một tuyển tập riêng gồm 10:1-22:16, giờ đây được đặt sau các chương 1-11 trong sách này.
Phần còn lại của 10:1 là câu dẫn nhập tương tự như những câu dẫn nhập cho các phần bài giảng (thí dụ 1:8). Các câu dẫn nhập đó kêu gọi quan tâm chú trọng đến sự khôn ngoan trình bày trong phần này - dù rằng ở đây lời kêu gọi chỉ có tính cách gián tiếp. Câu 2 và 3 giới thiệu một trong các chủ đề quan trọng của các câu châm ngôn, bằng cách đặt chủ đề trong bối cảnh của sự công nghĩa cùng sự gian ác và Đức Chúa Trời can thiệp xử lý. Cách đưa ra lời nhận định thẳng thắn về điều đó nhưng không đề cập đích danh đến sự khôn ngoan, đạo đức và niềm tin.
Câu 1-4 gồm bốn câu châm ngôn thuộc đủ bốn lãnh vực. Bốn câu này mở đầu cho một nhóm những câu châm ngôn được sưu tầm (c.1-22). Bốn câu này cho thấy nội dung các câu châm ngôn quan tâm đến chính cuộc sống và cách sống khôn ngoan, rồi cũng cho thấy nỗ lực hiểu cuộc sống và tìm kiếm sự khôn ngoan luôn luôn gắn liền với đạo đức và niềm tin (so sánh 1:1-7).
(Ch 10:2-6,15-17,22). Của cải Các câu này bộc lộ một niềm tin quả quyết rằng thạnh vượng là kết quả của sự làm lụng cực nhọc (4), sự khôn ngoan (5), sự công bình (6,16), và sự can thiệp của Đức Chúa Trời (22). Lười biếng sẽ kéo theo nghèo khó và nhục nhã (4-5) còn khôn khéo mà không phân biệt phải trái (2) thì cũng rơi vào tình trạng đó thôi. Cả nhu cầu nội tại lẫn sự can thiệp của Đức Chúa Trời khiến cho sự việc dẫn đến những kết quả như vậy (2-3,22). Đồng thời Châm Ngôn cũng công nhận sự thật về cảnh nghèo khó và giàu có cùng những hệ quả đương nhiên (15).
Sự dạy dỗ của Châm Ngôn thường gây ra hai điều thắc mắc trái ngược. Thứ nhất là có vẻ như Châm Ngôn dạy một “phúc âm thạnh vượng” trên đời này hoặc là một “đạo lý về việc làm của Cơ Đốc nhân cải chánh” khập khiểng. Thật ra Châm Ngôn hứa hẹn một mùa thu hoạch phong phú khiến cho người công nghĩa khi nghĩ tới tương lai thì không lo âu gì cả - tức là một nguồn dự trữ dồi dào đáp ứng các nhu cầu của cuộc đời chớ không phải một nguồn dự trữ để đáp ứng những nhu cầu xa xỉ phô trương (những cỗ xe Cadillac là chuyện khác rồi!) Chúa Giê-xu xác nhận một lần nữa lời hứa của Kinh Thánh là nếu đặt luật lệ của Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài lên trên hết thì kết quả là mọi nhu cầu vật chất sẽ được đáp ứng (Mat 6:33). Hơn nữa, lời cổ võ chịu khó làm lụng vang lên trong một khung nền của sự khôn ngoan và tin kính, cộng với lòng quan tâm phát huy đời sống cộng đồng cũng là điều bàng bạc trong toàn bộ sách Châm Ngôn. Nhờ vậy mà sự cổ võ này không đẩy người ta chạy theo công việc vì tư kỷ.
Thắc mắc thứ hai - có thành công không, có kết quả đúng ý không - chúng ta sẽ xem xét sau phần bình giải 10:23-11:11
Chú giải. 2 Của phi nghĩa là “của cải kiếm được bằng đường lối gian tà”. Sự gian tà và đức công chính đối ngược nhau trong câu 2, 3 và 6. 16a Bản dịch RSV dịch là “Tiền công của người công chính dẫn đến sự sống” khiến cho ý câu này sáng tỏ hơn nên cụm từ dẫn đến sự sống kết chùm hai câu 16, 17 với nhau.
(Ch 10:6-14,18-21,31-32). Lời nói Các câu Châm Ngôn bàn về vấn đề nói năng, chú trọng nhấn mạnh một đặc điểm là “ít nói là tốt hơn” (19). Lắng nghe là dấu hiệu và là một phương cách đạt đến sự khôn ngoan còn nói năng lải nhải hoài dẫn đến tình trạng trái ngược (8, 10). Còn khi người khôn ngoan và công chính nói thì lời nói của họ có giá trị, bộc lộ tình yêu thương có khả năng đánh tan quyền lực của điều ác và được người ta công nhận (11-12,20-21,32). Lời nói của người lẻo mép hoặc gian tà gây khó khăn cho chính mình và cho người khác (6,11,13-14,21,31), nhất là khi phát xuất từ ác cảm và như vậy là sẽ gieo mối bất hoà và xảo trá (12,18). Ngay cả khi qua đời rồi, lời nói của hai hạng người này vẫn tiếp tục gặt kết quả trái ngược nhau (7).
Chú giải. 6 Câu này đề cập đến miệng gợi ý là Châm Ngôn cảnh báo phòng chống lời nói gian ác (thí dụ như lừa phỉnh). 7 Dạng của các từ sẽ là một phước lành không có hàm ý là “sẽ nhận được một phước lành” (như ý của câu 6 so sánh với 11:26) mà có nghĩa “sẽ là một gương mẫu phước hạnh mà người ta sẽ sử dụng khi cầu nguyện chúc phước” (so sánh với bản dịch REB và Sa 12:2). 8 Kẻ ngu muội nói lải nhải, không phải là cùng một từ, nhưng cùng một người, với kẻ “nhạo báng” (xem bình giải Ch 1:1-7). 9 Xét về chủ đề thì câu này đi với 10:23-11:8 nhưng xét về hình thức thi thơ thì rõ ràng câu này kết chùm với câu 8 và 10. 11 Câu dịch bên lề của bản NIV làm sáng tỏ ý câu này hơn. Với bản dịch NIV chính thức câu 11a xem như có ý là người công chính đem sự sống về cho chính mình. 12 Sự gian ác che giấu bạo ngược (11), còn lòng yêu thương khoả lấp tội lỗi - cùng một động từ được dùng với hai ý hoàn toàn khác nhau. 13 Người thông sáng nói năng khôn ngoan và hành động tốt người dại khờ không được như vậy.
2. Đức công chính và sự gian ác, lời bàn thêm về lời nói cùng của cải (Ch 10:23-11:31)
(Ch 10:23-27). Dẫn nhập Câu 23-27 tương tự như câu 1-4: mở đầu với một lời mời khác ngầm kêu gọi tìm cầu sự khôn ngoan thay vì sự ngu dại, rồi củng cố với những câu châm ngôn tiêu biểu thuộc ba loại nội dung tiếp theo (nhìn chung, các câu châm ngôn trong sách này thuộc về bốn loại nội dung này). Như vậy các câu này lại kêu gọi chúng ta hãy quí trọng sự khôn ngoan (23), nhưng nhấn mạnh mối liên hệ của sự khôn ngoan với đức công chính (24-25) đây là vấn đề nằm trong toàn bộ Ch 10:23-11:11. Câu 26 cũng là một thí dụ về châm ngôn với nội dung trong loại ba, một lời nhận định rõ ràng thẳng thắn về cuộc sống. Câu 27 đặt tất cả những trường hợp trên vào khung can thiệp của Đức Chúa Trời trong mọi khía cạnh sống của con người. Như vậy, một lần nữa phần mở đầu kết sự sống, sự khôn ngoan, đạo lý và lòng tin kính lại với nhau.
(Ch 19:28-32). Đức công chính và sự gian ác (10:28-11:11) Trong tiểu đoạn này từ công chính xuất hiện mười ba lần, từ gian ác mười hai lần, một mật độ không hề thấy ở những phần sách khác trong Kinh Thánh. Mỗi từ này xuất hiện hai mươi mốt lần trong những chỗ khác của các đoạn 10-13 là phần tiếp tục triển khai đề tài của phần này, bản chất và sự thưởng phạt cho đức công chính cùng sự gian ác.
Bản chất của đức công chính là ngay thẳng, đúng đắn, thích đáng, trật tự và công bình. Như vậy từ này rất gần gũi với từ ngay thẳng (thí dụ 11:3,6,11) là một từ hầu như có nghĩa đen là “bằng thẳng” (thí dụ 11:5). Cả hai từ này đều liên hệ gần gũi với từ chính trực từ này có nghĩa đen là “toàn vẹn”. Cũng được dùng trong 11:3,5 dù bản NIV dịch là trọn vẹn xem thêm 10:9 - và chú ý sự trái ngược với cong quẹo.
Đức công chính biểu lộ trong sự thiệt thà, công bình, thân thiện (ngay cả đối với thú vật) và sự thật (10:2 12:5,10 13:5). Đức công chính biểu lộ qua lời nói khôn ngoan, có giá trị, đem lại sức mạnh và sự sống (10:11,20-21,31). Đức công chính đem lại phước hạnh cho dân tộc đất nước (11:11 14:34). Nhiều câu Châm Ngôn hứa rằng con người công chính sẽ nhận được phần thưởng dưới hình thức giải cứu, phước hạnh, thoả mãn, thoả lòng ước mong, thạnh vượng, vui mừng, an ổn, sự dẫn dắt, sống thọ trên đời, được ơn trước mặt Đức Chúa Trời và người ta.
Trái lại, sự gian ác trong bản chất là dối trá và trật khớp, lệch lạc và đầy nghi ngại. Có thể sinh ra lươn lẹo, gian tà (10:9 11:20 - bản NIV “đồi trụy”). Có thể gồm cả sự nổi loạn hoặc sự công kích (10:12 - bản NIV những điều lầm lạc, 10:19 12:13 - bản NIV tội lỗi). Có thể gồm cả ý là không đạt được tiêu chuẩn yêu cầu (13:6 bản NIV tội nhân). Có thể được mô tả là đi lạc khỏi đường đúng (10:17). Có thể là mánh khoé xảo quyệt trong khi mưu tính việc gian ác (10:23 12:2). Có thể gợi ý về điều đem lại khó khăn rắc rối cho người khác và cho chính mình (10:29 - NIV bại hoại). Có thể bao hàm ý tráo trở điêu ngoa nói trắng ra đen, đen ra trắng (10:31-32 11:3 một từ khác được dịch là phản trắc). Có thể bao gồm ý xảo trá hoặc bất trung (11:3,6). Có thể bao hàm thái độ vô thần hoặc bất kính, cố tình từ bỏ niềm tin (11:9).
Một cách cụ thể, sự gian ác tự bộc lộ qua sự gian lận, lừa lọc, khát máu, độc ác và tham lam (10:2 12:5-6,11-12). Sự gian ác dẫn đến nhục nhã và tàn phá đối với cộng đồng, và vì vậy mà người ta vui mừng trước cái chết của kẻ ác (11:11-12 13:5). Bản chất của sự gian ác trái ngược bản chất của đức công chính nên hệ quả cũng vậy: sự bêu riếu, suy tàn, khốn khó, đổ vỡ, mắc bẫy, thạnh nộ, đói khát, huỷ diệt, hi vọng bất thành, bạo lực lan tràn, trí nhớ suy giảm, những điều e sợ trở thành hiện thực, tuổi thọ thu ngắn, mất mát nhà cửa, đất đai và những lợi ích của sự gian ác hoá ra hão huyền.
Độc giả thời nay của sách Châm Ngôn thường kinh ngạc trước những kết luận chắc nịch của Châm Ngôn về cái lợi của đức công chính. Có vẻ như đức công chính giải cứu khỏi cái chết (11:4) là không đúng. Nhiều nhà bình giải Kinh Thánh đã đưa ra một số tháo gỡ cho điểm khó hiểu này như sau. Thứ nhất, cũng như một số những phương diện khác của sách Châm Ngôn, rõ ràng câu này căn cứ trên kinh nghiệm (so sánh Thi 37:25) chớ không phải đơn thuần là một giáo điều trong lãnh vực thần đạo học. Nếu độc giả thời nay kinh ngạc đối với câu này thì nên quan tâm nhận định kỹ hơn về những bằng chứng có sẵn trong mớ kinh nghiệm bản thân để thấy rằng có phần thưởng dành cho đức công chính.
Thứ hai, nếu điều Châm Ngôn xác định ít xảy ra trong thế giới hiện nay thì sự kiện đó cho thấy tình trạng gian ác của thế giới của chúng ta (thí dụ tài nguyên phân phối không đồng đều). Có thể Châm Ngôn viết về một xã hội chú trọng đòi hỏi nếp sống cộng đồng cũng như chuyện làm ăn buôn bán phải được thể hiện cho có đạo lý. Vì vậy Châm Ngôn thách thức chúng ta chống sự bất công nhất là vì cớ nguy cơ mà Châm Ngôn đã cảnh báo: đó là chỉ vì sự gian ác của mình mà chúng ta lâm nguy.
Thứ ba, đôi khi Châm Ngôn bàn một cách tổng quát còn những ngoại lệ nữa. Sách nhận biết rằng cuộc đời phức tạp hơn điều mà một số câu Châm Ngôn riêng lẻ ngụ ý (Ch 13:23 30:1-4). Các sách Khôn Ngoan khác, như sách Gióp và sách Truyền Đạo chẳng hạn, tập trung chứng minh rằng thường thường những lối nói tổng quát như vậy không ổn. Cần xét cả khung bao quát lẫn những trường hợp ngoại lệ.
Thứ tư, Châm Ngôn tập trung nói một cách tổng quát về một số kết luận là vì một mối quan tâm có tính cách thần học. Về mặt thần đạo học, chung cuộc thế giới phải tiến triển theo hướng tốt. Bằng không, kể như Đấng phán xét toàn thế giới đã sắp xếp mọi chuyện của thế giới không được ổn cho lắm.
Thứ năm, tình trạng bất công rõ ràng còn đọng lại trong cuộc sống trên đời này được những phần khác trong Kinh Thánh giải quyết bằng cách bảo đảm rằng sự công bình sẽ được thực thi ở đời sau. Phải đặt những câu khẳng định khó chấp nhận của Châm Ngôn trong khung trên nhưng không tước mất thẩm quyền của những câu đó. Những câu đó là một mảng quan trọng trong lời làm chứng của Kinh Thánh về niềm tin chắc rằng Đức Chúa Trời là Chúa đang cầm quyền trên đời này. Niềm tin của Kinh Thánh chẳng phải chỉ là chuyện không tưởng sau khi đã qua đời.
Chú giải. 10:26 Về người lười biếng, xem bình giải về chương 24:30-34 cũng xem câu 4. Câu 26a hàm ý người lười biếng gây bực bội cho người khác. Dù nội dung câu này không cùng luồng với nội dung khúc Kinh Thánh nhưng về hình thức thì có dạng gần gũi với câu 25 (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ “Khi” và từ “Như” là cùng một từ). 11:1 Dùng ý tứ trong 10:32 “môi người công bình biết điều đẹp ý... trái cân đúng được đẹp lòng Ngài”. Xem bình giải của 15:8 về điều Đức Chúa Trời gớm ghiếc là những điều trái ngược với điều làm cho Ngài vui lòng. 2 Với câu này ý tứ trong 10:31-32 tiến thêm một bước nữa, đó là lời nói của người khôn ngoan hoặc người công nghĩa cũng có giọng điệu khiêm nhu còn lời nói của kẻ ác hoặc kẻ ngu dại thì có giọng điệu kiêu kỳ nhưng gặt lấy sự sỉ nhục. 4 Ngày thạnh nộ là ngày tai hoạ, khi có điều kinh khủng xảy ra tưởng chừng cơn lôi đình của ai đó đã nổ ra. Câu này không ngụ ý cho rằng điều kinh khủng đó đến từ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (so sánh Giop 21:30). Tương tự, cái chết cũng đến thình lình và trước thời hạn. 7 Ở đây cũng vậy, tốt hơn hết là hiểu câu này nói về cái chết bất ngờ khiến cho những điều đương sự ấp ủ dự kiến đều bất thành.
(Ch 11:1-8) xem giải nghĩa 10:28-32
(Ch 11:9-14) Nói năng trong cộng đồng. Ở đây lại khẳng định lời nói có khả năng đem lại sự sống hoặc huỷ diệt (xem bình giải 10:9-14) nhưng ở đây đặc biệt chú trọng đến vấn đề nói năng trong cộng đồng: chú ý chiều hướng lan rộng láng giềng, thành và dân tộc. Trong khúc văn này có lý do cụ thể đặc biệt cho sự reo mừng (10) và có lý do mới mẻ khiến cho đương sự có khả năng không mở miệng (13) tiết lộ gì cả.
Chú giải. 9 kết chùm với câu 8 vì cớ từ cứu khỏi do cùng một động từ chuyển ngữ qua. 9b Bao hàm ý khai man trước toà chớ không phải vấn đề ngồi lê đôi mách. 11 Xét ý song hành của hai vế câu 11a và 11b, đúng là người công bình mở miệng chúc phước, chớ không phải nhận được phước.
(Ch 11:15-31) Của cải. Sách Châm Ngôn hiểu rằng một câu châm ngôn có vẻ đơn giản và thực tiễn, cần có một câu khác đi kèm để bổ sung và để phức tạp hóa vấn đề. Có thể nhờ ăn ở nhẫn tâm thất đức mà người ta trở nên thạnh vượng thay vì nhờ tấm lòng nhân hậu tạo được tôn trọng nể vì nhưng lại rỗng túi (16). Tuy nhiên cũng có thể nhờ lòng rộng rãi trong việc sử dụng của cải đã có mà càng thạnh vượng thêm (24-26), và nếu muốn cho của cải mình kiếm được thật sự lâu bền thì của cải đó phải tùy thuộc vào đức công chính (18,19,21,23,27,29,30,31) Đức Chúa Trời đảm bảo cho điều đó (20). Cần biết cách sử dụng của cải, không phung phí vào những việc tốt nhưng bấp bênh như đứng ra bảo lãnh hoặc bảo đảm nợ cho một người lạ (15). Trong việc sử dụng của cải cũng cần có lòng nhân hậu, trong khúc Châm Ngôn này hàm ý là rộng rãi, chính đương sự cũng được lợi (17) và tinh thần không trông cậy ỷ lại vào của cải (28). Có những trường hợp, lẽ thật này là thích đáng, có những trường hợp khác đòi hỏi lẽ thật khác.
Chú giải. 16 Từ nhưng và từ chỉ là cách diễn dịch của NIV (ss RSV) sự tôn trọng và của cải không phải là những điều trái nghịch nhau nhưng liên hệ với nhau (Ch 3:16 8:18), và cũng không có từ riêng cho nam giới. Như vậy, đại ýnơi đây có thể là: “Có hai con đường dẫn đến của cải và sự tôn trọng, một là nhờ duyên dáng (nét đặc trưng của phụ nữ), một là nhờ năng nổ”. 20 Xem bình giải 15:8 về điều Đức Chúa Trời gớm ghét và điều Ngài vui thích. 22 Liên hệ với những câu trên về của cải bởi sự kiện câu này khai mào với những điều có giá trị. 25 Một người rộng rãi có nghĩa đen là “một người của phước hạnh”, so sánh câu 26b. 29 Trong khúc châm ngôn này khuấy rối, gợi ý là nỗ lực tăng gia của cải bằng cách hà tiện hoặc cẩu thả. 30 Toàn bộ câu này sẽ trở nên dễ hiểu hơn nếu hiểu câu 30b là “người khôn ngoan cứu được linh hồn”. Tức là người công chính có ảnh hưởng đem sự sống đến cho người khác, và những người khôn ngoan đem người khác đến với sự khôn ngoan.
3. Nói thêm về lời nói và việc làm (Ch 12:1-28)
(Ch 12:1-4). Dẫn nhập Một lần nữa 1-4 tương đồng với 10:1-4 và 10:23-27 vì cũng kết chùm các câu Châm Ngôn thuộc bốn loại để dẫn nhập vào chương mới. Một lần nữa câu này hàm ý kêu gọi người nghe theo sự khôn ngoan thay vì sự ngu dại (1), khẳng định Đức Chúa Trời can thiệp vào mọi công chuyện (2), xác định là người công bình và người gian ác sẽ lãnh những hệ quả khác nhau (3) và nhận định về cuộc sống (4). Câu 3 kết chùm với câu 4 nhờ thuật chơi chữ giữa từ chồng (4) và từ chẳng thể (3). Còn câu 4 kết chùm với câu 5 qua thuật chơi chữ giữa từ xấu hổ (4) và từ mưu luận (5).
(Ch 12:5-8,13-23,25-26). Lời nói đúng và sai Đại ý trong phần còn lại của chương 12 lại bàn về cách nói năng, đặc biệt là so sánh hệ quả của việc dùng lời nói lành hoặc xấu xa. Công chính, ngay thẳng, khôn ngoan, cẩn trọng, chân thật, hòa giải, những lời nói nhân hậu, công bình, giải cứu, khen ngợi, mưu lợi, lành bệnh, vui mừng, kín miệng, khích lệ và được Đức Chúa Trời hài lòng. Xấu xa, lươn lẹo, ngu dại, dối trá, ác ý, vô tâm, vô độ hoặc nói năng lừa lọc, mưu hại người khác, mất uy tín, chuốc lấy khốn đốn cho mình và bị Đức Chúa Trời gớm ghiếc. Thà lắng nghe lời khuyên bảo và bỏ lơ những lời gây xúc phạm còn hơn là bỏ ngoài tai lời khuyên bảo và chú ý nghe lời gây xúc phạm. Nhưng cũng phải thận trọng trong khi liên hệ với những người khác (26).
Chú giải. 6 Gợi ý là kẻ ác không ngờ rằng họ rình rập làm đổ huyết chính mình (so sánh 1:18).
(Ch 12:9-12,24,26-28). Việc làm và phần thưởng Đủ sống, có chỗ đứng trong xã hội là kết quả của lao động và sống phải đạo, chớ không phải do giả bộ (9), xao lãng không chăm sóc gia súc của mình (10), đeo đuổi những chuyện vô bổ (11), ganh đua với người khác về những mưu chước gian ác (12), hoặc chẳng thiết làm việc gì cả (24) - đến nỗi không thiết nấu nướng thực phẩm mình đã kiếm được (27)! Cũng so sánh với câu 14b.
4. Ước vọng, của cải và sự khôn ngoan (Ch 13:1-25)
(Ch 13:1) Dẫn nhập Câu 1 là phần dẫn nhập tương tự với dẫn nhập của những phần trước, hàm ý thúc gục người nghe quan tâm chú ý đến sự khôn ngoan trong chương này (so sánh Ch 10:1). Tuy nhiên, ngoài câu 1 ra thì phần tiếp theo không theo cách thức dẫn nhập của những chương trước. Lần theo nội dung trong chương này, chúng ta thấy kể như không đề cập đến sự can thiệp của Đức Chúa Trời, dù là trong các chương tiếp theo dần dà đề cập đến điều này nhiều hơn. Như vậy, ở đây tập trung vào sự khôn ngoan (c.13-20).
(Ch 13:2-12,18-25). Ước vọng và của cải Đằng sau những vấn đề về của cải, có những điều bí ẩn trong bản tánh con người nên không thể luôn luôn tin vào vẻ bên ngoài (7), còn sự thành tựu hoặc bất thành của ước vọng có thể ảnh hưởng sâu đậm trên đương sự (12,19). Cũng có những điều bí hiểm gắn liền với nỗ lực gây dựng của cải. Tích lũy được của cải là một sự thành công thật ra khá nhập nhằng, vừa giải quyết được một số vân đề vừa sản sinh một số vấn đề khác mà người nghèo không hề gặp phải (8).
Các câu châm ngôn bàn về những phương cách thoả đáp những điều mong ước đó hoặc gây thất vọng. Một trong những bí quyết là đương sự có biết nói năng cách thận trọng không và có kín miệng không (2-3). Một bí quyết khác là có biết vận dụng năng lực của mình hay không (4). Câu 5-6,9,21-22,25 nhắc người nghe bằng lời lẽ chung chung rằng có những tiêu chuẩn đạo lý làm cơ sở cho những việc đó và câu 11 cụ thể hóa vấn đề hơn nữa. Câu 23 thừa nhận rằng những qui luật đạo đức trên lý thuyết chi phối vấn đề đó không luôn luôn xảy ra đúng như vậy các câu này cũng bao hàm một lời thách thức, cảnh giác không cho phép sự bất công, bất chấp các luật đó.
Chú giải. 2 Cường bạo, theo văn cảnh thì đây là sự bạo tàn tự gây cho mình, quả là mỉa mai (so sánh 1:18). 3 Mạng sống có nghĩa là chính mình hoặc cá nhân con người (c.8), nhưng cũng có nghĩa là sự thèm ăn, ăn ngon miệng, sự thèm khát. Coi như chúng ta phải hiểu theo nghĩa cuối trong suốt chương này: xem câu 4 (mong ước), câu 19 (sự ước ao), câu 25 (phỉ dạ). 9 Con người được ví với một ngôi nhà, có ánh đèn tức là có sự sống (so sánh Giop 18:5-6). 10 Sự kiêu ngạo ở đây được dùng với ý là ngạo mạn, lối ăn nói không sửa dạy được (so sánh Ch 21:23-24).
(Ch 13:13-20) Sự khôn ngoan Câu 13-20 nằm giữa những câu Châm Ngôn bàn về chủ đề chính là cuộc gây dựng của cải. Nhóm câu này nhắc chúng ta rằng sự khôn ngoan cũng là cơ sở cho cuộc gây dựng này (c.10,24, đặc biệt là c.18). Cởi mở tiếp nhận lời khuyên bảo, cùng sửa trị, và phục tùng sự khôn ngoan đã thâu hái từ giới khôn ngoan là chìa khóa để hành động thận trọng, được lợi ích, thành đạt, được ơn huệ, tôn trọng và sự sống, bằng không thì mọi chuyện sẽ ngược lại.
Chú giải. 17 Một lời nhắc nhở chọn người đưa tin một cách kỹ càng: người đưa tin trung thành đem lại hàn gắn sự hòa giải người đưa tin xấu bụng chỉ gây cho tình hình thêm trầm trọng. 19 Điều dữ nghiêng nặng về ý “khó khăn” hoặc “tai hoạ” (dùng cũng một từ như 20-21). Ý muốn nói là kẻ ngu muội sẽ không trở bước bỏ con đường dẫn đến sự khó khăn để đi vào con đường dẫn đến sự toại nguyện.
5. Sự khôn ngoan, nội tâm và đời sống trong xã hội (Ch 14:1-15:1)
(Ch 14:1-4) Dẫn nhập Một lần nữa chương này mở đầu bao hàm lời thách thức tìm kiếm sự khôn ngoan và tránh sự dại dột (1), Trong đoạn Châm Ngôn này, hai nhân vật tiêu biểu cho sự khôn ngoan và sự dại dột như trong Ch 9:1,13 (24:3-4), và ý của c. 1b là nếu không cẩn thận thì chúng ta cho phép sự ngu dại phá tan ngôi nhà mà sự khôn ngoan xây dựng (so sánh 3). Một lần nữa, một câu châm ngôn khiến người ta phải đặt nặng vấn đề phải trái đúng sai và thái độ đối với Đức Chúa Trời (2), không cho phép gạch bỏ Đức Chúa Trời và đạo đức vì đã hiểu biết sư khôn ngoan. Các câu châm ngôn tiêu biểu cho bốn loại nội dung kết thúc với một lời nhận định về cuộc sống trong câu 4: trống không nghĩa đen là “sạch sẽ” (bản RV) gợi ý là nông dân phải chấp nhận dơ dáy đôi chút nếu muốn thu hoạch mùa màng.
(Ch 14:1-9,15-18). Khôn ngoan và ngu dại Nói theo hướng tiêu cực thì ngu dại là phá hoại (1), tự hoại (3), tự duy trì tồn tại (6,18,24), tự bộc lộ (7), tự lừa dối (8), bướng bỉnh (9), cả tin (15), khinh suất (16), không được ưa chuộng (17), tánh nóng nảy (29), và buộc người khác phục tòng mình (33).
Chú giải. 9 Người ngu dại không quan tâm chỉnh đốn mối liên hệ của mình với người khác, trong những trường hợp chính mình là người sai quấy người ngay thẳng quan tâm, bày tỏ thiện chí của mình trong liên hệ với người khác và cũng quan tâm đến thiện chí của người khác đối với mình. 16 Bản Diễn ý và bản NIV tự thêm từ Chúa, chớ trong nguyên bản không có từ đó (xem bản dịch cũ trong tiếng Việt và bản RV).
(Ch 14:10-15) Nội tâm Từ tấm lòng được lập lại nhiều lần ở đây: xem câu 10,13,14 (nghĩa đen ở đây là tấm lòng không có niềm tin), 30,33. Những thí dụ đó cho thấy theo lối nói của Kinh Thánh, “tấm lòng” không phải chỉ là nơi phát xuất cảm xúc mà là trung tâm nội tại của toàn bộ con người, nên tấm lòng liên hệ với tâm trí và ý chí (với khả năng suy nghĩ và quyết định) cũng như với cảm xúc (Kinh Thánh thường liên hệ cảm xúc với ruột gan bao tử và thận, thí dụ: Ch 23:16a). Tấm lòng liên hệ với hiểu biết và khôn ngoan (2:2,10 3:5), vâng lời (3:1), trí nhớ (4:4 6:21 7:3), và âm mưu tính toán (6:14,18). Trong 6:32 7:7 9:4,16 từ đó được dịch là phán đoán (trí hiểu), trong 7:10 là chủ ý (mưu kế), trong 8:5 là “hiểu biết”. Khi bản dịch dùng từ “tấm lòng” thì thường thường trí óc của chúng ta tự động hiểu là “tâm trí”. Vì vậy 4:21,23 khuyến giục chúng ta hãy tiếp nhận cho đầy tâm trí mình những sự dạy bảo của người khôn ngoan và hãy canh chừng giữ gìn tâm trí mình vì đó là những nguồn mạch chính quyết định toàn bộ nhân cách của chúng ta (so sánh Ro 12:2 Eph 4:23 He 8:10 IPhi 1:13 Mat 15:18,19).
Chú giải. 10 Về một phương diện, khi trải qua những kinh nghiệm và những cảm xúc mạnh mẽ sâu xa nhất thì chỉ có chính mình hiểu mình mà thôi. 11 So sánh với câu 1. 13 Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì thường thường người ta cười cợt trên môi nhưng lòng thì giấu kín nỗi đau âm thầm (hoặc vì trong lòng mỗi một con người đều ẩn giấu nỗi đau buồn nào đó - theo hầu hết các bản dịch Kinh Thánh) nên niềm vui của họ chẳng bao giờ trọn vẹn. 15 Tin bất cứ điều gì nghĩa đen là tin bất cứ lời nói nào dù là lời khuyên bảo hoặc hứa hẹn về chuyện mai sau (so sánh c.15b).
(Ch 14:19-35). Cuộc sống trong xã hội Những từ vua, quan, đất nước, dân tộc, láng giềng, bằng hữu chưa hoặc ít được dùng đến trong các câu châm ngôn từ đầu sách đến đây. Đoạn châm ngôn này dùng hàng loạt các từ trên đây (c.19-21,28,34-35), nhằm tạo một bối cảnh cộng đồng cho những câu Châm Ngôn dạy về những vấn đề thông thường như sự thịnh vượng (23-24). Đường lối sử dụng tốt sự thịnh vượng đó là đáp ứng nhu cầu của người láng giềng nghèo khó (21), thay vì có thái độ như người ta vẫn có đối với người nghèo (20). Câu 19 và 32 khoác thêm cho việc này yếu tố đạo lý và lợi ích riêng cho mình. Đi xa hơn nữa, câu 31 thêm một động lực trong niềm tin, còn câu 26-27 đẩy thêm một bước nữa vào hướng đó và hứa rằng không có một nguy cơ nào khiến chúng ta phải lo ngại.
Câu 34 chủ trương đức công chính là bí quyết cho một quốc gia trở nên vĩ đại, có lẽ chưa ai đem cách này ra làm thử nhưng vế đảo trong câu này thì đã được chứng minh nhiều lần rồi. Đối với một xã hội như vậy, lòng yêu thương và trung thành sẽ là một nền tảng lý tưởng, còn câu 22 đề nghị một đường lối cho kế hoạch gia (ở đây mưu định là một từ giống như từ kế hoạch chớ không mang ý xấu nào). Sự công bình trong luật pháp cũng là yếu tố chủ chốt trong xã hội đó (25).
Lãnh đạo chỉ quan trọng như dân thường thôi câu 28 cho thấy áp lực đè nặng trên cấp lãnh đạo trong một xã hội. Sự kiện này lý giải phần nào tầm quan trọng trong công tác vì dân, và sự kiện này cũng cho thấy giới lãnh đạo cần biết cách tạo và duy trì mối tương quan với dân một cách khôn khéo (Ch 14:35-15:1 Cơn thạnh nộ gói ghém vấn đề trong câu trước đó, dù nguyên ngữ Hi Bá Lai dùng một từ khác so sánh bản dịch REB). Trong chương 16 là chủ đề chính là vua, dầu vậy trong chương 15, chúng ta sẽ nghiên cứu nhiều hơn về Đức Chúa Trời trước.
Ch 15:1 (xem giải nghĩa 14:1-35)
6. Đức Chúa Trời trong mối liên hệ với sự khôn ngoan, vua và nội tâm con người (Ch 15:2-33)
(Ch 15:2-7). Dẫn nhập Một lần nữa Châm Ngôn bàn về sự trái ngược giữa khôn ngoan và ngu dại với hàm ý thách thức chúng ta mưu tìm sự khôn ngoan (so sánh c.5,7), dẫn nhập vào một loạt những câu Châm Ngôn mới được tuyển chọn, cộng thêm một lời khẳng định về sự kiện Đức Chúa Trời can thiệp vào đời sống con người, đi đôi với những nhận xét về sự sống, về người công nghĩa và về kẻ ác (3,4,6). Nhìn chung, chương 15:2-16:19 có nhiều câu Châm Ngôn bàn về Đức Chúa Trời trong cuộc sống của con người. Đoạn Châm Ngôn này nằm giữa chương 10:1-22:16 và như vậy là nằm ở trung tâm sách Châm Ngôn và như vậy là đặt Đức Chúa Trời là trọng tâm của những điều sách này dạy về sự khôn ngoan.
(Ch 15:7-19). Nội tâm con người và cái nhìn của Đức Chúa Trời Bốn câu đề cập đến Đức Chúa Trời can thiệp vào đời sống con người bằng cái nhìn (c.8,9,11,16). Bốn câu này đan xen với sáu câu bàn về tấm lòng con người (c.7,11,13,14,15) cũng xem câu 21 (bản NIV dịch là phán đoán), 28,30,32 (bản dịch NIV dịch là hiểu biết) 16:1,5,9 (xem bình giải 14:10-15). Lòng của con người ở trước mặt Đức Chúa Trời trong 15:11.
Lời xác định trong câu 11 kết chùm với những câu trong đoạn này nói về những điều Đức Chúa Trời gớm ghiếc và những điều Ngài ưa thích (8,9 so sánh c.26, 16:5 cũng xem 11:1,20 12:22 17:15 20:10,23). Đây là nhữngh chuyện chân thật hoặc động lực nơi con người, hoặc những chuyện liên quan đến lời nói và ý nghĩ ẩn sau lời nói. Châm Ngôn nói rằng mắt người không thể thấy những điều đó - nhưng Đức Chúa Trời thấy. Đức Chúa Trời thấy rõ và gớm ghiếc những điều đó và sự kiện này góp phần giới hạn con người bớt làm những điều sai quấy một cách kín đáo bí mật.
Các câu châm ngôn này cũng biểu thị những mối liên hệ thuộc loại khác và những điểm dị biệt giữa nội tâm và cuộc sống mặt nổi. Có mối liên hệ giữa tư tưởng ngu dại với lời ăn nói ngu dại (7). Cũng phải có mối liên hệ giữa tình trạng của nội tâm với những sinh hoạt tin kính được bộc lộ bên ngoài (8) đến cả cảm nghĩ của chúng ta cũng có liên hệ đến dáng vẻ bên ngoài của chúng ta (13). Trong tình cảnh quẩn bách, người ta có thể được đền bù với một nội tâm phong phú (15,16), nhưng miệng ngu muội và tâm hồn thông sáng thì không thể tương hợp (14).
Chú giải. 11 Sự chết và sự hủy diệt (Âm phủ và điạ ngục) - xem bình giải 1:12. Ngay cả âm phủ cũng nằm trong tầm quyền lực của Đức Chúa Trời (so sánh Thi 139:8). 16,17 Hai câu này lập thế cân bằng cho nhau như 15,16. Sự bình an phát xuất từ tấm lòng kính sợ Đức Chúa Trời khiến cho cảnh nghèo khó mất tính cách khốn khổ, tình yêu thương của con người đối với nhau cũng vậy. 18,19 Cho thấy cuộc chuyện trò vẫn tiếp tục theo hướng bốn câu trên, câu 18 bàn rộng thêm ý của câu 17, còn câu 19 khuyến cáo về tánh quá nhu nhược.
(Ch 15:20-33) Sự khôn ngoan và lòng kính sợ Đức Chúa Trời Câu 20-24 mở đầu như thể dẫn nhập vào một phân đoạn mới hoặc vào một cuộc đàm luận về sự khôn ngoan, (thật vậy, c.20 lặp lại câu dẫn nhập vào chương 10), với niềm vui được miêu tả trong nhiều lãnh vực: niềm vui đến từ việc thấy con cái khôn ngoan (20), niềm vui đến từ việc vận dụng sự khôn ngoan (23), và niềm vui không có thật đến từ việc tránh né sự khôn ngoan (21 từ vui ở đây cũng là cùng một từ ở những câu trên so sánh bản RSV). Rồi trọng tâm chuyển từ niềm vui qua sự can thiệp của Đức Chúa Trời vào thế giới. Đây là điểm đặc thù của phân đoạn 15:2-16:15. Câu 11 đặt bên cạnh nhau hai chủ đề được bàn đi bàn lại nhiều lần trong các câu châm ngôn từ câu 7-19. Còn kết thúc phân đoạn này thì câu 33 gom chung hai chủ đề được bàn đi bàn lại nhiều lần trong các câu 20-33.
Con người quan tâm đến sự khôn ngoan và sự tôn trọng (33): câu 20-24 bày tỏ mối quan tâm đối với sự khôn khôn ngoan. Câu 25-29 phản ánh mối quan tâm đối với sự tôn trọng. Nhưng 20-24 xác định vấn đề rõ ràng hơn. Các câu này xác định về thái độ và hành động của Đức Chúa Trời đối với những người đầy đủ và những người nghèo khó.
Câu 30-32 từng bước chuẩn bị cho câu 33 tuyên bố rằng bí quyết để vừa khôn ngoan vừa được tôn trọng là kính sợ Đức Chúa Trời hoặc khiêm nhường. Ở đây, khiêm nhường là một thái độ đối với Đức Chúa Trời chớ không phải chỉ là một đức tính nơi con người - trình tự của ý tứ trong câu 30-33 cho thấy là những tin vui góp phần khiến chúng ta trở nên những con người trưởng thành, còn những lời phê bình cũng có tác dụng tương tự, và không có gì làm cho chúng ta trưởng thành chín chắn cho bằng thái độ phục tùng dưới sự phê bình của Đức Chúa Trời.
Các từ tin lành (30), nghe (31), nghe (32) đều liên quan đến nhau, vì thế câu 31-32 gợi ý là những lời quở trách và những tin vui đi đôi với nhau cũng có khả năng gây dựng cho chúng ta và không đem lại sự sống. Sự kiện từ thông sáng (32) cũng cùng một từ với từ lòng (30) nhấn mạnh điểm này. Rồi sự khuyên dạy (32) được dùng trong câu 33 (so sánh bản RSV nghĩa đen “Sự kính sợ Gia-vê là một sự trau luyện trong lãnh vực khôn ngoan”) nên câu 33 minh định rõ mối liên quan của Đức Chúa Trời đối với sự dạy dỗ trong các câu 30-33.
(Ch 16:1-19). Quyền cai trị của con ngườivà của Đức Chúa Trời Ngoại trừ ở đây không có đoạn Châm Ngôn nào khác chép về Đức Chúa Trời đến chín lần trong mấy câu 1-11 và về vua năm lần trong các câu 10-15.
Định nghĩa về vị trí của một ông vua trong thể chế quân chủ xưa (có thể ứng dụng vào các vị trí lãnh đạo chính trị khác) gồm có hai phương diện. Phương diện thứ nhất, vua có uy quyền tối cao đáng sợ, thể hiện qua lời nói và trong hành động (10,14-15). Mặt khác, vua là người chuyên trách về sự công bình và đức công chính (10,12,13). Ở Y-sơ-ra-ên cũng như ở các nơi khác, phương diện thứ hai cũng được xem là yếu tố quan trọng đối với vương quyền như phương diện thứ nhất, dù rằng có thể không phải vì vấn đề đạo lý mà vì lợi riêng (12). Trong bối cảnh các câu châm ngôn nói về vương quyền, những lời bàn về sự công bình, sự khôn ngoan, sự ngay thẳng và sự khiêm nhường trong câu 8 và 16-19 cũng ứng dụng đặc biệt cho vua nữa.
Đặc biệt đúng là như vậy khi mà những lời bàn về vương quyền lại nằm trong đoạn văn nói về hoạt động của Đức Chúa Trời trong thế giới. Câu 10-11 đan xen hoạt động của vua và Đức Chúa Trời với nhau để hai luồng hoạt động này không diễn biến riêng lẻ, còn những câu khẳng định về Đức Chúa Trời cũng vậy, các câu đó cũng tập trung xoáy vào quyền hành tối cao và sự công bình. Chính là Đức Chúa Trời can thiệp, định đoạt mức giải trình các kế hoạch (1), cách thẩm định hoạt động (2), mức độ thành công của các kế hoạch (3) và làm cho những yếu tố có vẻ tiêu cực lại phù hợp với mục đích (4). Đức Chúa Trời cũng can thiệp định đoạt mức độ hoành hành của các thế lực bạo tàn (5) nhờ Ngài mà người ta thoát được sự khó khăn (6), đường lối ngoại giao đạt hiệu quả (7), các ý tưởng được thực thi trong thực tế (9) và ngành kinh tế thương mại được tiến hành với những tiêu chuẩn đúng đắn công bằng (11).
Nói theo phương diện của con người, vua chịu trách nhiệm về những chuẩn mực trong kinh doanh. Như vậy, xét toàn bộ khúc này, câu 11 đặc biệt khẳng định rằng địa vị của vua hoàn toàn phụ thuộc vào Đức Chúa Trời. Điều này là một sứ điệp quan trọng cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ đền thờ thứ nhất, khi họ có các vua cai trị, nên ở đây thách thức họ cũng như các chính quyền trong thế giới hiện đại cai trị theo một đường lối phản ánh sự cai trị của của Đức Chúa Trời. Câu này cũng chứa một sứ điệp quan trọng cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ đền thờ thứ hai, khi các vua ngoại quốc cai trị trên họ. Các ông vua này chung cuộc cũng ở dưới quyền cai trị của Đức Chúa Trời. Đây cũng là một sự khích lệ cho những dân tộc hiện nay đang bị các thế lực ngoại bang cai trị.
Chú giải. 6 Có vẻ như điều ác ở đây chỉ về tai hoạ (cùng một từ trong câu 4) xây bỏ sự xấu xa đi vào con đường phải và đến với Đức Chúa Trời tạo điều kiện để tránh những tai hoạ xảy đến vì cớ tội lỗi của mình. 10 Không sai lầm trong bản diễn ý là thích đáng hơn là sẽ không sai lầm trong bản dịch cũ tiếng Việt. Lời khẳng định này đi đôi với câu 12-13. 12-15 Những điều vua gớm ghiếc và những điều vua ưa thích hài lòng được so sánh với bản liệt kê những điều Đức Chúa Trời gớm ghiếc và ưa thích hài lòng (hai từ này đều được dùng trong 15:8, xem bình giải của câu đó). 17 Xem câu 6 về từ sự ác cùng nghĩa với tai hoạ, khó khăn.
7. Sự sống, đức công nghĩa, sự khôn ngoan và Đức Chúa Trời (Ch 16:20-22:16)
Chương 10:1-22:16 là phần thứ hai của tuyển tập các câu Châm Ngôn của Sa-lô-môn: “Châm ngôn thuộc các loại và các chủ đề được sắp rải rác trong các chương, nhiều câu có liên hệ với nhau về văn từ - Tuy nhiên nhìn chung, không có chuyện chia phân đoạn mạch lạc như trong phần I và phần này cũng không cho thấy rõ ràng tác giả dựa vào cơ sở nào để sắp xếp các câu châm ngôn với nhau. Có ba cụm châmcngôn bàn về sự khôn ngoan, có một chùm châm ngôn bàn về đức công chính và sự gian ác trong khoảng gần cuối phần này, rồi có một vài cụm nhỏ ít câu đề cập đến Đức Chúa Trời, còn phần nhiều các câu Châm Ngôn nhận định về cuộc sống.
(Ch 16:20-30). Phước hạnh của sự khôn ngoan Câu 20-23 giảng giải một số những phước hạnh của sự khôn ngoan nhằm khơi dậy sự chú ý nơi người nghiên cứu đối với phần còn lại của sách. Các câu 24-30 liên hệ trên căn bản văn từ, rồi cũng liên hệ tương tự với các câu 20-23, cho nên các câu 20-30 xem như một dây xích. Trong bản dịch NIV, mối liên hệ này được biểu thị rõ ở nhiều chỗ, hơn nữa từ iệng và từ đói là một từ (23,26), từ môi và từ lời nói là một từ (23,27,30) trong khi từ thịnh vượng (Bản Diễn Ý thành công 20) có nghĩa đen là tìm được điều tốt. Như vậy đi cùng với nhau, các câu này hứa rằng sự khôn ngoan (kết hợp với sự kính sợ Đức Chúa Trời) đem lại sự ích lợi, danh tiếng, ảnh hưởng, hài lòng, lành bệnh, sự dẫn dắt và một đời sống đầy trọn, rồi cũng cảnh cáo về sự ngang ngạnh một cách ngu dại sẽ dẫn đến sự chia rẽ, sự sửa trị, tai hoạ và sự chết. Có lẽ câu 26 nhằm nói thêm về động lực thúc đẩy: cũng vậy đối với người nghiên cứu niềm ham thích học hỏi cũng phải là động lực thúc đẩy họ học hỏi. Ý câu 21b và 23b là lời nói vui vẻ, nhã nhặn “tăng gia sự hiểu biết” (bản dịch REB): xem bình giải 1:7.
(Ch 16:31-18:21) Động lực đằng sau các mối tương quan
Ch 16:31-33. Phần này chuyên chú nhận xét một cách cụ thể về các phương diện tương quan trong gia đình và trong cộng đồng. Hai nhận xét về vai trò đặc biệt và niềm tự hào của ba thế hệ trong gia đình, ông bà sẽ là một thành phần cao niên trong cộng đồng, rồi đến giới trưởng thành là cha mẹ, rồi đến con cái là giới trẻ (16:31 17:6). Lời xác định về ba nhóm này và về mối tương quan giữa ba lứa tuổi đó trở nên một sứ điệp cho các nước đã phát triển trong thời đại này. Câu 17 phản ánh tầm quan trọng của anh chị em ruột đối với nhau trong cuộc đời một cách chung nhưng đặc biệt quan trọng hơn nữa trong những lúc khủng hoảng, dù rằng câu 18 cũng có gợi ý về mối quan tâm, giúp đỡ của láng giềng, nhưng cần phải thực hiện một cách thận trọng. Còn những người tự cô lập gây thiệt thòi cho mọi người (18:1).
Ch 17:1-28. Một số câu Châm Ngôn trong chương 17 đề cập đến sự hoà thuận và sự xung đột trong gia đình và trong những tập thể khác. Câu 1 xác định rằng sự hoà thuận trong gia đình là quan trọng hơn tất cả mọi chuyện khác. Vì vậy câu 2 cảnh báo chống lại sự xung đột nhất là xung đột về tiền bạc (dù là c. 8 công nhận ảnh hưởng của tiền bạc trên con người), còn câu 21-22,25 ghi nhận nỗi đau của cha mẹ phải chịu vì cớ những chuyện dại dột loại đó.
Câu 4 cho thấy thường thường những lời người ta nói là nguyên nhân sinh chuyện (so sánh 16:28 17:27-28). Câu 9 thúc giục chúng ta khuyến khích phát huy lòng yêu thương và tình bằng hữu bằng cách che đậy những xúc phạm thay vì rêu rao ra, dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa chúng ta chẳng bao giờ nói nặng người khác (10). Cũng vậy, câu 14,19 thúc giục chúng ta tránh gây châm ngòi cho những cuộc cãi lẫy (so sánh 16:32 17:11-13), dù câu 15,20 cảnh báo chúng ta rằng việc này có thể dẫn đến sự thỏa hiệp hoặc man trá.
Mối “chia rẽ, bất hoà” là chủ đề thường lập lại trong Châm Ngôn. Trong các hội thánh và cộng đồng luôn luôn có những người quấy rối, những người thích gây xáo trộn. Nguyên nhân có thể là cơn giận (15:18 29:22), ngạo mạn (22:10), say rượu (23:29-35), thèo lẻo (26:20), tham lam (28:25), hoặc gian tà 16:28). Kết quả có thể là xảy ra xung đột (26:21), mối liên hệ bị đổ vỡ hẳn (18:19) hoặc tranh cãi liên tục (17:14). Đường lối tháo gỡ tốt nhất là rút lui khỏi cuộc tranh chấp (17:14) hoặc một biện pháp bắt thăm tương đương với chuyện tung đồng tiền lên rồi xem sấp hoặc ngửa (18:18). Nói cách khác, cuộc cãi trả gàn bướng kéo dài sẽ gây tổn hại nhiều hơn là quyết định sai trong một việc nhỏ.
Những câu châm ngôn như 17:16,24-28 nói về sự khôn ngoan nhưng không phải riêng về sự khôn ngoan ở đời này mà thôi. 16:33 và 17:3-5 rõ ràng đem Đức Chúa Trời vào vấn đề, khẳng định rằng Đức Chúa Trời là nắm toàn quyền quyết định số phận của gia đình sẽ ra sao, đảm nhận vụ thử nghiệm cuối cùng đối với sự ngu dại của gia đình và là đối tượng cuối cùng của những lời mắng nhiếc, xúc phạm.
Chú giải. 7 Tiếp theo câu 4 thêm một lời bàn về những điều người ta nói. 19 Cũng như từ ưa thích, từ rước, kiếm kết chùm câu 19 với câu 9. Trong câu 9 từ này cũng có nghĩa là “tìm cầu” (so sánh bản dịch RSV). Hình ảnh trong câu 19b không rõ ràng lắm nhưng hành động bộc lộ ít nhiều tánh kiêu ngạo. 18:1 Một lần nữa Châm Ngôn dùng động từ ưa thích như tìm cầu, rước trong 17:9,19 (so sánh bản RSV), trong khi từ người bất thân thiện thì liên hệ với từ phân rẽ trong 17:9.
Ch 17:24-28. Bản chất và giá phải trả cho sự ngu dại (17:24-18:8) Nhóm các câu châm ngôn này chuyên nói về sự ngu dại. Người ngu dại thất thường trong các mối quan tâm (17:24), khó kềm giữ miệng lưỡi (17:27-28 so sánh 18:8), nhất quyết tự quyết định (18:1) và thích nói hơn là nghe (18:2). Như vậy, người ngu dại đem đến cho gia đình những sự khó khăn trục trặc (17:25), gây thiệt hại mất mát cho người khác vì những quyết định của họ (18:1) và rước vào mình những nỗi khổ đau (18:6-7), mặt khác trong những cụm châm ngôn khác, khi cần người ta phải lên tiếng và gây ra sự xung đột (17:26 18:5).
Chú giải. Trong 18:4 và 20:5 có thể hàm ý rằng con người có nguồn của sự khôn ngoan, dầu vậy ngoài hai câu này ra, không có câu châm ngôn nào ngụ ý tương tự. Như vậy bản dịch NIV dùng từ nhưng nhằm nêu sự trái ngược giữa sự mơ hồ của con người và sự minh bạch chính xác của sự khôn ngoan.
Ch 18:1-8 (xem giải nghĩa 17:24-28)
(Ch 18:9-21) Vấn đề sức mạnh và quyền lực Phân đoạn này bàn về sức mạnh của một thành trì đã được củng cố với nhiều công sự và sức mạnh tương đương của hai thứ nữa: Một là của cải (11 c.16 ghi nhận một phương diện khác trong sức mạnh của của cải khi liên hệ với nhân vật quan trọng). Nhưng câu 10 đã xác định rằng Đức Chúa Trời bảo vệ người công chính, đồng thời đánh giá lời nhận định cho rằng của cải có sức mạnh coi như bất khả xâm phạm. Câu này cũng củng cố cho một quan điểm khác về sự kiêu ngạo, tôn trọng và khiêm nhường (12). Câu 13 và 15 kết chùm với lời nhận định về sự kiêu ngạo, còn câu 9 hàm ý về một dạng sức mạnh khác do người lửng lờ trì trệ vận dụng.
Có thể động viên tinh thần con người nhưng đến một giới hạn nào đó thôi (14). Sức mạnh bảo vệ của Đức Chúa Trời mới là giải pháp. Điều thứ hai có sức mạnh tương đương với một thành trì đầy công sự là tấm lòng của một người anh em đã bị tổn thương (19). Câu 18 đề ra một phương cách thực tiễn nhằm tháo gỡ những mối bất hoà giữa hai đối thủ bất kham cố chấp như nhau. 16:33 là một thứ hai trong sách Châm Ngôn đề ra phương cách bắt thăm. Như vậy có lẽ câu 18 cũng chủ trương rằng Đức Chúa Trời tể trị trong việc bắt thăm.
(Ch 18:22-19:10) Sự nghèo khó
Ch 18:22-24. Dứt khoát nghèo khó là một điều không tốt vì thí dụ người nghèo khó luôn luôn phải cầu xin ơn huệ (18:23), bị ngay cả gia đình xua đuổi (19:7). Chắc chắn là tình trạng nghèo khó làm giảm đi số bạn bè thân sơ (19:4,6,7). 19:5 có lẽ gợi ý rằng tòa án không phán xử cách công bằng cho người nghèo, nhưng có một lời hứa là những người cáo gian sẽ bị trừng phạt (so sánh 19:9).
Còn có thể nói gì để khích lệ người nghèo? Có một số sự kiện cho họ ghi nhớ. Thứ nhất là khi người nghèo cầu xin ơn huệ nơi Đức Chúa Trời (18:23) thì đã là đối tượng được Ngài thương xót qua món quà của Ngài là người vợ (18:22). Thứ hai, có một người bạn thân thiết còn hơn là quen biết nhiều, và người bạn chí cốt đó có khi còn trung thành với mình hơn cả bà con ruột thịt (18:24). Thứ ba, thà nghèo khó mà chân thật còn hơn làm người ngu dại mà gian tà đổ lỗi cho Đức Chúa Trời về những nan đề mà đương sự tự gây ra cho mình (19:1-3). Lẽ ra, hạng người này phải chịu nghèo khó mới xứng hợp (19:10). Thứ tư, trongkhi tìm cầu đeo đuổi sự khôn ngoan, đương sự là bạn thân thiết của chính mình (19:8). Đức Chúa Trời biết người làm ơn cho người nghèo, và Ngài sẽ ban thưởng cho người đó (19:17). Như vậy đây là lời khích lệ mọi người làm ơn cho người nghèo (từ “làm ơn” trong bản dịch NIV theo 19:17 có nghĩa là “đối xử có lòng tốt”. Người nghèo khó được ưa chuộng hơn là người man trá, vì “người ta tìm kiếm tình thương chân thành” (19:22 bản dịch NJB).
Chú giải. 24 Từ bạn trong câu này có ý nghĩa mạnh hơn được cấu tạo bởi từ có nghĩa là yêu thương (so sánh 19:8). Từ anh em một ở đây cũng như từ anh em ruột trong 19:7.
Ch 19:1-10 (xem giải nghĩa 18:22-24)
(Ch 19:11-20:3) Xung đột
Ch 19:11-19. Phần này bàn về những chủ đề tương tự như trong 16:31-18:1 . Sự kết hợp giữa quyền lực và cơn giận tạo ra một tình thế đáng sợ rõ ràng (19:12 so sánh 20:2). Sự xâu xé trong nội bộ gia đình xem ra lý thú đối với người ngoài nhưng cũng toát ra mùi tử khí (19:13), cho nên sự tôn trọng thật tùy thuộc vào khả năng tránh được xung đột nội bộ hoặc không (20:3). Như vậy khôn ngoan thật sự là có thể “kìm hãm cơn giận” - nghĩa đen là kiên nhẫn (19:11). Quà tặng của Đức Chúa Trời nằm trong chỗ thành viên trong gia đình không xâu xé, không chia rẽ nhau (19:14).
Người có tánh mau nóng giận có thể là không sửa đổi được và chắc chắn là rước lấy tai hoạ (19:19). Nhưng đây không phải là lý do cản trở nói nặng lời trong gia đình, vì không răn đe, sửa trị nặng lời là bỏ mặc con cái tự thân đi trong con đường đến sự chết (19:18). Tánh lười biếng có thể dẫn đến cái chết như thể mê ngủ và nhịn đói (19:15). Làm ngơ, bỏ lơ sự khôn ngoan là liều mạng chọn chính sự chết (19:16).
(Ch 19:20-20:4) Sự khôn ngoan
(Ch 19:20-29) 19:20 bàn về lợi ích và nguy cơ của sự khôn ngoan cùng sự ngu dại (so sánh 25,27 với 26,29) được minh hoạ qua vài chân dung của sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan không đi đôi với chuyện thích uống rượu (20:1), ấy thế mà giới trí thức lại thường có nét đặc trưng là ưa chuộng rượu. Sự ngu dại được minh hoạ bằng chân dung người lười biếng không chịu làm việc,người lười biếng là đối tượng của một vài mẫu chân dung, đặc sắc nhất được miêu tả trong sách Châm Ngôn (xem bình giải 24:30-34). Sự khôn ngoan cho phép người ta thăm dò tìm ra những điều bí ẩn và có thể là giả dối ẩn giấu sâu thẳm trong lòng người (20:5 xem bình giải 18:4).
Sau đó là lời nhắc nhở chúng ta về sự can thiệp của Đức Chúa Trời trong mọi chuyện của con người có nghĩa là sự khôn ngoan đơn thuần của con người luôn luôn nắm phần quyết định, và sự kính sợ Đức Chúa Trời đóng vai trò quan trọng chẳng thua gì những nỗ lực của trí tuệ để thành công trong cuộc đời (19:21,23). Cũng phải kể đến mối tương quan của con người với nhau nữa (19:22) rồi còn sự công bình nữa (19:28 câu này kết chùm với 25,29 qua việc nhạo báng với người nhạo báng.).
Chú giải. 17,22 Xem bình giải 18:22-19:10. 20:2-3 Xem bình giải 19:11-19.
Ch 20:1-4 (xem giải nghĩa 19:20-29)
(Ch 20:5-19) Dáng dấp bề ngoài và sự thật Có thể định nghĩa đức công chính làtính cách chân thật trong đời sống của một cá nhân (7), nhưng khó lòng tìm thấy một mẫu người để làm thí dụ điển hình (6-9) cũng không dễ tìm được tánh cởi mở thật thà (5) cứ quan sát chuyện người ta mua bán thì biết (14) còn sự thật trong lòng người ta thì càng khó lần ra vì họ lẫn tránh đằng sau dáng vẻ mơ hồ, kín đáo bề ngoài (15).
Câu 5 cho rằng sự khôn ngoan là chìa khóa giải mã bề ngoài khó hiểu này. Thực tiễn hơn, câu 8 nói về người cầm cân nảy mực thi hành công tác với con mắt tinh đời, nhanh nhạy, sáng suốt. Câu 11 hàm ý là rằng nên xem hành động là mamh mối tìm ra bản chất thật của một cá nhân. Câu 12 cho rằng đôi mắt timh đời, nhanh nhạy là quà của Đức Chúa Trời, trong khi câu 10 cảnh cáo rằng Đức Chúa Trời gớm ghê sự gian lận trong thương trường.
Câu 16-19 kết chùm với nhau vì ba câu 16,17,19 dùng cùng một động từ dưới ba thể cách để chuyển đạt ý bảo lãnh , có vị ngọt và “hoà đồng với” do đó là tránh giao thông (bản NIV:tránh) câu 19 có vai trò bổ túc cho câu 18. Các câu châm ngôn trong phân đoạn này nối kết với nhau luận về chủ đề gian lận do câu 17 nêu lên.
Chú giải. 13 “Mở mắt ra” nghĩa là tỉnh ngủ, đây là móc xích nối câu này với phân đoạn (c.8,12).
(Ch 20:20-21:4). Quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời và quyền hành của con người
Ch 20:20-30. Phân đoạn này trình bày thêm về Đức Chúa Trời. Khi bị hại chúng ta cần nhờ cậy Đức Chúa Trời (20:22). Trong tình cảnh đó chúng ta có thể an tâm tin chắc về mối quan tâm của Đức Chúa Trời đối với sự thật thà và sự công bình (20:23 21:3), về sự lèo lái của Đức Chúa Trời đối với người có quyền lực (20:24 bản dịch NJB: ở đây không dùng từ bình thường chỉ về “con người, người trần, loài người”), về mức độ hiểu biết của Đức Chúa Trời đối với mọi diễn biến trong con người (20:27) và về quyền tối cao của Đức Chúa Trời khi Ngài thẩm định giá trị nơi con người (21:2). 20:25 nêu ra một thí dụ điển hình về sự việc con người đôi khi không thể hiểu ngay cả chính mình.
Vua có chịu trách nhiệm “sàng lọc loại trừ kẻ ác” (20:26) và các biện pháp thuộc loại trừng phạt cũng có tác dụng tẩy dọn nội tâm của con người nữa (20:30). Nhưng quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời trong mối liên hệ với vua (21:1) hàm ý phải dè dặt đối với hai câu châm ngôn trên: chỉ một mình Đức Chúa Trời mới nhìn thấu nội tâm con người (20:27). Cũng cần nhận định thêm về câu châm ngôn thứ nhất. Đó là vua cần tập trung chú trọng vào những biện pháp tích cực, những việc góp phần xây vững ngai vàng chớ không phải chỉ lo trừng phạt những việc làm sai trái (20:28).
Giới trẻ hoặc lớp già đều có hào quang riêng của mình, sức mạnh của thể xác và thẩm quyền của kinh nghiệm (20:29). Giới trẻ không nên coi thường hoặc lừa phỉnh lớp già (20:20-21 mắng nhiếc và chúc phước là hai từ dùng trong hai câu này).
Ch 21:1 (xem giải nghĩa 20:20-30)
(Ch 21:2-29) Công chính và gian ác Về khoảng cuối của 10:1-22:29 có một nhóm câu châm ngôn khác nói về đức công chính và sự gian ác, song song với một nhóm câu châm ngôn ở khoảng đầu của các chương này. Khởi đầu có hai câu nhận xét từ góc nhìn của Đức Chúa Trời (2-3), tiếp đến là tập trung mổ xẻ sự gian ác. Sự gian ác lấy kiêu ngạo làm ánh sáng soi đường dẫn lối (4), biểu lộ ra qua bạo lực và sự quanh quẹo (7-8), không có lòng thương xót và trông mong thèm thấy người khác bị tai hoạ (10 từ điều ác là từ dùng để dịch từ tai hoạ trong câu 12), kiêu ngạo và ngổ ngáo (24), sùng đạo nhưng giả hình (27), dạn dĩ nhưng thiếu chiều sâu (29).
Ao ước thèm khát là một chủ đề cũng được luận đến ở chỗ khác, đặc biệt là ao ước được giàu sang, người ta có thể phấn đấu để đạt cho được bằng những đường lối ngay lành hoặc sai trái, khôn ngoan hoặc ngu dại (5-6,13,17,20,25-26), nhưng về quyền lực của sự giàu có thì chúng ta phải nhìn vào thực tế (14).
Sự gian ác thu gặt hậu quả một cách đương nhiên. Người bạo tàn bị lôi đi một cách tàn bạo (7). Đấng Công Nghĩa ra tay hành động chống lại những người có tánh hạnh trái ngược với Ngài (12). Người không thương xót không tìm được sự thương xót (13). Người tẻ tách bỏ đường ngay kết cuộc hư mất (16). Khi những chuyện này xảy ra, ta thấy như là họ thế chỗ cho những người công chính từng lâm vào tình cảnh hiểm nguy vì cớ họ (18: là một cách nói làm nổi bật điểm đã trình bày trong 11:8). Người khôn ngoan vạch trần những người đặt lòng tin cậy vào những nơi ngu dại (22). Nhân chứng muốn làm hại mạng sống của người khác bằng những lời khai man của mình đánh mất chính mạng sống của mình (28).
Có khá nhiều câu nhận xét tích cực về đức công nghĩa. Chỉ một mình Đức Chúa Trời được gọi là Đấng Công Nghĩa (12), sự xưng tụng này khơi ra một ý nghĩa mới mẻ cho từ công nghĩa được dùng trong chương 10-22: nội dung của phần này về vấn đề công nghĩa bắt nguồn từ bản tính của Đức Chúa Trời. Sự công bình đem lại niềm vui (15), một thí dụ về việc xét đoán của Đức Chúa Trời - như cách diễn dịch thông thường của câu này - là tin mừng trong Cựu Ước. Nó đánh dấu cho sự cai trị công bình của Đức Chúa Trời (và trái ngược với câu 17, từ vui chơi ở đây là từ được dịch là vui vẻ ở câu 15). Câu 21 gom chung sự công nghĩa, trung thành, sự sống và sự tôn trọng.
Chú giải. 9,19 Xem bình giải 16:31-18:1.
(Ch 21:30-22:16) Sự khôn ngoan, của cải và Đức Chúa Trời Ch 21:30-31. Các câu châm ngôn chót trong phần Châm Ngôn 10:1-22:16 trộn lẫn các câu châm ngôn đặc biệt nói về sự khôn ngoan với những câu châm ngôn nói về Đức Chúa Trời. Như vậy các câu này xác định tầm quan trọng của sự khôn ngoan và nỗ lực của con người (22:3,6,10,15 các câu châm ngôn tiêu biểu trong 22:5,8,11,13,14) nhưng cũng tuyên bố rằng những điều đó nếu đứng riêng độc lập khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời thì chẳng là gì cả (21:30-31) và cần có Đức Chúa Trời can thiệp thì những nguyên tắc trong các câu đó mới thành tựu được (22:12). Các câu này nói một cách thực tế về của cải và sự nghèo khó (22:7) nhưng cũng cho rằng không phải chỉ dựa vào tiêu chuẩn của con người (22:1,9 - được phước ở đây là những ý tốt mà người ta bàn bạc về đương sự) nhưng cũng ghi nhận những tính cách chung giữa người nghèo và người giàu trong cái nhìn của Đức Chúa Trời (22:2) và khẳng định rằng những thái độ đối với Đức Chúa Trời đóng vai trò chủ chốt trong vấn đề giàu sang và nghèo khó (22:4). Lòng chân thành tôn kính Đức Chúa Trời là nền tảng của sự khôn ngoan.
Ch 22:1-16 (xem giải nghĩa 21:30-31)
4. NĂM TUYỂN TẬP NỮA (Ch 22:17-31:31)
Phần thứ ba và là phần cuối của sách Châm Ngôn gồm năm tuyển tập riêng lẻ gồm những câu châm ngôn về sự khôn ngoan thuộc nhiều loại khác nhau: hai tuyển tập gồm những câu châm ngôn nói về người khôn ngoan (22:17-24:22 và 24:23-34), một tuyển tập tương tự “do người của vua Ê-xê-chia chép” (25-29), và những câu châm ngôn của A-gu-rơ (30) và của vua Lê-mu-ên (31).
1. Ba mươi câu châm ngôn (Ch 22:17-24:22)
(Ch 22:17-29). Nội dung giáo huấn trong hai chương này quay về với điểm nổi bật trong chương 1-9 tức là kêu gọi độc giả nên có hoặc nên tránh một số hành vi. Phần này không có những câu châm ngôn luận về cuộc sống trong khi 10:1-22:16 lại đề cập đến nhiều, còn đa số ý tưởng được trình bày qua một cụm nhiều câu châm ngôn chớ không phải chỉ một câu đơn độc, nhờ đó mà độc giả biết vì sao phải vâng lời. Bản NIV giúp độc giả nhận ra “ba mươi cụm” châm ngôn đó (22:20) bằng cách nhảy một hàng giữa hai cụm.
Ba mươi cụm châm ngôn này có nét khá gần gũi với một tác phẩm dài ba mươi chương của Ai Cập với tựa đề là Lời giáo huấn của Amenemope. Dường như tác phẩm này được thành hình một thời gian trước thời Sa-lô-môn, nên thông thường xem như Châm Ngôn chịu ảnh hưởng của tác phẩm này chớ không phải ngược lại. Tinh thần cởi mở để thâu hái sự khôn ngoan của những dân tộc khác phản ánh một chủ trương có tính cách thần học là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời của mọi dân tộc và của mọi loài có sự sống. Cho nên chẳng có gì lạ khi mà các dân tộc khác nhận biết về một số những sự thật trong cuộc sống để rồi dân của Đức Chúa Trời cũng học hỏi từ họ. Ba mươi cụm châm ngôn này khuyến khích chúng ta vận dụng vốn hiểu biết phổ thông của chính mình mà phục vụ Đức Chúa Trời. Trong công tác phục vụ Đức Chúa Trời, không luôn luôn nhất thiết là phải chờ nghe được “một lời truyền phán từ Đức Chúa Trời” rồi chúng ta mới thấy việc cần làm!
Tác phẩm Những lời giáo huấn của Amenemope nhằm mục đích khuyên dạy thành phần công chức các cấp. Còn ba mươi cụm châm ngôn này cũng có nhiều điều khuyên bảo dành cho thành phần đó.
Thứ nhất, họ cần chú ý nghe theo sự dẫn dắt sáng suốt của sự khôn ngoan (22:17-21, ở đây, hầu cho con lấy lời thật mà đáp lại với những người sai con cho thấy vai trò trung gian của họ, 23:12,13-16,22-25 24:3-7,13-14). Họ cần tránh phí phạm thời gian với người ngu muội là người không quan tâm chú ý đến họ (23:9). Họ cần ghi nhận những tấm gương tốt (22:29) và tránh những ảnh hưởng xấu - thí dụ tránh những hạng người có thể nêu gương nóng tánh thay vì bình tĩnh, bình tĩnh là đặc tánh quan trọng trong sự khôn ngoan của Ai Cập (22:24-25), hoặc tránh hạng người có xu hướng nổi loạn (24:21-22).
Thứ hai, cũng như thường dân học tập theo sự dẫn dắt sáng suốt của sự khôn ngoan, họ cần nhớ rằng Đức Chúa Trời can thiệp vào đời sống lẫn việc làm của họ và Ngài muốn thấy kết quả ở nơi họ (22:19,23 23:11,17 24:12,18,21).
Thứ ba, cần nhớ rằng công tác của họ đòi hỏi nơi họ những chuẩn mực đạo đức và quyền lực rất dễ bị lạm dụng (22:22-23,28 23:10-11 24:8-9,15-16). Nhưng họ cũng cần cảnh giác đề phòng nguy cơ trái ngược, đó là liều mạng chiều theo ý của người khác khi người ta gặp khó khăn về tài chánh (22:26-27). Họ chẳng bao giờ có thể nói: “Bộ tôi là người giữ em tôi sao?” (24:11-12), và tinh thần trách nhiệm nơi họ xâm nhập tới tận tư tưởng chớ không phải chỉ trong phạm vi lời nói và hành động (24:17).
(Ch 23:1-35). Thư tư, họ cần nhớ nguy cơ bê tha. Lối sống này có thể khiến cho họ quên mất những vấn đề thực sự nằm trong phạm vi trách nhiệm của mình và địa vị của mình, quên rằng của cải chỉ là tạm bợ chóng qua để rồi ngây thơ đón nhận tình bạn của một người nào đó trong khi lẽ ra họ phải tự hỏi vì sao người đó lại rộng rãi với mình đến thế (23:1-9 - ý câu 9 là khi nhận ra sự thật cuộc chuyện trò đang hồi thân mật vui vẻ bỗng nhiên mắc nghẹn trong cổ họng. Tình trạng này có thể khiến họ ghen tị hoặc tức tối khi thấy người gian ác thành công (23:17-18 24:1-2,19-20). Tình trạng này có thể khiến họ quên rằng bê tha có thể sinh ra phí phạm vô kể và có thể phương hại đến chính mình họ (23:19-21, đề cập đến mối liên hệ giữa bê tha và lười biếng, đây là một trong những chủ đề châm ngôn thích bàn đến, 23:29-35 rượu pha là rượu pha với những chất khác như mật chẳng hạn, tương đương với món cốc tai thời nay). Tình trạng này có thể khiến họ khuất phục trước sự cám dỗ quan hệ tình dục ngoài hôn nhân (23:26-28). Khi đối diện với sức ép chung quanh họ mới thấy thực chất của mình (24:10).
Ch 23:1-22 (xem giải nghĩa 22:17-29)
2. Thêm những câu châm ngôn về khôn ngoan (Ch 24:23-27:22)
Đây là một nhóm các câu châm ngôn được chọn để ráp chung với ba mươi cụm châm ngôn. Nhóm này gồm có hai phần tán thưởng ngắn gọn về người nói thẳng (nghĩa đen của từ này trong nguyên bản là chân thật, thật thà, câu 26) và dạy rằng phải lo cho đủ ăn trước khi xây nhà (27). Điều thứ hai này có thể hiểu theo nghĩa đen, nhưng cũng có thể hiểu là trước khi xây dựng gia đình có thể ứng dụng một câu châm ngôn thuộc loại này vào nhiều trường hợp.
Tiếp theo là hai câu châm ngôn dài hơn bàn về hành vi của quan toà tại các phiên xử (quan toà ở đây không phải là chuyên nghiệp mà là một việc trong phạm vi bổn phận của các vị cao niên trong cộng đồng) (23-25) và về bổn phận của người làm chứng (28-29 hai câu này có vẻ đi cặp với nhau, giúp cho chúng ta hiểu ý câu này khi đọc câu nọ và ngược lại).
Người lười biếng là một trong những mẫu người ưa thích nhất của châm ngôn (30-34) (mẫu người ít được ưa chuộng nhất thì đúng hơn) và sách dành nhiều câu nhất để miêu tả con người này. Đây là một con người không thể tin cậy (10:26 18:9), không đạt được những điều lòng ao ước (13:4 21:5), bị lắm nỗi khó khăn bao vây (15:19), đói khát (19:15 20:4), viện đủ loại lý do để thoái thác (22:13 26:13) không bao giờ hoàn tất một việc gì cả (12:27 19:24 26:15), nghèo khổ cùng cực (12:24) và bất trị (26:14,16). 6:6-11 19:24 26:13-16 là những bức tranh độc đáo, khó quên miêu tả người lười biếng. Tương phản với người cần cù làm lụng (12:24,27 13:4 16:26 21:5). Cần mẫn làm việc là mỹ đức của người khôn ngoan, cần thiết để đạt được sự khôn ngoan và thành công trong cuộc sống vì vậy lười biếng là tánh xấu trái ngược hẳn với siêng năng.
Chương 25-29 đi dôi với 10:1-22:16 vì có những nét chung: hầu hết những vấn đề trong phần này được gói ghém trong từng câu châm ngôn riêng lẻ, và một số câu châm ngôn được kết chùm với nhau căn cứ vào dạng tương đồng của từ ngữ dùng trong câu, nhất là trong chương 25, thí dụ câu 5 và câu 6 đi với nhau vì đều có cụm từ trước mặt vua, câu 8 đi với câu 9 vì có từ lân cận, còn câu 10 đi với 12 vì có từ nghe (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai cũng dùng cùng một động từ). Chương 25 sắp các câu châm ngôn đi cặp với nhau (xem cách nhảy hàng của bản NIV), còn chương 26 thì gộp nhiều câu lại thành cụm. Đôi khi yếu tố sắp cặp hoặc gộp chung thành cụm nằm trong lối diễn tả của câu châm ngôn - thí dụ 25:13 và 25:14 là hai câu ví von về thời tiết.
Trong phân nửa đầu của tuyển tập này có những lối nói ví von và tỉ dụ rất lý thú, ý tưởng câu châm ngôn trong nguyên bản trầm lắng hơn cả trong bản dịch vì các từ “như” và “là”, hoặc “tương tự” và “như vậy” thường không có trong nguyên bản (chỉ có trong 25:13 26:1,2,8,18 27:8 chớ không có trong những câu khác). Vì vậy 25:14 nói một cách đơn giản như sau: “Có mây có gió lại chẳng mưa cho. Người khoe khoang huênh hoang về những món quà mình chẳng hề cho”. Kết quả là người nghe châm ngôn buộc phải tìm ra ý nghĩa chớ chẳng phải chỉ hưởng mâm cỗ dọn sẵn đầy đủ.
(Ch 25:1). Dẫn nhập Với sự khôn ngoan Ai Cập làm bối cảnh cho ba mươi cụm châm ngôn thì ý kiến cho rằng tuyển tập này được sưu tầm trong thời vua Ê-xê-chia là đề nghị đáng lưu ý, vì đó là thời gian nước Giu-đa bang giao thân thiết với Ai Cập nhất. Es 30:1-31:9 cảnh báo Giu-đa về sự khôn ngoan của con người khi Giu-đa xem Ai Cập là đồng minh sáng giá nhất của mình, đến nỗi không kể gì đến Đức Chúa Trời nữa. Khi sưu tầm bảo lưu những tư liệu trong chương 25-29 của sách Châm Ngôn, giới nhà giáo trong thời vua Ê-xê-chia khuyến khích dân chúng nên có quan niệm tích cực hơn đối với sự khôn ngoan của con người, nhưng như những nhà biên tập các chương trước - họ cũng cảnh cáo dân là chớ loại Đức Chúa Trời ra khỏi cuộc đời của họ.
(Ch 25:2-7). Vương quyền Vì cớ triều đình là bối cảnh hình thành tuyển tập này nên đương nhiên những câu châm ngôn đầu tiên - ba cụm - mỗi cụm hai câu đề cập đến những chuyện liên hệ đến vua. Những việc làm của Đức Chúa Trời đương nhiên đượm vẻ bí ẩn chương 30 sẽ triển khai điểm này. Đây là điểm công nhận quan trọng của Châm Ngôn, vì thường thường Châm Ngôn dường như hàm ý rằng thần đạo toàn là chuyện đơn giản dễ thấu triệt. Thật sự Châm Ngôn không chủ trương như vậy. Trái lại, những công chuyện trên thế gian này mà vua quan tâm đến là những việc vua hoàn toàn nắm quyền cai trị (2). Mặt khác, tâm trí của vua cũng tương tự như tâm trí của Đức Chúa Trời (3). Đó là điều cần thiết nếu muốn vua đáp ứng được những trách nhiệm đã đặt trên vai vua, và vua nên giữ kín một số ý tưởng và cảm nghĩ của mình nếu vua muốn duy trì uy quyền và sự tôn trọng.
Tiếp theo những lời tôn tặng vua như vậy là lời thách thức vua trong khi sử dụng quyền hành của mình (4-5), và lời khuyên triều thần về hành vi của họ khi liên hệ với vua (6-7 Lu 14:7-11 chịu ảnh hưởng ít nhiều những câu châm ngôn này).
(Ch 25:8-28). Xung đột Tương tự như những phần trong chương 10-22, các câu châm ngôn trong phần này bàn về chủ đề chính là bản chất của sự xung đột và phương cách tránh xung đột hoặc tháo gỡ xung đột. Thứ nhất, đừng vội vàng công khai hoá một cuộc xung đột, cần biết chắc mình có lẽ phải, còn nếu giới hạn cuộc xung đột trong chỗ riêng tư, cũng đừng tiết lộ hết thực lực của mình bằng không, tháo gỡ theo hướng nào bạn cũng chuốc lấy sự nhục nhã mà thôi (8-10). Đừng đánh mất khả năng tự chủ, bằng không, có nguy cơ bạn sẽ mất tất cả (28). Đừng trì hoãn khi cần nói ra sự thật trong tinh thần yêu thương nhưng kháng cự sự gian ác (so sánh câu 26 - câu này nằm ở đây vì hình ảnh trong câu này trái ngược với hình ảnh trong câu 25), nhưng phải thận trọng khi thực hiện việc đó (11-12 hình thức so sánh trong câu 11 cũng tương tự như các hình thức so sánh khác nên bản NJB dịch là: “Một lời bàn đúng lúc như những trái táo bằng vàng cẩn bạc” - còn bản NIV đảo câu này lại).
Giờ đây chúng ta sang suy nghĩ về mối liên hệ của mình với cấp trên. Khi họ mệt mỏi và cơn bực bội ngấm ngầm nhen nhúm, thì tánh tình đáng tin cậy ở nơi chúng ta sẽ làm cho họ cảm thấy thanh thản và như vậy chúng ta tự ban ân huệ cho mình (13 so sánh với câu 25 thì câu này có ý nói về nước lạnh như nước đá trong các dòng suối bắt nguồn từ Núi Hẹt-môn phủ đầy tuyết ngay cả vào mùa hè). Khi buộc phải bất đồng ý với cấp trên thì điều chủ chốt là phải thận trọng lựa lời mà nói. Lời lẽ xác đáng phù hợp có thể bẻ gãy khuynh hướng kháng cự nòng cốt ở trong họ (15).
Dù chưa lâm vào tình trạng gay cấn căng thẳng, vẫn cần bảo vệ bầu không khí giao hảo hài hoà với láng giềng. Đừng lân la chơi nhiều và chơi lâu ở nhà láng giềng khiến người ta không còn hoan nghênh mình nữa (16-17 hình ảnh trong câu 16a được dùng lại trong câu 27), đừng nói dối cũng đừng thố lộ những chuyện riêng tư kín đáo (18-19,23), và đừng (lỡ?) gây cho láng giềng đau khổ hơn chỉ vì tánh vô tâm của chúng ta (c.20). Có thể liên hệ những điều này với câu 14, nhắc nhở chúng ta đừng hứa hẹn quá mức mình có thể làm trọn (c.14).
Láng giềng có thể là bạn mà cũng có thể là thù, và kẻ thù (21-22) có thể lắm là chính một người láng giềng của chúng ta. Mệnh lệnh hãy yêu kẻ lân cận như chính mình (Le 19:18) hẳn nhiên là bao gồm cả láng giềng thù địch lẫn thân thiện như vậy mệnh lệnh của Chúa Giê-xu là hãy yêu kẻ thù nghịch càng làm sáng tỏ ý câu này hơn. Nguyên tắc này cũng liên hệ với việc quan tâm dìu dắt láng giềng đầy ác cảm đến chỗ ăn năn (22a nói về những dấu hiệu ăn năn, hẳn nhiên là theo nghĩa bóng thôi). Tuy nhiên, ở đây khi đưa ra lời khuyên về vấn đề tái lập sự giao hảo hài hoà trong cộng đồng Nhà Giáo động viên bản năng khá vị kỷ hơn. Chủ điểm của họ là khi chúng ta yêu thương kẻ thù/người lân cận của mình thì có lẽ đó là phương cách hữu hiệu nhất để thực hiện lòng ao ước của chúng ta là chấm dứt ác cảm của đối phương, và cũng là đường lối được Đức Chúa Trời chấp thuận. Ông Phao-lô phê chuẩn phương cách của họ (Ro 12:20).
Có lẽ xung đột trong gia đình là đau đớn nhất và khó tháo gỡ nhất (24).
Chú giải. 23 Tại nước Y-sơ-ra-ên mưa đến từ Địa Trung Hải nằm về phương tây chớ không phải từ phương bắc (so sánh Lu 12:54). Có lẽ câu châm ngôn này bắt nguồn từ một địa phương có mưa đến từ phương bắc có lẽ đây là một chi tiết cho thấy Châm Ngôn chịu ảnh hưởng của Ai Cập.
(Ch 26:1-12) .Người ngu dại Ở đây không định nghĩa nhiều về sự ngu dại, nhưng đưa ra hình ảnh minh hoạ rất sống động. Trên lý thuyết, người ngu dại có thể nhận thức sự khôn ngoan, có lẽ có khả năng học thuộc như vẹt, nhưng không biết cách vận dụng (7). Họ chẳng khác gì giới sĩ phu tích lũy thật nhiều tri thức nhưng không thụ đắc khả năng ứng dụng số vốn liếng đó: y như một người nắm trong tay một vũ khí lợi hại nhưng không biết cách sử dụng (9 - trừ phi câu này có ý nói là họ chỉ thâu thái được vốn tri thức ngoài chủ ý). Ngoài ra họ cũng chẳng học hỏi được gì qua những lỗi lầm của mình (11).
Theo định nghĩa, người ngu dại không thâu thái được gì từ những câu châm ngôn này. Còn người khôn ngoan thì học được điều gì? Họ phải ghi nhớ rằng tôn trọng người ngu dại là chuyện lố bịch không đúng chỗ (1,8 - đặt một viên sỏi vào cái trành là để ném đi chớ không phải để cất giữ ở đó). Họ phải dùng phương pháp huấn luyện thích hợp cho người ngu dại (3). Họ phải tránh sử dụng người ngu dại nếu muốn được việc (6,10 câu 10 hàm ý rằng người ngu dại có hoàn thành công việc nhưng không làm sao biết chắc anh ta sẽ hoàn thành việc gì). Không nên tự hào là họ hơn người ngu dại, vì có thể sự đời sẽ chứng minh ngược lại (12, phần này có cái đuôi châm chích).
Câu 4-5 đưa ra hai lời khuyên trái ngược nhau về việc đáp lại câu hỏi ngu dại của người ngu dại. Tùy thuộc vào thái độ của chúng ta hoặc nghiêm chỉnh xem xét câu hỏi hoặc gạt phăng đi và như vậy xử sự giống như người ngu dại đối với các vấn đề phải giải quyết. Cuộc sống rất phức tạp, nên không thể nào dùng cùng một đáp án có sẵn cho mọi trường hợp. Người khôn ngoan biết vận dụng câu trả lời khôn ngoan trong mỗi tình huống cụ thể.
Chú giải. 2 Câu này nằm ở đây không phải vì có nội dung góp phần triển khai chủ đề nhưng vì có hình thức tương đồng với câu 1: cả hai đều nói ví về những chuyện trong thiên nhiên, và trong cả hai đều có những từ “như” và “cũng vậy”, trong khi những câu ví sánh khác trong các chương này thường là không rập một mẫu như vậy. Vì cớ lời nói có thể xuất phát với năng quyền, nhất là những lời cầu nguyện hoặc những lời chúc phước hoặc rủa sả, người ta lo sợ rằng lời nguyền rủa chắc chắn sẽ xảy ra câu châm ngôn tuyên bố rằng thực tế không phải là như vậy.
(Ch 26:13-16) Sự lười biếng Bốn bức biếm hoạ về người lười biếng với những lý cớ vô lý, tính ngang bướng (bản lề dùng để làm cho cánh cửa xoay tới xoay lui nhưng không tiến tới đâu cả, con người thì không như vậy) tánh trì trệ trễ nãi và có tài tự lừa dối thật bất hủ. (Xem bình giải Ch 24:30-34).
(Ch 26:17-28) Tình bằng hữu (26:17-27:22) Chủ đề của 26:17-22 là những cuộc cãi nhau (c.17,20-21) có thể phát sinh từ một tật xấu, hoặc tính khí ưa gây gỗ (21) nhưng có một nguyên nhân đặc thù là sự ngu dại người ngu dại bông đùa quá mức cho phép (18-19). Có một cách chấm dứt những chuyện cãi vả này là bỏ lối nói đầy ác ý đi (20), dù rằng đề ra biện pháp thì dễ mà thực hiện là khó lắm (22). Tốt hơn hết là đừng thử tháo gỡ sự cãi vả của người khác (17).
Liên hệ với chủ đề trên là vấn đề trong 26:23-28. Đó là sự giả trá trong quan hệ với người khác (c.24,26,28). Đây là lời cảnh báo về khoảng cách có thể có giữa những lời nói vồn vã thân tình và tấm lòng của người nói. Sâu xa trong lòng người khôn ngoan luôn luôn giữ thái độ cảnh giác về khả năng có những ẩn ý đằng sau câu nói của người đối diện với mình, và họ học tập nhận ra con người giả dối (23-26a). Châm ngôn cho rằng người giả trá như vậy sẽ phải đền tội vì mất uy tín với mọi người và bản thân sẽ đau khổ (26b-28).
Chương 27:1-22 gồm những câu châm ngôn riêng lẻ liên quan ít nhiều đến vấn đề quan hệ tốt với người khác. Mở đầu, câu 1-2 cảnh báo về hai dạng khoe khoang (ca ngợi và khoe khoang đều là cùng một từ) trong khúc văn này, châm ngôn nhấn mạnh trên vấn đề khoe khoang với những ngầm ý dính dáng tới những mối quan hệ (cũng so sánh với câu 21 và câu 18 về lời bàn có tính cách thực tiễn về cách giành được tiếng tốt). Các câu châm ngôn tiếp theo cảnh báo về cơn giận do sự ngu dại gây ra (3 so sánh với c.11-12,22), về sức mạnh của cơn ghen, ác liệt hơn cả một cơn tức giận hung hãn (4), còn phần cuối chương nói về tầm phá hoại của lòng tham (20).
Rồi các câu châm ngôn nói về tình bằng hữu, mở đầu với nét tiêu cực nhưng sau đó khẳng định về giá trị của một lời trách cứ chân tình thẳng thắn từ một người bạn so với một lòng yêu thương im lặng và không bao giờ nói nặng nhẹ gì cả (5) hoặc một ác cảm kín đáo ẩn sau bề mặt yêu thương (6). Trong khung cảnh của câu 9, là câu nói về tính cách ngọt ngào trong tình bằng hữu, thì câu 7 nói về những người không có bạn dễ bị gạt vì tình bạn giả tạo như câu 6a miêu tả. Tình bằng hữu có thể gây khó chịu dù là có ý xây dựng nâng đỡ (17, người khác nghĩa đen là “người láng giềng của mình”) còn ý trong câu 19, có lẽ là chúng ta khám phá ra chính mình nhờ quen biết tìm hiểu một người khác (so sánh bản NJB). Cũng nên hiểu câu 15-16 trong khung cảnh của câu 9 vì dầu thơm trong câu 9 là dầu trong câu 16. Câu 16 triển khai cảm nghĩ quen thuộc trong câu 15 xoáy vào một điểm đau lòng: tình yêu thương tựa như dầu thơm, khi tình yêu thương mất đi thì cũng như dầu thơm bốc hơi rồi không thể thu hồi được nữa.
Trên một phương diện tích cực hơn, tính cách ngọt ngào và vui mừng của tình bằng hữu nằm trong lời khuyên bảo tích cực, cứu chúng ta khỏi tình thế tự tạo (9), và nằm trong việc chúng ta có thể nhờ cậy bạn bè trong cơn khủng hoảng thay vì nhờ cậy bà con thân quyến ở xa (10) - dù phải chi trước kia đừng bỏ nơi chôn nhau cắt rốn mà đi xa như vậy (8). Như vậy cần giữ gìn tình bằng hữu (14) chú trọng phô diễn tình bằng hữu có thể sinh ra phản tác dụng!
Tình láng giềng là một chủ đề được bàn đi bàn lại trong châm ngôn, có nhiều tiềm năng đối với một cộng đồng lành mạnh, nhất là khi cộng đồng có người nghèo khó (14:21 27:10) - dù vậy tình bằng hữu cũng có thể gây ra thiệt hại (16:29 25:18 29:5). Vì thế cần thận trọng đối với những hành động có thể làm tan vỡ tình láng giềng: đặt quyền lợi riêng tư lên trước thay vì làm việc tốt hoặc làm trọn nghĩa vụ (3:27-28 so sánh 14:20 21:10), không chịu hành động kịp thời trong những trường hợp sai lầm về tiền bạc (6:1-5), phản bội lòng tin cậy của một người láng giềng (3:29), kiếm chuyện hại người khác chỉ vì một chút lợi tạm bợ (3:30-31), ngoại tình với vợ của một người láng giềng (6:29), dùng lời nói nham hiểm phá hoại láng giềng (11:9), làm nhục láng giềng cách công khai (11:12), đứng ra bảo lãnh tiền bạc cho láng giềng một cách dại dột thiếu thận trọng (17:18), làm chứng dối trước toà án phương hại đến người khác (24:28), hấp tấp kiện cáo người khác (25:8), kể lại cho nạn nhân về chuyện người khác nói hành về nạn nhân (25:9-10), hoặc những chuyện khôi hài hơn - cho rằng láng giềng luôn luôn hoan nghênh mình tại nhà họ bất cứ lúc nào (25:17), đánh lừa người khác bằng chuyện đùa giỡn (26:18-19) hoặc mới sáng sớm đã bông đùa quá trớn với láng giềng (27:14).
Chú giải. 27:13 Về mặt nội dung, xem bình giải 6:1-5. Nhưng ở đây câu châm ngôn kết chùm với câu 2 (trong câu 2, hai từ kẻ khác và người ngoài được dịch là kẻ lạ và dâm phụ trong câu 13). Câu này cảnh báo về tánh cả tin của chúng ta trong khi quan hệ với người khác là người ăn nói dịu ngọt dễ chiếm được lòng tin cậy của chúng ta (2).
Ch 27:1-22 (xem giải nghĩa 26:17-28)
3. Bảo tồn những dạng tài sản lâu bền (Ch 27:23-27)
Đó là những tài sản có vẻ hấp dẫn nhưng khó lòng tồn tại mãi (24). Vì vậy việc quan trọng là phải bảo vệ những dạng tài sản tồn tại dài ngày hơn chẳng hạn như bầy súc vật là loại tài sản có khả năng cung cấp cho chúng ta đồ ăn, đồ mặc, tiền bạc (26-27), bằng cách săn sóc tình trạng sức khoẻ (23) và tính toán cho đúng kỳ thu hoạch cỏ để nuôi bầy (25) - nếu khéo tính thì người nông dân có thể thu hoạch hai mùa trong một năm.
4. Đức công chính, sự khôn ngoan và tín ngưỡng (Ch 28:1-18)
Trong các phân đoạn nằm trong chương 25-27 có vài bức tranh minh hoạ rất sống động. Nhưng lại ít đề cập đến đức công chính và sự gian ác hoặc Đức Chúa Trời. Chương 28-29 thì ngược lại, lập lại nhiều lần các vấn đề trong lãnh vực đạo đức và thần học. Nhiều câu đề cập đến Đức Chúa Trời (5), đức công chính (8), sự gian ác (10), sự sai quấy/tội lỗi (5), sự công bình (3), xấu xa trong lãnh vực đạo đức (2), sự chân thật/liêm chính (2), sự gian tà (2), sự ngay thẳng (3) và các vấn đề tương tự khác.
Như vậy các chương này nhắc lại những chủ trương vững vàng về đạo đức và khôn ngoan đã được nêu lên trong những chương Châm Ngôn trước. Người công chính và kẻ gian ác đều lãnh nhận phần thưởng hoặc hậu quả (28:1,10,18), ngay cả trong trường hợp không có thưởng phạt thì thà làm người công chính còn hơn là người gian ác (6). Sự khôn ngoan là bí quyết xây dựng một đất nước vững bền ổn định (2), trong khi ngược lại một người áp bức bóc lột thất bại trong công tác căn bản nhất (3: mưa có tác dụng làm cây cối lên tốt nhưng cũng có thể gây thiệt hại). Người độc tài bạo ngược cầm quyền cai trị là mối nguy lớn cho dân không khác gì một ác thú đang hoành hành (5), còn sự kém hiểu biết của đương sự cũng nguy hiểm cho chính đương sự (16-17). Cho nên dân chúng công nhận là khi người công nghĩa thành công thì đó là tin mừng còn khi người gian ác thạnh vượng thì đó là tin dữ (12, so sánh 28 29:2).
Các chương này cũng đề cập đến Torah (luật pháp). Nói chung, torah có nghĩa là dạy hoặc chỉ dẫn lời dạy hoặc chỉ dẫn của người khôn ngoan (1:8 13:14) hoặc của một vị tiên tri (Es 8:16). Nhưng trong Ch 28:4,7,9 29:18, trong bối cảnh của các câu châm ngôn nói về đạo đức và về thần đạo chắc chắn người Y-sơ-ra-ên hiểu rằng torah chỉ về những lời dạy của Môi-se.
Trong Châm Ngôn nói chung, sự hiểu biết hoặc khôn ngoan là các khả năng và các đặc tánh riêng của mỗi người để hiểu biết sự đời phổ cập mà người khôn ngoan tìm cách chỉ dạy (10:13 19:25). Nên hiểu các câu châm ngôn viết về sự hiểu biết và tri thức trong 28:2,11,16,22 29:19 theo hướng này. Tuy nhiên, trong 28:5 hiểu biết hoặc khôn ngoan tuỳ thuộc vào thái độ tìm kiếm Đức Chúa Trời, là thái độ trái ngược với một con người xấu xa còn trong 28:7 một người con trai khôn ngoan không phải chỉ biết vâng lời cha mình mà còn biết tuân thủ torah, luật pháp (so sánh 29:7, trong câu này “không quan tâm tuân thủ luật pháp” có nghĩa đen là “không có trí hiểu gì cả”).
Hiểu biết về tri thức và khôn ngoan trong lãnh vực niềm tin cùng đạo đức trong các câu đó cũng tạo một bối cảnh mới cho thính giả, giúp họ hiểu ý nghĩa của những từ này trong các châm ngôn ở những chương khác. Ngay cả khi mới nhìn qua những câu có dùng các từ này chúng ta tưởng các từ này có nghĩa thông dụng hằng ngày (28:2,11 29:19), nhưng thật ra là có nghĩa nghiêng nặng về phần thuộc linh và đạo đức.
Đặc biệt đáng chú ý là 28:4-5 gom torah (luật pháp), sự gian ác, xấu xa, sự công bình và tinh thần tìm kiếm Đức Chúa Trời chung trong một khung cảnh là nền đạo đức của thế giới bị đảo lộn khi người ta bỏ qua torah và không tìm kiếm Đức Chúa Trời. Còn 28:6-7 gom chung sự ngay thật thanh liêm không chỗ trách được, tà vạy gian tà, torah (luật pháp) và sự khôn ngoan. Ba câu này đặc biệt nói về chủ đề của cải: giàu có và nghèo khó trong câu 6, phung phí của cải trong câu 7 (so sánh bản dịch REB) và sự cho vay ăn lời quá đáng trong câu 8. Tương tự như vậy torah, cầu nguyện, thanh liêm chính trực, và sự ngay lành đi chung với nhau trong câu 9-10, còn tội lỗi, thú nhận tội, thương xót, kinh ngạc và cứng lòng đi chung với nhau trong câu 13-14 (dù ở đây không thực sự đề cập đến từ Đức Chúa Trời, từ Đức Chúa Trời trong bản NIV là tự thêm vào sau này - so sánh bản NRSV).
Chú giải. 17 Từ dày vò phát xuất từ một động từ như từ chuyên chế độc tài trong câu 16 vì thế từ này gợi ý là người áp bức bóc lột sẽ đến phiên bị áp bức bóc lột.
5. Sự thịnh vượng (Ch 28:19-27)
Bí quyết thịnh vượng là làm lụng cực nhọc (19). Nhưng mải mê gây dựng cơ đồ - hoặc dù chỉ lo chuyện sống còn - bằng đường lối ích kỷ và không chấp nhận một ngoại lệ nào là sai quấy, mù quáng và vô ích (20-24). Tương tự như trong câu 1-18, một lời nhận định theo quan điểm niềm tin đặt lời giáo huấn này vào một bối cảnh mới (25): mưu tìm sự giàu sang cũng có khuynh hướng phân cách đương sự với người khác trả giá như thế là ngu dại gấp đôi vì bí quyết của sự giàu sang tuỳ thuộc vào lòng tin cậy Đức Chúa Trời của đương sự. Còn người ỷ lại vào chính mình cũng ngu dại gấp đôi (26). Ngược lại, ban cho lại là bí quyết để sở hữu, sở hữu trong nhiều lãnh vực (27). Sự sai quấy/ tội lỗi, tin cậy, Đức Chúa Trời, dại dột và khôn ngoan một lần nữa lại xuất hiện chung với nhau trong câu 24-26 tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ. Ở đây, một lần nữa sự khôn ngoan nghiêng nặng về lãnh vực thuộc linh và đạo đức. Khôn ngoan và tin cậy nơi Đức Chúa Trời đi bên cạnh nhau, và cả hai đều trái với sự ỷ lại vào chính mình.
5. Quyền lực và đức công chính (Ch 28:28-29:27)
(Ch 28:28). Một lần nữa Châm Ngôn trình bày bản chất và hệ quả của đức công chính và của sự gian ác xấu xa, đặc biệt là ảnh hưởng trên đời sống của cộng đồng và trên giới lãnh đạo của cộng đồng. Người công chính, chớ không phải người gian ác, thăng tiến và nắm quyền hành cai trị trên cộng đồng là có lợi cho cộng đồng hơn (Ch 28:28 29:2), thật ra cũng ích lợi cho kẻ ác nữa (1). Vì sự cai trị công bằng của giới lãnh đạo là phương cách tạo ổn định cho xứ sở (4), và cho chính chức vụ của họ (14). Người hống hách tự cho là mình tinh thông mọi chuyện đương nhiên tạo ra một bầu không khí căng thẳng kình địch thay vì hoà thuận (8-9), và một khi người cai trị không khuyến khích dân tôn trọng sự thật thì ông ta sẽ phát hiện là ở các cấp dưới quyền ông người ta sẵn sàng hành động rập theo chủ trương của ông (12). Ông cần nhận biết rằng lên voi xuống chó là chuyện đảo lộn dễ xảy ra thôi (23). Cho nên, đặc biệt cấp lãnh đạo phải biết quan tâm đến người nghèo (7). Lề lối công nghĩa như vậy đồng minh với sự khôn ngoan và đem lại niềm vui mừng hân hoan (3,5,15), nhận biết ý nghĩa của đức tự chế (11) sẵn sàng áp dụng kỷ luật (17,19,21) và ghê tởm hành động sai quấy (27).
Giới lãnh đạo chống lại những người gian tà không quan tâm gì đến người nghèo khó (7), còn kẻ ác và kẻ ngu muội ghen ghét và tích cực tấn công người ngay thẳng (10,27), họ bộc lộ ào ào ý nghĩ và cảm nghĩ của mình (11,20,22), và cũng thường giấu cảm nghĩ thật của mình đằng sau những lời nịnh hót (5), nhưng rồi đây họ sẽ phải trả giá về những hành động của mình (6,16,24).
Tương tự như sự khôn ngoan và đạo đức của những thành phần khác, ở đây cũng đặt sự khôn ngoan và đạo đức của giới lãnh đạo và của cộng đồng trên căn bản đức tin nơi Đức Chúa Trời. Với lời nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên cả người nghèo khó lẫn người chuyên chế áp bức tác giả nhằm củng cố tinh thần của giới nghèo khó và thách thức thành phần độc tài áp bức (13) còn về phương diện thần đạo thì tác giả nhấn mạnh lời hứa cho nhà vua rằng đối xử công bằng phải lẽ với người nghèo là góp phần củng cố ngôi nước (14).
Tình trạng ổn định của xã hội cũng tuỳ thuộc vào thái độ rộng mở đối với sự mặc thị và mức độ hưởng ứng đối với torah (18). Mặc thị là một từ chỉ về mọi điều một tiên tri dạy về ý muốn và mục đích của Đức Chúa Trời (so sánh Es 1:1). Câu Đâu không có mặc thị có nghĩa là “ở nơi nào bỏ qua sự mặc thị của Đức Chúa Trời” (dĩ nhiên chỉ có sự mặc thị mà thôi, không ngăn cản được dân sự từ bỏ thái độ dè dặt, như chức vụ tiên tri đã cho thấy). Câu châm ngôn này, độc nhất trong toàn bộ các sách khôn ngoan, đặt Torah và Các Tiên Tri bên cạnh nhau thành bí quyết để được phước, để mưu tìm ổn định trật tự cho cộng đồng (từ ai trong câu 18b là dân sự như trong câu 18a - tức là “dân sự được phước khi dân sự tuân thủ torah”).
Câu châm ngôn đó khuyến khích chúng ta hiểu từ hiểu biết trong câu 19 là hiểu biết về phần thuộc linh (xem bình giải 28:1-18). Đại ý trong phần kết của câu này cho thấy là thực ra tại đó không có hiểu biết về phần thuộc linh. (Họ cũng không vâng theo nghĩa đen là “thiếu sự đáp ứng”, như vậy câu này kết thúc câu 18-19 trong một thể đối lại với câu thiếu sự mặc thị ở đầu câu 18). Chúng ta bị cám dỗ biến con người, người cầm quyền cai trị chẳng hạn thành đối tượng để chúng ta kính sợ và tin cậy và xem họ là căn cơ của mọi hành động và biện pháp nhằm thực thi sự công bình, nhưng Đức Chúa Trời mới thật sự là đối tượng của những thái độ đó và là căn cơ của phước hạnh này (26-27).
Chú giải. 3 Từ làm cho cha được vui vẻ, đem lại niềm vui, là một dạng của động từ vui mừng trong câu 2 - câu châm ngôn dùng từ này với chủ ý là sự khôn ngoan, cũng như đức công chính, có thể là một nguyên nhân khiến cho dân sự vui mừng. 24 Người đồng loã không chịu tố giác trước toà, phải gánh chịu tội danh của hành động phạm pháp (so sánh Le 5:1).
6. Những câu châm ngôn của A-gu-rơ (Ch 30:1-33)
(Ch 30:1-9) Dẫn nhập Chúng ta không biết chi về A-gu-rơ, Gia-kê, Y-thi-ên và U-canh (1), có lẽ họ là người ngoài dân tộc Y-sơ-ra-ên (so sánh 31:1 và bình giải). Nhưng sắc thái bí ẩn này tạo bối cảnh phù hợp với điều bí ẩn mà A-gu-rơ muốn thú nhận (2-4). Chúng ta nhận thấy rằng có lúc giọng điệu của châm ngôn có vẻ tổng quát hoá một cách quá chắc nịch về diễn biến của cuộc sống và về sự vận hành của Đức Chúa Trời, trong khi thực tế cho thấy cả hai lãnh vực đó đều nhuộm màu bí ẩn nhiều hơn. Ở đây, châm ngôn tỏ ra am hiểu điều đó. Có thể câu 2-3 ngụ ý là vấn đề trục trặc nằm trong sự thể A-gu-rơ không đủ trí thông minh câu 4 chuyển đạt đầy đủ giọng mỉa mai của A-gu-rơ trong lời nói đầu tiên. Ông là người duy nhất công khai thú nhận mình ngu dốt vì cớ sự bí ẩn tự tại trong những việc liên hệ đến Đức Chúa Trời.
Dầu vậy, giọng mỉa mai còn tiếp tục câu 1 đã mô tả những câu châm ngôn của ông là sấm ngôn, một từ chuyên dùng để chỉ về những sứ điệp tiên tri đến từ Đức Chúa Trời (thí dụ Es 13:1 mặc dù bên lề có ghi chú rằng có thể hiểu từ “sấm ngôn” là tên của một xứ Ả Rập Ma-sa trong Sa 25:14). Giọng mỉa mai lại tiếp tục trong câu 5-6. Mặc dù A-gu-rơ có nói rằng chẳng phải ông cũng chẳng phải bất cứ ai khác đã đem tri thức từ trời đến địa cầu, nhưng ông cũng ngụ ý rằng có những lời của Đức Chúa Trời là những lời rất chính xác và đáng tin cậy, và Đức Chúa Trời yêu cầu phải tiếp nhận những lời đó, không ai được phép thêm bớt gì.
Phần dẫn nhập kết thúc với lời A-gu-rơ cầu nguyện xin Đức Chúa Trời giữ ông tránh khỏi sự dối trá, và đặc biệt hơn nữa là khỏi giàu sang quá mức hoặc nghèo cực quá độ, vì ông thấy có nguy cơ trong cả hai cảnh sống này. Ông nhắc chúng ta nhớ rằng khi Châm Ngôn nói về người giàu và người nghèo, như ta thấy nhiều chỗ trong sách Châm Ngôn, thì không có ý nói rằng toàn bộ loài người trên đất này đều thuộc về hoặc nhóm người giàu có, hoặc nhóm người nghèo khó. Nhưng phần lớn loài người thuộc lớp người ở giữa hai lớp này và A-gu-rơ ước ao được làm thành phần trung lưu này. Ông nghiêm chỉnh công nhận tính cách bí ẩn nơi sự sống và nơi Đức Chúa Trời (chú ý là khi nói về Đức Chúa Trời ông dùng danh xưng Yahweh theo như người Y-sơ-ra-ên), tương tự như tác giả của sách Truyền Đạo vậy (Tr 7:16-18).
(Ch 30:10-17). Hành xử quá quắt Ở đây có ba phân đoạn tương quan với nhau. Rủa sả là từ liên kết câu 10 với phân đoạn gồm câu 11-14. Câu 10 cảnh báo chúng ta đừng can dự vào chuyện đời của người khác bằng những hành động mà hậu quả sẽ dội trở vào chúng ta đương sự có thể là người chủ hoặc người làm. Mỗi câu châm ngôn trong phân đoạn 11-14 mô tả một hạng người có thái độ quá quắt không thể chấp nhận được. Những bảng liệt kê theo dạng này thường có cao điểm ở phần kết vì vậy câu 14 dài gấp đôi các câu trong phân đoạn. Ở cao điểm phân đoạn này cũng liên kết với câu 7-9 qua chủ đề nghèo khó - dù rằng từ nghèo khó và thiếu thốn ở đây không cùng một dạng với các từ dùng trong câu 7-9. Căn cứ từ ý đó câu 15a tiếp tục nhận định về con đỉa, con đỉa hút máu có thể minh hoạ về bản năng tom góp bòn rút nơi con người rồi câu 15b-16 tiếp tục bàn về chủ đề đó. Câu 17 đưa chúng ta trở về với khởi điểm là câu 10.
(Ch 30:18-33) Từng nhóm bốn. Các câu châm ngôn với lối nói đặc trưng “có ba, không, có bốn” (15b-16) mở đường cho vài chùm châm ngôn cùng dạng (xem bình giải 6:16-19) trong các câu 18-33. Cao điểm của chùm châm ngôn thứ nhất (18-19) là điều cuối trong bảng liệt kê: đường lối người nam vận dụng để đạt sở nguyện đối với một người nữ. Điều này cùng với ba điều mô tả trong câu 18-19a đều là chuyện bí hiểm. Câu 20 là một câu châm ngôn đứng riêng rẽ, đặt kế tiếp phân đoạn trên là rất thích hợp vì cớ nội dung, nội dung câu này đặt vấn đề đảo ngược lại.
Chùm châm ngôn thứ hai và thứ ba (21-23 24-28) không có cao điểm, mô tả bốn loại người cả bốn đều thành công cách bất ngờ cả bốn đều làm việc không mỏi mệt như nhau. Sắc thái trào phúng cũng lộ ra ở câu này cũng như vài câu khác trong chương này. Có lẽ câu 23a nói về một người phụ nữ luống tuổi mà vẫn chưa lập gia đình, nhưng nay vớ được một người chồng còn có lẽ câu 23b nói về một người giúp việc sinh được con cái trong khi bà chủ lại vô sinh. Sau đó châm ngôn mô tả bốn loài vật. Cả bốn đều thực hiện được việc quan trọng dù nhỏ bé và yếu ớt do đó biểu dương sự khôn ngoan. Con người cần học đòi theo chúng.
Chùm châm ngôn thứ tư có tiến đến cao điểm. Hình ảnh các con thú trong chùm châm ngôn này cũng nhằm minh hoạ một mẫu người trong thực tế, đến phần cuối thì ai cũng rõ là chùm châm ngôn nhằm miêu tả quyền uy của một vị vua, kể ra khá trào phúng khi dùng hình ảnh một con gà trống và một con dê đực để nói ví về một vị vua chớ không phải chỉ dùng hình ảnh một con sư tử. Như vậy châm ngôn đặt vua trở về vị trí của mình một cách nhẹ nhàng. Nhưng ít nhất địa vị làm vua vẫn thuộc về vua câu 32-33 nối tiếp ý trên cảnh báo chúng ta đừng tự tôn tự phụ đặt mình vào một vị trí không phải là của mình. Cả ba từ đánh (quay) sữa, đấm mũi, chọc giận đều là nghĩa của cùng một từ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai.
7. Châm ngôn của vua Lê-mu-ên (Ch 31:1-31)
(Ch 31:1). Dẫn nhập. Cũng như trong trường hợp của A-gu-rơ, chúng ta không biết gì về vua Lê-mu-ên ngoại trừ tên gọi, và mặc dù ông không phải là một vị vua người Y-sơ-ra-ên. Tương tự như những lời dạy của A-gu-rơ, chúng ta phải coi những lời châm ngôn này là sấm ngôn tiên tri.
(Ch 31:2-9). Ba lời khuyên bảo. Mẹ của Lê-mu-ên khuyên con trai bà phải tránh những phụ nữ khác (2-3) mặc dù văn phong khác hẳn chương 1-9. Chắc lời hứa nguyện của bà là lời bà hứa với Đức Chúa Trời liên quan đến sự ra đời của Lê-mu-ên (so sánh ISa 1:11,27-28). Bà cũng khuyên Lê-mu-ên tránh rượu, là thức uống dành cho những người cần nhận chìm nỗi buồn phiền, còn trong địa vị của Lê-mu-ên, rượu có thể khiến cho ông bê trễ không làm trọn bổn phận đối với người bị áp bức (4-7). Phần này dẫn đến lời kêu gọi ông làm phận sự của một vị vua (8-9).
(Ch 31:10-31). Người nữ hoàn hảo Thường thường người ta xem khúc sách này là một phần riêng lẻ tách khỏi những lời dạy của Lê-mu-ên. Nhưng mỗi một khối độc lập riêng lẻ khác trong sách Châm Ngôn đều có tiêu đề, sự kiện phần này thiếu tiêu đề nên có thể lắm phần này nằm trong phần những lời dạy của Lê-mu-ên. Sự kiện những lời dạy của Lê-mu-ên là những lời đến từ mẹ của ông (1) cho thấy là phần cuối của sách này viết về vai trò người phụ nữ qua sự mô tả của một người nữ. Phần này gồm có hai mươi hai câu thơ với hai mươi hai chữ cái Hi Bá Lai ở đầu mỗi câu. Như vậy, hình thức của bài thơ này chứng tỏ tác giả đã ra công nghiên cứu kỹ chủ đề. Vì vậy những lời nhận định trong chân dung này đều có tính cách rập theo lề thói mẫu mã chớ không theo lý lẽ lập luận.
Câu mở đầu nên dịch là “một người nữ thật sự đảm đang” (bản NJB) thì hay hơn. Nhờ đó câu này mô tả bà lo toan thực hiện trách nhiệm cung cấp thực phẩm và áo quần cho toàn thể gia nhân, mà còn tham gia quản lý tài chánh cùng điều hành công việc làm ăn ở ngoài mái ấm gia đình. Bà cũng quan tâm săn sóc người túng thiếu, và chu toàn công tác giáo huấn một cách khôn ngoan. Khi mô tả công tác này trong phạm vi trách nhiệm của bà, tác giả muốn chúng ta thấy rằng bà xuất hiện trong địa vị một người làm giáo dục có thẩm quyền ở phần cuối sách Châm Ngôn như vậy chứng tỏ bà là nhân vật tương ứng với cô Khôn Ngoan xuất hiện trong mấy chương đầu của sách (so sánh những lời lẽ tương ứng trong Ch 3:13-18 9:1-6). Châm Ngôn cho thấy phụ nữ góp phần giáo huấn bên cạnh nam giới (1:8 6:20) như vậy là họ thể hiện được một phần nỗi niềm trong Sa 1:1-2:25 về vấn đề người nam lẫn người nữ cùng mang hình ảnh của Đức Chúa Trời, cùng được giao cho nhiệm vụ đại diện cho Đức Chúa Trời quản trị thế giới này, song song châm ngôn cũng khuyến giục mọi người, nam lẫn nữ hãy nỗ lực thực hiện công tác này.
Mẹ của Lê-mu-ên (với địa vị là hoàng thái hậu chắc bà cũng có quyền hành ảnh hưởng đáng kể về mặt chính trị) khuyên người nữ toàn vẹn hãy đẩy mạnh vai trò của nữ giới đến phạm vi tối đa trong những lãnh vực mà xã hội thời các tổ phụ cho phép nữ giới hoạt động. Thông thường nam giới không mấy quan tâm khích lệ các bà đặt mục tiêu và phấn đấu tới mục tiêu đó còn nữ giới dễ bị cám dỗ an phận trong vai trò thứ yếu lu mờ trong cuộc đời. Dĩ nhiên, thông thường một xã hội cỡ đó chỉ yêu cầu họ chừng nấy mà thôi. Tuy nhiên nếu nữ giới an phận như vậy thì họ không vận dụng năng lực tiềm ẩn mà Đức Chúa Trời ban cho họ để đạt những mục tiêu của chính họ. Dĩ nhiên, còn những khía cạnh khác trong Kinh Thánh về mẫu người nữ toàn vẹn (như trong sách Nhã Ca) nhưng lời khích lệ nữ giới phấn đấu để thành công là một khía cạnh quan trọng của toàn bộ chủ trương của Kinh Thánh đối với nữ giới.
Một người nữ đảm đang chiếm được lòng tin cậy và tôn trọng của chồng con và của người chung quanh trong cộng đồng rộng lớn hơn, tối thiểu cũng là nhờ cuộc đời phong phú của bà đặt nền tảng trên tinh thần tận tuỵ tận trung với Đức Chúa Trời (30).