Ê-SAI

MỤC LỤC

Ê-SAI

1. MỘT TÌNH TRẠNG KHỦNG HOẢNG (Es 1:1-31)

1. Vị tiên tri và thời thế (Es 1:1)

Ê-sai nghĩa là ‘Đức Giê-hô-va (là) sự cứu rỗi’, một tên riêng rất phù hợp với ‘vị tiên tri rao báo phúc âm’.  Căn cứ vào số các vua kế vị nhau cai trị chúng ta thấy ông làm tiên tri trong một thời gian ít nhất là bốn mươi năm, bắt đầu vào khoảng năm 740 T.C., là năm cuối thời trị vì của vua Ô-xia (so sánh Es 6:1), cho đến một thời gian sau khi Giê-ru-sa-lem bị vây năm 701 T.C. trong thời trị vì của Ê-xê-chia, vua này cai trị cho tới năm 687/6 T.C..

2. Lời cáo buộc nặng nề (Es 1:2-4)

Lời thỉnh cầu trời và đất gợi nhớ bài huấn thị của Môi-se (Phu 30:19) vào dịp ông từ biệt dân Y-sơ-ra-ên.  Tiếp theo là từ đàn con ở dạng nhấn mạnh góp phần bộc lộ tình cảm riêng tư sâu đậm.  Với lối nói trực tiếp trong câu 2b,3 (Ta... ta... của ta) cùng lời xác định trong câu 4, chúng ta nắm được phần cốt lõi của cuộc khủng hoảng: Gia đình của Đức Chúa Trời đã bỏ Ngài.  (Câu 3 càng thương tâm hơn với lối văn súc tích độc đáo, trong nguyên bản không có từ song.  Câu 4 cũng có thể nghĩa là ‘con cái của Đức Chúa Trời, con người gian ác!’ - một thực trạng mâu thuẫn như trong câu 2b).  Danh xưng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên hầu như đặc thù của tiên tri Ê-sai, được dùng mười hai lần trong chương 1-39 và mười ba lần trong chương 40-66, và chỉ có hai lần trong các sách khác.  Danh xưng này như âm vang tiếng kêu của các Sê-ra-phin (Es 6:3), dầu vậy sự kiện Đức Chúa Trời tự hiến cho dân Y-sơ-ra-ên đã thu hẹp khoảng cách biệt giữa họ và Ngài tồn tại vì cớ bản tánh thánh khiết của Ngài. Os 11:9 báo trước ý tưởng này.

3. Tình trạng tan hoang của Giu-đa (Es 1:5-9)

Không rõ bài tiên tri này là một trong những bài tiên tri Ê-sai viết sau này nhưng đem đặt ở đây để mở đầu cho cuốn sách với tính cách cấp bách hoặc đây là một sự hiện thấy chớp nhoáng giáo đầu (từ như trong c.7d và 8d gợi ý về việc này, vì tiên tri có vẻ như đang mô tả những điều chỉ một mình ông nhìn thấy).  Phần này làm nổi bật vài đề tài mà ông nhận được vào dịp Đức Chúa Trời kêu gọi ông thi hành chức vụ.  So sánh tâm hồn ù lì trong câu 5a với Es 6:9-10 so sánh tình trạng trong câu 7 với 6:11-12 so sánh số ít dân còn sót lại trong c.9 với số trong 6:13.  Đây là dấu vết đầu tiên của chủ đề ‘dân sót lại’ sẽ nổi cộm theo dòng triển khai của sách (đặc biệt 10:20-22).

Câu 5-6 mô tả không phải một người bị bệnh mà một người bị đánh đòn gần chết, thế mà vẫn yêu cầu người ta giáng thêm đòn.  Câu 5a nêu ra vấn đề, và c. 6b mô tả tình trạng thương tích so sánh ‘vết sưng’ với vết thương, lằn roi trong 53:5.  Câu 7-8 lột tả nghĩa đen trong thực tế: đó là hình ảnh về đất nước Giu-đa bị quân xâm lăng dẫm nát, chỉ Giê-ru-sa-lem (Si-ôn) là còn đứng vững.  Rõ ràng đây là hậu quả của cuộc xâm lăng của San-chê-ríp, IIVua 18:13 ghi sơ lược, Es 37:30-32 ghi hậu quả, còn Lăng trụ Taylor ghi những con số thống kê: San-chê-ríp xác nhận là đã chiếm bốn mươi sáu thành trì, cùng với vô số làng và bắt hai trăm ngàn dân.  Lều, chòi là chỗ tạm bợ che nắng, trú mưa cho nông dân làm việc ở ngoài đồng hoặc cho người canh gác ruộng vườn, là di tích hoang vắng cô độc sau mùa thu hoạch.  Chẳng còn chút vinh quang nào cho Si-ôn - thiếu chút nữa là bị xoá sổ y như Sô-đôm vậy (9).

4. Thực trạng tin kính thối nát và đường lối thanh tẩy (Es 1:10-20)

Đối với chúng ta thì cảnh trạng tan hoang của Sô-đôm chẳng khác gì cảnh trạng tan hoang của một Pompeii hoặc Hiroshima, vì vậy mà tác giả viết c. 9.  Đến khi tiên tri Ê-sai thốt ra c. 10 thì thành này nổi tiếng là xấu xa không đâu bằng.  Tiên tri Ê-xê-chi-ên ủng hộ ông về điểm này (Exe 16:48) cả Chúa chúng ta cũng vậy (Mat 11:23), Ngài căn cứ (và hiện nay vẫn còn căn cứ) vào cơ hội và hoàn cảnh thuận lợi hoặc không thuận lợi đương thời của đương sự khi Ngài phán xét.  Trong số các lời tiên tri đầy phẫn nộ chống lại tình trạng giả tạo trong tôn giáo (so sánh ISa 15:22  Gie 7:21-23  Os 6:6  Am 5:21-24  Mi 6:6-8) thì lời tiên tri của Ê-sai mạnh mẽ nhất và dai dẳng nhất.  Cả nội dung lẫn hình thức trong Ê-sai hợp lại xây dựng một sự phản kháng mãnh liệt vô song, vượt hơn cả sức phản kháng mãnh liệt của tiên tri A-mốt.  Trước tiên, Đức Chúa Trời không chấp nhận của lễ kế đến là không chấp nhận người dâng của lễ (11-12) Đức Chúa Trời tỏ ý chán ghét rồi ghê tởm nhưng cho tới cuối cùng (15) Ngài mới nêu ra lời cáo buộc cụ thể về thực trạng khủng khiếp:  Tay các ngươi đầy máu.

Đến đây mạng lịnh thay thế cho những lời chê trách với tám lời kêu gọi dồn dập và vang dội: tiêu trừ sự gian ác (16), dấn thân làm những việc tốt lành, lương thiện (17).  Đây là những lời kêu gọi ăn năn triệt để, đối với toàn dân không miễn trừ một ai, thực hiện một cách vui lòng không nuối tiếc, không miễn cưỡng (so sánh Da 4:27  Mat 3:8  Lu 19:8).  Nhưng những yêu cầu triệt để này lại chỉ là những biện pháp mở đường cho sự cứu rỗi đến liền sau đó một cách vô điều kiện.

Đáng chú ý là quà tặng lớn lao (18) lẫn lời cáo buộc nặng nề (2-4) đều được loan báo với lời lẽ mở đầu theo cung cách của toà án:  Chúng ta hãy biện luận cùng nhau nghĩa là chúng ta hãy tranh luận về trường hợp này (so sánh Giop 23:7).  Đức Chúa Trời đòi hỏi một sự đối chất thẳng thắn, những ai vâng phục Ngài rồi thì Ngài có thể thay đổi điều không thể thay đổi, xoá bỏ điều không thể xoá bỏ (màu hồng điều, màu son đỏ, không những đỏ tươi lộ liễu mà còn khó phai mờ) chỉ nhờ đó mà lời kêu gọi mới có giá trị, bằng không thì Hãy rửa... (16) có thể chỉ là một lời giễu cợt.  Một lần nữa câu 19-20 nhắc chúng ta về quyết định giữa sống và chết trong Phu 30:15-20 (so sánh  c. 2 ở trên), hầu như chúng ta có thể xem đây là khúc Kinh Thánh làm nền tảng cho bài tiên tri.

5. Đức Chúa Trời than thở và quyết định (Es 1:21-31)

(Es 1:21-23) Sự trong trắng đã mất  Như trong bài ai ca tại một đám tang (‘Cớ sao người dũng sĩ ngã giữa trận mạc!’ IISa 1:25 so sánh ‘cớ sao!’ của Es 14:12  Ca 1:1 ...) vấn đề ở đây là sự vinh hiển đã tiêu tan hết rồi ngay cả những điều được nên lên để nói ví von cũng nằm trong thứ tự từ hình ảnh thương tâm đến thứ vặt vãnh (vợ (thành trung nghĩa)... bạc... rượu).  Chỉ than thở về sự mất mát về phương diện đạo đức chớ không than thở về vương quốc, đế quốc của Đa-vít bị sụp đổ hoặc về sự giàu có của Sa-lô-môn đã tiêu tan, chỉ than thở về sự công bình không còn nơi họ nữa.  Câu 23 trình bày tóm gọn tiến trình khởi sự từ chỗ bất vâng phục trong phạm vi thuộc linh đến chỗ bất công trong phạm vi xã hội mà c.2-17 đã vạch ra.

(Es 1:24-26). Ngọn lửa luyện lọc  Từ c.22 trở đi Đức Chúa Trời đưa ra lối ví von riêng của Ngài để biểu lộ tính cách mãnh liệt khi yêu thương và tính cách nhân từ thương xót khi xét xử.  Chính lòng yêu thương trái ngược với sự dửng dưng đã xem cặn bã, cáu cặn của ngươi là kẻ thù của ta (so sánh Es 62:1  Kh 3:19).

(Es 1:27-31) Ngọn lửa tiêu diệt  Đường ranh phân biệt của Đức Chúa Trời giữa bạn và thù, giữa người được cứu và người bị diệt vong, chạy ngang giữa Si-ôn không phải giữa người Do Thái với người ngoại bang mà giữa người ăn năn (tức là theo nghĩa đen người ‘chuyển hướng, quay lại’) và người phản loạn.  Đối với những người này thì lửa có nghĩa là kết thúc chớ không phải bắt đầu.  Câu 31 là câu mấu chốt để giải mã lời nói ví von về cây thông và vườn (29-30).  Cây thông biểu tượng cho sức mạnh của con người, còn vườn biểu tượng cho sự tổ chức của con người.  Người ta dễ bị cám dỗ đặt lòng tin cậy nơi người mạnh mẽ và việc làm của con người đó, gây ấn tượng mạnh mẽ nhưng rất bấp bênh (so sánh Am 2:9).  (Không nhất thiết phải xem mấy câu này có ý nói về ‘những khu vườn của Adonis’ thu nhỏ, còn tình trạng khô héo của khu vườn biểu tượng cho cái chết hằng năm của thần, dù rằng hiểu theo hướng đó tức là phát hiện một lối nói ví von khác lạ trong mấy câu này).  Câu 31 chứa một lời cảnh cáo rất phù hợp với thế giới tân tiến ngày nay là chính tài năng của con người (31) có thể phá hoại sự nghiệp của con người, tức là đốm lửa (31) nhen nhúm một trận hoả hoạn.

2. GIÊ-RU-SA-LEM CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ CỦA CON NGƯỜI (Es 2:1-4:6)

Tiêu đề mới khiến chúng ta tin rằng các bài tiên tri này có lẽ đã được phổ biến dưới hình thức một tập rồi về sau mới được đưa vào bộ tuyển tập toàn thư này.  Trong nội dung phần này sự vinh quang chung cuộc và thực trạng tồi tàn của Giê-ru-sa-lem là những hình ảnh trái ngược luân phiên đan xen với nhau.

1. Thành của Đức Chúa Trời (Es 2:2-5)

Ở đây, cũng như khúc Kinh Thánh hầu như tương tự trong Mi 4:1-5 trình bày rằng Si-ôn có sự cao trọng khi Đức Chúa Trời ngự tại đó (so sánh Thi 68:15-16, trong hai câu này các đỉnh núi cao hơn ghen tị với Si-ôn).  Cũng vậy hội thánh chỉ được vinh quang khi có Chúa ngự với.  Si-ôn giữ vai trò thu hút người ta (2c,3a) chớ không phải đàn áp, bức hiếp họ nhưng họ cần sự cai trị và lẽ thật tuyệt đối không vấy bẩn vì nhượng bộ hoặc thoả hiệp (3b,4a so sánh Es 42:4), đó là cơ sở vững chãi cho mọi cộng đồng hoàn hảo.  Không thể tách rời chung cuộc thanh bình (4bc) trong phần kết của bài tiên tri này khỏi phần mở đầu, bằng không chúng ta chỉ còn bức tranh biếm hoạ cay cú trong Gio 3:9-10.  Như vậy, ở đây lẫn trong Mi-chê, sự hiện thấy dẫn đến lời kêu gọi (5), không phải Kinh Thánh mơ ước rằng một ngày kia thế giới sẽ chuyển biến thuận lợi về hướng đó, nhưng kêu gọi hãy hưởng ứng hành động liền ngay tại chỗ.

Khi một nhóm đầu tiên trong vô vàn người ngoại bang đến với Chúa Giê-xu, có lẽ Ngài cũng liên tưởng đến mấy câu này nên được thúc giục nói tiên tri về việc Ngài sẽ chịu treo lên (cùng một động từ như Es 2:2b trong bản LXX nhưng ý nghĩa phong phú hơn) thì sẽ kéo mọi người đến cùng Ngài (Gi 12:32).

2. Thành của Ma-môn (Es 2:6-9)

Làn sóng mê tín (6), liên kết với dân ngoại bang (6c), của cải (7a), vũ khí (7b) và hình tượng (8) làm cho quốc gia Giu-đa, đáng lẽ là một đất nước của toàn cầu hoá ra không còn chút ánh sáng nào cho các dân tộc như đã mô tả ở trên, khiến chúng ta nghĩ đến thời của Giô-tham hoặc A-cha, vào lúc Ê-sai thi hành chức vụ, thời gian giữa thời trị vì phồn thịnh của Ô-xia với thời cải tổ của Ê-xê-chia.  Dù thiên hạ kéo đến đông nghịt nhưng đất nước này nghèo xơ xác vì cớ có tất cả mọi thứ trừ Đức Chúa Trời (6a).

Về vụ dân Phi-li-tin nổi tiếng về bói toán (6) so sánh với ISa 6:2-6  IIVua 1:2-4.  Về bức tranh nặng màu sắc vật chất trong câu 7 (Phu 17:16-17).  Tiên tri Ê-sai thích dùng từ hình tượng có lẽ vì từ này có dạng tương tự như hình dung từ ‘vô giá trị’ (so sánh Giop 13:4).  Thường dân lẫn cấp lãnh đạo (’dm...’is, là một từ chỉ chung về người và về cá nhân từng người) được dịch là người thượng lưu và hạ lưu trong Thi 49:2 (rất giống như trong bản AV và RV nhưng như vậy là diễn ý quá xa).  Câu 11,17 cũng dùng lại từ này, được dịch là loài người.

3. Sự uy nghi của Đức Chúa Trời (Es 2:10-22)

Cảnh tượng đáng sợ lặp đi lặp lại trong c.10b,19b,21b11,17 cùng với kích cỡ to tát khiến cho bài thơ này toát ra một sức mạnh khác thường.  Bài thơ này tả vẽ cảnh tượng thực tế khi mà phần mở đầu của sự hiện thấy trong 6:1 trở thành hiện thực ‘... thấy Chúa ngồi trên ngai cao sang đầy vinh quang’, bài thơ này cũng đưa ra lý cớ có tính cách quyết định để chống lại xu hướng ỷ lại năng lực của đời này.  Đây là đề tài Ê-sai thường nhắc đến trong các bài tiên tri của mình.  Sự kiện có một ngày của Đức Giê-hô-va (12) cho phép những bài giảng có sức cuốn hút người ta hướng tới một thời điểm tương tự như những bài giảng của Phao-lô (so sánh Cong 17:31) - một sự kiện mà hội thánh có xu hướng xao lãng.  Trong khúc Kinh Thánh này, sự kiện này rõ ràng chỉ về ngày tận chung chớ không phải một cuộc khủng hoảng nào khác trong tương lai gần.  Các chương 24-27 sẽ viết về thời kỳ chung cuộc cách chi tiết hơn. 

Hầu hết những thứ mà chúng ta cho là có khả năng gây ấn tượng lâu bền là những thứ có chiều cao dù là cây cối, núi non trong cõi thiên nhiên (13-14) hoặc là những công trình do loài người làm ra trong lãnh vực quân sự (15) hoặc trong lãnh vực văn hoá kỹ thuật (16, xem thêm dưới đây) và trên hết là những thứ chúng ta tìm thấy nơi chính mình con người và trong tôn giáo do con người sáng lập (17-18).  Nhưng ngày chung cuộc càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn, với những cảnh sợ hãi đến nỗi cuống cuồng điên dại (như trong Kh 6:15-17) làm nổi bật lòng kiên nhẫn của Đức Chúa Trời trong hiện tại, vì Ngài có thể trong chốc lát khiến cho chúng ta hoảng sợ bỏ chạy và vội vã ném bỏ tất cả những điều, những thứ mà lâu nay Ngài hằng ra lịnh và chờ đợi chúng ta loại bỏ (20).

Có lẽ Ta-rê-si (16 xem lề bản dịch NIV) nghĩa là xưởng tinh chế, và những con tàu mang cùng tên được đóng để  chuyên chở những thỏi vàng và kim loại.  Hoặc có thể Ta-rê-si là một địa danh ở Tây-ban-nha, và tên của những con tàu vượt biển cả (so sánh Es 23:6).  Từ tàu bè ít được dùng (bản AV là ‘hình ảnh’, bản RV là ‘hình bóng’) có nghĩa là ‘con tàu’, trong trường hợp này chú trọng nhiều đến dáng vẻ oai phong hơn là kích cỡ.  Bản LXX không có câu 22.  Dầu vậy câu này quan trọng ngang ngửa như c.5, nhằm đưa nội dung của sự hiện thấy vào hành động thực tại.  Hơi thở... lỗ mũi là có ý nói về khả năng bám víu vào sự sống yếu ớt của con người chi tiết này dẫn nhập vào chương kế tiếp một cách hiệu quả.

4. Hình phạt bằng sự suy tàn đổ nát (Es 3:1-15)

Cảnh tượng trước đây càng oai phong lẫm liệt và nổi đình nổi đám bao nhiêu thì giờ đây càng xơ xác bấy nhiêu.  Đây là một bài nghiên cứu về sự phân hoá, qua áp lực của sự thiếu thốn đè nặng trên một dân tộc không còn lý tưởng.  Sự thiếu thốn trầm trọng nằm trong hai lãnh vực: vật chất (thực phẩm và nước, c.1 áo quần , c.7) và lãnh đạo (2-4).  Chắc chắn những lời tiên tri này đã khởi sự ứng nghiệm đối với một số vùng trong nước Giu-đa sau khi quân A-si-ri cướp bóc và đem dân đi đày (Es 1:5-9) nhưng sự ứng nghiệm toàn phần thì phải đợi đến khi Nê-bu-cát-nết-sa bắt hết thành phần tài giỏi nhất đày qua Ba-bi-lôn (so sánh IIVua 24:14) chỉ chừa lại những người hoàn toàn yếu đuối và thành phần lãnh đạo vô trách nhiệm.

Bản liệt kê thành phần lãnh đạo (2-3) hé cho chúng ta thấy đôi chút về xã hội của thời Ê-sai.  Hàng ngũ cao cấp quan trọng gồm những tay bất tài bịp bợm (thầy bói... thuật sĩ).  Nhưng dù đám lãnh đạo này cai trị tồi tệ đến thế nào đi nữa thì tình trạng tệ hại sẽ còn đen tối hơn nữa.  Trước hết, trình độ kém cỏi bất tài và hậu quả là hỗn loạn (4-5), rồi cuối cùng là sự sụp đổ hoàn toàn tưởng chừng không thể cứu vãn nữa (6-8).  Trai trẻ và con nít trong c. 4 cũng như đàn bà và con nít trong c. 12 là lối nói ví gây ấn tượng mạnh nhưng đống đổ nát (6) có thể hiểu theo nghĩa đen.  Mặc dù có lời bảo đảm là Giê-ru-sa-lem sẽ không rơi vào tay San-chê-ríp (Es 37:33-35), tiên tri Ê-sai vẫn nhìn thấy rõ ràng y như Mi-chê là sự vẻ vang cuối cùng của Giê-ru-sa-lem (so sánh 2:2-4) cũng chỉ là bước đầu của sự huỷ diệt thôi (22:4-5  32:14  39:6 so sánh Mi 3:12  4:1-8).  Không có chỗ nào trong bài tiên tri của ông (dù có người thường quả quyết là có) dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ bảo toàn Giê-ru-sa-lem vô điều kiện.

Nghịch lý một điều là tinh thần chủ bại được báo trước trong c.6-7 lại bắt nguồn từ bề ngoài hiên ngang hống hách hiện nay theo như những câu kế tiếp chứng tỏ.  Tinh thần tự do và chủ trương đạo đức phóng khoáng được mô tả trong câu 8b và 9 chẳng những là thái độ đối kháng chính Đức Chúa Trời là nguồn duy nhất của mọi sự vẻ vang vinh hiển (như phần cuối c.8 tỏ rõ), mà còn khiến cho người ta hoàn toàn hụt hẫng không còn biết tin tưởng vào đâu nữa.  Sau khi con người hoài nghi đã làm xong những chuyện ngổ ngáo, ngang bướng thì lâm vào cảnh khó khăn giữa vùng hoang tàn mà họ đã góp phần tạo ra.  Như vậy c. 13-15 kết án những người hung bạo và tàn nhẫn trong thời của tiên tri Ê-sai, là những người đã khởi động một quá trình tai hại.  Chương 5 lên án rõ ràng dứt khoát hơn, không còn cách nào chê trách tệ hơn nữa.

5. Từ lụa là thành bao gai (Es 3:16-4:1)

(Es 3:16-26). Chưa bao giờ những chuyện vặt vãnh đời thường lại bị bêu riếu cách tàn nhẫn hoặc bị tai hoạ nhận chìm cách đột ngột đến thế này.  Ngay cả trong câu mở đầu các chiêu quyến rũ xem ra hoàn toàn lạc điệu lẫn lố bịch so với bối cảnh rùng rợn ghê tởm với bao nhiêu là sinh mạng bị hi sinh trong c. 15, chẳng còn thêm một lời châm biếm nào.  Hai mươi mốt món xa xỉ phẩm vừa nữ trang vừa vật dụng sang trọng quí giá (18-23) đủ sức tạo ra một thế giới riêng, đủ sức chiếm trọn tâm hồn con người nhưng lại hết sức dễ vuột khỏi tầm tay.  Cảnh đời lên voi xuống chó vẫn thường tái diễn (Es 3:24-4:1) và trong c. 25-26 số phận của cá nhân tượng trưng cho số phận của chính thành đô - một hình ảnh chung sẽ được dùng trở lại để chỉ về Ba-bi-lôn lẫn Giê-ru-sa-lem (so sánh 47:1-3  52:2).

Mặc dù những chuyện vặt vãnh cụ thể đó có vẻ lạ hoắc đối với chúng ta, nhưng thế hệ nào cũng vậy cả nam lẫn nữ giới - đều có những phong cách lố bịch riêng nhưng lại có sức cuốn hút mạnh.  Trong bối cảnh của những chương này những chuyện đó cho chúng ta thấy thêm một khía cạnh trong sự vẻ vang hiển hách của đời này, sự vô nghĩa, sự rỗng tuếch của mọi chuyện đó, đáng bị hạ nhục trước sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sẽ chiếu rọi qua phần sách kế tiếp.

(Es 4:1) xem giải nghĩa 3:16-26

6. Sự vinh hiển trong tương lai (Es 4:2-6)

Tinh thần chung của mấy câu này, trong bối cảnh là sự cứu rỗi nằm ở thái cực so với sự phán xét.  Y-sơ-ra-ên chỉ được vẻ vang trở lại khi nảy mầm mọc lại sau khi bị chặt bỏ, khi nên thánh sau khi bị thanh tẩy, chỉ được vinh hiển nhờ sự vinh quang của Đức Chúa Trời - sự hiện diện của Ngài được biểu hiện như trong thời xuất hành.

Chồi (2) chớ không phải cành, đối với vế dưới là sản vật của đất.  Điểm chính nơi đây là Y-sơ-ra-ên phải được tái sinh, mầm chồi mới phải mọc lên từ rễ sau khi sự phán xét đã lột bỏ hết những sự vẻ vang huy hoàng hiện tại, tất cả đều bị trừ diệt, chỉ một số rất ít người còn sống sót.  Chủ ý ở đây nói về một cộng đồng được tái sinh về sau sẽ có khúc Kinh Thánh nói về một người ưu việt qua sự đâm chồi mới này (so sánh Gie 23:5  Xa 3:8 6:12 và những lời lẽ tương tự như Es 11:1).

Bản NIV xoá mất ý nói về từng cá nhân trong c. 3 (Nghĩa đen là ‘người nào còn lại... tức là người được chép vào sổ sự sống...’).  Dân Y-sơ-ra-ên mới sẽ bao gồm những cá nhân thánh khiết, có tên trong sách sự sống (so sánh Exe 32:32-33  Ma 3:16  Kh 20:12-15).  Còn câu 5 tả vẽ về tập thể của những người đó hội họp lại với một tinh thần hoàn toàn khác với tinh thần trong Es 1:13, có sự vinh quang của Đức Chúa Trời ngự trị bao trùm.  Sự vinh quang này sẽ ngự trên cả núi Si-ôn chớ không phải chỉ ngự trên đền tạm như khi còn trong sa mạc, vì nay tất cả đều được thánh khiết.  Bài thánh ca ‘Nói về những điều vinh hiển của Ngài’ có một lời viết theo nội dung câu 5-6.  Lời hát đó miêu tả rất sát với ở đây là sự hiện diện của Đức Chúa Trời là ‘sự vinh quang bao trùm trên và chung quanh’ hội thánh của Ngài (so sánh c. 6 với 25:4-5).

3. RƯỢU ĐẮNG (Es 5:1-30)

Dù có bố cục độc lập, chương này có những nét tương tự với những chương trước (về điểm ví sánh với vườn nho so sánh 3:14, về điểm hạ người cao ngạo xuống so sánh 2:9 với 5:15), và khiển trách một số tội lỗi có tính cách xã hội mà chúng ta đã gặp trong những chương trước.  Chương này đưa phần mở đầu khá dài của sách lên cao điểm.

1. Ẩn dụ (Es 5:1-7)

Ẩn dụ này quả là một kiệt tác nho nhỏ.  Phần mở đầu, dưới dạng một tình ca, đã cuốn hút người nghe và khơi mào cho trí tưởng tượng - vườn nho tương tự như mảnh vườn trồng hoa và khu vườn trồng cây ăn quả có tường bao quanh trong Nhã Ca (Nha 4:12-15) chắc chắn tượng trưng cho cô dâu và sắc đẹp của nàng, được thận trọng giữ gìn cho chàng rể.  Nhưng thình lình, thính giả đứng trước một sự đổ vỡ và được mời phân giải (3-4).  Nhưng như Đa-vít ngày xưa khi đối diện với Na-than (IISa 12:1-7) rốt cuộc hoá ra là họ tự buộc tội qua ý kiến phát biểu của mình (cũng so sánh với Mat 21:40-43).  Cuối cùng, trong nguyên ngữ dòng cuối câu 7 là một lời cáo buộc trình bày cách súc tích, gãy gọn pha lẫn giọng trào phúng có sức thuyết phục khó quên.  Khó lòng bắt gặp một trường hợp chơi chữ đôi tương tự, dù vậy cần diễn ý nội dung như sau:  ‘Ngài có tìm được người công chính không?  Không, toàn là bạo loạn.  Ngài có tìm được sự công bằng không?  Không, chỉ toàn là nỗi tuyệt vọng’.

Hơn tất cả các hình thức văn chương khác, văn ẩn dụ đã thành công trong việc vạch trần sự vô lý hoàn toàn và vô phương bào chữa của tội lỗi - chính chúng ta cũng thử tìm nguyên nhân khiến cho vườn nho thất bại, nhưng chẳng có nguyên nhân nào cả.  Chỉ có con người mới thất thường đến thế.

2. Sáu lời rủa sả (Es 5:8-23)

Ở đây ‘giống nho hoang của Giu-đa’ (câu nói của G. A. Smith) xuất đầu lộ diện cách rõ ràng.  Các lời rủa sả dồn dập nối tiếp nhau biểu thị tính cách sôi nổi mãnh liệt cũng như trong các lời kêu gọi ở Es 1:12-17.  Đây chỉ là tội lỗi được nêu ra làm thí dụ, chớ chưa phải là bản liệt kê, liên quan đến chủ đề của tiên tri Ê-sai về sự kiêu căng ngạo mạn phổ biến của con người và kết cuộc sụp đổ vì vậyphần lớn đây là tội lỗi của giới cao cấp đầy thế lực.

Sự công kích được lồng trong những câu văn châm biếm miêu tả từng mẫu người cách sống động.  Đây là những mẫu người vĩ đại cho mọi người thấy tường tận.  Họ xuất đầu lộ diện là những con người tham tàn, nhũng nhiễu (8-10), những tay ăn chơi nhậu nhẹt (11-12, so sánh c.22-23), và những người ngạo mạn báng bổ, là những người chỉ biết giá trị của tiền bạc (18-23).

(Es 5:8-10) Những người tham tàn nhũng nhiễu Luật sở hữu bất động sản mà Na-bốt đã binh vực bằng chính mạng sống của mình (so sánh Le 25:23  IVua 21:3) đã bị phế bỏ từ lâu, dầu vậy mỉa mai một điều là lòng thèm thuồng đối với những mẫu đồng trống vẫn được thoả mãn.  Một bát là đơn vị đo lường chất lỏng bằng một ê-pha là đơn vị đo lường đồ khô, có dung tích khoảng 36 lít.  Một hô-me (đừng lẫn lộn với một ô-me trong Xu 16:36) có thể tích lớn gấp mười lần (so sánh Exe 45:11).  Như vậy thất thu trong mùa thu hoạch rất lớn, số hoa lợi thu vào không bằng số hạt giống gieo ra.

(Es 5:11-17) Tay ăn chơi Đối với các nhà tiên tri, những người không chịu suy nghĩ, tức là từ chối nhìn thẳng vào những việc làm của Đức Chúa Trời (12b, 13a) cho dùbiểu thị dưới dạng tin tưởng mù quáng, sống đạo vô tâm (Es 1:3,10-17), man trá ngược ngạo (5:20-21), đồng bóng (8:19-20), hoặc cố tình nhắm mắt trốn tránh thực tế như ở đây, tất cả những hạng người đó đều đáng bị rủa sả (Gie 8:7  Os 4:6  Am 6:1-7).  Biện pháp hình phạt dành cho thành phần duy cảm, duy nhục dục này, như các bà đua đòi theo thời trang trong Es 3:16-4:1 là mất chính điều mà họ sống để đeo đuổi (13b) và chính mình họ trở nên con mồi cho một thực thể có lòng thèm khát, tham muốn không đáy (14).  Ở đây dùng từ Âm phủ là đúng chớ không phải huyệt (14:9,15  38:10,18).

(Es 5:18-23) Kẻ ngạo mạn, báng bổ Vì cớ nguyên ngữ Hi Bá Lai thường dùng cùng một từ để chỉ về một vật thể và hệ quả của vật thể đó, nên c. 18 có lẽ nghĩa là ‘người kéo sự hình phạt (đến trên mình)..., người kéo sự báo trả (đến trên mình)...’ (so sánh Sa 4:13  Xa 14:19 trong nguyên ngữ Hi Bá Lai).  Câu Kinh Thánh kế tiếp xác minh cho lối hiểu này.  Hiểu theo cách khác thì lối nói ví von ở đây xem ra khá mới lạ, vì người ngạo mạn, báng bổ với tâm tánh ương ngạnh lì lợm không bị quyến rũ lôi kéo đi vào con đường tội lỗi, nhưng chính đương sự đưa tay ra níu kéo tội lỗi cứ như thể muốn bảo đảm mình đang đi trong con đường đó.  Trong thế hệ nào cũng đều có những thành phần ‘tư tưởng gia bất kính’ như thế, hoặc ăn nói báng bổ (19), hoặc xuyên tạc (20), hoặc lạnh lùng tự coi mình là vô sở bất tri (21).  Họ là những mẫu người tiêu biểu rất ăn ý cho những tay bợm rượu không biết sợ ai trong c.22 và người thực dụng trong c.23, chỉ quan tâm đến giá trị của tiền bạc nếu không nói là ít quan tâm tới chuyện khác.

3. Đội quân thu dọn rác rến dưới quyền của Đức Chúa Trời (Es 5:24-30)

Từ Vì thế (vậy nên, nhơn đó) được dùng hai lần, nhằm nhấn mạnh rằng không sao tránh khỏi sự hình phạt dưới dạng hậu quả đương nhiên (24) và bản án sau khi xét xử (25).  Trong mọi biện pháp hình phạt của Đức Chúa Trời đều có hai dạng này.  Trong chương Es 9:12,17,21  10:4 chúng ta sẽ thấy lại bàn tay (của Ngài) đưa ra để nghịch cùng họ.  Có lẽ do người sao chép sai sót mà cụm từ bàn tay đưa ra xuất hiện đơn lẻ ở đây.  Nhưng hợp lý hơn là nên thấy qua cụm từ này xuất hiện ở đây là một cái bóng đen báo hiệu bão tố sắp đến, là gạch nối giữa chương này với chương sau.  Những câu cuối chương mô tả đạo quân hung hãn hành quân chính xác đáng sợ chẳng khác gì một cái máy phối hợp với một con thú dữ.  Đó là quân đội A-si-ri trong thực tế.  Nhưng dù là lực lượng mạnh mẽ và lớn lao nhất trong thời đó, họ cũng ở dưới sự điều khiển của Đức Chúa Trời (26) - đây là tín hiệu không làm cho người phản loạn an tâm chút nào, đối với họ các chương Kinh Thánh này kết thúc mà không có một tia hi vọng nào cho họ cả.

4. ĐƯỢC KÊU GỌI LÀM TIÊN TRI (Es 6:1-13)

Mãi đến giờ này chúng ta mới được đứng trước sự hiện thấy phong chức thánh cho vị tiên tri.  Trong phần mở đầu sách, tiên tri khẩn trương kêu gọi dân chúng ăn năn, rồi ông cũng mô tả một cách chi tiết cảnh tượng trong những chương đầu.  Tất cả đều cần thiết để cho thấy nguyên do khiến ông phải kể lại sự hiện thấy và lời thú nhận trong c. 5, và cho thấy Chúa truyền ra chỉ thị làm cứng lòng thính giả trong một bối cảnh nào (9-10).  Với sự hiện thấy này chúng ta có thể thấy rõ mối quan tâm chính của sách:  Sự thánh khiết rõ rệt và quyền uy độc nhất của Đức Chúa Trời sự vinh hiển mà Ngài đã ấn định và tình trạng thánh khiết mà sự vinh hiển đó yêu cầu sự thanh tẩy người ăn năn và sự sống phục hồi sẽ phát sinh từ gốc cội rễ của dòng giống Y-sơ-ra-ên.

Vua Ô-xia băng hà sau, chớ không phải trước khi Ê-sai được kêu gọi làm tiên tri, như chương Es 1:1 cho thấy rõ ràng là vậy.  Nếu khi vua băng hà có chi tiết nào đáng chú ý bên cạnh ngày tháng thì đó là chuyện vua qua đời trong khi mắc bệnh phung.  Vua mắc chứng bệnh này là vì có lần vua đã coi thường sự thánh khiết của Đức Chúa Trời khi ‘vua sinh lòng kiêu ngạo’ (IISu 26:16  so sánh Es 2:17).  Đề tài ngôi, đền thờ (1) và vua (5) gợi ý cho một số nhà giải kinh là chuyện xảy ra vào dịp lễ hội về sự đăng quang của Đức Chúa Trời, nhưng không có bằng cớ chắc chắn hướng tới sự giải nghĩa này dầu sao, tầm quan trọng của mấy từ đó nằm trong việc chứng tỏ rõ ràng là con người phải qui phục dưới uy quyền của ai.

Sê-ra-phim nghĩa là ‘những thực thể bốc lửa’, một hình dung từ phù hợp với loài rắn trong Dan 21:6,8  Es 14:29  30:6.  Ở đây những thực thể đó có hình dạng như con người nhưng có cánh (chân và tay c. 6).  Phần miêu tả này nhằm nhấn mạnh một lần nữa về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.  Ngay cả những thực thể rực rỡ và vô tội này cũng phải chịu khuất phục không dám chường mặt cũng không dám nhìn Ngài, trong khi vẫn nhanh nhẹn phục vụ (2) và ca ngợi Ngài không ngớt (3).  Bài ca vang rền (3, so sánh c.4), dù ngắn nhưng vừa đủ, với dòng đầu ca ngợi danh xưng, bản tánh và quyền năng của Ngài.  (Vạn quân nghĩa đen là Chúa của mọi quân đội, tức toàn quyền toàn năng, Ngài cầm quyền trên mọi tài nguyên trên trời và dưới đất), với dòng thứ hai ca ngợi tính cách và phạm vi tể trị của Ngài.  Sự vinh hiển là sự sáng chói loè từ nơi chính mình Ngài, như vậy tức là sự thánh khiết của Ngài khắp đất không phải chỉ riêng Y-sơ-ra-ên mà toàn cầu đều do Ngài làm ra và làm ra vì mục đích này.  Ý ngầm quan trọng nơi đây là sự phán xét và sự cứu rỗi được trình bày trong Es 11:9 40:5  Dan 14:21-23  Ha 2:14.  Chú ý đến đề tài đầy dẫy trong các câu 1, 3, 4.

Nền móng đền thờ bị rung chuyển, bóng tối tăm và sự kinh hoàng khơi lại dư âm của Si-nai (Xu 19:16-18) và là tín hiệu báo trước sự phán xét.  (Xem lời bình giải của Tân Ước về những việc này trong He 12:18-29, và ghi nhận tính cách xác đáng của Mat 5:8).  Sắc thái nội tại trong sứ điệp của tiên tri Ê-sai là lời mà ông nói ra là lời của một người được tha thứ vì chính mình ông vốn là người can tội y như những đối tượng mà ông sẽ rao báo về sự sống và sự chết để họ chọn lựa.  Nét đặc thù khác nữa là sự phán xét nghiêng nặng qua vấn đề thanh tẩy.  Sê-ra-phim nồng nhiệt và than đỏ hừng thoạt tiên tưởng chừng là tín hiệu của bất cứ một việc nào đó chớ không phải là sự cứu rỗi (so sánh Es 1:25-26  4:4).  Dầu vậy Sê-ra-phim bay đến từ chỗ dâng của lễ và dùng lời lẽ của sự chuộc tội (động từ tha thứ dịch từ động từ ‘chuộc tội’ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai).  Than lửa đỏ biểu tượng cho toàn bộ ý nghĩa của bàn thờ là nơi Sê-ra-phim lấy than lửa đỏ ra con sinh đã được dâng lên thay thế cho tội nhân để đền tội.  Biểu tượng than lửa đỏ được áp vào môi của Ê-sai (ở lãnh vực mà ông có nhu cầu cấp thiết nhất) bảo đảm rằng cá nhân ông đã được tha tội.

Câu trả lời của Ê-sai: ‘Có tôi đây! Xin hãy sai tôi!’ đặc biệt ở hai điều.  Thứ nhất khác xa trạng thái tuyệt vọng trước đó (5) và khác xa sự rụt rè thiếu tự tin của Môi-se và Giê-rê-mi.  Thứ hai, sự kiện thiên đàng chấp nhận lời nói của con người.  (IVua 22:19-23  Kh 5:1-14 để so sánh và đối chiếu).  Chỉ thị làm cho thính giả cứng lòng được trích dẫn một phần hoặc đầy đủ trong Tân Ước ít nhất là sáu lần (Mat 13:14-15  Cong 28:26-27).  Cần đọc chỉ thị này luôn với phần kết trong câu 11-13.  Mấy câu này chép lán lệnh là dọn sạch đất cho chồi mới mọc.  Tiên tri Ê-sai thực hiện công tác làm đui mù, làm điếc lác người ta bằng cách rao báo (chớ không phải im lặng, giấu nhẹm) sự thật.  Ở đây Đức Chúa Trời thông cảm chia sẻ với vị tiên tri chức vụ đầy khó khăn của ông.  Dân Y-sơ-ra-ên chìm đắm trong tội lỗi tới mức chỉ cần thêm một lần từ khước lẽ thật nữa là đủ để kết luận rằng họ không thể nào thoát khỏi sự hình phạt.  Thế ngặt nghèo của vị tiên tri là không còn cách nào khác có thể cứu được tội nhân ngoài lẽ thật ra.  Nhưng nếu họ khước từ lẽ thật thì chính lẽ thật này sẽ buộc tội họ.  Một tín hiệu về sự sống (so sánh Es 11:1  Giop 14:7-9) nằm trong câu 13c.  Bản LXX bỏ mất câu này, nhưng cuộn sách Ê-sai được phát hiện ở Qumran củng cố cho bản dịch của chúng ta.  Quả là kỳ lạ, phi lý nếu giáo lý của tiên tri Ê-sai về tàn dân còn tin kính Chúa (thí dụ Es 10:20-23) lại mâu thuẫn với công tác đã giao cho ông từ ban đầu.  Như vậy, sự hiện thấy này kết thúc với niềm hi vọng.  Thay vì ‘giống gian ác’ (1:4) thì giống thánh  sẽ sống sót là biểu thị của lời hứa lớn lao vô tận, căn cứ vào nội dung của c.3, là câu nói về sự thánh khiết và căn cứ vào những lời cam kết được lặp lại nhiều lần về ‘giống đắc thắng’ trong Sa 3:15  22:18  Ga 3:16.

5. BÃO TỐ VÀ MẶT TRỜI:.A-SI-RI VÀ EM-MA-NU-ÊN (Es 7:1-12:6)

Các chương này được mệnh danh là ‘Sách của Em-ma-nu-ên’ theo tên của em bé sẽ ra đời theo như lời hứa trong Es 7:14  8:8 bản tánh và sự cai trị của Ngài được ghi trong 9:1-7 và 11:1-10 với bối cảnh là một xứ sở bị đe doạ (7:1-9) và dân tộc có nguy cơ bị tản lạc khắp thế giới (11:11-16).  Tuy những lời tiên tri này phát sinh từ một cuộc khủng hoảng đương thời, nhưng lại có phạm vi bao trùm đến ngày cuối rốt (9:1) và toàn thể địa cầu (11:9-10  12:4-5).

1. Tiên tri Ê-sai đối phó với vua A-cha (Es 7:1-17)

(Es 7:1-9) Kêu gọi hãy tin  Khoảng 735 T.C., Y-sơ-ra-ên hiệp với Sy-ri khẩn cấp điều đình với Giu-đa để Giu-đa gia nhập liên minh của các nước lân cận nhằm chống lại đế quốc A-si-ri bách chiến bách thắng.  Khi Giu-đa từ chối không gia nhập, Y-sơ-ra-ên và Sy-ri kéo quân đến định lật đổ vua của Giu-đa và lập người của mình lên thay thế, tức là con trai của Ta-bê-ên (6).

Tiên tri Ê-sai can thiệp, trong bầu không khí nhốn nháo lo âu chung, gây ấn tượng mạnh và rất có ý nghĩa.  Con trai của ông tên là Sê-a-gia-súp (‘một ít tàn dân sẽ trở về’) là tín hiệu sống động báo trước án phạt và sự giải cứu (1:27 so sánh 8:18).  Một ngày kia trong tương lai, chính địa điểm của cuộc hội kiến này cũng minh chứng đường lối vua đeo đuổi là tai hại biết bao (36:2).  Lời giục giã hãy bình tĩnh, và đừng sợ hãi, lời kêu gọi đầu tiên trong hàng loạt lời kêu gọi trong suốt cuộc đời của ông  về vấn đề tin cậy Chúa thay vì những âm mưu chính trị (so sánh c.9b  8:12-13  28:16  và nhất là 30:15).  Lời kêu gọi rất hợp lý hợp tình:  Sy-ri và Y-sơ-ra-ên, hai đuôi đuốc xịt khói, chẳng bao lâu sẽ tắt rụi thôi.  Sy-ri bị đập tan vào năm 732 T.C., còn Y-sơ-ra-ên mất lãnh thổ phía bắc sớm hơn, vào năm 734 T.C., rồi mất chủ quyền năm 722 T.C., còn dân tộc dần dà mất gốc qua hàng loạt những cuộc di dân chuyển vùng kể như suốt đến thời trị vì của Ê-sạt-ha-đôn (Esarhaddon, so sánh Exo 4:2).  Đến cuối thời này (669 T.C.) thì họ đã bị phân hoá đến độ không còn được kể là dân nữa (8).

Câu 7b-9a có sức thuyết phục vì ngụ ý rằng Giu-đa ở dưới quyền một mình Đức Chúa Trời còn đối phương thù nghịch đương nhiên phải ở dưới quyền của con người - lại là những mẫu người thật là kinh khủng, cứ nhắc đến tên là đủ khiếp rồi!  Lời Kinh Thánh hãy tin (9b) là điểm cao trong mọi bài giảng của Ê-sai, dưới dạng một lời khẩu hiệu, một câu hô hào kèm mẹo chơi chữ như trong 5:7 nhưng các dịch giả không nắm bắt được.  Có thể diễn dịch câu này như sau:  ‘Càng nghi ngờ Đức Chúa Trời càng khốn khó!’ hoặc ‘Hiện tại nghi ngại - tương lai lung lay!’.

(Es 7:10-17) Điềm báo trước của Em-ma-nu-ên  Sự kiện Đức Chúa Trời sẵn sàng cho A-cha bất cứ điềm báo trước nào mà vua xin chứng tỏ rõ ràng rằng trên căn bản, lời kêu gọi hãy tin nhắm vào ý chí (so sánh Gi 7:17).  Gạt phăng lời đề nghị đó tức là thẳng thừng gạt Đức Chúa Trời ra ngoài, nhưng vua A-cha đã quyết định rồi.  Trong tôn giáo và trong đường lối chính trị của vua niềm tin không giữ vai trò nào cả (IIVua 16:3-4,10-20).  Đằng sau lối nói trơn tru theo Kinh Thánh (12 so sánh Phu 6:16), vua đã có một chương trình là sẽ phá mưu của kẻ thù bằng cách liên kết với đối phương hùng mạnh nhất (so sánh IIVua 16:7-10).  Trong c. 17, tiên tri Ê-sai quả quyết về tình bằng hữu của A-si-ri là như thế nào, rồi ông củng cố cho điều này với câu 18-25. 

Trong khi đó Đức Chúa Trời vẫn thực hiện ý định của Ngài là xác định một điềm báo trước.  Điềm này không nhằm riêng cho vua A-cha nữa mà cho đông đảo đối tượng hơn tức là cho toàn thể dòng họ, triều đại nhà Đa-vít (từ ngươi trong câu 13-14 là một đại danh từ số nhiều) và điềm này cũng có ý nghĩa phong phú rộng rãi hơn chớ không phải chỉ nhằm bày tỏ quyền năng của Ngài.  Những chi tiết chung quanh điềm này vừa vỗ về an ủi (15,16), vừa cảnh cáo (17).  Cụm từ mỡ sữa và mật không rõ nghĩa, có thể tiêu biểu cho sự sung túc dư dật về tài nguyên (22, Xu 3:8) nhưng cũng có thể chỉ về một xứ ít dân (22b) và không có người cày cấy ruộng đồng (so sánh c.23-25).  Phần chính của điềm này là Em-ma-nu-ên.  Không có chi tiết nào xác định Em-ma-nu-ên là ai.  Trong Es 9:6-7  11:1-5 sẽ viết rõ hơn về nhân vật này.  Vào lúc này chúng ta chỉ cần biết rằng trong khi vua tính chuyện cõng rắn về, Đức Chúa Trời tính chuyện cho ra đời một hài nhi (so sánh Sa 17:19).

Điềm báo trước này có đáp ứng cơn khủng hoảng đương thời hay không là vấn đề gây lắm tranh luận.  Nếu đây là một lời tiên tri về Đấng Christ (so sánh Mat 1:22-23) thì dường như báo trước cho vua A-cha thì quá sớm dầu vậy, điềm này nhằm báo cho nhà Đa-vít (6,13 xem phân đoạn trên đây) đang hồi suy vi, nên tự thân một tín hiệu về quân vương sắp xuất hiện cũng đủ làm cho ai nấy vững lòng.  So sánh Es 37:30  Xu 3:12  Ro 4:11 để nhận thấy rằng tín hiệu, dấu chứng nhằm củng cố đức tin thay vì ép buộc phải tin.  Cũng xem thêm phần bình giải Es 8:1-4.  Có thể Đức Chúa Trời cho phép nhìn vào tương lai xa qua những biến cố gần.  Có người cho rằng điềm này có ý nghĩa cho thực tế trước mắt nhờ yếu tố (a) thời gian mà điềm ấn định (điềm đưa ra một thời gian vài năm sau khi có một bào thai hình thành, bất cứ bào thai nào - từ bây giờ cho đến khi bé chào đời rồi lớn lên đến tuổi biết chọn lựa c.16) hoặc nhờ (b) tên riêng Em-ma-nu-ên (nghĩa là ‘Đức Chúa Trời (ở) với chúng ta’) là tên riêng mà bất cứ bà mẹ nào cũng được thúc giục đặt cho con trai của mình - ý nghĩa trái ngược với Ích-ca-bốt (ISa 4:21), hoặc nhờ yếu tố (c) giai cấp, nếu điềm báo trước sự chào đời của một hài nhi trong hoàng tộc thì sẽ là một tín hiệu đầy hi vọng.  (Nhưng dù thế nào đi nữa thì hài nhi này không phải là Ê-xê-chia đã ra đời vài năm trước đó rồi).  Những khả năng diễn giải này không nhất thiết là phải mâu thuẫn nhau - cũng không mâu thuẫn với ý kiến cho rằng điềm này là một lời tiên tri rất sớm về sự ra đời của Đấng Christ.

Từ gái đồng trinh (14) được bản LXX củng cố và được trích dẫn trong Mat 1:23.  Trong Anh ngữ, sát ý nhất có từ ‘cô gái, thiếu nữ’.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai trong Sa 24:43, từ này chỉ về cô gái sắp sửa trở thành cô dâu, và chỉ về cô gái trẻ Mi-ri-am trong Xu 2:8, nghiêng nặng về ý còn đồng trinh.  Khi lập gia đình rồi thì từ này không phù hợp với đương sự nữa.  Khi chưa có những sự kiện ứng nghiệm trong thời Tân Ước, người ta không thấy những ngụ ý nói về phép lạ trong việc này vì cớ lo đeo đuổi những ý nghĩa vừa nêu ở trên.  (Xin xem sách Nghiên cứu Ê-sai, của E.J. Young 1954, trang 143-198, có phần luận giải đầy đủ).  Các thì của động từ sẽ chịu thai và sanh một trai ở dạng vô định trong nguyên ngữ Hi Bá Lai, động tính từ (phân từ, participles) không phân biệt thời tương lai hoặc hiện tại.

Cho đến chừng nào (15) hoặc cho đến lúc, cho đến khi chớ không phải khi mà thôi.

2. Lý giải sự chọn lựa (Es 7:18-8:23)

(Es 7:18-25). Cuộc xâm lăng hậu quả  Hai hình ảnh ví von trong câu 18-20 khiến cho những đoàn quân cướp phá không những trở thành một viễn cảnh đen tối đầy đe doạ mà rõ ràng là ngọn roi của Đức Chúa Trời (một vấn đề được triển khai trong Es 10:5-11).  Còn từ dao cạo thuê (20) xin so sánh với Exe 29:18-20.  Điểm châm biếm ở đây là vua A-cha cứ tưởng chính vua đã thuê họ.  Ý chính trong câu 21-25 là cảnh tượng đáng buồn của đất hứa vì dân cư ít ỏi mà ruộng vườn lại trở thành rừng núi sự sung túc, dư dật (22) trở thành cớ chê cười vì tình trạng dân cư thưa thót, và tình trạng hoang vu là bằng cớ về sự suy vi của họ.  Đây là những lời chê bai trách cứ mà hội thánh có nguy cơ gặp phải vì hội thánh đánh mất sự vẻ vang vốn đã thừa hưởng, lại còn xoay chiều đổi hướng khỏi đường lối mà hội thánh đã từng dấn thân đeo đuổi.

(Es 8:1-4) Điềm báo trước của Ma-he-sa-la-hát-bát Điềm báo của Em-ma-nu-ên (Es 7:14-17), dù liên quan đến những biến cố tận chung, cũng có một lời bảo đảm ngầm cho tương lai gần, đó là vừa khi Em-ma-nu-ên ra đời thì những nguy cơ hiện tại đều trôi qua, trôi qua trước khi Em-ma-nu-ên nhận thức được điều đó.  Nhưng thời điểm chào đời của Em-ma-nu-ên thì chưa được tiết lộ do đó có điềm mới khác.  Điềm mới này chỉ liên quan đến những biến cố đương thời và với những phương diện đen tối của thời thế lúc đó.  Hài nhi này chào đời trong gia đình dân dã, được đặt tên là ‘con mồi dễ bắt nhanh chóng’ (J.B. Phillips), em bé này sẽ là dấu chứng thường trực (so sánh 8:18) cho những lời báo trước của Đức Chúa Trời cả về vụ kẻ thù sắp đến trước cổng (4 so sánh 7:16) lẫn việc Giu-đa là nạn nhân kế tiếp của A-si-ri (so sánh 7:17), sự hiện diện của người làm chứng đáng tin cậy (2) sẽ thu hút sự chú ý của mọi người và sẽ xác chứng rằng em bé này được đặt tên trước khi biến cố xảy ra.  (30:7-8 về bảng đá ghi khắc sứ điệp).

(Es 8:5-8) Dòng nước nhẹ trôi của Đức Chúa Trời thác của A-si-ri Từ Si-lô-ê (so sánh Gi 9:7) cũng chỉ về ‘ống dẫn nước’ (ở đây là một đường cống lộ thiên dẫn nước, chớ không phải là đường hầm dẫn nước của vua Ê-xê-chia, là đường hầm mãi về sau mới được hình thành).  Có lẽ tiên tri Ê-sai yết kiến vua tại địa điểm này (Es 7:3) nên Si-lô-ê được nhắc đến gợi ý hình ảnh một dòng nước nhẹ trôi để diễn tả sự giúp đỡ âm thầm lặng lẽ của Đức Chúa Trời.  Vì Giu-đa áp dụng chính sách lấy độc trị độc, nên Giu-đa sẽ thấy mình lọt vào dòng thác lũ lụt do chính mình gây ra còn xứ mà Giu-đa gieo rắc tai ương là xứ của Em-ma-nu-ên. Cụm từ ‘ngập cho đến cổ’ (8) gói ghém một ý đe doạ lẫn một ý hi vọng vì cớ Em-ma-nu-ên nên tai ương bị giới hạn (so sánh 10:24-27).

(Es 8:9-15) Đức Chúa Trời nơi ẩn náu của chúng ta hoặc sự hoang tàn của chúng ta. Đối với ý nghĩa của tên riêng Em-ma-nu-ên, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta (10 c), và đối với sự nài ép của Đức Chúa Trời (dùng tay mạnh sức của Ngài c. 11) tiên tri Ê-sai đáp ứng với những câu hiên ngang thách thức, kêu gọi dân chúng nên lấy Đức Chúa Trời làm trung tâm cho tư duy của mình, gồm cả cảm xúc và thái độ của họ đối với đồ vật (12, so sánh với lời kêu gọi thay đổi thái độ sống trong Ro 12:2).  Kết đảng! có thể chỉ về liên minh đang đe doạ Giu-đa trong Es 7:2, cũng có thể nói về sự liên kết chung chung, và có thể là từ mà vua A-cha dùng khi nói về việc vua đứng về phía A-si-ri.  Nếu từ này được dùng với ý cuối thì tiên tri Ê-sai có ý nói rằng:  ‘Liên minh kiểu đó chỉ có tiếng mà không có miếng’, tức là ‘Đừng tin cậy A-si-ri hoặc đừng sợ Sy-ri hãy sợ và tin cậy Đức Chúa Trời mà thôi’.

IPhi 3:14-15 trích dẫn câu 12b-13a xác định Đấng Christ là Chúa, cũng như trong Lu 20:18a chính Chúa Giê-xu nhắc lại ý của Es 8:14-15 để ngụ ý về Ngài (so sánh Ro 9:33  IPhi 2:7-8).  Cũng xem lời bình giải Es 28:16 trong những phần sau.  Hình ảnh này trình bày Đức Chúa Trời thực hữu cách vững chãi, chắc chắn nhất trong tất cả mọi thực tại khác vừa toàn vẹn đầy đủ về mọi mặt, vừa bất khả xâm phạm.

(Es 8:16-23) Thu hồi ánh sáng Ý chính của phân đoạn này là bởi vì dân Y-sơ-ra-ên từ khước ánh sáng (19-22) nên họ mất luôn phước lành và sự giáo huấn của Đức Chúa Trời (16-17).  Họ sẽ chỉ nhận được dấu chứng, tín hiệu mà thôi (18) họ chỉ còn có thể trông mong bóng tối mà thôi!.

Nhưng câu 16-18 là phần cốt lõi của một lời hứa lớn lao - với từ môn đồ, Đức Chúa Trời đưa ra một định nghĩa mới về dân của Ngài, và về mối liên hệ của họ với Ngài (so sánh Gi 6:45).  (So sánh với Es 6:9-10 thì đây là những trường hợp ngoại lệ). Tiên tri Ê-sai hưởng ứng với lòng tin tưởng (17) nên ông trở thành tiếng nói của những người này, còn nhóm ít người trong câu 18 được mô tả trong He 2:13 dưới dạng hội thánh qui tụ chung quanh Đấng Christ - rõ ràng họ là một hội thánh mẫu mực dễ dạy, trung tín, hi vọng, nổi bật.  Về vấn đề các con trai của Ê-sai giữ vai trò làm dấu chứng và biểu tượng, xin xem phần bình giải Es 7:3  8:1-4.  Câu 16 là câu nói của Đức Chúa Trời.  Câu 17-23 là phần tiên tri Ê-sai nói vì trong câu 16 các động từ thể mệnh lệnh ở dạng số ít, tiên tri Ê-sai không thể truyền cho một người nào một mệnh lệnh tương tự.  Cho nên tiên tri Ê-sai là người nhận mệnh lệnh trong câu 16.  Tuy nhiên cũng có thể nhân vật nhận mệnh lệnh và nhận sứ điệp trong câu 16 là Em-ma-nu-ên (so sánh c.8c,  He 2:13).  Nhưng câu 18 thì có vẻ chủ ý nói về các con trai của tiên tri Ê-sai đang giữ vai trò làm dấu chứng sống động.

Câu 19-23 miêu tả một thành phần hoàn toàn trái ngược với nhóm này.  Họ có đồng bóng thay vì tiên tri, nói líu lo tầm phào thay vì những lời giáo huấn của Đức Chúa Trời, và người chết hướng dẫn người sống.  Cho nên chẳng có gì lạ khi họ chẳng có rạng đông (20b).  Xin xem Phu 18:9-12 về luật pháp nghiêm cấm những thói tục đó.

3. Rạng đông của Đấng Mê-si-a (Es 9:1-7)

Kinh Thánh nguyên ngữ Hi Bá Lai ghép câu 1 vào cuối chương trước.  Nhưng Mat 4:15-16 lại đặt câu này làm câu mở đầu cho chương 9.  Sa-bu-lôn và Nép-ta-li được nêu danh làm chủ chốt ở đây vì chỉ vài tháng sau khi tiên tri Ê-sai yết kiến vua A-cha là hai vùng này rơi vào tay A-si-ri (Es 7:1-9).  Như vậy, vùng đất nào của Y-sơ-ra-ên bị kẻ thù chiếm đóng trước sẽ được thấy sự vinh hiển trước (1b) - một lời tiên tri hết sức khác thường mà hồi đó không ai quan tâm chú ý (so sánh Gi 1:46  7:52).  Niềm vui và phấn khởi tăng cao trong câu 1-5 theo đà tan biến của những dấu hiệu, những chứng tích về chiến tranh.  Bầu không khí này chuẩn bị cho chúng ta gặp vị cứu tinh nhưng thay vì một vị cứu tinh cỡ Ghê-đê-ôn (so sánh c.4) thì lại là một bé trai (6) mà Es 7:14  8:8 đã báo trước và được đặt tên là Em-ma-nu-ên.

Trong khi 7:14 tập trung báo trước về sự ra đời, còn 11:1-16 tiên tri về vương quốc, riêng c. 6-7 chú trọng tiên tri về thân vị của Ngài.  Các câu Kinh Thánh khác xác định rằng ba danh xưng đầu ngụ ý nói rằng Ngài là Đức Chúa Trời: thí dụ Đấng Lạ Lùng thường xuyên có nghĩa là ‘siêu nhiên’ (nhất là so sánh với Cac 13:18).  Trong Es 28:29 chính Đức Giê-hô-va là Đấng ‘mưu luận lạ lùng’  Có người tìm cách đổi ý nghĩa của danh xưng Đức Chúa Trời Quyền Năng thành ra ‘một mẫu người anh hùng được tôn sùng như Đức Chúa Trời’ (so sánh Exe 32:21, dầu vậy, ở đây từ này có dạng số nhiều).  Nhưng Es 10:21 dùng cùng một danh xưng đó đi đôi với danh xưng ‘Đức Giê-hô-va là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên’ (10:20).  Không có danh xưng nào đi đôi với danh xưng Cha Đời Đời, nhưng xem ra khá mâu thuẫn khi xưng một em bé chưa ra đời bằng danh xưng đó.  Từ Cha có ý nói về những điều tốt đẹp ưu ái mà Đấng cai trị toàn hảo thực hiện cho dân vì Ngài yêu thương dân như cha yêu thương con.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai Bình an ngụ ý thịnh vượng lẫn thanh bình an ninh.  Câu 7 dùng từ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai nghĩa là Hoàng tử (trong từ quyền cai trị) lẫn từ bình an.  Giờ đây cách dùng từ như vậy lần đầu tiên tỏ ý bảo đảm rõ ràng rằng vị hoàng tử đó sẽ thuộc nhà Đa-vít (so sánh 11:1).  Xin xem Exe 36:22  Xa 8:2 về ý nghĩa của phần cuối câu 7.

4. Bóng đen đổ trên Sa-ma-ri (Es 9:8-10:34)

Trong Es 5:25 chúng ta đã thấy tay của Đức Chúa Trời giơ ra, sẵn sàng đập xuống một mối đe doạ tương tự cũng bao trùm phân đoạn này, lặp đi, lặp lại ở  9:12,17,21  10:4.  Chủ ý phân đoạn này nói về vương quốc phía bắc (9,21), tuy nhiên mấy câu cuối phân đoạn (10:1-4) cũng bao gồm cả Giu-đa nữa, như cách thức trong 5:24-25 vậy.

(Es 9:8-12) Phán xét trên người bạo gan Cười xoà tỏ ý coi thường mọi chuyện (10) có thể làm vững lòng người nghe, nhưng thật ra đó là một cách từ chối không chịu đối diện với ý nghĩa gói ghém trong những tín hiệu.  Không có điều gì ngăn cản được sự hình phạt.  Kẻ thù của Rê-xin (11) chính yếu là người A-si-ri (xem bình giải 7:1-9), áp lực trong câu 12 có thể phát sinh trong thời gian giữa năm 732 T.C. (khi quân A-si-ri đánh chiếm Đa-mách) và 722 T.C. (năm Sa-ma-ri thất thủ).

(Es 9:13-17) Phán xét trên tình trạng biếng trễ xao lãng trong công tác, trong bổn phận  Sự phán xét bắt đầu từ giới lãnh đạo (so sánh Gia 3:1), nhưng cũng không miễn trừ thành phần hùa theo (17).  Trong giới lãnh đạo chính các vị tiên tri bị Đức Chúa Trời khinh miệt lẫn khiển trách (15) bị ví sánh với ‘cái đuôi của chú khuyển nịnh bợ’ nói theo kiểu của Delitzsch.

(Es 9:18-20) Phán xét trên sự chia rẽ  Tội lỗi tàn phá trên hai mặt, trước tiên là khiến cho xã hội rối loạn vô trật tự như rừng rậm. Sau đó châm lửa đốt khắp nơi - cứ y như những cuộc xâu xé trong thời đại văn minh tiến bộ của chúng ta ngày nay. Nhưng dầu tự chuốc lấy sự hình phạt dưới hình thức hậu quả của việc làm thì đó cũng vẫn là biện pháp hình phạt của Đức Chúa Trời (19a,21b).

(Es 10:1-4) Phán xét trên tình trạng bất công Ở đây không nói đến những sự bất công trắng trợn như trong những phân đoạn trên, nhưng nói đến những sự bất công được hợp thức hoá của chánh quyền (1), vấn đề đó tạo đỉnh cao cho những phán xét này.  Câu hỏi ám ảnh trong câu 3 có khả năng ngầm xói mòn công trình cả một đời bóc lột lợi dụng, tất cả đều nằm trong phạm vi cho phép của luật pháp nhà nước.

(Es 10:5-34) Lưỡi búa của Đức Chúa Trời đe doạ Giu-đa Đây là một bài quan trọng nói về sự kiểm soát của Đức Chúa Trời đối với lịch sử, đối với thế giới nói chung và đối với dân sự của Ngài.  Căn cứ vào câu 9-11 thì dường như bài tiên tri thành hình sau khi Sa-ma-ri thất thủ năm 722 T.C. nhưng chúng ta phải xét đến sự kiện tiên tri Ê-sai đã khẳng định từ trước rằng biến cố chắc chắn sẽ diễn ra (so sánh 8:4).

(Es 10:5-19) A-si-ri, công cụ của Đức Chúa Trời  Một khi chúng ta nhận thức được rằng Đức Chúa Trời nắm quyền điều động kẻ xâm lược thì chúng ta có thể lý giải được sự thành công của kẻ ác nhờ thấy rằng A-si-ri phục vụ cho lẽ công bình dù dường như họ đang thách thức công lý (6-7), và tự thân mình thì A-si-ri chẳng có gì đáng được chiêm ngưỡng, kính phục (15), hơn nữa rốt cuộc họ cũng phải bị hình phạt (12).  Qua những lời họ tự sự, chúng ta thấy một vài mẫu suy nghĩ của họ thật là rỗng tuếch: lòng tự mãn trong c.10-11, lòng kiêu ngạo trong c. 13a và tâm tánh trộm cướp trong c. 13b, 14.  Các thành trì trong c.9 (so sánh 36:19) đánh dấu lộ trình tiến công của quân thù mạnh như thác lũ không ai ngăn chặn được.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai các thành trì này được kể theo trật tự chữ cái, từ Cạt-kê-mít bên sông Ơ-phơ-rát xuống đến phía nam gần Sa-ma-ri.  Đối chiếu với đường tiến của cơn lốc có tính cách địa phương hơn trong c.28-31.

Hai hình ảnh được dùng để ví sánh căn bịnh làm cho gầy mòn và nạn cháy rừng chồng chéo nhau trong câu 16-19 (văn chương Hi Bá Lai không ngăn cản kiểu nói ví von chồng chéo đôi ba như thế này), hình ảnh thứ nhất có vẻ độc hại hơn, có lẽ chính là chứng bịnh mà Đức Chúa Trời sẽ dùng để tiêu diệt quân đội A-si-ri (IIVua 19:35), còn hình ảnh ví sánh thứ hai lặp lại chủ đề chính mà tiên tri Ê-sai thường giảng luận, đó là người kiêu căng cao ngạo bị hạ xuống (so sánh c.33-34,  Es 2:12-13).

(Es 10:20-23) Số dân còn sót lại ăn năn  Khúc Kinh Thánh súc tích này đề cập đến cả hai ý ngầm của cả hai phần trong tên riêng của Sê-a-gia-súp, nghĩa là Một số dân còn sót lại trở về (so sánh 7:3).  Một mặt, chỉ một nhóm lưa thưa dân sẽ còn sống sót qua cơn hình phạt hoặc đến khi được hồi hương thì cũng chỉ có một số rất ít người (22-23 so sánh 11:11), mặt khác, sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời toàn năng (21) ngụ ý về sự ăn năn.  Đức Chúa Trời tìm kiếm người biết lo ăn năn, người biết tin cậy nơi Ngài chớ không phải người như vua A-cha trong IICác Vua 16:17 chỉ biết tin cậy nơi loài người (20-21).  Những mẫu người đó mới thực thụ là dân Y-sơ-ra-ên, chớ không phải toàn bộ đám con cháu thuộc dòng họ Áp-ra-ham (c.22a có ý nói xa xôi về Sa 22:17 so sánh Ro 4:16  Ga 3:7-9).  Ông Phao-lô chẳng những trích dẫn khúc Kinh Thánh này mà còn luận giải sâu rộng về ‘dân sót lại được chọn bởi ân điển’ (Ro 11:5).  Đây là đầu mối của những cách Đức Chúa Trời hành xử đối với Y-sơ-ra-ên và đối với thế giới.

Về ý nghĩa danh xưng Đức Chúa Trời Toàn Năng (21) xin xem bình giải Es 9:6.  Về quyết định huỷ diệt của Đức Chúa Trời được nhắc đến hai lần trong câu 22-23, chúng ta ghi nhận sự nhất quyết của Đức Chúa Trời trong chương này - xem tay của Ngài đưa ra trong c.4 (như trong 9:12...), tính cách vô tư trong câu 12,25, mối quan tâm đến sự công bình đơn thuần trong c.2,22b  và chung cuộc dự liệu có tính cách tích cực trong c.20-21.

(Es 10:24-34) Kẻ xâm lược bị chận đứng  Đây là hai lời kêu gọi hãy tin gộp chung, lời kêu gọi thứ nhất gói ghém trong lời nhắc đến ‘tình yêu thương của Ngài trong quá khứ’ (24-27), lời kêu gọi thứ hai gói ghém trong sự kiện mối đe doạ của A-si-ri bỗng nhiên bất thành, hoá ra vô giá trị (28-34).  Ở đây mô tả một lực lượng quân sự đến từ phương bắc, kéo qua chặng đường cuối khoảng 16-32 km (10-20 dặm) nhắm đích đến là Giê-ru-sa-lem.  Tuy nhiên, trong thực tế, quân của San-chê-ríp hành quân đến Giê-ru-sa-lem từ phía tây nam, tức là từ La-ki (so sánh 36:2).  Do đó có thể hiểu rằng mục đích của bài tiên tri không phải thông tin nhưng đánh thức sự chú ý, khơi dậy sự cảm động.  Vì vậy, trước hết, bất chợt diễn giả miêu tả hình ảnh sống động của kẻ thù từ phương bắc ào ào tràn xuống Giê-ru-sa-lem, rồi đột ngột diễn giả chuyển qua cảnh tượng cây cối khổng lồ trong rừng bị đốn hạ (33-34) - một lối nói ví đặc thù của sách tiên tri này (so sánh 2:12-13  6:13  10:18-19).  Cảnh tượng này củng cố một cách đắc lực cho lời kêu gọi của tiên tri Ê-sai là đừng sợ hãi (24), đó là khẩu hiệu của tiên tri trong suốt cuộc khủng hoảng (so sánh 7:4  8:12-13).

5. Vương quốc của Đấng Mê-si-a (Es 11:1-12:6)

Chúng ta trở lại với chủ đề Em-ma-nu-ên.  Trong khi đà tuột dốc của hoàng gia (1) phơi bày phương diện đen tối của điềm báo trước mà vua A-cha đã nhận được (7:13-25), thì những phương diện khác sáng sủa hoàn toàn.

(Es 11:1-5) Vị vua hoàn hảo  Thân cây bị đốn ngã nhưng gốc rễ không bị tiêu diệt.  Đây là một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược với cảnh tượng rừng rú của A-si-ri bị san bằng (10:33-34).  Trong 6:13 gốc rễ là Y-sơ-ra-ên tiếp tục sống còn qua tàn dân (4:2), ở đây, gốc rễ là nhà Đa-vít còn chồi đâm ra mọc lên là một người, một nhân vật.

1-3a  Thần của Đức Giê-hô-va (2).  Dù ra đời trong hoàng tộc nhưng nhân vật đó vẫn chưa hội đủ điều kiện để lãnh nhiệm vụ, mà cần có Thần trang bị cho đương sự như đã từng trang bị cho các quan xét và các vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên (so sánh Cac 3:10  6:34  ISa 10:10  16:13).  Vì vậy nhân vật này vừa là Sa-lô-môn, vừa là Ghê-đê-ôn và vừa là Đa-vít.  Dầu vậy không phải chỉ được trang bị đến mức nào đó hoặc vừa đủ mức, trái lại cần có thần của Đức Chúa Trời cư ngụ và trang bị một cách phong phú.  Các tài năng thiên phú nằm trong ba phương diện thay vì bảy: sự khôn ngoan và hiểu biết để cai trị (so sánh IVua 3:9-12), mưu trí cao và quyền năng để thi thố trong thời chiến (so sánh Es 9:6  28:6  36:5), sự hiểu biết và sự kính sợ Đức Chúa Trời để lãnh đạo thuộc linh (so sánh IISa 23:2).  Từ vui vẻ trong câu 3a ngụ ý rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời là niềm vui của vị vua này.

Câu 3b-5 cho thấy những năng lực đó lần lượt vận hành khiến cho vị vua này trở thành người hướng dẫn, người bảo dưỡng và người nêu gương mẫu cho dân của mình.  Câu 4b gợi ý rằng vị vua này được phú cho nhiều tài năng siêu nhiên, các câu kế tiếp viết rõ ràng chắc chắn hơn.

(Es 11:6-9) Lại được hưởng thiên đàng  Danh xưng ‘vua bình an’ (Es 9:6) được triển khai đầy đủ trong cảnh tượng lý tưởng này.  Điểm rất có ý nghĩa ở đây là khó lòng đạt được sự bình an, hoà bình.  Bình an, hoà bình chỉ đến sau khi có sự phán xét (so sánh c.4b), và bắt nguồn từ sự công nghĩa chính trực (so sánh c.5).  Trình tự này phù hợp với 32:17.  Tuy nhiên, cốt lõi là mối tương quan với Đức Chúa Trời gói ghém trong câu sự hiểu biết Đức Giê-hô-va (9 so sánh Gie 31:34).  Đây là một hình ảnh khó quên và bày tỏ sự làm hoà, ăn ý và tin cậy đầy hiệu quả.  Sự cai trị của Đấng Christ đã dẫn đến những sự thay đổi thuộc loại này trong phạm vi tâm tính của con người và cuối cùng sẽ thay đổi toàn bộ cõi sáng tạo (so sánh Ro 8:19-25).  Cảnh tượng này có được thể hiện trong thực tế đúng theo nghĩa đen hay không thì lại là một chuyện khác xem ra tốt hơn hết nên hiểu đây là một cách diễn tả theo ngôn ngữ loài người về ‘trời mới và... dất mới’ (Es 65:17,25).  Trong khung cảnh đó, tình trạng khác nhau không có nghĩa là thù địch, kẻ yếu bổ sung cho kẻ mạnh chớ không còn là mồi cho kẻ mạnh.  So sánh câu 9b với Ha 2:14.

(Es 11:10-16) Cuộc hồi hương đông đảo Câu 10 vang vọng lại c.12a, phá tan những rào cản trong phạm vi chủng tộc, nhưng vẫn nhấn mạnh rằng ở dưới trời chúng ta được cứu rỗi nhờ một danh duy nhất (so sánh Cong 4:12).  Vị vua này vừa là rễ, vừa là hậu tự (so sánh c.1) của hoàng gia (so sánh Kh 22:13,16).  Chú ý đến tinh thần tự nguyện hưởng ứng nơi các dân tộc trong c.10,12a (so sánh Es 2:3  42:4  51:5).  Đồng thời không phải tất cả mọi người đều kéo về với Ngài, và theo nội dung khúc Kinh Thánh này cũng như các khúc Kinh Thánh khác những người chọn thái độ thù địch chống nghịch Ngài đương nhiên gặt lấy sự huỷ diệt (14 so sánh c.4).  Tinh thần tị hiềm im tiếng (so sánh 9:20-21) tìm thấy bản sao tương ứng nơi con người trong c.6-9, cho phép vận dụng tinh thần hiếu chiến nơi dân sự của Đức Chúa Trời vào những việc thích đáng hơn (14 so sánh Gia 4:1,7).

Những chương về sau (tức là Es 35:1-10  48:20-21) sẽ triển khai đầy đủ hơn chủ đề về cuộc xuất hành rầm rộ đông đảo (15-16) và từ một con đường cái xuất phát từ A-si-ri sẽ có ý nghĩa sâu sắc và phong phú hơn trong 19:23-25.

(Es 12:1-6)  xem giải nghĩa 11:1-16

Bài ca cứu chuộc Sau khi 11:16 ám chỉ về sự xuất hành thì có những câu lặp lại ý trong bài ca của Môi-se (so sánh c.2b với Xu 15:2,5 với 15:21 trong bài ca đáp lời của Mi-ri-am, dù không sát ý cho lắm).

Rốt cuộc Đức Chúa Trời bỏ qua cơn giận mà Ngài từng đe doạ dân Y-sơ-ra-ên trong 9:12,17... và bài hát này ca mừng sự kiện họ không còn bị ly gián (1), không còn sợ hãi (2) và không còn thiếu thốn nữa (3).  Điểm đặc thù của sách Ê-sai là lòng lặng lẽ tin cậy (2) sớm xuất hiện và khi bị lưu đày thì dân Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời an ủi (1 so sánh 40:1  66:13).  Nhưng Đức Chúa Trời là trung tâm thực thụ của bài ca:  Đức Chúa Trời trong mối tương quan với người ca bài này (1-2) thiên hạ biết về Đức Chúa Trời qua những việc làm của Ngài (4-5), còn danh của Ngài tức là Ngài tự xưng nhận (chú ý cách dùng hiếm thấy trong c.2:  Vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, lặp lại như vậy nhằm nhấn mạnh tên riêng của chính mình Ngài vốn được bày tỏ trong Xu 3:14-15 cũng chú ý từ đặc thù của tiên tri Ê-sai Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên trong c.6) và trên hết, Đức Chúa Trời hiện hữu trong quyền năng tôn trọng giữa ngươi (6).

6. SỨ ĐIỆP CHO CÁC DÂN TỘC (Es 13:1-23:18)

Dù không có nhiều chi tiết và không rõ ràng cho lắm nhưng những chương này dạy một lẽ thật chính yếu căn bản: vinh quang của Đức Chúa Trời là thế giới.  Công bố một cách tổng quát là chuyện dễ còn xác định một cách cụ thể như phần sách này là nhằm chứng tỏ quyền tể trị này có tính cách thực tại và nghiêm minh.

Tiên tri Ê-sai giảng các bài này vào những thời điểm khác nhau (so sánh Es 14:28  20:1).  Giờ đây được xếp chung với nhau các bài này trở nên phần mở đầu cho những sự hiện thấy về thế giới được chép trong chương 24-27 và là phần chuyển tiếp giữa loạt bài tiên tri về cuộc khủng hoảng do A-si-ri gây nên (chương 1-12) và diễn biến của cuộc khủng hoảng trong thực tế (chương 28-39).

1. Ba-bi-lôn (Es 13:1-14:23)

Việc Ê-sai con trai A-mốt (13:1 so sánh 1:1) nói tiên tri về Ba-bi-lôn là một tay áp bức kinh khủng, dự báo vai trò của Ba-bi-lôn trong một hoặc hai thế kỷ sau ảnh hưởng rất quan trọng trên vấn đề tác quyền của chương 40-66 (xem phần Dẫn nhập).

Trái ngược với quan điểm trên, S. Erlandsson (Gánh nặng về Ba-bi-lôn, The Burden of Babylon, Lund, 1970) luận giải rằng ở đây ‘Ba-bi-lôn’ đơn thuần chỉ là một đô thị thời chưa phát triển và chưa trở thành một đế quốc, một đô thị y như trong thời của tiên tri Ê-sai và Ba-bi-lôn này bị vua A-si-ri tàn phá năm 689 T.C..  Theo quan điểm này thì chỉ có sáu trong số bốn mươi lăm câu Kinh Thánh liên hệ trực tiếp đến Ba-bi-lôn còn chuyện hồi hương của dân Y-sơ-ra-ên trong 14:1-2 hoá ra không liên quan gì tới cuộc lưu đày qua Ba-bi-lôn còn bài ca trong 14:4-23 thành ra lời châm chọc, chế giễu San-chê-ríp vua A-si-ri, với một trong các tước vị phụ là vua của Ba-bi-lôn.  Dù những chi tiết của thuyết này có vẻ hấp dẫn nhưng làm sao lý giải được sự kiện một tỉnh lỵ Ba-bi-lôn trong thời của tiên tri Ê-sai không giữ một vai trò nào trong cuộc lưu đày, không dính dáng gì đến cuộc xuất hành lần thứ hai của dân Y-sơ-ra-ên mà lại phải lãnh một lời tiên tri đe doạ nặng nề làm rúng động cả thế giới như thế.  Trên hết cách phân chia phân đoạn trong chương 13 khiến cho vấn đề Ba-bi-lôn hầu như biến thành một vấn đề thứ yếu, phát sinh từ một ý tưởng đến sau (19-22) rồi lại phải xác định lại là chương 14 nói về A-si-ri khiến cho hướng giải nghĩa này hoá ra cưỡng giải chớ không phải hiển nhiên thoả đáng.

(Es 13:1-16) Ngày của Chúa  Bài thơ đột ngột mô tả cảnh chiến trường với đầy đủ tiếng hò hét truyền lệnh cho ba quân tấn công, té ra đây là một hình thức tổng hình phạt của Đức Chúa Trời (4-5).  Kẻ ta đã biệt riêng ra thánh (3) là những người phục vụ Đức Chúa Trời cách tự giác hoặc miễn cưỡng.  Từ này không có tính cách đạo đức, nội dung câu 16 xác chứng điều này.

Trong khi Ba-bi-lôn là chủ đề của chương này (1,19) nhưng vì cớ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai các từ đất trong c.5,9,13 được dùng với ý khá mơ hồ nên từ Ba-bi-lôn có nghĩa bao quát hơn, đó là thế gian, (thế giới, c.11).  Đây là cảnh trạng tận chung của vũ trụ và thế giới mà Kinh Thánh Tân Ước cũng dùng để mô tả thời kỳ cuối rốt (so sánh c.10,13 với Mat 24:29).

(Es 13:17-22) Ba-bi-lôn bị lật đổ  Người Mê-đi (17) vốn là đồng minh chính của Si-ru trong đế quốc Mê-đi-Phe-rơ-sơ (Ba-tư), được dùng để chinh phục Ba-bi-lôn trong thời trị vì của Si-ru vào năm 539 T.C. (17-18).  Họ có sức mạnh quân sự đủ mạnh (17-18) để lật đổ đế quốc Ba-bi-lôn nhưng họ không cần đến vũ lực khi chiếm chính thành Ba-bi-lôn.  Tuy nhiên đây là bước đầu trong giai đoạn tận chung của Ba-bi-lôn.  Câu 19-22 miêu tả viễn cảnh của một Ba-bi-lôn trên đà suy vi vô phương cứu vãn khi Seleucus Nicator phế bỏ thành Ba-bi-lôn trong những năm cuối thế kỷ thứ IV T.C. để xây dựng một thủ đô mới là Seleucia, nằm cách đó khoảng sáu mươi bốn cây số (40 dặm).  Dầu vậy, mãi đến thế kỷ thứ II S.C. Ba-bi-lôn mới hoàn toàn bị hoang phế.  Chưa thể nhận diện hết các con thú trong câu 21-22 (so sánh Es 14:23  34:11-15 nhưng 35:7), nhưng chắc chắn là gỡ lạ và ô uế về phương diện nghi thức tôn giáo.  Vì vậy, thay vì dê đực (21) thì nên dịch là ‘thần dê’ (một quỷ dữ so sánh Le 17:7) có lẽ hợp lý hơn vì dê là con thú tinh sạch có thể dâng làm của lễ.  Sự trái ngược giữa sự vinh hiển của các nước (19) và ‘nơi hang hố của mọi tà thần... của mọi giống chim dơ dáy’ (Kh 18:2) lại hiển nhiên khi thế giới không thờ phượng Đức Chúa Trời dưới biểu tượng là Ba-bi-lôn (một thế giới vinh quang mà Sa-tan đề nghị dâng cho Chúa Giê-xu trong Mat 4:8-9) bị lật đổ trong thời chung kết.

(Es 14:1-2) Thế cờ lật ngược Đây là ý tưởng mầm mống của chương 40-66 và nhất là chương 56-66, trong đó chú trọng đặt nặng sự cai trị của Y-sơ-ra-ên.  Điểm khởi đầu, cũng như trong chương 40, là ân sủng của Đức Chúa Trời, được mô tả ở đây bằng những từ đầy xúc cảm (đối ngược lòng thương xót của Đức Chúa Trời 1với sự vô tâm, bất nhẫn trong Es 13:18) và quyết tâm (lựa chọn).  Đoạn văn ngắn này nêu ra hai phương diện trong mối liên hệ của dân ngoại bang với dân Y-sơ-ra-ên, là những người tin đạo gia nhập Do Thái giáo, hoặc là những người phục dịch, cùng với những người ngoại bang đang trú ngụ trong xứ (1) hội nhập vào cộng đồng, so sánh 56:3-8.

Câu 2 viết thoáng qua về vị trí của những người phục dịch, từ sự phụ giúp trong tư cách bạn bè (2a) đến sự phục dịch trong tư cách nô lệ (2b) chương 66:18-21 và 60:10-16 cũng viết về hình ảnh này (xem bình giải).

(Es 14:3-23) Chế nhạo vua của Ba-bi-lôn Đức Chúa Trời cho phép nạn nhân, chớ không phải những người thán phục, nói những lời chua chát về những người chiến thắng (3-4a).  Còn vua Ba-bi-lôn thì rõ ràng không phải là Nabonidus, vị vua cuối cùng và kém cỏi (Bên-sát-sa làm phó vương cho vua này) nhưng chỉ về toàn bộ triều đại và lãnh thổ.  Cũng xem phần bình giải câu 12-21.

Bài ca biếm gồm hai phần (4b-11,12-21) lồng trong khung dẫn nhập và kết (3-4a 22-23) cả hai phần đều xác định chủ đề ngay trong câu đầu c. 4b và 12, với đặc điểm là lối văn tán thán, ‘Sao... !’ (1:21) so sánh chương 47.

Chủ đề thứ nhất là sự gãy đổ của kẻ áp bức bạo ngược mộ chí của hắn ta thực sự có nội dung là cảm giác nhẹ nhõm không thể tả trong lòng mọi người khi đời hắn cáo chung (7).  Đức Chúa Trời không tặng cho những hạng người xâm lược đó danh hiệu là ‘con người của vận mệnh’ mà là ‘dê đực’ (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ này dịch là các lãnh đạo, những kẻ cả 9) một lối hạ giá trị không kém gì tình trạng thảm thương và họ lâm vào.  Mền nệm của vua trong c. 11 là sự thật tàn bạo cuối cùng về con người chuộng lối sống tiện nghi khoái lạc.  Âm phủ là một từ tổng quát chỉ về thế giới của người chết chớ không phải là địa ngục nơi hình phạt Tân Ước dùng từ Ghê-hê-na để chỉ về nơi đó.  Không rõ nguồn gốc của từ âm hồn (9).  Lối miêu tả thi vị ở đây và 26:14 cùng Thi 88:10 gợi ý về một tình trạng tồn tại lơ lửng trong không gian, nhưng thỉnh thoảng Cựu Ước cũng đề cập đến sự sống lại của thân thể (26:19  Da 12:2).

Sao mai từ trời sa xuống là chủ đề thứ hai, nói về tham vọng tai hại của kẻ độc tài chớ không nói về những sự chuyên chế áp bức nữa.  Người ta thường xem là bài ca này mô tả sự nổi loạn của Sa-tan (đi cặp với Exe 28:1-26), nhưng giải nghĩa như thế thì không ổn lắm.  Xét cho cùng thì chỉ có chuyện kiêu ngạo và sự gãy đổ là tương tự với chuyện kể về Sa-tan trong Lu 10:18  ITi 3:6.  Vả lại, khi nói về sự sụp đổ của Sa-tan Kinh Thánh viết rành mạch về sự kiện Sa-tan mất hết quyền thế trên thế gian này chớ không nói về sự sụp đổ lúc đầu (so sánh Kh 12:9-12).

Có người gợi ý rằng ngoài bài thơ này ra, có một câu chuyện kể về sao mai cầm quyền trên tất cả rồi bị đuổi xuống trần gian (có những ngạn ngữ của người Ca-na-an tương đương với sao mai và hừng đông được nhân cách hoá, với Đấng Tối Cao và với hình ảnh về một ngọn núi hội họp của thiên triều ở phương bắc) nhưng cho dù có một câu chuyện đại loại chăng nữa thì đến nay người ta vẫn chưa tìm ra gốc tích.  Tuy nhiên chuyện gây náo động sóng gió trên thiên cung chắc chắn có liên quan đến Ba-bi-lôn (tức là Ba-bên, Sa 11:1-22).  Điều mỉa mai là tham vọng làm ra mình bằng Đấng Tối Cao (14) tức là tự cao, tự đại trong khi đúng ra giống như Ngài thì phải tự hiến, tự bỏ mình (so sánh Phil 2:5-11).  Câu 16-21 xác chứng cách hùng hồn tính cách ngắn ngủi thoáng qua của sự vinh quang giả tạo.

Cụm từ sa vào nơi vực thẳm (15) rất đối xứng câu nói đầy tham vọng sẽ ngồi trên núi (13).  Từ vực thẳm sớm sủa phác sơ sơ phần bên trong Âm phủ, sau này Kinh Thánh Tân Ước sẽ miêu tả rõ ràng hơn (so sánh Lu 16:26).

2. A-si-ri (Es 14:24-27)

Phân đoạn này xác định một lần nữa nội dung Es 10:5-34 tức là nguy cơ đang đe doạ Giu-đa.  Đức Chúa Trời quả quyết rằng Điều ta đối địch, đã toan tính (24) đó cũng chính là điều A-si-ri nói trong 10:7a.  Lực lượng của kẻ thù bị bẻ gãy trong đất ta ngay khi tưởng chừng họ thành công, đắc thắng.  Đó là cách thức hành động đặc thù của Đức Chúa Trời (so sánh Cong 4:27-28).  So sánh câu tay ta đã giá trên hết thảy (26-27) với Es 9:12  10:24-27.

3. Phi-li-tin (Es 14:28-32)

Bài tiên tri này phát sinh từ biến cố trong c. 28 và 32.  A-cha, vị vua chủ trương thân A-si-ri băng hà, A-si-ri đang gặp khó khăn, khủng hoảng (29a) thế là một phái đoàn người Phi-li-tin đến Si-ôn (32a) để vận động một cuộc nổi dậy trong khi lúc nào Ê-xê-chia cũng ôm ấp chuyện này.  Nếu cuộc nổi dậy xảy ra vào năm 727 khi Tiếc-lác Phi-lê-se III, vua A-si-ri băng hà, thì  c. 29a củng cố cho biến cố trên nhưng biến cố trên xảy ra vào khoảng năm 716/15 thì đúng hơn.  Đây là một cuộc thử nghiệm nghiêm trọng về lòng trung thành, vâng lời dành cho vua Ê-xê-chia cũng như đã dành cho vua A-cha trong chương 7.  Vào thời đó kháng cự người Phi-li-tin là một việc không tưởng vì họ có lực lượng quân sự hùng hậu (so sánh IISu 28:18-19).

Câu trả lời của Đức Chúa Trời gồm ba phần.  Thứ nhất, nguy cơ đến từ A-si-ri vẫn còn đó, còn ghê gớm hơn nữa (29) thứ hai, dân Phi-li-tin đã bị kết án (30b-31) thứ ba, chỉ trong Đức Chúa Trời mới thật sự được an lành bình yên (30a,32).  Ê-sai thường trực nhấn mạnh sứ điệp này: tin cậy chớ đừng âm mưu.

4. Mô-áp (Es 15:1-16:14)

Nét đặc trưng của bài tiên tri này là tác giả hiểu biết tường tận về Mô-áp, có nhiều thiện cảm đối với Mô-áp, sẵn lòng giảm nhẹ án phạt nhưng không có cách nào ngăn chận được.  Giê-rê-mi có trích dẫn và triển khai bài tiên tri này trong chương 48.  Mô-áp có họ hàng với Y-sơ-ra-ên (Sa 19:36-37) và đặc biệt là với Đa-vít (Ru 4:17  ISa 22:3-4).  Dầu vậy, trong Cựu Ước về mặt tín ngưỡng Mô-áp không có một điểm nào giống với tín ngưỡng của Y-sơ-ra-ên, trái lại còn có ảnh hưởng xấu xa trên Y-sơ-ra-ên (thí dụ Dan 25:1-28) và là một kẻ thù lâu đời của Y-sơ-ra-ên (so sánh IIVua 3:4-27).

(Es 15:1-9) Thất trận tháo chạy Chưa định vị được A-rơ (1) căn cứ vào nguyên âm trong nguyên ngữ thì có thể đọc từ này là ‘thành phố’, như vậy có một tên khác cho Kiệt, tức là Kiệt Ha-rê-sết (so sánh Es 16:7,11) một thành luỹ chính của Mô-áp ở mạn nam (nay là Kê-rát).  Kiệt thất thủ nên mất tất cả rồi, nhưng cuộc tháo chạy về phía nam đến Xoa (5) trong Ê-đôm gợi ý rằng cuộc xâm lăng tràn xuống từ phía bắc, các thành được liệt kê (hầu hết nằm dọc theo đường cái của vua so sánh Dan 21:21-30) đều trông cậy vào Kiệt.  Nỗi đau xót thống khổ trong câu 5 lại được nhắc đến trong Es 16:7,9,11.  Trong Cựu Ước chúng ta thường thấy lòng đồng cảm với những nỗi khốn khổ do chiến tranh gây ra (so sánh Gie 4:19-21), lòng rộng lượng đối với kẻ thù (so sánh Exe 23:4-5  Ch 25:21-22), nhưng ít khi được biểu lộ một cách thấm thía như ở đây.  Dân tị nạn ôm ghì lấy của cải (7 so sánh Lu 12:21) chắc là trong khi vượt qua biên giới có lẽ khe của những cây liễu là Wadi-el-Hesy nằm ở biên giới Mô-áp và Ê-đôm.  Dù Đức Chúa Trời có lòng thương xót, nhưng sự hình phạt cũng phát xuất từ Ngài và Ngài buộc phải tăng mức độ hình phạt (so sánh Mat 23:37-38).

(Es 16:1-5) -áp thể trông cậy Si-ôn Có lời khuyên Mô-áp ‘hãy ở trong vầng đá’ (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai là Sê-la so sánh IIVua 14:7 đó là một thành luỹ của người Ê-đôm nay gọi là Pê-tra), như chim bồ câu làm tổ (so sánh Gie 48:28).  Nhưng ở đây Đức Chúa Trời đã phá cái tổ đó (2) nhằm thúc đẩy họ tìm một nơi trú ẩn tốt hơn trong vai chư hầu của Si-ôn.  Một nước nuôi chiên như Mô-áp thường dùng chiên làm lễ vật đi cống (so sánh IIVua 3:4).  Có thể dùng động từ gởi trong câu 1 ở thì hiện tại hoặc thì quá khứ:  ‘họ đã gởi’ (bản RSV nhưng thì hiện tại ‘gởi’ xem ra phù hợp hơn.

Nhưng tình trạng thương tâm trong câu 2 có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn bất cứ lễ vật có giá trị nào.  Có thể câu 3-4a là lời năn nỉ van nài của dân tị nạn mà cũng có thể là lời của Chúa truyền cho Si-ôn phải tiếp nhận dân tị nạn.  (Bản RSV, c.3a: Hãy hội ý, hãy làm sự công bình’).  Đối với chúng ta những cảnh tượng này, lời van nài hoặc lời truyền bảo vẫn còn diễn ra, thúc giục chúng ta vận dụng tâm trí của mình (bàn định), lương tâm (sự công bình) và tài nguyên (nơi ẩn náu) để phục vụ thành phần thua thiệt trong xã hội (Đức Chúa Trời gọi thành phần đó là ‘những kẻ cùng đinh của ta, những kẻ bị đuổi của ta’, c. 4a trong cổ bản không bị hiệu đính xem bản RSV).  Sau đó, với viễn cảnh Si-ôn là nơi trú ẩn và trung tâm tụ hội (so sánh Es 14:32  2:3-4) câu 4b-5 dẫn vào một khải tượng về một vị vua hoàn hảo trong tương lai.  Sự cai trị của vị vua này có bốn ưu điểm (5), chú ý đến điểm Ngài nhanh chóng đẩy mạnh lẽ phải, trái ngược với tình trạng hư hoại trong 59:7 và tình trạng tê liệt của chánh quyền trong Ha 1:4.

(Es 16:6-14) Sự kiêu ngạo sụp đổ của -áp Cuộc sống an ổn thanh nhàn nhưng tai hại của Mô-áp được diễn tả qua hình ảnh ví von về cây nho và rượu nho trong Gie 48:11  ‘như rượu lắng cặn... chưa từ bình này rót qua bình khác’.  Nho là nông sản chính của Mô-áp, bên cạnh những sản phẩm thứ yếu (7) những vụ xuất cảng ra nước ngoài (8b) và những lễ hội (10), nhưng tất cả đều dễ vuột mất.

Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai câu 12 có một dạng chơi chữ với hai động từ chịu mệt nhọc và vào trong nơi thánh và phần cuối câu 12 cho thấy tất cả các tôn giáo ngoại bang đều là vô ích, như Chúa Giê-xu đã từng tuyên bố trong Mat 6:7.  Tính như năm kẻ ở mướn tính (14) nghĩa là ‘tính ngắn thời gian hơn chớ không tính dài thời gian hơn đâu’, theo như một người làm công nôn nóng và vô tâm tính toán về thời gian làm việc của mình.

5. Đa-mách và vinh quang Y-sơ-ra-ên (Es 17:1-14)

Rõ ràng là bài tiên tri này được hình thành trong thời gian đầu chức vụ của tiên tri Ê-sai, là thời Sy-ri và Y-sơ-ra-ên còn ăn ý, còn sát cánh với nhau như bàn tay và cái bao tay (chương 7) và vinh quang của đôi bên còn nguyên vẹn.  Số phận của Đa-mách được báo ngắn gọn ngay, còn Y-sơ-ra-ên lãnh trọn phần trách cứ, cùng phần nhục nhã vì bị liệt chung với dân ngoại bang, bài tiên tri về họ được sắp chung với loạt bài dành cho dân ngoại bang.

Có lẽ tiên tri cố tình dùng lời lẽ trong c.3b-4 để nhắc lại thời kỳ cai trị của Hê-li lúc đó Y-sơ-ra-ên cũng mất hết sự vinh hiển (so sánh ISa 4:21) câu 5 vẽ ra một cảnh tượng thê lương, với một tình trạng cướp bóc có tổ chức, có kế hoạch.  Nhưng Đức Chúa Trời dự trù mót một vài người trở lại tin Ngài, là người biết thờ Đấng Tạo Dựng ra mình (7) chớ không thờ sản phẩm của mình, và chương trình của Ngài đã thành tựu (IISu 30:10-11).  Các thành bền vững của họ (9) là những thành của người Ca-na-an bỏ lại còn tồn tại đến thời của Ê-sai.  Nếu cho rằng xử lý như thế là quá phí phạm thì c.10-11 với hai hình ảnh ví von (một là họ phế bỏ vầng đá của sức mạnh, hình ảnh thứ hai là mất mùa nho) cho thấy là chính Y-sơ-ra-ên đã chọn đường lối đó.  Những cây nho khác giống (ngoại nhập) đầy hứa hẹn, ngắn ngày, nhanh thu hoạch, tượng trưng cho hiệp ước của Y-sơ-ra-ên với ngoại bang Đa-mách để chống lại Giu-đa và A-si-ri nhưng rốt cuộc Y-sơ-ra-ên chỉ rước hoạ vào mình (Es 7:5-8).  Câu 12-14 nhắc lại cách tổng quát những điều bảo đảm trong 7:8  8:4  Thi 46:1-11 là bài thơ tương đương sát ý nhất với mấy câu này.

6. Ê-thi-ô-bi (Es 18:1-7)

Từ chỉ về Ê-thi-ô-bi trong c. 1 là Cút, hoặc theo thời nay là Xu-đăng nhưng Ê-sai gộp vào đó cả những vùng bên kia các sông (chắc hẳn là sông Át-ba-ra và sông Ni-lơ Xanh) cho thấy đây là Ê-thi-ô-bi hiện nay.  Từ đập cánh ào ào không khác gì mấy từ ‘tsetse’, hoạ âm theo tiếng động phát ra.  Tất cả các chi tiết đều nhấn mạnh là phái bộ này phát xuất từ tận cùng địa cầu.  Sự kiện phái bộ là người ngoại quốc từ xa đến đủ toả ra một sức cuốn hút, nhưng lại thêm phần cuốn hút hơn nhờ dáng dấp nổi bật của họ (cao ráo và mượt mà) và tiếng tăm của họ (2b) - vì giờ đây Cút đã nắm quyền kiểm soát Ai Cập.  Dầu vậy, phái bộ này, cũng như những người khác (xem bình giải Es 14:28-32) cũng phải ra đi theo lệnh của Đức Chúa Trời:  Đi, đi các sứ thần lanh lẹ.  (Bản dịch AV lầm lẫn chỗ này khi thêm vào c.2a từ ‘nói rằng’, vì như thế là thay đổi người nói và ý nghĩa)  Đức Chúa Trời không cần những cuộc âm mưu Ngài sẽ làm việc theo thì giờ của Ngài, làm việc một cách lặng lẽ như bốn mùa (4).  Kẻ thù sẽ đến tận các núi của Giu-đa (3 so sánh 14:25), chỉ để bị đánh gục khi sắp sửa chiến thắng, như thể mùa màng bị tiêu huỷ trong đêm trước ngày thu hoạch (5-6).

Dường như câu cuối phóng tầm nhìn đi xa hơn cuộc xâm lăng của A-si-ri khiến cho có một phái bộ đi đến Giê-ru-sa-lem.  Giờ đây tiên tri Ê-sai nhìn những người du hành qua một góc độ khác, đối với ông họ là người đầu tiên trong vô số người rồi đây sẽ đến Si-ôn để bày tỏ lòng thần phục.  Đây là viễn cảnh chúng ta đã gặp trong 2:3  11:10 và sẽ được triển khai trong chương 60-62.  Thi 68:31-35 87:4 miêu tả cảnh này với giọng hết sức hoan hỉ.

7. Ai Cập (Es 19:1-25)

Bài tiên tri này mạnh mẽ bày tỏ một sự thật là Đức Chúa Trời giáng hoạ nhằm chữa lành (c.22).  Sau khi bị sụp đổ Ai Cập sẽ được khôi phục, một lời hứa vượt xa giới hạn dành cho bất cứ một dân tộc ngoại bang nào trong thời Cựu Ước.  Ở đây dường như Ai Cập được mô tả qua hai phương diện: thứ nhất, Ai Cập là một cường quốc trên thế giới, Y-sơ-ra-ên luôn luôn đặt lòng tin cậy nơi Ai Cập (so sánh Es 20:5) và thứ hai, Ai Cập là một bộ phận trong thế giới của Đức Chúa Trời, có một chỗ đứng trong vinh quang của Ngài, được Ngài quan tâm chăm sóc, và vinh quang của Ngài sẽ xoá bỏ mọi ranh giới giữa các sắc dân và giai cấp trong xã hội.

(Es 19:1-15) Ai Cập bị hạ  Lối nói ví von về các đám mây vùn vụt (1) tỏ rõ rằng những biểu tượng đầy thi vị vẫn chuyển tải đầy đủ các lẽ thật trong khúc Kinh Thánh này, tất cả mọi điều quí báu có giá trị của Ai Cập đều thất bại.  Sụp đổ trước tiên là phương diện tinh thần: niềm tin, nền đạo đức (1), sự hiệp nhất (2) và những sự khôn ngoan thuộc về đời này (3).  Kế đến Ai Cập vuột mất sự tự do (4).  Một vua bạo ngược, có thể là một vị vua người Ê-thi-ô-bi, tức Tirhakah trong thời tiên tri Ê-sai, hoặc một trong những vua chinh phục của Ai Cập sau này, hoặc vua Ba-tư hoặc vua Hi Lạp dầu vậy cũng có thể là một tay độc tài người bản xứ.  Tầm quan trọng nằm trong trình tự từ suy đồi đến bạo ngược - chớ không phải nhân thân của từng người cai trị.  Khi Đức Chúa Trời đụng đến mạch sống của Ai Cập, sông Ni-lơ, lập tức các ngành kỹ nghệ của Ai Cập lần lượt héo mòn.  Cuối cùng Ai Cập lâm vào cảnh hỗn loạn không phương cứu chữa (11-15), nhục nhã càng hơn cho một đất nước vốn tự hào về hệ thống đào tạo cán bộ công nhân viên nhà nước có từ hai ngàn năm về trước. So sánh c.12 với IVua 4:30.  Xô-an và Mem-phi (13) là thủ đô hiện tại và cố đô của Ai Cập. Xô-an (có lẽ là Ta-ni, nằm ở vùng châu thổ sông Ni-lơ) được nhắc đến vì là nơi chứng kiến cảnh bạo ngược áp bức tàn khốc nhất (so sánh Thi 78:43). So sánh câu 15 với Es 9:14-15.

(Es 19:16-25) Ai Cập trở lại với Đức Chúa Trời  Trong ngày đó, một điệp khúc lặp lại đến năm lần, là một câu chỉ về ngày của Chúa, cũng như khi được dùng ở những nơi khác (2:11-12).  Tiên tri Ê-sai thấy trước sự việc người ngoại bang trở lại tin Chúa, qua sự trở lại của kẻ áp bức tàn bạo nhất và có tiềm lực thu hút dân Y-sơ-ra-ên mạnh nhất ngày xưa (so sánh 30:2-5).  Tiến trình này bắt đầu từ chỗ sợ (16-17), dẫn đến qui phục (18) và Đức Chúa Trời cho phép đến gần Ngài (19-22 bàn thờ và của lễ) và được phép thông công trực tiếp với Ngài (23) và được Ngài tiếp nhận hoàn toàn (24-25).

Nếu phải hiểu năm thành (18) theo nghĩa đen thì đến nay chúng ta vẫn chưa định vị được các thành này.  Có lẽ lắm là cụm từ này có nghĩa là ‘một vài thành’ hoặc ám chỉ về vụ việc xảy ra ngày xưa trong Giô-suê 10, sau khi chinh phục được năm thành Ca-na-an thì Giô-suê toàn thắng Ca-na-an.  Thành của mặt trời (18b xem lề) có lẽ là thành Ôn, sau này gọi là Hê-li-ô-bô-li, nhưng nguyên ngữ Hi Bá Lai đọc là (có lẽ do chơi chữ) ‘Thành của sự phá hoại’.  Dầu hiểu ra sao đi nữa, điểm chính là một tiền đồn hùng hậu kiên cố của ngoại giáo bị chinh phục về phương diện thuộc linh.  Khoảng năm 170 T.C. một thầy tế lễ thượng phẩm bị cách chức, Onias IV xây một đền thờ ở Leontopolis tại Ai Cập.  Ông này trưng câu 19 để tự biện minh.  Nhưng xem ra câu này nói với ý tượng trưng: sẽ có đất thánh ở tại nơi trước kia vốn chỉ là ô uế, phàm tục.  Trụ thờ so sánh với trụ đá của Gia-cốp ở Bê-tên, được dựng lên để tuyên rao Đức Chúa Trời có chủ quyền trên nơi đó (Sa 28:13,18).

Câu 23-25 như thể một cánh tay thứ hai ôm quàng A-si-ri (là quốc gia thường đi cặp với Ai Cập trong những trường hợp tối tăm hơn so sánh Os 7:11  9:3) tạo nên một khải tượng có một không hai về việc dân ngoại bang được gom đầy đủ vào vương quốc của Đức Chúa Trời.  Y-sơ-ra-ên sẽ được dự một phần tương đương (một phần ba 24 nhưng không phải ở vị trí thứ ba), và được kể chung với những kẻ thù ác độc nhất của mình (dân sự ta, so sánh 2:23  IPhi 2:10 công trình của tay ta so sánh Es 29:23 gia tài của ta so sánh Phu 32:9).

8. Khủng hoảng của Ách-đốt (Es 20:1-6)

Một bản ghi khắc của Sạt-gôn bổ sung nhiều chi tiết cho chuyện này.  Ách-đốt là một thành của Phi-li-tin nổi dậy chống lại A-si-ri, A-si-ri lập tức truất phế vị vua đang cai trị.  Yamani, một lãnh tụ mới, duy trì cuộc chiến đấu với lời cam kết ủng hộ của Ai Cập và Ê-thi-ô-bi.  Yamani cũng cầu cạnh sự hợp tác của Giu-đa nữa.  Tiên tri Ê-sai mạnh mẽ khuyên Giu-đa từ chối hợp tác, và tình hình diễn ra chứng tỏ ông chủ trương rất đúng:  Ai Cập không tham gia chiến đấu, Ách-đốt đành qui phục A-si-ri, Yamani chạy trốn qua Ê-thi-ô-bi, bị Ê-thi-ô-bi giao nộp lại A-si-ri.

Tước hiệu tư lệnh tối cao trong tiếng A-si-ri là turtanu (do đó mà có Ta-tân ‘Tartan’ bản AV và RV).  Thời điểm là 711 T.C., cuộc nổi dậy bùng ra năm 713 T.C.  Câu 3 cho biết Ê-sai ăn mặc như một người nô lệ (trần có nghĩa là chỉ đóng khố) mà không viện ra một lý do nào cả.  (Câu 2 nằm trong ngoặc đơn, xem bản RSV).  Giờ đây Đức Chúa Trời giải thích về số phận dành riêng cho những người nổi dậy chống A-si-ri.

Vì Giu-đa không bị A-si-ri trừng phạt, nên có lẽ Giu-đa đã tiếp thu những lời cảnh báo của tiên tri Ê-sai.  G.A. Smith quả quyết rằng Ê-sai diễn giảng bằng thị trợ (so sánh 8:18) đã có thể xoáy mạnh sứ điệp vào lòng dân tộc nữa chớ không riêng gì triều đình.  Những điều phiền toái, khó chịu và nhục nhã mà tiên tri Ê-sai phải gánh chịu là giá phải trả để đánh đổi lấy sự an toàn cho dân tộc.

9. Ba-by-lôn, ‘Sa mạc bên Biển cả’ (Es 21:1-10)

Bài tiên tri này cũng như bài kế tiếp có chủ đề biểu tượng còn nội dung trình bày rất sống động như thể cảnh tượng đang diễn ra trước mắt người nghe (trong phần nói ví von về công tác canh gác).  Chủ đề nằm trong câu 9: Ba-bi-lôn đổ xuống rồi!  cụm từ Sa mạc bên Biển cả (1) xem ra đủ sức phối hợp cả hai hình ảnh về thiên nhiên bất kham và ưa xâm lấn, Gie 51:42-43 miêu tả rõ ràng hơn, nhưng cùng những phụ âm đó có thể đọc là ‘sa mạc’ hoặc ‘kẻ phá hoại’.

Câu 2-7 mô tả một hình ảnh sôi động nhưng rời rạc về một cuộc tấn công của người Ba-tư (Ê-lam là một nước chư hầu của Ba-tư) và người Mê-đi (2).  Họ bất ngờ tấn công quân bảo vệ Ba-bi-lôn khi những người này đang ăn tiệc (5) như Đa-ni-ên 5 ghi chép.  Nhưng điểm đáng chú ý là Ê-sai bị cuốn hút vào cảnh tượng của khải thị.  Ông bị xúc động dữ dội trong c.3-4, tương tự như Giê-rê-mi trong 4:19-26, dù đứng trước cảnh sụp đổ của một thành bạo ngược là đất đáng kinh khiếp (2) dù là điều ông trông mong (ưa thích, 4).  Nhưng những phản ứng mâu thuẫn này vô tình làm sáng tỏ thêm vấn đề tác giả của những chương trong phần sau của sách, đây chính là cảm xúc của một người (cũng như đối với người bị lưu đày) xem Ba-bi-lôn vừa là ngục tù vừa là nơi trú ngụ.  Nếu quả thực là tiên tri Ê-sai phải ‘an ủi’ (Es 40:1) dân chúng trong thế hệ kế tiếp, như thể ông là một người trong hoàn cảnh của họ, thì điều kiện tiên quyết là ông phải nhập cuộc, phải sống và cảm xúc giữa tình cảnh của họ.  Đây là mặt trái của phương diện nội tâm của chức vụ tiên tri của ông.  Cũng nêu ghi nhận cảm thúc song đôi ở nơi ông.  Trên một phương diện, ông đứng tách khỏi con người đứng canh gác ở trong ông (6) và thông báo về những điều ông thấy và nghe mà thôi (so sánh Ha 2:1-3).  Câu 6,7,10 nhấn mạnh tích cánh khách quan này.

Trong câu 8a bản NIV dịch theo Qunran MS là hợp lý (trong bản chuẩn c. 8a đi sau c.7 mà lại không ăn nhập vào đâu cả xem bản AV).  Vừa lúc vị tiên tri thấy thời gian canh phòng coi bộ dài vô tận, thì một đoàn kỵ binh xuất hiện như lời đã hứa nên ông biết rằng giờ tận chung của Ba-bi-lôn đã điểm.  Kh 18:2 dùng lại tiếng rao báo:  ‘Đổ rồi, đổ rồi’ và xem Ba-bi-lôn là một thành tiêu biểu cho thế giới vô thần không thờ Đức Chúa Trời.  Câu than thở cuối cùng ‘Hỡi lúa bị đạp của ta, là thóc trên sân kia!’ bộc lộ cả nỗi thống khổ lẫn nỗi đoạ đày mà Y-sơ-ra-ên phải gánh chịu.

10. Đu-ma (Es 21:11-12)

Các địa danh nằm trong Ê-đôm, nhưng tiêu đề của khúc Kinh Thánh lại là Đu-ma (so sánh Sa 25:14).  Có lẽ tác giả dùng Đu-ma làm tiêu đề vì cớ ý nghĩa của từ này, ‘im lặng’.  Câu hỏi ‘đêm thể nào’ chính ra ngụ ý là ‘còn bao lâu nữa thì trời mới sáng?’ diễn tả một thời kỳ chịu khổ dài dằng dặc.  Câu trả lời không phải là câu nói nhảm vô nghĩa nhưng là một lời cảnh cáo rằng nếu tình cảnh có sáng sủa hơn chăng nữa thì chỉ là tạm thời trong một thời gian ngắn thôi (so sánh Ch 4:18-19).  Có thể theo hiểu nghĩa đen ba động từ ở thì mệnh lệnh trong nguyên ngữ Hi Bá Lai: ‘Hãy hỏi đi, hãy trở lại, hãy đến’ (12b) nhưng cũng có thể hiểu sâu sắc hơn và thấy đây là lời kêu gọi của Đức Chúa Trời ‘Hãy tìm, hãy ăn năn, hãy đến’.  Nhưng có thể căn cứ vào Es 34:5-17 chẳng hạn, và sách Áp-đia để kết luận là Ê-đôm có đáp ứng.

11. Ả-rập (Es 21:13-17)

Trong những bản cổ hơn, câu 13 ghi từ  Ả-rập thứ hai là ‘ban đêm’.  Hai từ này đều có những phụ âm như nhau.  So sánh với câu 11 và những đầu đề dùng với ý tượng trưng trong 21:1 và 22:1 thì có lẽ tác giả dùng từ này với hai ý đó.  Bài tiên tri này có ý nghĩa đặc biệt ở chỗ tác giả nhằm cảnh báo cho các chi phái sống tự do nhất, khó lòng xâm phạm nhất rằng theo lịnh của Đức Chúa Trời cánh tay dài ngoằng của A-si-ri cũng sẽ vươn ra đụng đến ngay cả những chi phái cỡ như họ.  Các chi phái ngụ trong vùng phía nam xa xôi hơn là chi phái Thê-ma và Đê-đan sẽ phải hỗ trợ cho các chi phái ở Kê-đa là những người dễ bị tấn công hơn.  Như vậy có lẽ các đoàn dân đi buôn đường trường sẽ lọt vào những vùng đang bị tàn phá vì chiến tranh nên trở về tay không và lâm vào cảnh đói khát.  Tuy nhiên dựa vào tài liệu ghi chép của Sạt-gôn về cuộc xâm lăng vào Ả-rập trong năm 715 T.C. thì có lẽ cuộc chiến đã đập thẳng vào họ.  So sánh c. 16-17 với 16:14 và phần bình giải.

12. Giê-ru-sa-lem (Es 22:1-25)

(Es 22:1-14)Thung lũng của sự hiện thấy  Tiêu đề tượng hình (so sánh phần bình giải 21:1,11,13) nhằm tỏ bày rõ rằng ngay cả chỗ trú ngụ và làm việc của vị tiên tri, từ căn cứ này ông quan sát các quốc gia, cũng không được miễn trừ khỏi cuộc hình phạt.  Thung lũng là từ mượn trong câu 5, có lẽ muốn nói về sự kiện Giê-ru-sa-lem nằm lọt trong các rặng núi non (so sánh Thi 125:2) hoặc chỉ về một địa điểm cụ thể hơn trong địa phương (so sánh Gio 3:12,14).

Bầu không khí sôi động, náo nức trong thành Giê-ru-sa-lem trái ngược với tương lai tăm tối (2a, 13).  Không rõ những cuộc vui chơi chè chén đang diễn ra trong khi Ê-sai đang nói tiên tri (có lẽ họ ăn mừng sau khi San-chê-ríp rút quân, Es 37:37) hoặc là chúng ta cần thêm cho câu 2a một động từ ở thì quá khứ: ‘là ấp vốn đầy sự vui vẻ...’ như trong lời than vãn trong 1:21.  Hiểu thế nào đi nữa thì cũng chỉ có một mình tiên tri thấy khuynh hướng trốn tránh sự thật đó kết thúc ở đâu (so sánh ICo 15:32).  Câu 13b  có dạng khuynh hướng của con người trong mọi thời đại.

Với tầm nhìn xa đặc biệt (so sánh Es 21:1-10) ông tiên tri về sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem cả một thế kỷ sau (586 T.C.), với nạn nhân của trận đói (2b so sánh Ca 4:9), những người lãnh đạo đi lánh nạn (3 so sánh IIVua 25:4-5) và nhà cửa bị tháo gỡ để lấy vật liệu củng cố cho tường thành (10 so sánh Gie 33:4).  Còn vai trò của các chiến sĩ đến từ Ê-lam và Ki-rơ (6) chỉ được đề cập đến ở đây mà thôi nhưng Ki-rơ nằm trong đế quốc A-si-ri (so sánh IIVua 16:9) nên có lẽ những đạo quân hoặc lính đánh thuê từ những tiền đồn đó là di sản của A-si-ri để lại cho Nê-bu-cát-nết-sa. 

Về vấn đề cung điện của cánh rừng chứa vũ khí (8) xin xem IVua 10:17 còn vấn đề cung cấp nước (9,11) xin so sánh với những biện pháp phòng bị của vua A-cha và vua Ê-xê-chia (Es 7:3  IIVua 20:20) trong thời của tiên tri Ê-sai.  Hai bức tường (11) có lẽ ‘là nơi tiếp giáp của tường thành bọc quanh đồi phía đông nam với đoạn phình rộng ra để gộp luôn cả hai cái ao’ (J. Gray).

Cần ghi nhận là, trong tình cảnh này, Giê-ru-sa-lem giao động từ chủ trương tích cực đối phó (9-11) đến chủ trương tránh né thực trạng (12-14).  Thái độ thứ nhất là một cách chối bỏ đức tin (11b), thái độ thứ hai là một cách từ chối không chịu ăn năn.  Lời lẽ trong câu 11b (và trong Es 37:26) dẫn báo một cách đáng chú ý chương 40-66, vì trong các chương đó nhiều lần Đức Chúa Trời được xưng là (theo nghĩa đen) ‘Đấng làm ra và ấn định’ (Đấng làm nên sự đó... Đấng đã định sự đó từ xưa) và là Đấng đã hành động như thế từ xưa (so sánh 43:7  44:2,24).  Ở đây chúng ta có thêm một lý cớ nữa ủng hộ cho chủ trương về sách Ê-sai do một tác giả duy nhất viết ra (xem phần Dẫn Nhập).

(Es 22:15-25)Kẻ giữ kho... Sép-na Vị quan cao cấp này lại được nhắc đến cùng Ê-li-a-kim (so sánh c. 20) trong 36:3  37:2.  Có lẽ ông là người lãnh đạo phe thân Ai Cập (xem chương 30-31) là người đã chế nhạo sự giảng dạy của tiên tri Ê-sai nhưng ở đây ông chỉ bị lên án về tánh tự cao tự đại và khoe khoang.  Toàn bộ sứ điệp của Đức Chúa Trời truyền cho ông đều có ý chê trách, từ kẻ giữ kho (15) đến kẻ làm nhục (18).  Sứ điệp này vạch trần tình trạng con người người khao khát được công nhận, thèm muốn quyền lực và yêu thích những vật dụng tiêu biểu cho địa vị thuộc về đời này (huyệt và xe cộ) và thế lực của chức tước, tất cả đều chỉ là mớ vỏ bọc ngoài vô giá trị.  Tại Si-lô-ê, người ta tìm thấy một cây đà ngang phía trên cửa hầm mộ của một vị quan cao cấp như ông này, mô tả người nằm trong mộ là ‘giám cung’ (so sánh c.15), có thể lắm đây là mộ của Sép-na nhưng một lỗ mộng đã phá mất tên của người chết.

Ê-li-a-kim hoàn toàn trái ngược với Sép-na.  Khi 36:3 lại nhắc đến hai ông thì dường như Ê-li-a-kim đã được cất nhắc lên chức vụ cao hơn Sép-na.  Về phía Đức Chúa Trời, ông được gọi là kẻ tôi tớ ta (20 so sánh với ‘kẻ giữ kho’ c.15) về phía con người, ông sẽ là một người cha đối với cộng đồng của mình (21).  Dầu vậy ông sụp đổ (24-25) vì cớ thể hiện sai trật tấm lòng ưu ái của một người cha, nghĩa là ông không biết nói ‘không’ với những ‘thành viên ỷ lại’ trong gia đình khi họ cầu cạnh sự hỗ trợ của ông.  Cho nên, dù có chủ tâm tốt, nhưng đây vẫn là một hình thức lợi dụng chức tước của mình còn những lời hứa chắc chắn nhất của Đức Chúa Trời đều không hề có chủ trương bao che cho ông hành động như vậy.  Về trình tự của c.23 và 25 so sánh với ISa 2:30  Gie 22:24  Kh 2:1,5.

Chìa khóa của nhà Đa-vít (22) được nhắc đến trong bối cảnh này để nói về trách nhiệm.  Chiếc chìa khoá là một vật cụ thể, đeo nơi đai lưng hoặc trên vai, nhưng những lời lẽ mở đầu câu 22 cùng với âm vang của những lời đó trong Es 9:6 lại nhấn mạnh trách nhiệm mà Đức Chúa Trời giao cho khi Ngài giao chìa khóa, đó là trách nhiệm dùng chìa khoá đem lại lợi ích cho nhà vua.  ‘Mở’ và ‘đóng’ chỉ về quyền đưa ra những quyết định mà ngoài vua ra thì không một người nào có thể bác bỏ được.  Đây là ý tưởng làm nền tảng cho sứ mạng mà Chúa giao cho Phi-e-rơ (so sánh Mat 16:19) và cho hội thánh (so sánh 18:18), với lời cảnh báo chống lại những sự lạm dụng có hàm ý trong phần trên.  Tuy nhiên, theo những lời lẽ ở đây thì cuối cùng quyền ‘mở’ và ‘đóng’ thuộc về chính Chúa Giê-xu (so sánh Kh 3:7-8).

13. Ty-rơ (Es 23:1-18)

Ty-rơ có khả năng vươn xa hơn Ba-bi-lôn dân buôn Ty-rơ nổi tiếng từ Ấn-độ dương (so sánh IVua 10:22) đến eo biển giữa Pháp và Anh quốc.  Kh 17:1-18:24 tổng hợp các bài tiên tri trong Cựu Ước về Ty-rơ và Ba-bi-lôn (so sánh Es 14:1-27  Exe 27:1-36) thành hình ảnh về một thế giới quyến rũ (so sánh c.17) và áp bức, chống nghịch lại thành của Đức Chúa Trời.

Es 23:1-14 Nguyên nhân và hậu quả của sự sụp đổ của Ty-rơ  Ở đây mường tượng cảnh các đoàn tàu của Ty-rơ đang neo ở Chíp-rơ, là thuộc địa gần nhất của Ty-rơ (1 xem bình giải Es 2:16 về vấn đề Ta-rê-si), nhận được tin Ty-rơ sụp đổ tin tức này khiến cho các tàu này hoá ra vô gia cư khiến cho đại dương hoá ra son sẻ vì thiếu vắng kẻ buôn người bán (4) khiến cho Ai Cập sửng sờ (5) và khiến cho dân cư Ty-rơ tan tác đi khắp nơi, đến tận Ta-rê-si (6) hoặc đến đảo gần bên là Chíp-rơ (12).

Câu 8 nói về việc Ty-rơ lập thuộc địa, phát sinh từ sự buôn bán còn câu 10 dù là không rõ ràng nhưng có lẽ là hình ảnh của một thuộc địa xa xôi rơi vào tình trạng hỗn loạn vì nghe tin mẫu quốc sụp đổ.  Câu 11 dùng từ ‘Ca-na-an’ (lề bản NIV) để chỉ về quê cha đất tổ của Ty-rơ và Si-đôn, một từ trong ý rộng rãi bao gồm toàn vùng Pa-lét-tin từ thương gia trong câu 8, liên quan mật thiết với từ Ca-na-an, chứng tỏ tên riêng của xứ trùng nghĩa với doanh nhân đến mức nào.

Theo câu 13 thì xem như tác nhân gây ra sự sụp đổ là Ba-bi-lôn thay vì A-si-ri, dù cả hai cường quốc này đều có chinh phục được một phần Ty-rơ (về sau đến phiên người Hi Lạp, và về sau nữa là người Saracens và Thập tự quân đã chiếm đi chiếm lại Ty-rơ)  Nhưng câu 8 nêu ra câu hỏi về căn nguyên thực sự rồi c. 9 đưa ra câu trả lời:  Ai đã định sự ấy...?  Đức Giê-hô-va Vạn quân...  Đây là một trường hợp cụ thể về sự hình phạt của Ngài đối với sự kiêu ngạo (9), ở bất cứ nơi nào tánh kiêu ngạo xuất đầu lộ diện.  Đây là một trong những chủ đề lớn lao của sách này (xem bình giải của 2:10-22).

(Es 23:15-18) Sức thu hút của Ty- khi xưa lại trở nên mãnh liệt  Cứ mỗi lần bị sụp đổ (cho đến thời Trung Cổ) sau một thời gian Ty-rơ lại vươn lên và lại lao vào những cuộc buôn bán.  Dường như con số bảy mươi năm là con số tròn chỉ về một đời người tương tự như số ‘bảy mươi năm’ lưu đày của người Do Thái vậy.  Nhưng Ty-rơ được ví von với một cô gái mại dâm bị rơi vào lãng quên (15-17).  Thế nên hình ảnh một Ty-rơ phục hồi lập tức trở nên thối nát thảm thương.  Ở đây cho chúng ta thấy vật chất có sức thu hút dai dẳng bền bỉ mặc dù câu cuối xác định cách sử dụng đúng đắn.  Kh 18:3 và 21:24 nhấn mạnh trên cả hai mặt này.

7. SỰ TOÀN THẮNG CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Es 24:1-27:13)

Xong một lượt từng quốc gia (13-23) giờ đây đến toàn bộ thế giới.  Bốn chương này nổi tiếng là ‘khải thị của Ê-sai’, cho thấy sự sụp đổ của giới siêu nhiên lẫn những kẻ thù trên địa cầu này (Es 24:21-22  27:1), và cả sự chết nữa (25:8).  Các chương này chứa (26:19) một trong hai lời hứa rõ rệt trong Kinh Thánh Cựu Ước về sự sống lại của thể xác.  Nhưng Ê-sai vẫn quan sát cảnh tượng bao quát này từ vị trí ưu thế của Giê-ru-sa-lem, với Giu-đa, Mô-áp (25:10-12) và các cường quốc Ai Cập cùng A-si-ri (27:12-13) ở cận cảnh và trung cảnh.  Sự hình phạt quả là kinh hoàng nhưng cảm xúc nổi bật lại là nỗi hân hoan trào dâng thành những lời ca và nhiều lúc chuyển thành lời tiên tri.

1. Trời và đất bị xét đoán (Es 24:1-23)

(Es 24:1-13) Nhân loại hỗn độn  Lời lẽ linh hoạt mô tả cảnh hỗn độn này càng thêm phần hùng hồn nhờ những từ được lặp lại nhiều lần, nhờ vần điệu và mẹo chơi chữ.  Đất trống không và hoang vu nên đọc là ‘làm méo mó mặt đất’ (so sánh với từ rất tượng hình ‘làm cho oằn oại’ trong bản Kinh Thánh Giê-ru-sa-lem).  Nguyên nhân dẫn đến sự hình phạt là nhân loại đã dày xéo lên mọi luật lệ và mọi bổn phận (chú ý hai từ Vậy nên, vì cớ được dùng cùng một lúc trong c.6).  Giao ước đời đời có đúng là lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho toàn thể mọi sinh vật trong Sa 9:9-11 hay không thì chúng ta không dám quả quyết để loại trừ mọi băn khoăn nghi ngại vì cụm từ này dùng trong c.5 có thể chỉ có nghĩa là ‘lời cam kết bảo đảm có tính cách lâu dài bền bỉ nhất’ (dầu vậy cần ghi nhận c.18b có ám chỉ về cơn đại hồng thuỷ).  7tt.  Nhấn mạnh trên tình trạng thiếu vắng niềm vui mừng, đây là lời bình giải đáng chú ý về nội dung của câu He 11:25  ‘sự vui thú tạm bợ của tội lỗi’ (bản RSV).  Cụm từ ‘thành của sự hỗn độn hoang loạn’ được dùng trong bản RSV (10 so sánh Sa 1:2) làm chứng về sự kiện tội lỗi sinh ra hậu quả thoái hoá, biến tình trạng trật tự ổn định của Đức Chúa Trời trở thành hỗn độn, vô hình như xưa.  Tia hi vọng duy nhất nằm trong câu 13 qua vấn đề mót lại, sót lại (13), chỉ còn một số ít người sót lại (6), cũng như trong 17:6 và trong những khúc Kinh Thánh ghi rõ ràng về ‘dân sót lại’, thí dụ như Es 10:20-23.

(Es 24:14-16) Ca ngợi trong thời cuối rốt, nhưng hiện tại ăm ắp đói khổ  Tiếng hát dường như phát xuất từ số dân sót lại ở rải rác khắp nơi (xem phần bình giải c. 13) theo ý nghĩa của Phúc Âm thì chúng ta có thể thấy đây là số dân ngoại bang của Đức Chúa Trời cũng như số người Do Thái (so sánh Gi 11:52).  Từ phương đông (15) theo nghĩa đen là ‘trong ánh sáng’ bản dịch NIV được sự hậu thuẫn đối xứng của cụm từ từ phương tây trong c. 14.  Nhưng đây mới chỉ là điều mường tượng trước, với câu 16 chúng ta trở về với hiện tại eo hẹp đói khổ (so sánh với hình ảnh ví von tương tự trong Es 17:4-6).

(Es 24:17-23) Sự phán xét đối với trụ  Ba danh từ đầu trong câu 17 rất tương tự trong nguyên ngữ nhằm xoáy mạnh vào tính cách tàn khốc trong sự phán xét.  So sánh tình cảnh vô phương trốn thoát trong c. 18a với Am 5:19 (về bối cảnh của c. 18b xin xem phần bình giải của c.5).  Các cơ binh nơi cao ở trên trời (nghĩa đen ‘đạo quân ở trên cao’) (21) trong một số đoạn văn khác có nghĩa đơn giản là ‘các vì sao’ (so sánh Es 40:26), nhưng ở đây, vì là vế đối ứng với các vua thế gian ở trên đất bị kết án tù giam và hình phạt (so sánh IIPhi 2:4), nên rõ ràng đây là ‘các lực lượng thần linh của ma quỉ trong không trung’ (Eph 6:12).  Trong Kinh Thánh Cựu Ước Da 10:1-21 viết đầy đủ nhất về lực lượng này so sánh với có lẽ Thi 82:1-8.  Xem thêm trong Tân Ước, Ro 8:38-39  Co 2:15  Kh 12:7-12.  Nhưng kết cuộc hoàn toàn là vinh quang (23).  Nếu mặt trời và mặt trăng không còn chói lọi, thì chỉ vì có ánh sáng khác chói lọi hơn, đó là ánh sáng của Đức Chúa Trời nắm toàn quyền cai trị.  Trong căn bản, sự hiện thấy này cũng tương tự như sự hiện thấy trong Kh 21:22-27.

2. Sự giải phóng vĩ đại (Es 25:1-12)

(Es 25:1-5) Sự chuyên chế bạo ngược kết thúc  Bài ca này bất ngờ vang lên (không giống như những bài ca trong c.9,  Es 26:1-21  27:2-11).  Bài ca lặp lại từ cường bạo (3,4,5) ba lần nhằm bày tỏ nỗi khổ đau đặc biệt của những người yếu đuối cô thế và những người lâm vào tình cảnh khốn đốn và lòng biết ơn của họ khi được giải thoát.  Đây là bài ca tụng trong Cựu Ước tương đương với bài ca tụng của bà Ma-ri trong Tân Ước.  Ở đây nhắc đến hai trong số những nét đặc thù về cách làm việc của Đức Chúa Trời (‘việc với lạ’ và những mưu đã định từ xưa bản AV, RV).  Những nét đặc thù đã được kể đến trong danh hiệu của vị vua sẽ cai trị trong tương lai theo như lời hứa (9:6) và cũng sẽ được nhắc lại trong 28:29.  Về vấn đề các chương trình ý định của Ngài hình thành từ lâu đời về trước (đã định từ xưa), một vấn đề Ê-sai ưa thích và thường nhấn mạnh, xin xem phần bình giải 22:11.  Do đó bài ca không những chỉ hát mừng về sự đắc thắng sắp đến (khi sự chống trả của kẻ thù sẽ bị bẻ gãy (2), khi các dân tộc thần phục Ngài (3) và khi tất cả những tiếng la hét phản kháng đều phải im bặt (5) mà còn hát mừng về chỗ trú ẩn tìm được nơi Đức Chúa Trời trong khi điều ác hoành hành cực độ (4) sự hoành hành này được miêu tả qua hình ảnh những tình trạng khắc nghiệt của thiên nhiên như mưa như thác lũ (bão) và nắng nóng như lò lửa.

(Es 25:6-8) Chung kết của sự tối tăm sự chết  Yến tiệc trong câu 6 vẽ một nét tích cực trong một khung cảnh chuyên chú trình bày về cuộc xoá bỏ những điều gian ác xấu xa.  Yến tiệc này nói lên sự thành công (vì đây là một tiệc mừng) sự đầy đủ (6b) và sự chung vui (chú ý đến từ tất cả được lặp lại đến năm lần trong c.6-8).  Chúa chúng ta tỏ ra rất thích dự tiệc này trong tương lai ngay cả khi Ngài trao mời các môn đồ một chén nước uống hoàn toàn khác xa (so sánh Mat 26:29).

Đồ đắp hoặc khăn (tốt hơn là khăn trùm đầu, che mặt) có thể là khăn trùm vì tang chế (7) hoặc sự đui mù (so sánh IICo 3:15) của nhân loại băng hoại, cả hai ý này đều ổn, thoả đáng.  Đời đời (8a) là từ dịch sát ý nhất (so sánh với Es 28:28 chẳng hạn), nhưng nguồn gốc của từ này còn có ý là ‘đắc thắng’ (so sánh ICo 15:54) hoặc ‘ưu việt’, và cũng được dùng trong ISu 29:11 trong hai chỗ này, từ này có nghĩa là ‘vinh quang’ và ‘uy nghi’.  Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa, lời hứa này là một trong những đỉnh điểm trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước.  Trong một câu duy nhất (cũng so sánh với Kh 21:4) kẻ thù cuối cùng không còn nữa và giọt lệ cuối cùng đã được lau ráo.

(Es 25:9-12) Sự tận chung của lòng kiêu ngạo  Câu 9 thuộc về phân đoạn trên cũng như phân đoạn này nhưng có lẽ liên từ ‘vì’ (10), không có trong bản NIV, nối kết các câu này chặt chẽ với nhau hơn.  Trong động từ được dịch là mong đợi gợi lên một ý háo hức trông ngóng (so sánh Es 26:8  33:2  40:31).

Nhắc đến Mô-áp trong một khung cảnh toàn cầu kể ra vừa bất ngờ, vừa lạc điệu.  (Tuy nhiên xin xem 34:5 về Ê-đôm).  Dầu vậy, ở đây Mô-áp là hiện thân của lòng kiêu ngạo (11b so sánh 16:6) nơi những con người nhỏ mọn.  Cũng vậy, phân hoặc hố phân được dùng để bày tỏ sự hổ nhục cũng như sự phán xét chung cuộc dành cho người kiêu ngạo (so sánh trình tự trong 14:14,15,19).

3. Thắng lợi sau khi chịu thống khổ (Es 26:1-27:1)

(Es 26:1-6) Thành bền vững Cuối cùng thành của chúng ta hiện ra trước mắt đối lập với địch thủ.  Ngoài những từ đã dùng trong 25:2 (‘bền vững’) và 25:3 (‘thành phố của các dân bạo ngược bản diễn ý) địch thủ được hình dung với một từ mới, ở nơi cao ngất (5).  Thành của chúng ta kiên cố, không phải do bạo lực nhưng nhờ những hoạt động cứu rỗi (1b) của Đức Chúa Trời hằng sống là Vầng đá vĩnh cữu (4, bản diễn ý).  Như vậy, khi chúng ta vui hưởng sự bảo vệ vô hình nhưng của chính Đức Chúa Trời thì chúng ta phải hưởng cho chính bản thân mình, một cách thành tâm (2) và tin cậy (3-4).  Các câu này vừa hay đẹp, vừa hợp lý, đặt cơ sở nơi Đức Chúa Trời.  Bình an tuyệt đối (nghĩa đen, bình an, bình an) là quà tặng của Đức Chúa Trời cho tâm hồn chúng ta được thanh thản và lành mạnh, không phải chỉ tin cậy Chúa một cách kiên định, tâm hồn không còn bị giao động, trái lại được vững tâm (từ này ở trong dạng bị động, như trong bản dịch cũ, để trí mình nương cậy nơi Chúa).  Câu 4 kêu gọi tin cậy mãi mãi, trọn đời cũng hợp lý không kém, tức là đức tin của chúng ta có cơ sở là sự thành tín của Đức Chúa Trời bền vững như vầng đá, còn tinh thần hết lòng dấn thân mãi mãi của chúng ta đặt cơ sở trên sự kiện Ngài là ‘Đấng Vĩnh Cữu’.  Ngoài ra, Chúa Giê-xu còn chứng minh rằng sự cam kết ràng buộc của Đức Chúa Trời đối với những người thuộc về Ngài có tính cách đời đời (Mat 22:31-32).

(Es 26:7-18) Đợi chờ qua đêm dài  Đối tượng của sự mong đợi trong khúc Kinh Thánh này một phần là mong cho kẻ gian ác xấu xa bị sửa trị (9-11) hoặc diệt trừ, tiêu diệt (11c,13-15), nhưng căn bản là mong chờ chính Đức Chúa Trời (8-9 trông đợi Ngài,... ao ước Ngài).  Bản NIV dùng từ bằng phẳng và san bằng (7) gây hiểu lầm, vì trong bản văn hoàn toàn không có ý nói về đường đời thong dong thoải mái, nên dịch câu này là:  ‘... là ngay thẳng Ngài cân nhắc đường lối...’ (so sánh Ch 5:6).  Sự tuyên rao danh của Đức Chúa Trời (8) có thể đem lại một kinh nghiệm cảm động sâu sắc trong buổi thờ phượng (so sánh Thi 34:3  68:4).  Phần cuối câu 13 ám chỉ việc này và trách cứ những tay độc tài chuyên chế đã lấn quyền cai trị của Đức Giê-hô-va.  Câu 14a chỉ về những vị cầm quyền ở trần gian này chớ không có ý chỉ về các thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời (xem phần bình giải Es 14:9 về từ âm hồn).  Tác giả chắc chắn về sự ứng nghiệm của những lời tiên tri này đến nỗi dùng từ quá khứ hoàn thành.  Câu 16-18, với lời thú nhận về tình trạng thất bại và hụt hẫng (hết sức xác đáng đối với hội thánh của Chúa), cho chúng ta thấy thêm một yếu tố thúc đẩy lòng trông mong ao ước đạt đến tình trạng khá hơn.  ‘Bài ca thứ hai của người tôi tớ’ (49:4) cũng thổ lộ một nỗi niềm tương tự.  Ở đây, cũng như trong trường hợp 49:4 Đức Chúa Trời đáp lời bằng cách nâng dời hoàn cảnh đó lên một bình diện hoàn toàn khác hẳn, và việc đó thuộc phạm vi của phân đoạn sau đây.

(Es 26:19-21) Sự sống lại sự phán xét chung cuộc Tiếp theo sau lời cầu nguyện trong c. 7-18 giờ đây Đức Chúa Trời đáp lời.  Câu 19 dù mù mờ về mặt chi tiết nhưng rõ ràng câu này hứa về sự sống lại của thân thể.  Lời tuyên bố tương tự trong Da 12:2 cho biết thêm hai chi tiết trong tương lai: sự sống lại của kẻ không công bình và một cuộc sống đời đời hoặc sự xấu hổ nhơ nhuốc.  Nên dịch câu này là (như bản RV) ‘những xác chết của Ngài’ - vì các tôi tớ của Đức Chúa Trời vẫn thuộc về Ngài ngay cả trong cái chết, ngay cả thể xác đã chết của họ cũng vẫn thuộc về Ngài.  Đối với phần cuối c. 19 thì có nhiều cách dịch, nhưng bản NIV rất có lý khi chuyển ngữ được sự trái ngược giữa câu 19b (hình ảnh ví von về sự sinh sản thắng lợi) và câu 18b (hình ảnh sinh sản thảm bại), hai hình ảnh này liên hệ với nhau vì cả hai đều dùng chung một động từ đặc biệt.

Câu 20 phác hoạ lại cùng một phương án của sự cứu rỗi giữa cơn hình phạt như trong trường hợp Nô-ê vào tàu rồi Đức Chúa Trời đóng cửa lại và như khi dân Y-sơ-ra-ên ở Ai Cập được lịnh phải vào nơi trú ẩn an toàn để tránh khỏi thiên sứ huỷ diệt (Xu 12:22).  Sự xét đoán (Es 21:1-17  27:1) bao trùm tất cả như trong 24:21, ‘các cơ binh nơi cao ở trên trời’ trong 24:21 tương đương với Lê-vi-a-than trong câu này (so sánh với ‘con rồng và các thiên sứ của nó’ trong Kh 12:7-9).  Các hình dung từ bất thường lẹ làng, cong queo (hoặc ‘trơn nhờn’, ‘dãy dụa’) đúng là những từ vốn được dùng để mô tả về Lê-vi-a-than (Lotan) trong thiên anh hùng ca cổ của dân Ca-na-an về chuyện Ba-anh thắng con vật lớn dưới biển.  Dù tư liệu này vốn là của người Ca-na-an nhưng nay được phỏng trích lại cho rập với khuôn lẽ thật của Đức Chúa Trời nhằm chuyển tải lẽ thật của Ngài và triệt hạ cơ cấu tín ngưỡng của ngoại giáo.  Văn cảnh ở đây cũng như trong Es 51:9-10 là sự phán xét, chớ không phải (như trong câu chuyện của ngoại giáo) cái gọi là một cuộc tranh hùng.  Trong câu chuyện đó, trước khi thần sáng tạo có thể tiến hành thực hiện công tác sáng tạo một thế giới trật tự, thần đó phải tiêu diệt các thần của sự hỗn độn đang chống nghịch mình.

Es 27:1; xem giải nghĩa 26:1-21

4. Một dân của Đức Chúa Trời (Es 27:2-13)

(Es 27:2-6) Vườn nho cho hoa lợi  Cần nhận định về sự chăm sóc đầy lòng ưu ái (2-4) và sự kiện vườn nho đơm hoa kết trái (6) dày đặc trong bối cảnh của chương 5, là chương mô tả về một vườn nho không sinh lợi và bị phế bỏ.  Đây là mục tiêu mà Đức Chúa Trời đang nhắm đến.  Xem ra khó xác định ý câu 4-5 nhưng có thể là Đức Chúa Trời không còn căm tức vườn nho của Ngài nữa, Ngài chỉ căm tức gai dại và cỏ hoang (bản Diễn Ý) - tức là căm tức những người thù nghịch dân của Ngài - đã mọc tràn lan trong vườn (5:6), và dầu vậy, Ngài sẵn lòng làm hoà với những thành phần thù địch đó thay vì huỷ diệt họ.  Căn cứ vào 5:7 có thể giải nghĩa trái (6) sẽ đem lại lợi ích cho thế giới là sự công bình và công nghĩa.  Chú ý đến một chi tiết rễ được nhắc lại như trong 37:31 xét về mặt tinh thần lẫn vật chất, rễ là điều kiện tiên quyết để cây ra trái.

(Es 27:7-11) Sự khổ nạn đem lại thắng lợi, bạo ngược bị thất thế  Phân đoạn này đưa ra cảnh trái ngược giữa sự sửa trị đau đớn có chừng mực (7-9) gây dựng và củng cố Y-sơ-ra-ên, còn kẻ chuyên chế bạo tàn sẽ bị tai hoạ bẻ gãy hoàn toàn (10-11).

Từ Hi Bá Lai mở đầu câu 8 còn mù mờ đối với chúng ta.  Chiến tranh, tranh chấp (theo bản LXX) rốt cuộc cũng chỉ là từ đoán chừng mà đọc.  Có người đề nghị đọc là ‘từng phần một’, tức là phân phối ra từng thùng một, hoặc ‘đuổi đi’ (nếu ‘sa-sa’ tương đương với tiếng Việt là ‘xéo! xéo!’) vào chốn lưu đày (hàm ý trong phần cuối c.8).  Câu 9 cho thấy rằng từ bỏ sự thờ hình tượng vừa là điều kiện (này là cớ) để hưởng sự tha tội của Đức Chúa Trời vừa là kết quả lâu dài (này là quả) sau khi hưởng sự tha tội của Ngài (Ch 16:6).  Nếu biện pháp lưu đày là một bước tiến gần đến sự từ bỏ hình tượng thì quả là không vô ích.  Thành bền vững (10-11) rõ ràng chỉ về thành trì của kẻ áp bức (so sánh Es 25:2).  Thảm trạng mô tả trong c.10b-11a là một hình ảnh trái ngược với vườn nho được chăm sóc kỹ trong c.2-3.  So sánh c.11b với  44:18-19  45:6-7.

(Es 27:12-13) Đem hoa lợi về  Vụ thu hoạch được mô tả nơi đây có thể là vụ thu hoạch ở vườn cây ăn trái hoặc ở đồng ruộng, vì động từ lung lay (nghĩa đen ‘đập’) được dùng chỉ về việc tách hạt một số loại lương thực bằng sức người (28:27) hoặc rung cây ô-li-ve cho rớt trái xuống (Phu 24:20), rồi lượm từng trái lên.  Ý chính là Đức Chúa Trời sẽ có một mùa thu hoạch hoàn hảo - gom hết những người thật sự thuộc về Ngài, không sót một người nào cả (so sánh Es 40:26-27).  Đối với dân Y-sơ-ra-ên còn ở tại quê hương (12) thì ý được nhấn mạnh là sàng sảy số dân đông lấy số ít (so sánh Es 10:20-23).  còn đối với những người tản lạc ở các nước ngoài, thì sẽ có tiếng kèn thổi lên triệu tập họ trở về quê hương (13).  Kinh Thánh Tân Ước cho thấy sự kêu gọi của Phúc Âm đã đem lại hiệu quả đôi này, đó là sàng sảy và cứu rỗi (ICo 1:23-24), người Do Thái cũng như người ngoại bang.  Như vậy hai câu này cho thấy sự toàn thắng chung cuộc của Đức Chúa Trời, không phải toàn thắng một cuộc chinh chiến, cũng không phải thắng lợi trong cuộc sáng tạo mới (như người ta có thể suy diễn) nhưng đơn giản là gom dân lại và đem họ về quê hương.  Xét cho cùng thì đây mới là cốt lõi của vấn đề (so sánh Kh 7:9 tt).

8. CUỘC KHỦNG HOẢNG A-SI-RI: SỰ CỨU GIÚP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI HOẶC CỦA CON NGƯỜI (Es 28:1-31:9)

1. Lời thách thức dành cho kẻ phỉ báng (Es 28:1-29:8)

Chương 28 trình bày một loạt những hình ảnh riêng rẽ thay vì một cảnh chung, nhằm thách thức giới cầm quyền ở Giê-ru-sa-lem đối diện với sự thật trong dòng lịch sử, trong nền đạo đức và trong công việc của Đức Chúa Trời.  Dường như trong c. 7-13 hoặc trong những phần sau nữa có ghi lại những câu nói thốt ra trong lần cãi vả dữ dội.  Bối cảnh phân đoạn này là thời gian bất ổn vì Ê-xê-chia âm mưu cùng Ai Cập nổi dậy chống lại A-si-ri dẫn đến cuộc chinh phạt năm 701 T.C. được mô tả trong chương 36-37.  Dầu vậy trong hành lang chật chội ngổn ngang này thỉnh thoảng chúng ta cũng khám phá ra được một số lời tiên tri.

(Es 28:1-6)  Bọn say xỉn Ép-ra-im  Rõ ràng vị Tiên tri giảng bài này trong thời gian Sa-ma-ri chưa thất thủ.  Xem phần bình giải câu 7-13 về vai trò của bài tiên tri trong văn cảnh này.  Câu 1-4 tả vẽ vẻ đẹp bề ngoài của một thành phố giàu sang thịnh vượng nằm trên một ngọn đồi, nhưng lại ví thành phố này với vòng hoa chiến thắng nơi trán một tên say rượu (1b) - một hình ảnh ví von phong phú về sự vinh quang bất xứng và chóng tàn lụi (4a).  Hình ảnh thứ hai (2) chỉ về A-si-ri, một mối đe doạ thêm phần nghiêm trọng qua hình ảnh một trận mưa đá, nhắc lại một lần nữa trong câu 17, và qua hình ảnh ví von về một trái vả chín trước mùa hè trong c.4 (quả chín bói, theo lối nói của chúng ta).  Thế là, gọn trong một phân đoạn Ê-sai tóm tắt những lời cảnh báo của A-mốt dành cho thành phố say đắm trong thú vui và u mê vì rượu (so sánh Am 2:12  4:1  6:6).  Đặc biệt là những đám mây mù rẽ ra trong giây lát để lộ mão miện đích thực (5) trang sức cho dân Y-sơ-ra-ên thật, là dân sót lại (xem phần bình giải Es 10:20-23).  Chú ý thần công bình và sức mạnh (6 xem phần bình giải 11:2) là chính Đức Chúa Trời, hiện diện và tích cực vận hành trong nội tâm người phục vụ Ngài.

(Es 28:7-13) Giới lãnh đạo say xỉn  Từ cũng (7) ngụ ý là những điều có đề cập trong lời tiên tri ở phân đoạn trên cũng đúng với thành phần những người trong phân đoạn này.  Ép-ra-im u mê đã rơi vào cảnh khốn đốn đau thương giờ đây đến phiên Giu-đa, cũng đi con đường tương tự như vậy, kể từ thành phần lãnh đạo thuộc linh trở xuống.  Tác giả miêu tả cách sống động dáng đi loạng quạng lảo đảo, tình trạng ói mửa của các thầy tế lễ... và các tiên tri nên có người cho rằng phân đoạn này ghi lại về một cuộc đấu trí riêng giữa tiên tri Ê-sai và một nhóm người này.

Trong trường hợp đó có lẽ c.9-10 là lời chế nhạo của họ (họ... họ... chỉ về tiên tri Ê-sai) và câu 13 tiên tri dùng chính lời chế nhạo của họ để đáp lại và báo trước những điều thê thảm.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai câu 10 nhằm tạo âm điệu leng keng, loảng xoảng như tiếng rung chuông, hầu như tương đương với lời chế giễu của chúng ta ‘lêu lêu... lêu  lêu...’ nhưng không hoàn toàn vô nghĩa như vậy.  (Từ giềng mối có nghĩa đen là ‘hàng’, so sánh c.17a).  so sánh với bản dịch của J.B. Phillips:  ‘Bộ chúng ta là trẻ con mới cai sữa sao?  Bộ chúng ta phải học rằng luật-là-luật-là-luật, lệ-là-lệ-là-lệ...?  Đúng vậy, Đức Chúa Trời sẽ phán với dân này qua miệng lưỡi cà lăm và tiếng ngoại quốc’.  Nói cách khác, một khi đã biến lời lẽ của Đức Chúa Trời ra vô nghĩa thì họ sẽ nhận thức đầy đủ ý nghĩa của những lời đó qua người A-si-ri (11) và sẽ gánh chịu tai hoạ từ những lời lẽ ra nhằm giải cứu họ khỏi những tai hoạ đó (12-13).  Chương 30:15 trình bày nội dung của sứ điệp bị khước từ trong c.12 so sánh với 7:9b.  Ông Phao-lô trích dẫn câu 11 trong ICo 14:21 là một cách nhắc nhở rằng, đúng theo tinh thần của khúc sách này, tiếng lạ không phải là lời chào đón chúc mừng của Đức Chúa Trời đối với hội chúng có lòng tin mà là lời trách cứ đối với một hội chúng vô tín (so sánh C. Hodge trong sách Bình giải ICô-rinh-tô).

(Es 28:14-22)   sở chắc chắn nơi ẩn náu của lời nói dối trá  Cũng như trong Es 8:11-15 nhưng giờ đây trong một bối cảnh tin tưởng liều lĩnh, giao ước đối nghịch với đá góc.  Có lẽ ước kết với sự chết và ước đã kết cùng âm phủ chỉ về sự cầu khẩn các thần trong thế giới bên kia, tức là cầu hồn, cầu cơ (so sánh 8:19) cũng có thể chỉ về một hoà ước với Ai Cập.  Tuy nhiên, có lẽ lắm nên hiểu việc đó tương tự như thái độ họ tự hào trong câu 15b về một lời nói dối và giả trá, nghĩa là sự nhận định của Đức Chúa Trời về niềm hi vọng của họ, đặt vào miệng lưỡi của họ.  Nói theo giọng điệu của họ thì chắc chắn như sau: ‘Chẳng có gì có thể đụng đến chúng ta.  Giao ước của chúng ta chắc chắn và an toàn’.  Nhưng Đức Chúa Trời hiểu rõ kẻ thù đích thực của họ, và thành phần mà họ xem là bạn.  Lời hứa về đá góc cùng với ý trong 8:14 được trưng dẫn trong Ro 9:33  IPhi 2:6 so sánh Thi 118:22.  Trong Es 8:14 rõ ràng là hòn đá vấp ngã chỉ về Chúa, nhưng ở đây chính Chúa đặt hòn đá để làm nền cả hai lời tuyên bố đều nói về Chúa Giê-xu, như Kinh Thánh Tân Ước bày tỏ rõ ràng.  Ro 9:32-33 giãi bày những hàm ý trong câu nói về đức tin (so sánh Es 7:9), ai tin sẽ chẳng bao giờ phải chạy thất điên bát đảo (bản Diễn Ý).  Nguyên ngữ Hi Bá Lai có nghĩa đen là ‘sẽ không gấp rút, vội vã’ - vì vội vã hàm ý là có lo sợ và rối trí.

Trong số những hình thức ví von - khá dồi dào trong phân đoạn này - những lời nói ví về bão tố và lụt lội trong câu 2 chỉ về người A-si-ri dây đo và dây dọi (dây chuẩn mực c. 17) nhắc lại sự kết cuộc trong 30:13-14 và trong Am 7:7-8 giường ngắn và mền hẹp (20) là những chi tiết cuối cùng về những nguồn tài nguyên nghèo nàn không có khả năng cung ứng nữa, xin xem ISu 14:11,16 về ý nghĩa của Phê-ra-xim và Ga-ba-ôn (21).  Đức Chúa Trời là Đấng đã quét sạch kẻ thù của Đa-vít, giờ đây sẽ quét sạch vinh quang của Đa-vít.  Phân đoạn kế tiếp sau đây sẽ làm sáng tỏ sự chuyển biến lạ lùng này.  Tiện đây, xin nhắc lại rằng ông Luther được an ủi nhiều khi ngẫm nghĩ là sự hình phạt của Đấng Christ là việc làm khác lạ, còn sự cứu rỗi là việc làm bình thường của Ngài.

(Es 28:23-29) Tay nghề của nhà nông  Việc làm muôn màu muôn vẻ và cách xử lý phong phú và thường thay đổi của người nông dân thoạt nhìn có vẻ câu nệ và thất thường nhưng lại rất thích đáng, thường cho chúng ta manh mối để hiểu những đường lối phức tạp của Đức Chúa Trời, là bậc thầy của người nông dân (26,29).  Chuyện ẩn dụ này ngụ ý là công việc của Đức Chúa Trời dù là việc kỳ lạ nhất (so sánh c. 21) cũng hoàn toàn thích đáng vào những thời điểm khác nhau (24), cho những chủng loại khác nhau (25) và với những chất liệu khác nhau (27-28).  Xin xem phần bình giải Es 27:12 về đập bằng cái que (27) và ẩn dụ này cho chúng ta một bài học là đừng đối phó với mọi hoàn cảnh theo cùng một phương cách được chúng ta ưa chuộng nhất!  Chú ý danh xưng lạ lùng và mưu luận (29) cũng đi đôi với nhau như trong 9:6 chép về những danh xưng của vị vua thánh và cũng như trong 25:1.

Es 29:1-8 Hoãn án đối với A-ri-ên vào phút chót Cuối câu 8 xác định A-ri-ên là Si-ôn và Exe 43:15 cho biết ý nghĩa của A-ri-ên là ‘mặt bàn thờ’ vì vậy Moffatt diễn dịch A-ri-ên ở đây (nhấn mạnh trên sự kiện Giê-ru-sa-lem được Chúa kêu gọi) là ‘mặt bàn thờ và bàn thờ của chính Đức Chúa Trời’. Câu 1b với chi tiết nói về sự thờ phượng củng cố cho hướng diễn dịch này. Nhưng câu 2b với chi tiết về sự sát hại hàng loạt tô đen hình ảnh kiêu căng ngạo mạn của thành Giê-ru-sa-lem về quá khứ của thành (so sánh c.1a, NIV dùng từ ổn định nên đánh mất tình ý mạnh mẽ trong c.3a).

Lời hứa về một cuộc giải cứu lạ lùng (5-8) đã được ứng nghiệm một phần trong năm 701 T.C. (Es 37:33-37).  Nhưng sự hợp lực của các dân tộc (7-8), công cuộc vây hãm (3 so sánh 37:33) và những hiện tượng lạ trong c. 6 chỉ về một cuộc chiến với qui mô lớn hơn (so sánh Xa 14:1-21).  Câu 7-8 mô tả sống động sự thất vọng của các dân tộc từ đó đến nay khá nhiều lần trong qui mô nhỏ thế giới đã liếm mép quá sớm về cái chết của hội thánh.

2. Bóng tối trong nội tâm của Y-sơ-ra-ên dày đặc hơn rồi tiêu tan (Es 29:9-24)

(Es 29:9-12) Một dân tộc không khải tượng  Câu 10 Đức Giê-hô-va đã bịt mắt các ngươi, tức là các tiên tri chứng tỏ dân Y-sơ-ra-ên là đối tượng của bài tiên tri này là một bài triển khai các bài học trong Ch 29:18  ISa 3:1-14.  Thi 74:9 cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về tình trạng của dân tộc này một khi ý muốn của Đức Chúa Trời trở nên như thể một cuốn sách bị niêm phong.  Mấy động từ phản thân trong c. 9 gợi ý rằng sự mù quáng này là do Chúa hình phạt.  So sánh Es 6:9-10  30:10-11.

(Es 29:13-14)  tôn giáo giả tạo  Với câu 13 Chúa Giê-xu nhìn thấy đúng là hình ảnh của phái Pha-ri-si (Mac 7:6-7).  Câu 14 là hệ quả xứng hợp của tôn giáo này vì không có chiều sâu nên sự sáng suốt quay lại làm hại chính mình và đụng đến đâu là gây tăm tối rối reng đến đó.  So sánh Ro 1:22  ICo 1:19.

(Es 29:15-16) Coi thường Đấng Tạo Hóa  Thái độ vụng trộm pha lẫn với thái độ phách lối như thể rất can đảm (so sánh Es 30:1) được biểu lộ một cách vô ý thức dưới nhiều hình thức, chẳng hạn như gạt bỏ những sự thật không ưng ý (so sánh 30:9-11).  Cả tiên tri Giê-rê-mi (Gie 2:26) lẫn tiên tri Ê-xê-chi-ên (Exe 8:12) trong thời của hai ông đều đụng phải thái độ bất chấp lương tâm như nhau.  Hình ảnh ví von về người thợ gốm chưa có câu trả lời (16) sẽ được dùng lại trong Es 45:9 và dùng với thái độ ăn năn trong 64:8 còn ông Phao-lô cũng vận dụng hình ảnh này trong Ro 9:20-21.

(Es 29:17-21) Sự đảo ngược lớn lao  Tính cách vô lý lố bịch trong mưu đồ chống nghịch Đức Chúa Trời (15) sẽ lộ rõ khi Ngài hoàn tất công việc của Ngài, vượt lên trên tất cả mọi việc tốt đẹp nhất mà chúng ta đã biết (17) khi những khuyết tật không còn nữa, và khi những sự bất công trong hiện tại cũng bị xoá bỏ hết (18-21).  Điểm chính nằm trong các động từ của câu 17 tức là Li-ban hiện tại (không trồng tỉa được, trông như một vùng sa mạc trong 32:15) sẽ biến thành đất tốt, trong khi vùng đất tốt hiện nay sẽ trở nên như rừng so với loại đất tốt mới có.

(Es 29:22-24)  Một dân tộc tôn vinh Đức Chúa Trời  Chắc chắn c.22b-23a nói về cá nhân Gia-cốp bất chấp cách dịch trong bản NIV (nguyên bản Hi Bá Lai dùng số ít: ‘mặt của người (nó)... khi người (nó) thấy... các con trai của mình’, so sánh Es 63:16.  Gia-cốp sẽ (theo cách nói của chúng ta) yên nghỉ ngàn thu, không còn phải bận tâm về hành vi của dòng dõi của mình nữa.  Ý tưởng dân của Đức Chúa Trời bày tỏ sự thánh khiết của Ngài được triển khai trong Exe 36:23 cùng trong văn cảnh của câu đó, và trong Eph 1:4,6... rồi cũng là điều đầu tiên được nhắc đến trong bài cầu nguyện chung (danh Cha được thánh...) dẫn đến vấn đề đặt nặng trong cuộc sống của chúng ta hiện nay về sự trọn vẹn hoàn toàn trong tương lai.

3. Ai Cập và A-si-ri cùng trong một tầm nhìn (Es 30:1-31:9)

(Es 30:1-5)  Cái bóng Ai Cập  Rốt cuộc Es 28:14-22 nói đích danh nơi ẩn náu hữu danh vô thực.  Mười năm về trước tiên tri Ê-sai ra sức thuyết phục Giu-đa đừng cùng Ai Cập chơi trò phản nghịch A-si-ri (chương 20) giờ đây chủ trương đã rõ, phái bộ của Giu-đa lên đường làm công tác.  Dường như các quan trưởng (4) là phái bộ phía Ai Cập nếu đúng vậy thì Ha-ne là một địa danh gần Xô-an (Xô-an là Tanis, thành quan trọng ở gần biên thuỳ Y-sơ-ra-ên nhất) thay vì thành ở 80 cây số (50 dặm) về mạn ngược dòng sông Ni-lơ như người ta thường nghĩ.  Xem Thánh Kinh Từ Điển, tư liệu, ‘Ha-ne’ sẽ có luận giải chi tiết hơn.

(Es 30:6-8)  Nước đồng minh tích sự ẩn biền biệt tại gia  Đối với tiên tri Ê-sai những sự bất tiện và những mối nguy hiểm trong cuộc hành trình (6a) là những điều tiêu biểu cho cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm này, và những của quí trong c.6b, không ăn nhập gì với Nê-ghép hoang dã, là hình ảnh của những nỗ lực và những nguồn tài nguyên sử dụng sai chỗ.  Nguyên ngữ Hi Bá Lai viết từ Ra-háp (7) khác với từ quen thuộc dùng trong Gios 2:1-24.  Từ này cũng chỉ về Ai Cập trong Thi 87:4 (so sánh Thi 89:10).  Dường như có nghĩa là ‘ngạo mạn’ hoặc ‘náo động’ và được liên hệ với ‘quái vật’ (cá sấu?) trong Es 51:9 là một tên gọi khác được dùng cho Ai Cập trong Exe 29:3.  Moffatt chuyển ngữ rất khéo c.7c:  ‘Con rồng vô tích sự’ - một tên dùng để bêu qua khắp phố phường Giê-ru-sa-lem (8) vừa cay cú, vừa bí hiểm không kém gì câu khẩu hiệu được dùng trong lần trước (so sánh Es 8:1).

(Es 30:9-14) Một cấu trúc kém chất lượng  Câu 10 chứng tỏ rằng lẽ phải và sự thật là thiết yếu cho một cộng đồng tương tự như yếu tố chính xác và vững chãi trong cuộc xây dựng một toà nhà (13).  Đây là một trong những lời tuyên bố rõ ràng nhất về sự xét đoán hợp lý của Đức Chúa Trời so sánh với Exe 13:10-16 về việc tô quét một lớp vôi (phủ một lớp giấy) lên những bức tường nứt nẻ, Am 7:7-8 về dây dọi và Ha 2:9-11 về toà nhà của kẻ chuyên chế áp bức rung chuyển cọt kẹt.

(Es 30:15-17)  Giá phải trả tín  Có thể tách c.15 rời ra là một câu thách thức đặc thù của tiên tri Ê-sai (xem phần bình giải của Es 7:1-9).  Ăn năn, nghĩa đen là ‘quay’ lại với Đức Chúa Trời (so sánh 10:21), yên nghỉ và yên lặng là tình trạng trái ngược với quýnh quáng xoay xở trong c.16 (so sánh 28:16).  Lòng tin cậy tô điểm cho mỗi một sự đáp ứng với tình yêu thương.  Lời đe doạ trong câu 17 đảo ngược cách thảm thương lời hứa trong Le 26:8 so sánh Phu 32:30.

(Es 30:18-26) Những điều tốt lành còn dự trữ  Ai Cập và A-si-ri mờ dần và biến mất khi sự vinh quang bừng sáng, trước tiên bày ra những điều tốt lành tươi sáng liên quan trực tiếp đến người (18-22), kế đến là những điều tốt lành liên quan đến mọi sự vật (23-26).  Chú ý mối tương quan giữa sự chờ đợi của Đức Chúa Trời và sự chờ đợi của con người (trông đợi mong ngóng trong c. 18a diễn tả tình ý mãnh liệt qua cách dùng từ chờ đợi trong câu 18d trong dạng nhấn mạnh) và địa vị của Ngài là một quan toà được tôn vinh nồng nhiệt (18b,c so sánh Es 5:15-16).  Câu 20-21 mô tả mối quan hệ mật thiết trong giao ước mới (so sánh Gie 31:33-34), chớ không phải trong thời kỳ vinh quang chung cuộc vì trong thời kỳ giao ước mới vẫn còn có thể gặp hoạn nạn và vẫn còn có thể lầm lạc, dù là ít xảy ra hơn (21).  Thầy giáo, một danh từ số nhiều đi với một động từ số ít, như thế nghĩa là số nhiều chỉ về tính cách đầy trọn hoặc sự uy nghi của Đức Chúa Trời (như trong bản RSV) và từ này liên hệ với việc giáo huấn về phần tinh thần đạo đức hoặc Tôrâ (luật pháp).  Tiếng nói của Ngài gọi chúng ta trở lại vang lên từ phía đàng sau chúng ta (21) vào những lúc chúng ta tẻ qua đường khác chớ không phải vào những lúc chúng ta đi theo Ngài.  Câu 23-26, trái ngược với c. 20a, dùng lời lẽ quen thuộc trong thế giới của chúng ta để mô tả sự sáng tạo một trời đất mới hoàn toàn vượt xa thế giới này (so sánh Es 60:19-22  65:17-25).

(Es 30:27-33) Ngọn lửa thanh tẩy  Mặc dù những câu này mô tả tình hình của một nước sát nách tức là ‘A-si-ri’ (31) nhưng những câu này cũng hướng đến thời kỳ chung cuộc nữa.  Rồi đây những thế lực không thờ Đức Chúa Trời sẽ bị vây bọc (như Giu-đa trong 8:8) trong dòng thuỷ triều dâng cao, và sẽ bị dây cương của Đức Chúa Trời kéo đến huỷ diệt (như A-si-ri vậy Es 37:29).  Dầu vậy đối với chúng ta đây là sự giải giáp (29): cần gióng lên một hồi trống mừng (32) như Mi-ri-am (so sánh Xu 15:20), nhưng mồ chôn giới chuyên chế giới áp bức sẽ không còn là Biển Đỏ nữa, nhưng sẽ là Tô-phết, tức là hồ lửa của sự huỷ diệt chung cuộc, Kinh Thánh Tân Ước cho thấy nguồn gốc của ý nghĩa này.  Vua được đề cập ở đây có lẽ là Mô-léc (xem lề bản NIV so sánh IIVua 23:10) trên căn bản từ này cũng tương tự như từ vua.

(Es 31:1-5) Tin cậy vào sức mạnh của bầy ngựa Đối với Ê-sai xác thịt và thần (3) có giá trị tương đối thôi, quan điểm này hoàn toàn trái ngược với nhận định của người đương thời (so sánh Es 30:15-16) và trái ngược với số đông người trong thời nay.  Đây là mấu chốt trong hệ tư tưởng của ông, sự việc diễn ra trong thực tế đã biện minh cho ông một cách đầy kịch tính (so sánh lời chế nhạo trong 36:8-9 với biến cố thực tế trong 37:36-38).  Trong câu 2 diễn dịch chính xác ý rộng rãi của từ tai ương (so sánh 45:7  Am 3:6).  Cả hai hình ảnh sư tử gầm thét và chim bay lượn đều chuyển đạt ý tưởng là sự can thiệp của con người không với tới, không đụng tới nổi có lẽ cũng chuyển đạt tính cách ưu ái và lạ lùng của Đức Chúa Trời trong vai trò bảo vệ (so sánh Phu 32:11).

(Es 31:6-9) A-si-ri tháo chạy Chuyện quân A-si-ri bị sát hại bởi hiện tượng siêu nhiên được ghi chép trong Es 37:36.  Nhưng tiên tri Ê-sai chú trọng đến sự ăn năn (trở lại) nhiều hơn là sự giải cứu về mặt thể xác chú ý mức nhận định sâu sắc của ông về tình hình (cực kỳ nghĩa đen là ‘thẳm sâu’ so sánh với 29:15  Os 9:9).  So sánh câu 7 với Es 2:20  30:22.  còn đối với lửa của Đức Chúa Trời tại Si-ôn (9) thì so sánh với hàm ý trong những câu hỏi ở 33:14.

9.SỰ GIẢI CỨU VÀ BƯỚC ĐẦU ĐEN TỐI (Es 32:1-35:10)

1. Vương quốc của những con người chân chính (Es 32:1-8)

Bài tiên tri thứ tư này viết về vị vua tương lai (so sánh 7:14  9:6-7  11:1-5) bày tỏ sự thắng lợi lớn lao nhất của Ngài, qua những mỹ đức của Ngài được phát huy trong tâm tánh của thần dân (do thần của Đức Chúa Trời ban cho, 11:2 so sánh 32:15) từ các quan chức đến thường dân.  (Có thể dịch phần này là: ‘Nếu một vị vua lấy nghĩa trị vì... thì...’ v.v.  Nhưng bản dịch quen thuộc lâu nay vừa tỏ ra đơn giản trong cấu trúc vừa phù hợp với những điều tiên tri Ê-sai giảng dạy bắt đầu từ 7:14 trở đi).

Sau khi dùng từ các quan trưởng thì dùng từ mỗi người (2a, nghĩa đen là ‘một người’) như trong bản NIV là chính xác.  Đây là những con người cầm quyền, đang vận dụng quyền hành như Đức Chúa Trời vận dụng (so sánh c.2 với 25:4-5  26:4).  Đây cũng là những con người vận dụng khả năng của họ (3 đối chiếu 30:10-11  42:20) và tìm được những khả năng mới (4).  Trên hết, sự thật đã loại trừ những chuyện giả mạo chất chứa vô số điều gian tà.  so sánh c.5 với Lu 22:25-27, vì Đức Chúa Trời không công nhận những tước vị hữu danh vô thực.  Câu 6-8 không phải là một lời tiên tri, mà là lời bàn giải về những từ dùng trong c. 5, bản NIV dùng thì hiện tại diễn dịch rất chính xác ý này.

2. Làm gì có lối bằng phẳng dẫn đến sự hoà bình an ổn (Es 32:9-20)

Các bà hư đốn trong câu 9-13 (so sánh Es 3:16-26) chỉ là một nhóm quá mấu tiêu biểu cho đa phần xã hội có khuynh hướng tránh né thực tế đương thời (so sánh 22:13  28:15).  10  Nếu bản NIV chuyển ngữ đúng c. 10a  thì bài tiên tri này có niên đại trong khoảng thời gian vua Ê-xê-chia làm phản chống lại A-si-ri dẫn đến vụ A-si-ri xâm lăng chinh phạt.  Nhưng câu 10a cũng có thể có nghĩa là ‘trong một thời gian dài’.  Dầu sao đi nữa thảm hoạ trong c.14 và sự sung túc hạnh phúc trong c. 15-20 đều vượt quá mọi biến cố trong thời của tiên tri Ê-sai.  Thời hiện đại, kể từ biến cố trong ngày Lễ Ngũ tuần (so sánh c.15) có thể phần nào đáp ứng khung cảnh này với sự việc dân của Đức Chúa Trời được giải phóng khỏi Giê-ru-sa-lem ở đời này (14,19).

Bài thơ này giãi bày một nguyên tắc căn bản là Đức Chúa Trời không áp đặt sự bình an yên ổn lên một xã hội thối nát đâu:  cần dọn sạch xã hội trước rồi gieo giống công bình một lần nữa, từ giống này sẽ ra trái bình an (16-17).  Lời hứa về Thánh Linh là thiết yếu (15) cho việc này: đây là cách mà Đấng Mê-si chia sẻ những món quà mô tả trong c.1-2 ở trên.  Xem bình giải 29:17 về ý nghĩa c.15b.  ‘Những điều mới mẻ’ mà Đức Chúa Trời hứa ban trong tương lai được trình bày qua hình ảnh một xứ an ổn, dồi dào nước (xem c. 20 chẳng hạn) là những điều đã biết và quen thuộc.

3. Khao khát được tự do (Es 33:1-24)

Chương này có cấu trúc tương tự như một thi thiên với nhiều nhân vật thay nhau lên tiếng, với nhiều sắc thái thay đổi liên tục nên có lẽ tác giả viết chương này để dùng khi đất nước lâm vào tình thế cấp bách (so sánh tiếng Đức Chúa Trời trả lời trong c.10-12 với Thi 60:6-8 và phần đối thoại trong c.13-19 với 24:3-6.

(Es 33:1-9) Mong mỏi được phục hồi  Tố cáo (1), cầu nguyện (2-4), ca ngợi (5-6) và than vãn (7-9) tới tấp vang lên.  1  không nêu đích danh kẻ huỷ diệt, có lẽ tiêu biểu cho những con người thành công trong mọi mưu đồ gian ác đến nỗi họ không thấy sự báo trả mà họ đã chất chứa lại cho mình. 2-4  Nhưng sự trông cậy nơi chính mình Đức Chúa Trời đem lại một khải tượng phong phú hơn cả lẽ công bình độ chừng của con người.  Với Đức Chúa Trời không phải chỉ có việc chờ mong một đáp án chung cuộc (3-4) trái lại trong khi chờ đợi hồi chung kết cánh tay mạnh mẽ của Ngài (2) dư sức đáp ứng cho nhu cầu hằng ngày (so sánh Es 50:4). 5-6  Hơn nữa, trái ngược với c.4, câu 5-6 chứa đựng ‘niềm vui bền bỉ và châu báu chắc chắn’, gói ghém trong sự kính sợ Đức Chúa Trời, mối tương quan giữa ông chủ thiên thượng với người phục vụ trên đất này là châu báu, chớ không phải chỉ là bí quyết để chiếm được châu báu (như ý mà bản NIV đã đem vào bản dịch). 7  So sánh 36:2-3,22. 8  Đường sá vắng hoe khiến chúng ta liên tưởng đến (qua những lời lẽ miêu tả khác) những nỗi khó khăn trước thời Đê-bô-ra (so sánh Cac 5:6), cuộc chiến thắng của bà đã lật ngược một tình trạng vô vọng trong thời đó.

(Es 33:10-16)  Câu trả lời đầy thách thức  Đức Chúa Trời không chỉ can thiệp xử lý kẻ thù (10-12) mà Ngài sẽ thiêu đốt sự gian ác sủa Si-ôn nữa (13-16).  14  Đám lửa thiêu nuốt trên một phương diện bày tỏ rằng Đức Chúa Trời không dung túng tội lỗi đã đành mà trên một phương diện khác, cũng tiêu biểu cho sự tự huỷ của tội nhân (11-12) bắt nguồn từ những thái độ chạy theo phù phiếm (11a) tiếp hợp với những thái độ hùng hổ bạo tàn (11b).  Về vấn đề tự huỷ này xin cũng xem Es 1:31 và 30:13 về một hình ảnh ví von khác.

Phần đối thoại kiểm nghiệm trong c. 14-16 gợi nhớ Thi 15 24:3-6.  Có ý kiến cho rằng các câu này đặt căn bản trên những câu hỏi trong nghi thức kiểm tra phần đạo đức trước khi tiếp nhận người thờ phượng tại các đền thờ (Xu 19:14-15). 15  ‘Thanh giáo’: thái độ triệt để từ bỏ công nhận rằng thói quen tiềmẩn, lời nói, ý tưởng và điều ghi khắc trong trí, tâm niệm trong lòng là những hạt giống đưa đẩy đến hành động.  Câu này ở thể phủ định là nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của ‘tấm lòng trong sạch’, chuẩn bị sẵn cho câu 17.

(Es 33:17-24)  Niềm vui sướng khi ý nguyện được thành  Tâm điểm của phân đoạn này là lời hứa khó quên trong câu 17a mà phần cuối câu 15 là phần giáo đầu thiết yếu (so sánh Mat 5:8 đối chiếu với tình trạng kinh hoảng trong Es 6:5).  Có những điều đầy hứa hẹn trong tương lai phát xuất từ tâm điểm này (đồng quê rộng dài mênh mông c.17b làm tươi tỉnh tầm nhìn vốn bị giới hạn lâu nay trong vòng vây và Si-ôn lại trở nên nơi hành hương thanh bình, c.20) trong khi đó hồi ức về những tay chuyên chế áp bức và những nỗi nhục nhã nay thuộc về quá khứ khiến cho hiện tại thêm phần lý thú (18-19) nhưng rồi tia nhìn xoay chiều hướng về chính mình Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao đầy năng lực (21-22).  Những danh vị đầy quyền lực quan án, đấng ban hành luật pháp, vua làm cơ sở vững chãi cho nền hoà bình an ổn này, dù rằng Giu-đa, cũng như chúng ta, thường không thích, không muốn phục tùng tôn trọng.

Hình ảnh về một thành bao quanh là một hệ thống phòng thủ (21) hữu hiệu hơn cả dòng Ni-lơ hoặc sông Ti-grơ (so sánh Na 3:7-8), vì đây là sông nước mênh mông, không một đoàn tàu chiến nào của quân thù có thể vượt qua, dẫn đến một hình ảnh ví von khác trong c.23 về sự phá sản của kẻ không tôn trọng luật pháp (dù họ là người ngoại bang hoặc ‘kẻ có tội ở tại Si-ôn’ so sánh c.14).  Dầu vậy, đây là chuyện tiện thể nói thêm vậy thôi, còn phân đoạn kết thúc với ý xác quyết một lần nữa về ân điển của Đức Chúa Trời trong sự tha thứ, chữa lành và giàu có sung túc (23b-24).

4. Thế giới vũ trụ bị đoán phạt (Es 34:1-17)

Trong khi chương 24-27 kết thúc loạt bài tiên tri về các nước với nỗi niềm trông chờ sự đoán phạt và sự cứu rỗi chung cuộc thì chương 34,35 cũng bỏ xa cuộc khủng hoảng A-si-ri.  Một điểm tương tự khác nữa là Ê-đôm bị nêu đích danh, như Mô-áp trong Es 25:10-12, là kẻ thù của Si-ôn để nhận chịu sự đoán phạt.  Sự đoán phạt này kết thúc cách đột ngột toàn bộ cảnh trạng về sự sụp đổ của vũ trụ như có mô tả trong c.4 và Kh 6:13-14.  Đây là năm Si-ôn được báo trả, được giải phóng. 5-7  Sau khi lan giáp vòng chân trời trận bão đầy sấm sét vần vũ ngay trên đầu Ê-đôm trong c.5 và trụ tại đó vì trong Kinh Thánh Ê-đôm tiêu biểu cho thành phần không thờ Đức Chúa Trời (so sánh He 12:16) và thành phần chuyên chế áp bức (so sánh Ap 1:10-14) là kẻ thù nghịch hội thánh và là thành phần trái ngược với hội thánh.  Hình ảnh ví von trong c.5-7 trình bày cảnh trạng một tiệc mừng khác đầy sát khí (so sánh Es 25:6), nặng mùi chém giết ẩn sau cuộc tế lễ và dùng những thành ngữ phổ cập để chứng tỏ rằng toàn dân, từ ‘những người trẻ măng’ đến thành phần dẫn đầu trong dân (7a) đến người thấp hèn kém cỏi nhất (6) đều bị huỷ diệt (so sánh Es 63:1-6).

8-17  Đất đai hoang phế trong mấy câu này gợi nhớ cả Sô-đôm lẫn Ba-bi-lôn với lưu hoàng trong c. 9-10 cùng những tàn tích làm nơi ở của thú rừng trong câu 11-15 (so sánh 13:19-22). 11b  Lộn lạo và trống không là tình trạng ‘vô hình’ và ‘trống không’ trong Sa 1:2.  Ở đây lẫn trong Gie 4:23 đều hàm ý về sự phá hỏng chính công trình của cuộc sáng tạo.  Thước thăng bằng và dây dọi được đề cập đến khiến cho cuộc đập phá này có tính cách chính xác , chuẩn mực đáng sợ chỉ phù hợp với mối quan tâm (16-17) sắp đặt cho mỗi tàn tích của các đền đài có quái vật thích hợp trụ trì. 14   Xem bình giải Es 13:21 về dê rừng.  Yêu quái ban đêm có thể là một loài sinh vật sống trong sa mạc hoặc tà ma (xem thêm Thánh Kinh Tự Điển từ liệu Lilith).  Điều đáng chú ý là sự đoán phạt trình bày ở đây cũng như ở những chỗ khác trong Kinh Thánh, là điều đáng sợ hơn là sự tiêu biến tình trạng tiêu biến chỉ là một dạng nhái lại, sao lại sự đoán phạt ghê gớm và dài lâu (17b).

5. Hoa nở rộ trong sa mạc (Es 35:1-10)

Chương này có phần rực rỡ diễm lệ nhờ, nếu chủ trương này được chấp nhận, khung cảnh một ốc đảo phì nhiêu nằm giữa vùng đất hoang trong tầm nhìn khải tượng của chương 34 với cuộc chiến, bệnh tật và sự dại dột trong lịch sử của chương 36-39.

Chủ đề là cuộc xuất hành trong tương lai, trên qui mô to tát hơn lần xuất hành thứ nhất. 1-2  Sa mạc được phủ thảm bằng hoa mùa xuân (nghệ tây, hoặc có lẽ là hoa thuỷ tiên, thay thế rất hợp lý cho hoa hồng theo cổ lệ), và phủ rợp với bóng cây xanh (sự vinh hiển của Li-ban) vì cớ Đức Chúa Trời sẽ đi qua vùng này (3-6) với mục đích được nêu trong c.4 (so sánh c.10): để đem dân của Ngài trở về.  He 12:12 xem c.3 vẫn còn giá trị đối với niềm hi vọng của người tin Chúa Giê-xu trong khi những công tác chữa lành trong các sách Phúc Âm công bố rằng kỷ nguyên mới trong c. 5-6 bắt đầu thì lời hứa đầy đủ trong c. 4b còn chờ ngày thành tựu trong tương lai (so sánh Es 61:2  Lu 4:19-21  IITe 1:7-10).

Những câu mở đầu gián tiếp mô tả sự xuất hiện của Đức Chúa Trời, phản ánh qua sự kiện sa mạc trổ hoa xuân, niềm hi vọng tăng vọt và bệnh tật được chữa lành cách lạ lùng (1-6a).  Tương tự như vậy câu 6b-10 mô tả cuộc hành trình về quê hương của dân sự Ngài.  Tại sa mạc xuất hiện những dòng suối, những đồng cỏ và những con lộ an toàn, rồi cuối cùng trong câu cuối chính những người hành hương xuất hiện, vừa đi đến Si-ôn vừa ca hát.

Như vậy lời tiên tri này đạt đỉnh cao nhất, một đỉnh cao ngự trị trên thời đại của tiên tri Ê-sai và báo trước lối văn cùng ý tưởng của các chương 40-66 (so sánh nội dung trích dẫn của c.10 trong Es 51:11) khi các chương này miêu tả cuộc xuất hành mới, sự ngự đến của chính mình Đức Chúa Trời, công tác đưa dân cư vào tái định cư ở Si-ôn, và niềm vui bất tận của thành phần được giải cứu.

10. NHỮNG ĐỢT THỬ THÁCH QUAN TRỌNG NHẤT DÀNH CHO VUA Ê-XÊ-CHIA (Es 36:1-39:8)

Trong bốn chương này, tình hình chính trị, vốn ngự trị trên toàn bộ thời gian tiên tri Ê-sai thi hành chức vụ đạt đỉnh căng nhất, lại thêm phần căng vì hai cuộc thử thách nhắm vào đức tin và lòng ngay thẳng trung thực của vua dẫn đến hậu quả có tầm ảnh hưởng rộng rãi. 

Ngoài bài thi thiên của vua Ê-xê-chia ra, là bài chỉ được chép trong 38:9-20 mà thôi, thì phần còn lại của các chương này giống hệt IIVua 18:1-20:21 hầu như từng lời, từng chữ một.

1. A-si-ri tấn công dữ dội (Es 36:1-37:38)

Es 36:1-22. 1-12 Xin xem phần bình giải IIVua 18:13-19:37 để biết thêm chi tiết.  Tiên tri Ê-sai bỏ qua nội dung trong 18:14-16 và một phần của câu 17a.

Nhìn chung trong chương 36, phần đối thoại trong câu 4-10, 13-20 hầu như hoàn toàn nhằm đả phá, đạp đổ.  Ở đây chúng ta thấy kẻ cám dỗ khéo léo méo mó sự thật, giăng mắc dây gai vào mũi tên châm biếm bằng một vài dữ kiện không có câu trả lời thí dụ sự xảo trá của Ai Cập (6) và sự thất bại của các thần (19), dùng lời chế nhạo (8), đe doạ (12b) và dụ dỗ phỉnh phờ (16-17), cùng những câu nói xuyên tạc về phương diện thần học - lý giải sai về sự cải cách của vua Ê-xê-chia (7), trích dẫn những điều tiên tri Ê-sai giảng dạy (10, so sánh Es 10:6,12) rồi từ những tà đạo rút ra những kết luận tai hại (18-20).  Vua ra lịnh là chớ đáp lời ông ta (21) vì vua biết rằng tác giả những câu nói đó chỉ lo đấu tranh giành phần thắng chớ không chịu công nhận sự thật.

Es 37:1-38. Chương 37 (xem phần bình giải đầy đủ hơn về IIVua 19:1-35) là một cách đối phó kiểu mẫu đối với lời doạ nạt, ngăm đe.  Vua Ê-xê-chia tỏ ra vững tâm bền chí không phải vì cớ vua lạc quan một cách mù quáng chứng cớ là vua mặc bao gai (1).  Vua xin tiên tri Ê-sai cầu nguyện (4) cho thấy vua tin tưởng ở đâu, và vua nói ví von về sự sinh đẻ (3) chứng tỏ vua là người có khải tượng, chí hướng của vua không phải đóng khung trong nề nếp cũ mà phấn đấu đạt đến cái mới (cũng nên ghi nhận Es 36:7 là bằng chứng về những biện pháp cải tổ rất can đảm của vua).  Vua cũng đề cập đến dân còn sót lại (4) chứng tỏ là vua ghi nhớ những điều tiên tri Ê-sai giảng dạy (so sánh 10:20-23).  Khi San-chê-ríp lại tung ra một đòn chiến tranh tâm lý nữa (9-13), vua Ê-xê-chia có đủ khôn ngoan sáng suốt để coi thường lời đe doạ mà cũng không nản lòng buông xuôi.  Với việc trải bức thư ra trước mặt Đức Chúa Trời (14) vua biểu thị một cách đầy đủ về sự cầu nguyện những lời cầu nguyện chân thành của vua cũng diễn tả lại ý nghĩa của hành động đó nữa.  Tương tự như trong Thi Thiên, trong khi vua cầu nguyện mọi khía cạnh của hoàn cảnh trở nên sáng tỏ (19) và động lực trong vua dâng lên đến mức độ cao nhất (20). 

Trong những câu trả lời liên tiếp của tiên tri Ê-sai (37:5-7,21-35) chúng ta không thấy có một lời oán hận nào của cá nhân tiên tri Ê-sai đối với những chính trị gia đã đeo đuổi một chính sách dẫn đến thảm hoạ này (so sánh 28:14-15  30:1-5 về vấn đề Ê-li-a-kim và Sép-na (2) (22:15-25).  Bài ca khải hoàn đầy hình ảnh sống động trong c.22-29 đáp lại lời thách thức của San-chê-ríp là:  ‘Các người nương cậy ai?’ (36:5) với câu hỏi ‘Ngươi đã lăng mạ ai?’ (23) và chế nhạo ông ta về sự thể ông ta không hiểu ý nghĩa đằng sau nhiệm vụ của ông (26 chú ý đến chi tiết tiên tri Ê-sai nhấn mạnh: Đức Chúa Trời ấn định từ lâu đời về trước xem phần bình giải 22:11).

Toàn bộ câu chuyện chứng tỏ rằng chính những sự thành công đã từng nuôi dưỡng tánh ngạo mạn nơi con người (trong mọi thời đại) cũng tuyên rao, sau khi mọi chuyện đã rõ trắng đen, quyền hạn chủ tể vững vàng của Đức Chúa Trời.

2. Vua Ê-xê-chia lâm bịnh (Es 38:1-22)

Xin xem phần bình giải IIVua 20:1-11 về ý nghĩa của Es 38:1-8,21-22.

(Es 38:9-20)  Lời than thở của vua Ê--chia  Nội dung những câu này tương tự như những lời kêu than của Gióp (Giop 7:1-21) và một số thi thiên (thí dụ Thi 88:1-18), đặc biệt là với những thi thiên biến than vãn thành ca ngợi.  Câu 20 dùng số nhiều thay số ít gợi ý là hội chúng thờ phượng có sử dụng bài thi thiên này (25:22  51:18-19).

10  Sự chết (nghĩa đen Âm phủ cũng xem bình giải c.18 và Es 14:9) ở đây được thi vị hoá qua hình ảnh một thành trì hoặc một nhà tù, một cộng đồng trong c.18, và một con quái vật cắn nuốt con mồi trong 5:14.  12  Ý chính nơi đây là tính cách dứt khoát của thợ dệt đối với công trình của mình còn trong Giop 7:6 ý chính nằm trong chi tiết con thoi của thợ dệt bay nhanh.

13-15a  Những câu này toát ra vẻ kinh ngạc như Gióp, theo bản năng vua Ê-xê-chia định cầu cứu Đức Chúa Trời nhưng ông khựng lại khi chợt nghĩ ra rằng hoạn nạn do chính Chúa đưa đến đấy thôi (15a).  Nhưng nếu điều này khiến cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn, thì cũng chính điều này khởi sự tháo gỡ vấn đề, vì chỉ có một ý chỉ trọn vẹn nắm quyền điều hành tối cao.  Xem phần bình giải về c.17-20 dưới đây.

15-16  Chúng ta không dám chắc về ý nghĩa của những câu này vì các bản dịch đều khác nhau.  Trong câu 15b, động từ trong nguyên ngữ Hi Bá Lai hàm ý về một cuộc diễu hành (so sánh Thi 42:4) có lẽ nghĩa là ‘tôi sẽ bước đi trong kinh ngạc’.  Không rõ từ nhờ đó trong c. 16 chỉ về điều gì, và cấu trúc vụng về của câu này trong nguyên ngữ Hi Bá Lai gợi ý bản văn bị hư hỏng nhưng c.15 gợi ý là vua chấp nhận ý chỉ của Đức Chúa Trời trong việc sửa phạt để ban sự sống (so sánh Thi 119:50,67,71).

17-20  Trong mấy câu này tình yêu thương của Đức Chúa Trời ló dạng và sáng tỏ, bắt đầu với câu xác tín đầu tiên là sự rất cay đắng của tôi đã trở nên sự bình an, qua đến câu đầy ấn tượng với nghĩa đen là: ‘Chúa đã yêu thương linh hồn tôi từ hầm hư nát’ (17b) đến niềm tin chắc về sự tha thứ (17c).  Cách dùng từ ‘Âm phủ’ (hầm mộ) làm đồng nghĩa  với cái chết là chìa khóa để hiểu cách dùng trong câu 18,19, và cách dùng của từ đó trong Kinh Thánh Cựu Ước nói chung, Kinh Thánh Cựu Ước gói ghém trong từ này tất cả những phương diện tiêu cực của sự chết: không còn được cùng với hội chúng ca ngợi Đức Chúa Trời, mất quyền hành và địa vị, bị lu mờ và mất hút vào quá khứ, trở về với cát bụi.  Song song, căn cứ vào câu 17, thì rõ ràng vua Ê-xê-chia cho rằng mình sẽ chết mà không được bảo đảm rằng vua được tha thứ tội lỗi, và trong bối cảnh này vua quan niệm rằng sau cái chết là một cuộc sống không có sự cảm tạ, không có niềm vui.  Trong khi đó Kinh Thánh Cựu Ước cũng có mô tả những khía cạnh tích cực với những lời lẽ đặc biệt: thí dụ Đức Chúa Trời cất đi (Sa 5:24  IIVua  2:9  Thi 49:15), và ở với Ngài (thí dụ 73:23 so sánh 139:18 và 17:15.  So sánh trong Es 26:19, ‘sống... chổi dậy... thức dậy’ và Da 12:2).  Nhưng không có một quan điểm tổng hợp nào cả.  Vua Ê-xê-chia có thể vui mừng (19-20) với những lời hứa chứa nhiều điều để mà hi vọng (IIVua 20:4-6).  Phần còn lại chẳng bao lâu vua sẽ rõ (ICo 2:9).

3. Phái bộ từ Ba-bi-lôn (Es 39:1-8)

Xin xem phần bình giải IIVua 20:12-19 về những lời bàn chi tiết.

Đức tin của vua Ê-xê-chia chịu đựng và chống trả có hiệu quả những đợt thử thách nặng nhất, lại tan tành khi gặp lời dua nịnh ngọt ngào (chú ý giọng điệu phấn khởi trong phần tường thuật của vua trong c. 3-4).  Thế là nhờ tình bằng hữu thế gian chiếm được một nạn nhân nữa.  Chúng ta biết khá đủ về Mê-rô-đác Ba-la-đan để có thể gợi ý là mưu phản nghịch chống A-si-ri âm ỷ từ lâu nay đến lúc nảy nở qua chuyến viếng thăm trá hình này.  Nhưng Kinh Thánh không một lời nói về chuyện đó, và chỉ lên án vua Ê-xê-chia về thái độ tự hào, tự mãn đối với của cải và đối với sự ưu ái của con người.

Tội bất trung phải chịu cái giá rất cao (5-7).  Khi nghe sự hình phạt không xảy đến trong đời của mình vua Ê-xê-chia tỏ ra an tâm (8) còn tiên tri Ê-sai thì không.  Chắc chắn là ông mang gánh nặng này về nhà, ngày đêm chịu đựng sức ép của vấn đề đến nỗi khi Đức Chúa Trời lại ban cho ông sứ điệp về dân tộc của mình thì xem như Ngài đã phán bảo với một người đã sống lâu ngày dài tháng tại Ba-bi-lôn (6-7) cho nên ông có thể ‘nói thấu tâm can’ (so sánh 40:2) dân chúng thuộc thế hệ sau này mới ra đời.

11. ĐÊM SÂU Ở BA-BY-LÔN (Es 40:1-48:22)

Bất chấp quan điểm của chúng ta về mối tương quan giữa chương 40-48 với phần dẫn nhập đồ sộ gồm chương 1-39 (xem phần Dẫn Nhập), với Es 40:1 chúng ta bước ra khỏi tình hình thế giới của vua Ê-xê-chia, là một thế giới sắp sửa chìm lỉm trong tình cảnh đã được báo trước trong 39:5-8 và vua Ê-xê-chia tỏ ra hài lòng khi biết rằng chuyện chỉ xảy ra sau khi thế hệ của vua qua đi.  Không có một lời bàn nào liên quan đến một thế kỷ rưỡi kế tiếp vua, coi như chúng ta thức giấc vào cuối thời gian xảy ra thảm hoạ, nóng lòng trông cho giai đoạn lưu đày sớm kết thúc.  Trong chương 40-48 ý tưởng giải phóng lãng đãng trôi nổi trong không khí lời hứa về một cuộc xuất hành mới, với Đức Chúa Trời dẫn đầu không ngớt vang vọng trên thế giới xuất hiện một nhân vật chuyên chiếm lĩnh các quốc gia, kết cuộc chính Si-ru chớ chẳng ai khác, là người bẻ gãy Ba-bi-lôn rồi sách triển khai một chủ đề mới trình bày niềm vinh dự khi được Kinh Thánh làm một người phục vụ và làm ánh sáng cho các dân tộc.  Tất cả những điều này được trình bày với giọng hùng hồn trong tinh thần quật khởi hoan hỉ, với một văn phong thỉnh thoảng mới được sử dụng trong phần trước (35:1-10  37:26-27), nhưng giờ đây tác giả dùng lối văn này suốt, nhằm tạo cho những chương còn lại một sắc thái đặc thù.

1. Đức Chúa Trời mà dân tộc chờ mong lâu nay (Es 40:1-11)

(Es 40:1-2) Giọng nói nhẹ nhàng Từ  an ủi ở đây được hiểu theo ý nghĩa quen thuộc thông thường, chớ không phải hiểu theo ý trong tiếng Anh cổ là ‘củng cố sức lực’.  Ý nghĩa này có cùng một sắc thái với tính cách hiền dịu của phụ nữ trong 66:13, câu 2 diễn giải rộng hơn ý nghĩa này với từ nói cho thấu lòng (nghĩa đen) : ‘nói với tấm lòng’, một câu nói thường được dùng khi muốn tạo ra một niềm tin tưởng chắc chắn hoặc muốn chinh phục lại cảm tình của người khác (Sa 50:21  Cac 19:3  IISa 19:7  Os 2:14).  Dân ta và Giê-ru-sa-lem nổi bật trong những chương này, đứng riêng lẻ cho đến chừng cố đô đón nhận trở lại dân cư của mình (so sánh chương 54).

Có thể hiểu gánh chịu tai hoạ gấp đôi vì cớ mọi tội lỗi của mình theo ý dư dật vô số trong Es 61:7  Xa 9:12 (hai chỗ này dùng một từ khác để diễn tả ý ‘gấp đôi’) hoặc, theo ý hình phạt như trong Le 26:18,43  Kh 18:6 như chủ trươn của đa số các nhà giải kinh.  Nếu hiểu theo ý thứ nhất thì từ này diễn tả ân sủng làm căn bản trong những chương này, nhưng nếu hiểu theo ý thứ hai thì không cần cưỡng giải đến mức ngụ ý là phải chịu hoạn nạn để chiếm lĩnh sự giải cứu, chỉ cần nhấn mạnh một điều chắc chắn là Giê-ru-sa-lem đã đền tội quá mức ấn định trong bản án.  Nhân tiện cũng cần biết rằng vẫn có khả năng hiểu từ gấp đôi ở đây là ‘tương đương’, ‘tương ứng’.

(Es 40:3-5)  Lời rao báo về vị sứ giả  Tuyến đường diễu hành khổng lồ (với toàn bộ nhân loại tham gia, c.5) dư sức biến đám rước lễ của dân ngoại đạo thành bé tí hon.  Từ sa mạc có ý nghĩa trong hai phương diện, vừa là một tiêu biểu cho mọi chướng ngại vật phải chịu khắc phục trước bước tiến của nhà vua (4 xem chương 35) vừa là một mốc nhắc nhở về cuộc xuất hành lần thứ nhất.  Os 2:14 xét về phương diện xơ xác khắc khổ của sa mạc, xem sa mạc là chỗ ăn năn và phục hồi ông Giăng Báp-tít tiên tri qua hình bóng và tiêu biểu, đã dùng sa mạc theo nghĩa đen trong công tác khiến người ta ăn năn và phục hồi họ (so sánh Mat 3:1-3).  Nhưng khi Đức Chúa Trời đến (so sánh 3:13-17) và cuộc xuất hành mà Ngài thực hiện (Lu 9:31) sẽ diễn ra dưới một hình thức hoàn toàn bất ngờ.

(Es 40:6-8) Lời của người truyền đạo 6  Câu này giới thiệu vị tiên tri với trách nhiệm của ông (bản dịch RSV đọc là ‘và tôi nói’ giữ nguyên được các phụ âm Hi Bá Lai nên được nhiều người tán thành).  Mọi người (nghĩa đen ‘mọi xác thịt’) vang vọng từ toàn thể nhân loại trong câu 5 nhưng xét theo cảnh trạng trong sự hiện diện đáng sợ của Đức Chúa Trời. 8  Nếu không có lời kết quan trọng trong câu 8 chắc khúc Kinh Thánh này cũng chỉ có tính cách mơ ước suông như Giop 14:1-12, nhưng với lời kết này khúc Kinh Thánh củng cố cho sự giảng dạy không mệt mỏi của tiên tri Ê-sai về đức tin (Es 7:9  31:3).  IPhi 1:23-25 trích dẫn nguyên vẹn ý câu này.  Từ lời Chúa trong hình thức cuối cùng là Phúc Âm, không còn là một sự trái ngược với tình trạng chóng qua của chúng ta mà là một phương thuốc cứu chữa cho tình trạng đó.  So sánh IGi 2:17.

(Es 40:9-11)  Tin rao của anh 9  Ai là người rao Tin Lành là một từ duy nhất trong nguyên ngữ Hi Bá Lai, ‘truyền đạo’ trong tiếng Hi Lạp là một từ tương đương (không phải một từ chuyên biệt).  Ở đây từ này thuộc giống cái tương ứng với Si-ôn, và vì vậy có lẽ Si-ôn là vị sứ giả.  Trong Es 41:27  52:7 Si-ôn là người nghe.

2. Đức Chúa Trời là Đấng vô song (Es 40:12-31)

Bài thơ tuyệt mỹ này trách cứ chúng ta về những tư tưởng nhỏ nhoi và đức tin thấp thỏi, tương tự như khi Đức Chúa Trời thách thức Gióp (Giop 38:1-41:38) trong phần trình bày Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo (chương 12-20) và sắp xếp an bài (21-26) vũ trụ, vũ trụ dù bao la cũng trở nên nhỏ bé trong sự hiện diện của Ngài.  Mục tiêu của khúc Kinh Thánh này là c.31, những sự tưởng tượng của con người (18) và những mối nghi ngờ (27) nhường chỗ cho thái độ trông đợi Chúa cách khiêm nhường, đó là thái độ mà toàn bộ sách này khuyến giục chúng ta phải có (so sánh Es 26:8 xem phần bình giải 7:1-9).

(Es 40:12-20) Đấng Sáng Tạo  Vật chất (12), trí khôn (13-14) và những sinh vật (15-17) đều được sắp xếp vào vị trí của mình trước mặt Đấng làm nguồn gốc căn nguyên của mọi sự, mọi sự đều được xét theo tầm nhìn của Ngài.  Làm như vậy không phải là để tước đi ý nghĩa của mọi sự vật, trái lại nhằm khiến cho mọi sự vật có ý nghĩa bắt nguồn từ một mình Ngài mà thôi (so sánh Ch 8:22-31  Ro 11:34).  Một Đấng Sáng Tạo cỡ đó chẳng cần đến lời khuyên bộp chộp của chúng ta, cũng không hề bất lực như chúng ta!  Hình ảnh của chúng ta qua tầm nhìn của Ngài khiến cho hình ảnh của Đức Chúa Trời qua tầm nhìn của chúng ta (18-20) hoá ra vô lý gấp đôi. Es 44:9-20  46:1-7  phân tích những nỗ lực thảm hại của người thờ hình tượng còn Ro 1:18-23 giãi bày tính ngang bướng, ngoan cố dẫn đến tình trạng mù quáng.

(Es 40:21-26)  Đấng sắp xếp an bài  Phần này tiếp tục lối nói ví sánh về những điều to lớn kếch sù và chúng ta cần nhận định các chi tiết trên căn bản văn thơ chớ không phải khoa học (thí dụ c.22b các từng trời được ví như cái màn gợi ý về độ thưa mỏng so sánh với hình ảnh ví sánh trong Thi 102:26  104:2). 23-24  Các câu này bàn về sự cai trị bấp bênh và ngắn ngủi của giới thống trị đưa lẽ thật tổng quát trong c.6-8 đến gần tình cảnh thực tế đặc biệt của dân bị lưu dày và c. 26 rút ra bài học rất chí lý từ quĩ đạo của các vì tinh tú: sự chính xác chứng tỏ có (chớ không phải là không có) sự kiểm soát của Đức Chúa Trời.  Trong phân đoạn kết lại triển khai ý tưởng này nữa.

(Es 40:27-31)  Sựcứu giúp hết sức thực tại 27  Căn cứ vào tính cách tối cao tối đại của Đức Chúa Trời có người kết luận sai lầm rằng Đức Chúa Trời quá vĩ đại nên Ngài không còn quan tâm chi cả.  Kết luận đúng là Ngài quá vĩ đại nên Ngài không thất bại (28), không bao giờ có việc nào chế ngự được Ngài.  Nhưng c.29-31 nói về vấn đề chuyển quyền năng mà Ngài thi thố thành quyền năng mà Ngài ban cho chúng ta mà chúng ta có thể kinh nghiệm nhờ đức tin bày tỏ qua từ hi vọng (hoặc ‘trông đợi’, so sánh bình giải Es 25:9).  Như vậy điều khiến con người dứt khoát phải nhớ đến tình trạng mong manh của mình (30) là nhìn tới phía trước cái nhìn đó sẽ dọn đường dẫn đến lòng tin cậy và những nguồn năng lực siêu nhiên.  Sức mới (31) theo nghĩa đen là ‘thay đổi sức mạnh’ y như người ta thay áo quần mới mẻ sạch sẽ hoặc đổi một đồ vật cũ lấy cái mới vậy.  Ba hình ảnh làm ẩn dụ cuối cùng nói đến chuyện thực hiện một việc bất khả thi về mặt thiên nhiên, và khắc phục tình trạng xuống sức thông thường tự nhiên trong hai trường hợp rồi kết thúc với ý tiến bộ rõ ràng.

3. Đức Chúa Trời và lịch sử (Es 41:1-29)

(Es 41:1-7)  Đức Chúa Trời thách thức các quốc gia 1  Lời kêu gọi giữ im lặng mở màn cho cảnh tượng ẩn dụ về một phiên toà, tại phiên toà này Đức Chúa Trời sẽ đối diện với thế giới vô đạo qua một câu hỏi thử nghiệm.  (Lời kêu gọi hãy trang bị bằng sức mới có vẻ như vô tình lập lại ý trong Es 40:31, nhưng cũng có thể là một lời cảnh báo rằng buổi hội kiến sẽ rất kinh khủng).

2  Điểm chủ chốt là bước tiến đáng báo động của một nhân vật từ phương tây, chương 44:28 xác định đó là Si-ru.  Ông được triệu đến trong sự công nghĩa tức là vì mục đích chính đáng của Đức Chúa Trời trong sự xét đoán và giải cứu.  (Trong những chương này ‘sự công nghĩa’ có nghĩa năng động thường đi đôi với ‘sự cứu chuộc’, thí dụ 45:8  56:1).  Kề chân mình nghĩa đen ‘đến bên chân mình’, theo sát gót (so sánh Cac 4:10 bản RSV), vì Tổng tư lệnh thực sự lại là Gia-vê, mà họ không công nhận (so sánh Es 45:2,4).

4-7  Lời tuyên bố đầy uy quyền trong c. 4 là tiếng nói duy nhất vang lên cách rõ ràng ngự trị trên tình trạng hỗn độn kinh hãi trước khi Si-ru tới.  Trong khi giới cầm quyền lo củng cố tinh thần (5-6a), giới thợ thủ công lo chế tạo ‘một loạt các thần cứng cáp’, câu 4 đóng khung toàn cảnh trạng này trong chương trình và hành động lâu dài của Gia-vê là Đấng Sáng Tạo.  Chương 44:24-45:8 sẽ trình bày rõ ràng đầy đủ.

(Es 41:8-20) Tôi tớ của Đức Chúa Trời được trấn an  Giọng nói bỗng trở nên ấm áp trong câu Nhưng ngươi... và nêu ra tên của vài nhân vật.  Một chuỗi dài những lời hứa với động từ ở thì tương lai trong câu 10b-20 đặc biệt được neo vào những sự kiện hiện tại và trong quá khứ: một lời cam kết về mối tương quan (8,10a) và một lời kêu gọi và sự chọn lựa dứt khoát (9).  Từ tôi tớ sẽ ghi dấu ấn riêng của mình trên những chương kế tiếp, càng nhấn mạnh hơn trên ý tự hiến, tăng dần đến cao điểm trong chương 53.  Dầu vậy, ở đây, từ này chỉ nhằm tập trung mọi chú ý vào sự bảo vệ của Chủ, sự bảo vệ này được mô tả là sức mạnh của Chủ ban cho đủ bảo đảm về nhiều mặt (10), kẻ thù bị càn quét (11-13) thắng lợi trong nghịch cảnh (14-16 so sánh Mat 21:21) và nguồn cung ứng không hề cạn (17-20).  Những danh hiệu của Đức Chúa Trời: Đấng Thánh Khiết của Y-sơ-ra-ên (14,16,20 xem phần bình giải Es 1:2-4), Đấng Cứu Chuộc (14, tức là người bà con gần nhất bảo hộ ngươi, so sánh Le 25:25), và Vua của Gia-cốp (21) đóng dấu ấn cho sự bảo vệ này.

Mọi chuyện này được trình bày tron một thực tế là dân Y-sơ-ra-ên đang sợ hãi (thí dụ c. 10-11) và nhỏ nhoi yếm thế (thí dụ c.14), dầu vậy đây là khởi điểm thích hợp để nhận được ân sủng của Đức Chúa Trời. 15-16  Trái lại, xe cán, xe đập lúa là một nông cụ chắc chắn, được đóng bằng những tấm gỗ nặng, nêm bằng đinh đá người ta cho xe chạy trên đống lúa đã gặt để tách hạt khỏi cộng rơm, sau đó người ta xúc từng mớ rơm tung lên cao cho rơm rơi xuống tạt qua một bên còn thóc rơi xuống một bên (16).  Chắc hẳn hình ảnh ví sánh to tát như vậy không xứng với ‘tầm cỡ bé nhỏ’ trong thời hậu lưu đày, dầu vậy hình ảnh này không đề cao quá đáng ảnh hưởng của dân sự Đức Chúa Trời trên thế giới ngày xưa cũng như trong tương lai.

(Es 41:21-29) Đức Chúa Trời lại thách thức  Giọng điệu ở đây tương tự như trong c.1-7, nhưng diễn giả nói với chính các thần (23). 22-24  Câu 22 cáo giác các thần là ngay cả những biến cố trong hiện tại các thần cũng không thể hiểu và diễn dịch ý nghĩa chớ đừng nói đến chuyện tiên đoán tương lai (xem bình giải c.26-27).  Một khi các thần chẳng có một khả năng nào cả (23b) thì người ta phải kết luận là họ không có thật (24-29).  Từ gớm ghiếc (24) bỗng nhiên biến giọng điệu châm chọc thành ra nghiêm trọng cực độ.  Từ này thường được dùng để nói về những nghi lễ của ngoại giáo hoặc mô tả hình tượng (so sánh Es 44:19), giờ đây từ được dùng để mô tả người thờ hình tượng chứng tỏ mức sa đoạ khi người ta quyết định chọn sự giả trá làm đối tượng cho lòng trung thành tôn kính của mình.  Ro 1:18-32 luận giải tiếp vấn đề này.

Câu 25-29 bàn về nội dung tương tự như câu 2-4 nhưng thêm một số chi tiết.  25  Ở đây đề cập đến cả phía bắc lẫn phía đông (so sánh c.2), xác định rõ hơn về những cuộc chinh chiến của Si-ru với đỉnh cao là đế quốc Ba-bi-lôn từ vịnh Ba-tư đến biển Cát-biên và Biển Đen.  Cần hiểu ý nghĩa của câu nhận xét người kêu cầu danh ta từ phía mặt trời mọc chung với ý của Es 45:4 nghĩa là có thể Si-ru kêu cầu danh của Gia-vê (so sánh Exo 1:2-3) nhưng vua không bỏ ngoại giáo trở lại tin và thờ một mình Đức Chúa Trời.  Các bản khắc kỷ niệm của vua xác chứng điều này.  Trong chiến thuật tâm lý ngoại giao vua cho khắc vào các bản đó rằng vua chiến thắng là nhờ các thần của các dân tộc bản xứ (thí dụ ở Ba-bi-lôn nhờ thần Marduk, nhưng ở U-rơ thì nhở thần Sin, là thần mặt trăng).

26-29  Các câu này nặng về phương diện tiên báo nhưng cũng đập thế giới ngoại bang ngay điểm nhạy cảm nhất, vì lẽ bói toán là mối quan tâm hàng đầu của họ (so sánh Es 47:13), Croesus của Lydia đã trả giá rất đắt đối với lời tiên đoán mơ hồ trong quẻ Delphic về tương lai cuộc chiến của ông chống lại Si-ru.  (Quẻ báo rằng ông sẽ triệt hạ một đế quốc lớn, thế là ông khai chiến, rốt cuộc chính đế quốc của ông bị huỷ diệt tan tành).  Đối với lời thách thức tiên đoán tương lai như Gia-vê và đối với ảnh hưởng của lời thách thức đó trên quyền tác giả của những chương này xin xem phần Dẫn nhập.

4. Ánh sáng cho các dân tộc (Es 42:1-17)

(Es 42:1-9)  Bài ca thứ nhất củangười phục vụ  Tiếp theo sau những chủ đề sôi nổi trong chương 40 và 41 bầu không khí bỗng nhiên chùng xuống trong tĩnh lặng.  Chuyển biến này thường được ví với tiếng nói nhỏ nhẹ êm dịu trong IVua 19:12.  Trong chương này có đến bốn, năm lần một phân đoạn lẻ loi lặng lẽ xuất hiện mô tả người phục vụ là ‘con người sống cho người khác’, dần dà nghiêng nặng qua tinh thần chịu khổ trong Es 49:1-13  50:4-9  52:13-53:12, kế tiếp là một phân đoạn tràn đầy hân hoan hớn hở liệt kê những phước hạnh mà ‘người phục vụ’ đã ban phát ở cuối loạt bài ca này.

Người phục vụ là người thay thế cho mọi người, nhưng câu 1 giới thiệu ‘người phục vụ’ là đầy tớ ta và kẻ ta chọn lựa có liên quan mật thiết tới ‘Y-sơ-ra-ên’ trong 41:8-10.  Tuy nhiên, việc Đức Chúa Trời đặt thần của Ngài trên người và việc người sẽ lấy lẽ thật mà tỏ ra sự công bình (1,3,4) hoặc niềm tin thật, là những nét đặc thù của vua thuộc dòng Đa-vít trong 11:1-5 và 32:1-8 (so sánh sự thể khúc Kinh Thánh này và Thi 2:7 được đan xen vào nhau trong Mat 3:17 khi Chúa Giê-xu nhận báp-tem).  Như vậy, một cá nhân bắt đầu lộ ra trên đại chúng Y-sơ-ra-ên.  Phần kết của chương này (18-25) tích cực tô đậm hình ảnh này.

2-7  Người phục vụ vừa hiền hoà, khiêm tốn (2) vừa mềm mỏng đối với người yếu đuối và kém cỏi (3) lại không bị hoen ố vì bất cứ một điểm yếu đuối nào của riêng mình: trong nguyên bản Hi Bá Lai từ mòn mỏi và ngã lòng (4) cố ý dùng lại từ đã được dùng để chỉ về ý còn hơi cháy (âm ỉ cháy) và bị giập (3).  Mat 12:17-21 nhận diện chân dung này, còn c.4c, với cái nhìn lướt qua một thế giới đợi chờ xác định tính cách của sứ mạng của ‘người tôi tớ’.  Ánh sáng cho dân ngoại (6) là một trong những nét xưa nhất mô tả về Chúa Giê-xu (so sánh Lu 2:32) và là một trong những danh hiệu nói lên chức năng của hội thánh khi hình thành (so sánh Cong 13:47).  Tuy nhiên dù hội thánh được góp phần giải phóng người mù và người bị giam cầm (7 so sánh với ‘người tôi tớ của Chúa’ được mô tả trong IITi 2:24-26), chỉ có giáo chủ của hội thánh mới được mô tả là giao ước của Đức Chúa Trời, kết hợp Đức Chúa Trời và dân của Ngài (6 so sánh Es 49:8) trong chính mình Ngài (so sánh Mat 26:28).

8-9  Hai câu này kết hình ảnh Người phục vụ với hai chủ đề tương ứng của chương 40 và chương 41.  Vì tinh thần dốc lòng bảo toàn sự vinh hiển thật của Gia-vê, sẽ chính yếu được bộc lộ qua việc Ngài chiếu ánh sáng của mình ra trên toàn cầu.  Đây là khâu sắp tới trong phương án của Ngài, sự mới nay được rao ra, cũng là điều đã được tiết lộ trong khung đại cương ‘từ lúc ban đầu’ (Es 41:26-27 so sánh Sa 12:1-3).

(Es 42:10-12)  Thế giới hoan công nhận Chúa của mình  Sắc thái đặc thù của các chương này là lời ca tiếng hát bùng lên vang dội (so sánh Es 44:23  49:13  52:9...) như trong chương 24-27 và rất giống với Thi 93:1-5  95:1-100:5 về mặt chủ đề và lời lẽ. 10  So sánh c. 10a với Thi 96:1 98:1 và so sánh c.10b với 107:23-24.  Ở đây chẳng những thiên nhiên mà toàn thể các dân tộc đột nhiên lớn tiếng ca hát bộc lộ nỗi vui mừng đối với sự giải phóng vừa được kể lại. 11  Địch thủ quyết liệt của Y-sơ-ra-ên là Kê-đa (so sánh 120:5-7) và Sê-la của người Ê-đôm (được nhắc đến lần trước trong bối cảnh đoán phạt, Es 21:16-17  16:1) xác chứng rằng ân điển của Đức Chúa Trời trải rộng bao la.  Tuy vậy xin xem tiếp phân đoạn sau.

(Es 42:13-17)  Đức Chúa Trời bày tỏ lòng hăng say nồng nhiệt của Ngài  Những hình ảnh ví sánh đầy tính cách tàn bạo như người chiến binh (13) và đầy tính cách sôi động như phụ nữ sanh nở (14), loại trừ mọi lý lẽ cho rằng ân điển đơn giản chỉ là sự biểu thị cảm xúc của Đức Chúa Trời vào những lúc Ngài trầm lắng hiền hoà.  Đúng ra, cơn thạnh nộ của Ngài (13) đối với tội ác và lòng hăng hái xử lý tội ác lâu nay cứ phải kiềm chế lại (14 so sánh Lu 12:50) cùng lòng ân cần âu yếm (16a) và lòng thành tín kiên trì của Ngài (16b) đối với những nạn nhân của tội ác là động lực đằng sau ân điển.  Sự cứu rỗi chỉ đến qua sự phán xét và không dành cho kẻ ngoan cố không chịu ăn năn hối cải (17).  So sánh Es 63:1-6, là phần bổ túc nảy lửa cho chương 53.

5. Người phục vụ thiếu lòng kiên trì và Đức Chúa Trời không hề thay đổi (Es 42:18-48:22)

Trong những chương này ân điển của Đức Chúa Trời và tính ương ngạnh ngoan cố nơi dân của Ngài liên tục đan xen nhau.  Dân của Ngài càng quyết tâm tự hại thì Ngài càng kiên trì hơn nữa.  Chương  43:21 cô đọng rất thâm thuý tính cách áp đảo và kiên trì của cuộc đối đầu này.

(Es 42:18-25). Lãnh đạo đui của kẻ lòa Ở đây mô tả một bức tranh chua chát trái ngược với hình ảnh của người phục vụ chân thật (1-9) của thế giới đang mong đợi (10-12) và của Đấng Cứu Chuộc đầy hăng hái nồng nhiệt (13-17).  Bức tranh này mô tả rất sát thực trạng của hội thánh vì hội thánh triền miên không sống đúng mức với sự kêu gọi của mình.  Trong sự hiện thấy đầu tiên của ông Ê-sai nhìn mà không thấy, nghe mà không nhận biết (so sánh c.18-20) là tín hiệu nguy hiểm (so sánh 6:10-13), ở đây đó là tình trạng tàn phế tật nguyền.  Dân Y-sơ-ra-ên rơi vào tình trạng vô dụng của một người đưa tin kém cỏi không đầy đủ, không rõ ràng (so sánh IISa 18:29), và họ cố tình làm như vậy: họ là kẻ thừa kế trong giao ước (19b xem chú giải sau đây) họ có khả năng (20) và có sự hiểu biết cụ thể (21) về ý muốn của Đức Chúa Trời và Ngài vẫn kêu gọi họ chăm chú lắng nghe (23).  Ngay cả tình cảnh thảm thương hiện nay cũng nhằm để dạy dỗ họ chớ không phải để huỷ diệt (25b) nhưng cho đến nay mọi lời dạy dỗ kể như nước đổ đầu vịt.

Chú giải.  19  Kẻ đã hoà thuận cùng ta (so sánh Thi 7:4) là một câu ở thể thụ động hàm ý là ‘họ đã được đưa vào mối quan hệ hoà bình (thân thiện)’.

(Es 43:1-21) Ân điển dật Nhưng bây giờ (1) là văn phong đặc thù trong những chương này, nhằm trình bày sự kiện là dù họ liên tục cự tuyệt tình yêu thương của Đức Chúa Trời, Ngài vẫn không ngớt chủ động đến với họ.  Các câu Es 44:1  49:5  52:5  64:8 (7, trong nguyên ngữ Hi Bá Lai) đều dùng văn phong này.

1-7  Những câu này bảo đảm cách hùng hồn và chi tiết cho dân Y-sơ-ra-ên rằng cửa Âm phủ sẽ không thể nào thắng họ y như Đấng Christ đã bảo đảm cho hội thánh của Ngài.  Cho dù lửa và nước, hoặc con người và những quãng đường dài dằng dặc đều không thể nào gây ra một tổn thất nào ai nấy (tất cả c.7), những người mà Đức Chúa Trời nhận là thuộc về Ngài (1) đều sẽ đến nơi an toàn (so sánh 40:26).  Trong sợi dây ràng buộc họ với Ngài có vô số tao, chẳng hạn như cuộc sáng tạo, sự cứu chuộc, kêu gọi (1) tình yêu thương (4), nhận làm con nuôi (6) và cho họ được mang danh vinh hiển của Ngài (7).  Mối liên hệ độc nhất này được tô đậm bởi hình ảnh sống động về giá chuộc bằng sinh mạng con người (3-4 so sánh c.14) tức là nhiều quốc gia cường thịnh đã phải sụp đổ và sẽ sụp đổ để tránh đường cho dân Y-sơ-ra-ên.  Châm Ngôn 21:18 cũng nói cùng một ý đó mặt khác, nhờ dân Y-sơ-ra-ên mà các dân tộc sẽ hưởng phúc lợi vượt trổi hơn những điều họ mất mát (so sánh 42:1-9), và tột cùng giá cứu chuộc dân Y-sơ-ra-ên bắt buộc phải là một đối tượng hoàn toàn khác biệt (so sánh 53:5-6).

8-13  Ở đây dân Y-sơ-ra-ên lại phải đối diện với tội lỗi của mình khi tội lỗi bị đưa ra ánh sáng (8 so sánh 42:18-20), dầu vậy họ vẫn được gọi là đầy tớ và người được chọn (10) nhằm mục đích giáo dục họ (hầu cho các ngươi được biết... tin, và hiểu...) cũng như giáo dục thế giới.  Lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên làm chứng về Gia-vê (10-12) rồi đây danh hiệu kẻ làm chứng về ta sẽ được thể hiện với đầy đủ ý nghĩa (so sánh Cong 1:8), nhưng hiện giờ dân Y-sơ-ra-ên tỏ ra thụ động và khó bảo.  Khung cảnh pháp đình là khung cảnh trong Es 41:1-4,21-23 vấn đề tranh tụng là từ xưa đến nay và mãi mãi trong tương lai không có một thần nào ngoài Đức Gia-vê (10b,11,13).

14-21  Kể từ 39:7 đến đây tên riêng Ba-bi-lôn mới xuất hiện lại, và dù trong nguyên ngữ Hi Bá Lai c. 14 có vẻ mù mờ, ý chính của phân đoạn này là lời hứa về một cuộc xuất hành lớn lao, trong cuộc xuất hành này những việc lạ lùng mà Đức Chúa Trời thực hiện trong sa mạc (19-20) sẽ vượt trổi hơn những việc lạ lùng mà Ngài đã thực hiện tại Biển Đỏ (16-18).  Một lần nữa lời hứa này cũng bắt nguồn từ giao ước (chú ý đến điều kiện của mối tương quan trong c.14-15 và của sự chọn lựa trong c.20c-21).

Về sự thành tựu đầy đủ của lời hứa này, chúng ta cần tìm đến những sự kiện lịch sử trong một tương lai xa, thay vì dừng lại với cuộc hồi hương khiêm tốn từ Ba-bi-lôn trong thế kỷ VI và V T.C., dù rằng lời hứa này cũng có ngụ ý về chuyện đó, tức là cuộc xuất hành mà Con Đức Chúa Trời thực hiện tại Giê-ru-sa-lem (Lu 9:31 so sánh ICo 10:4,11), chỉ có sự kiện lịch sử này mới đáp ứng thoả đáng cho ngôn từ dùng trong đoạn văn này và những đoạn văn khác trình bày cùng một vấn đề.  Cũng xem chương 35 và Es 40:3-5.

(Es 43:22-28) Khinh thường ân điển  22-26  Dân Y-sơ-ra-ên đáp ứng một cách tai hại đối với lòng nồng nhiệt của Đức Chúa Trời bằng một cái ngáp hết sức thờ ơ lãnh đạm.  Quả là không còn một hình thức khước từ nào tồi tệ hơn nữa.  Dầu vậy nhân đó chúng ta mới có dịp so sánh một cách sâu sắc giữa thái độ xem tôn giáo là một gánh nặng (23b-24a) và thái độ dùng tôn giáo làm một phương tiện để cung kính bày tỏ lòng biết ơn và thuận phục đối với Đấng đã mang hết gánh nặng (24b-25 so sánh 46:3-4), là Đấng một lần nữa tỏ ý sẵn sàng chứng thực nỗi lòng và trường hợp của mình trước toà án công khai mở rộng (26 so sánh 41:1).

27  Thuỷ tổ trong văn cảnh này có lẽ chỉ về Gia-cốp.  Đức Chúa Trời nhắc dân Y-sơ-ra-ên rằng họ không có gì đáng để mà tự hào dù là xét về mặt tổ tiên hoặc cấp lãnh đạo thuộc linh của mình (quan trưởng trong nơi thánh). 28  Ý nổi cộm cuối cùng rất nghiêm trọng, vì nguyên bản Hi Bá Lai dùng từ hçrem (nghĩa là huỷ diệt) là một danh từ mạnh nhất, dùng để chỉ về những thành phần đáng bị huỷ diệt như thành Giê-ri-cô hoặc người A-ma-léc, với những thành phần này thì không thể dành cho một chút khoan hồng nhân nhượng nào cả.

(Es 44:1-5) Đức Chúa Trời hằng sống ý định lớn lao của Ngài Dường như ở đây mở lại một vấn đề vốn đã được giải quyết dưới một khía cạnh đặc thù khác.  Bây giờ (xem bình giải 43:1) một lần nữa xác minh thái độ vô ơn của dân Y-sơ-ra-ên đối với sự kiện họ được kêu gọi lẫn được lựa chọn làm tôi tớ (1 c.2 lặp lại) cùng thái độ đầy thiện cảm của Giê-su-run (‘ngay thẳng’ so sánh Phu 33:5, nhưng xem 32:15 so sánh bình giải Es 42:19), rồi tiếp tục hứa về những điều quan trọng hơn sẽ xảy ra trong tương lai.  Việc ban cho Thánh Linh (3) là một nét phát hoạ sơ qua về giao ước mới, như trong  Gie 31:31-34  Exe 36:26-27  Gio 2:28-29  còn lời tuyên xưng thuận phục trong câu 5 là một trong những tín hiệu trong Thi 87:4-6 (ở đây chính Đức Chúa Trời là Đấng tiếp nhận người ngoại bang).  Những dòng dõi mới mẻ này (3) sẽ tạo ra dòng chảy của nước Hằng sống của Đức Chúa Trời, y như hàng cây đánh dấu hai bên bờ sông (3-4).  Sách Công Vụ Các Sứ Đồ chỉ vẽ lại một quãng ngắn của dòng sông sự sống khi sông chảy qua vùng đất khô hạn.

6-8  Các câu này gói ghém cốt lõi của các chương này, nhấn mạnh ý Đức Chúa Trời là vô địch của Y-sơ-ra-ên (Đấng Cứu Chuộc, 6 so sánh Es 41:14), chủ trương dứt khoát tôn giáo độc thần (6b, 8b), tiên đoán tương lai (7b) và củng cố tinh thần của dân Y-sơ-ra-ên đang nao núng (8).

9-20  Phân đoạn này trình bày cùng một sứ điệp nhưng mổ xẻ về phía các thần tượng, dùng chính các thần tượng làm thị cụ, mổ xẻ, lột trần cách không thương xót vấn đề hình tượng làm cho người nghe phải sượng sùng.  Đây là chủ đề ưa chuộng trong các chương này (so sánh Es 40:18-20  45:20  46:1-7).  Tất cả mọi hình thức thờ phượng đồ vật, do Đức Chúa Trời ban cho (9 so sánh c.14) và do con người tạo hình đều có tính cách phạm thượng và ngớ ngẩn lố bịch như vậy (so sánh Ro 1:25).  Về lâu về dài con người mất khả năng ý thức vấn đề này (là một vấn đề hiện đại cũng như vốn cũng cổ xưa) chỉ vì lúc đầu họ không chịu đối diện với sự thật (18-20 so sánh Es 1:21).

21-28  Giờ đây chúng ta quay về với vấn đề tích cực và hào hứng về sự mặc khải của Đức Chúa Trời là Đấng chân thần.  21  Lời mở đầu kêu gọi Nhớ lại, có lẽ chủ ý kêu gọi nhớ lại những vấn đề mà dân Y-sơ-ra-ên đã có thể làm chứng (so sánh c.8), cũng như những chuyện dại dột khờ khạo của người ngoại đạo vừa được mô tả xong (trong 46:8 cũng có một lời kêu gọi tương tự).  Nhưng khả năng và quyền hạn của Đức Chúa Trời trong việc điều hành kiểm soát và tiên đoán dòng diễn biến của lịch sử đã nhiều lần được nhắc đi nhắc lại, nay được xác lập lại đầy kịch tính bằng những lời hứa cụ thể trong c.26-28.  Những tin tức vui về Giê-ru-sa-lem và về sự cứu tinh vốn được tiên báo cách mập mờ trong 41:2 và c.25-29 nay bỗng nhiên trở nên rõ ràng cho thấy rằng vị cứu tinh đó là Si-ru với chiếu chỉ của vua cho phép tái xây dựng đây là một lời tiên tri đã được ứng nghiệm vào thời điểm ấn định (so sánh Exo 1:1-4).  Chỉ có IVua 13:2 mới chép lời tiên tri trong mức độ chi tiết tương đương như ở đây lời tiên tri đó nói về vua Giô-si-a hàng 300 năm trước.  27  Từ vực sâu nhằm nói về cuộc xuất hành, một biến cố nhắc lại khả năng của Đức Chúa Trời trong sự thực hiện các việc lạ lùng đó. 28  Từ người chăn chiên của ta chỉ ngụ ý nói rằng Đức Chúa Trời dùng vị vua này để đạt mục tiêu của Ngài thế thôi (Es 45:4 và bình giải 41:25).

(Es 45:1-8) Đức Chúa Trời của hoàn Các câu này cho thấy sự kiểm soát của Đức Chúa Trời đối với Si-ru nằm trong phạm vi của quyền tể trị tối cao hoàn toàn của Ngài (7), phạm vi của sự tự mặc khải của Ngài đối với toàn cầu (6) và ý muốn của Ngài là binh vực lẽ phải (8).

1-3  Từ xức dầu là từ cơ sở của danh hiệu Mê-si nhưng Cựu Ước dùng từ này một cách chung, nhất là khi nói về những vị vua được xức dầu của Đức Chúa Trời (thí dụ vua Sau-lơ trong ISa  24:6).  Ở đây từ này được dùng để nhấn mạnh vấn đề Si-ru được chỉ định làm vua và được trang bị để thi hành nhiệm vụ cao cả với màn mở đầu là các cuộc chiến thắng.  Mỗi câu trong c. 1b-3a đều nhằm đề cao các thắng lợi đó thí dụ vật báu chứa trong nơi tối là những của cải được cất giấu cách kỹ càng kín đáo nhất vì là quí giá nhất.  (Một khi Si-ru chiếm được Croesus và Ba-bi-lôn, đương nhiên vua chiếm được vô số của cải).  Nhưng công tác chính, màn chính và cao điểm trong nhiệm vụ của vua là việc phóng thích dân Y-sơ-ra-ên (so sánh c.13) dầu đối với vua đây chỉ là một việc nhỏ nhoi, khả năng nhận định của con người hoá ra sai sót, kém cỏi là vậy (so sánh Es 55:8).  Vua công nhận Đức Gia-vê (so sánh Exo 1:2-4), đồng thời vua cũng công nhận các thần khác, có vẻ hời hợt cạn cợt thôi (xem bình giải Es 41:25), vua chỉ công nhận sự thực hữu và ảnh hưởng của Ngài (3) nhưng không quan tâm đến vấn đề nhận biết Ngài các riêng tư cho cá nhân mình (4).

7  Ánh sáng và ... bóng tối... sự thạnh vượng và... thảm hoạ là những cặp từ đặc thù trong nguyên ngữ Hi Bá Lai có ý nghĩa trái ngược nhau để diễn tả về ‘tất cả những sự vật hiện hữu’ (so sánh Thi 49:1-2).  Tai hoạ nghĩa đen là ‘tội ác’, nhưng trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ này có nghĩa rộng rãi, hết sức chung chung nên không thể cho rằng tiên tri Ê-sai xem Đức Chúa Trời là tác giả của những việc xấu xa, gian ác (Giop 2:10  Am 3:6  Ro 11:36).  Có người cho rằng ở đây có ý đả phá tín ngưỡng thờ thần Lửa, với thần thiện đối kháng thần ác nhưng thật ra câu này cũng đả phá tín ngưỡng đa thần, đa thần là mục tiêu của hầu hết các đợt tấn công trong các chương này.  Không có bằng chứng rõ ràng là Si-ru thờ thần Lửa như vài vua kế vị sau này.

9-13  Giờ đây trọng tâm chuyển từ Si-ru qua một dân Y-sơ-ra-ên có tánh hay phàn nàn cáu kỉnh (trong c. 11, chủ từ ở số nhiều, và trong c. 13 nói về Si-ru trong ngôi thứ ba số ít, những chứng cớ đó khiến chúng ta nghĩ là có sự thay đổi).  Đây là một lời trách cứ cổ điển về việc họ nghi ngờ rằng Đức Chúa Trời lúng túng quờ quạng trong đường lối làm việc của Ngài (so sánh Es 29:16).  Bản NIV rất có lý khi chuyển ngữ những động từ ở thể truyền lệnh trong câu 11 với ý hết sức mỉa mai, dưới dạng những câu hỏi tỏ ý bất bình.. 12  Chương 40:26-31 cũng dùng bầu trời đầy sao để làm thị trợ trong tinh thần nhẹ nhàng hơn. 13  so sánh 44:28.

14-25  Các câu này phóng tầm nhìn xa vào tương lai vượt quá thời kỳ được phóng thích khỏi kiếp lưu đày.  Đây là lời tiên tri về sự kiện đông đảo người ngoại bang sẽ gia nhập vào hàng ngũ dân sự của Đức Chúa Trời.  Chương 60-62 sẽ bàn lại chủ đề này dưới hình thức một bài nói với dân Y-sơ-ra-ên (14-19) rồi kêu gọi nhân loại công nhận Chúa của mình, vì rồi đây sẽ có ngày họ phải công nhận Ngài, nhờ đó họ được cứu chuộc chung với dân tộc mà họ đã từng khinh bỉ một thời (20-25).

14  Câu này trình bày sự chiến thắng khải hoàn của Đức Chúa Trời bằng ngôn từ và văn từ đương thời mô tả những thắng lợi của con người đối với con người qua những tên riêng như Ai Cập chẳng hạn và những cử chỉ tỏ ý thần phục.  Thực tế ứng nghiệm sẽ vượt trổi quá mọi giới hạn của con người như các câu 20-25 giãi bày rõ ràng và đầy đủ.  Người ngoại bang trong câu này là những người chưa hề ở trong phạm vi vương quốc của Y-sơ-ra-ên.  Họ sẽ qui phục hoàn toàn như thể những tù binh trong thời chiến, dầu vậy trong thực tế họ qui phục nhờ nhận thức rõ ràng, tin tưởng chắc chắn (14c-16) và sự qui phục đó dẫn đến sự cứu rỗi (22,24).

15  Câu nói Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình có lẽ là câu xưng nhận tiếp theo của người quyết định tin theo Chúa, công nhận Đức Chúa Trời vô hình chớ không phải hữu hình như các thần tượng của họ xưa nay nhưng cũng có thể lắm đây là lời nhận định của dân Y-sơ-ra-ên đối với các đường lối khó hiểu của Đức Chúa Trời ‘quá sức thấu triệt’ của họ.  Câu 18-19 đáp lời rằng mặc dù vậy, Đức Chúa Trời đã nhắm đến một chương trình ý định lớn lao, và Ngài đã tự mặc khải cách rõ ràng.  Từ được chuyển ngữ là trống không (18) và vô ích (19) là cùng từ được dùng trong Sa 1:2 (‘vô hình’) câu 18 mô tả mục đích tối hậu của công cuộc sáng tạo (so sánh câu đã làm nên để cho dân cư trú), là một sự biến đổi từ tình trạng vô hình bất dạng lúc đầu thành ra một thế giới có thể cư ngụ sinh tồn.  Cũng vậy, rồi đây dân Y-sơ-ra-ên sẽ tiến đến đích trong vinh quang khải hoàn.

22-25  Mấy câu kết này đặc biệt trước tiên vì cớ tầm nhìn bao gồm toàn thế giới và sự ăn năn tin nhận Chúa phát xuất từ nội tâm, và kế đến là vì cớ Kinh Thánh Tân Ước mạnh dạn trưng dụng ý của câu 23-24, ứng dụng trực tiếp cho Chúa Giê-xu trong Phi 2:10-11 (và gián tiếp trong Ro 14:9,11).  So sánh cách vận dụng câu Es 8:12b,13a vào IPhi 3:14,15.

(Es 46:1-13). Các thần bất lực của Ba-bi-lôn Theo sau và phù hợp với vấn đề được chú trọng trong hoàn cảnh ở chương trước (so sánh những câu đề cập rõ về Si-ru (Es 44:28  45:1) và vấn đề Ba-bi-lôn bị lật đổ (47:1-15) chương này bàn cụ thể về các thần.  1  Bên (Bel, ‘chúa’, so sánh Ba-anh) là danh hiệu của một thần cổ xưa Enlil chuyển gán qua thần bảo trợ cho Ba-bi-lôn là Marduk con của Marduk là Nebo (Nabu) là thần của kiến thức.  Tên của các thần này xuất hiện trong các tên riêng như Bên-sát-sa Nê-bu-cát-nết-sa chẳng hạn.  Thông thường người ta khiêng cả hai tượng của thần này trên kiệu trong các đám rước thần, nhưng trong cảnh này, cả hai đều là những tên phu tù khổng lồ quái dị, đè nặng trên lưng bầy súc vật đang lo chuyên chở chúng.  Sự trái ngược giữa số tiền bạc và công sức đổ ra cho hình tượng với Đức Gia-vê là Đấng hằng mang vác mọi gánh nặng cho chúng ta trọn đời chúng ta (3-4) khiến cho hàng loạt những mũi nhọn đả phá hình tượng đạt đỉnh điểm đầy ý nghĩa trong các chương này.  Một chủ đề thường xuyên được bàn tới trong những chương này là tiên tri (41:23) được xác định một cách rất chắc nịch trong c. 10a còn hai sự thật trong sự nghiệp của kẻ chiến thắng - một con người vừa được tiền định vừa ăn cướp, được đặt bên cạnh nhau trong c. 11a (so sánh 41:2,25  44:28  45:1-7).

12-13  Từ công nghĩa có ý nghĩa về nhiều mặt.  Trên căn bản, có nghĩa là lẽ phải, điều đúng đắn tức là ở trong tình trạng xứng đáng phải lẽ.  Như vậy từ này bao gồm cả ý nghĩa về sự đúng đắn chính đáng, công bình và sửa những điều sai lại cho đúng, cho phải lẽ.  Trong những chương này từ nghiêng hẳn về ý nghĩa cuối cùng, cho đến nỗi át cả ý đắc thắng (xem bình giải 41:2), nhưng vẫn không mất ý nghĩa về phương diện đạo đức (thí dụ so sánh 48:1  53:11  58:2), và trong c. 12 ý này chiếm vị trí quan trọng, còn ý phụ là sự giải thoát thì chiếm vị trí trong c.13, song song với sự cứu rỗi.

(Es 47:1-15). Ba-bi-lôn bị đoán phạt Đây là một bài ca buồn rầu quở trách Ba-bi-lôn, với nét đặc thù là nhịp điệu của các dòng thơ bị hụt hẫng từ câu trên xuống câu dưới (chúng ta có thể cảm nhận điều này trong c.2a, dòng thơ ngắn đi tiếp theo dòng thơ dài hơn). So sánh 1:21-31  14:4-23.

Ba-bi-lôn đáng phải chịu số phận đó: không được thương xót vì Ba-bi-lôn vốn không thương xót ai cả (6 so sánh Gia 2:13).  Dầu vậy, bài ca đượm niềm thương cảm.  Chúng ta đang chứng kiến sự đắc thắng của công lý nhưng đồng thời cũng chứng kiến số phận bi thương của tội nhân.  Tro bụi và lao khổ, trần truồng và nhục nhã, lặng lẽ và tăm tối (1-5) - tất cả những điều đó biểu tượng cho sự diệt vong, nhưng thấm thía và chua xót hơn vì bên cạnh là những lạc thú mà họ đã hưởng với thái độ ngạo nghễ (8) đến nỗi từ nay đến mãi mãi về sau họ chẳng bao giờ được hưởng niềm vui nữa (7-11).  Chúng ta nhìn thấu tâm can rúng động của Ba-bi-lôn trong lúc các quỉ kế mưu lược đáng tin cậy đều thất bại (những câu thần chú, những mánh lới phù thuỷ, và những lá số tử vi bói toán trong 12-14) còn những đám liên minh cũ thì thận trọng rút lui, ‘ai về chỗ nấy’ (15) đúng kiểu bạn bè khi nắng ấm.

Vô số dữ liệu lưu lại dư sức xác chứng rằng Ba-bi-lôn khi xưa ngụp lặn trong ma thuật quỉ kế trong lĩnh vực chiêm tinh bói toán như c.9,12-13 đã mô tả còn Exe 21:21 mô tả một số nghi thức chọn lọc mà vua Nê-bu-cát-nết-sa thực hiện.

(Es 48:1-8) Bày tỏ lòng yêu thương đối với người lòng yêu thương Bỏ Ba-bi-lôn, ta quay về chú ý tới Y-sơ-ra-ên, để chứng kiến một cảnh tượng không mấy sáng sủa.  Họ liến thoắng nói về Chúa và về thành thánh (1-2) nhưng họ miệt mài thờ hình tượng (5) nên họ hiện thân là những người giả hình chai cứng lì lợm (1,4,8).  Cảnh tượng này còn đen tối hơn cả tình trạng bất trung trong Es 40:27 và thái độ lạnh lùng thờ ơ trong 43:22 mặc dù qua bối cảnh của tội lỗi ngụ ý trong 42:18-20 người ta đã có thể dự đoán rồi.  Cho đến giờ này, lời tiên tri tập trung tấn công người ngoại đạo (thí dụ so sánh 41:21-24) nhưng giờ đây tiên tri phải quay qua chống lại chính dân sự của Đức Chúa Trời, là những người hoài nghi hạng nặng (3-8).  Xem dẫn nhập.

(Es 48:9-22) Tất cả những chuyện này chỉ nhằm bày tỏ sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời đối với thực trạng không xứng đáng của họ (9), Ngài nhằm tôi luyện họ (10 xem chú giải tiếp theo phần này) và Ngài quyết tâm làm trọn ý định của mình (11).  Sau khi đã bộc lộ cách thẳng thắn và mạnh mẽ như vậy Ngài vẫn có thể xác định lời kêu gọi (12) và tình yêu thương của Ngài (xem bình giải c.14) và truyền ra một lịnh chắc nịch:  Hãy ra khỏi Ba-bi-lôn (20).  Mạng lịnh này sẽ còn vang ra suốt trong những chương kế tiếp (so sánh 49:9 52:11  55:12  62:10).  Dầu vậy, đây không phải là điệu nhạc hân hoan, phấn khích phải trả giá cao cho tánh bướng bỉnh lì lợm.  Giá này được xác định và được nhắc đi nhắc lại, đó là mất bình an (18,22) tức là không còn bình an trong tâm hồn cũng như không còn trong xã hội nữa.  Chương 57:21 nhắc lại thực tại đáng buồn này, còn 66:24 kết thúc sách Ê-sai với tình trạng thảm hại hơn.

Chú giải.  Công tác chuyển ngữ gặp vấn đề trong câu 10.  Bản NIV cho là có một sai sót sao chép nhỏ trong câu 10a (nguyên ngữ Hi Bá Lai có từ ‘với’, cũng có thể nghĩa là ‘với cái giá là’ hoặc ‘trong tâm tánh của’ đây là một từ đơn, nên dễ lẫn lộn với từ như).  Câu 10b sách Ê-sai trong các cuộn giấy da ở Biển Chết dùng từ luyện như bản dịch NIV, nhưng trong các bản chuẩn thông dụng từ đó có ý là ‘chọn lựa’. 14b  Nên đọc là ‘Chúa yêu thương người (Si-ru), Ngài sẽ...’ thay vì được chọn liên kết....  16  Phần cuối cây này chủ từ bất ngờ đổi ngôi thứ: không phải Đức Chúa Trời phán như trong c.15-16 nữa, mà là đối tượng được Đức Chúa Trời sai phái lên tiếng, như Thánh Linh cũng được sai phái.  Đối tượng đó có thể là vị tiên tri, nhưng thấu ý hơn thì chủ từ này là tiền thân của từ ‘ta’ trong 49:1  50:4  61:1 nói cách khác, đối tượng này, chủ từ này là người tôi tớ, kẻ phục vụ mà Chúa Giê-xu nhận ra là chính mình Ngài.  Đây là giây phút độc đáo cho phép chúng ta thoáng nhìn từ xa về Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

12. SỰ CỨU CHUỘC LÓ DẠNG (Es 49:1-55:13)

1. Bài ca thứ hai của ‘người phục vụ’ (Es 49:1-13)

Có người phân chia mấy câu Kinh Thánh này thành phân đoạn khác nhau, nhưng thông thường người ta gộp câu 1-6 thành một phân đoạn.  Tuy nhiên, mỗi câu trong số các câu 5-8 đều ít nhiều chứa nội dung phản hồi của Đức Chúa Trời đối với công tác mà Ngài đã giao cho ‘người phục vụ’ của Ngài còn câu 8 vang dội lại nội dung 42:6 nên không thể xén tách khỏi trình tự trên.

Chương 42 trình bày hai hình ảnh tương phản về ‘người phục vụ’ (42:1-4,18-21) nên tác phong bất xứng của dân Y-sơ-ra-ên càng lộ liễu hơn.  Những chương kế tiếp sẽ làm sáng tỏ, tháo gỡ vấn đề không phải bằng cách loại bỏ dân Y-sơ-ra-ên không cho làm ‘người phục vụ’, cũng không phải dân Y-sơ-ra-ên tiến bộ hơn, nhưng vì một Đấng phục vụ chân chính xuất hiện, việc đầu tiên của Ngài là thi hành chức vụ giữa dân Y-sơ-ra-ên.

Trong phân đoạn này lương tâm trong sáng của ‘người phục vụ’ lộ rõ ra liền.  Ở đây, người phục vụ không tỏ ý ăn năn về những tội lỗi mà 48:1-6 đã lên tiếng trách cứ, rồi cũng không ăn năn về tình trạng đui mù trong 42:18-20, nhưng chỉ tỏ ra nhận thức rằng mình được huấn luyện sẵn cho thời điểm của Đức Chúa Trời (1-3 so sánh 48:16).  ‘Người phục vụ’ phải đấu tranh với tình trạng ù lì thờ ơ của dân Y-sơ-ra-ên thay vì chấp nhận và hoà đồng với họ (4) và mặc dù bài tiên tri gọi ‘người phục vụ’ với tên riêng là ‘Y-sơ-ra-ên’ (3), nhưng chính dân Y-sơ-ra-ên là nơi ‘người phục vụ’ thi hành công tác (5) trước khi ra đi đến thế giới (6).

Hiện tượng một Y-sơ-ra-ên được sai phái đến với Y-sơ-ra-ên có vẻ nghịch lý nhưng đây là một sứ điệp của Kinh Thánh Cựu Ước chuyển mạnh mẽ vào Kinh Thánh Tân Ước, vì ngay cả ‘một nhúm người Y-sơ-ra-ên chân chính còn sót lại’ (Ro 9:6,27) cũng không thể đáp ứng được công tác vô biên đã được vạch ra trong c.1-13.  Vì vậy buộc lòng chúng ta phải tìm đến Đấng Christ là Đấng làm đầu hội thánh của Ngài, tức là ‘dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời’ (Cong 13:47  Ga 6:16), Ngài là Đấng ‘phục vụ’ trọn vẹn là hiện thân của ánh sáng, sự cứu rỗi (6) và giao ước (8) của Đức Chúa Trời.  Còn vấn đề chinh phục qua công tác phục vụ mà Es 42:1-4 đã khai mào, ở đây khởi sự để lộ kết quả là chịu khổ và bị khước từ (4,7).  Bài ca thứ ba và thứ tư cho thấy sự chịu khổ và sự khước từ sẽ có phần chua xót hơn và thâm thuý hơn.

8  Ông Phao-lô trích dẫn phần đầu câu này trong IICo 6:2 và kết luận rằng câu này thành sự thực rồi (so sánh với Lu 4:18-21 khi Chúa Giê-xu vận dụng Es 61:1-2).  Xem bình giải 42:6 về cụm từ giao ước của dân. 9-13  Đám dân bị bắt nay hồi hương trong c.8-13 được xem là dân Y-sơ-ra-ên tản lạc trong khắp thế giới, chớ không riêng gì Ba-bi-lôn (so sánh c.12 với c.22) nhưng Kh 7:17 ngầm nói về c.10 cho thấy chúng ta vẫn có lý khi hiểu rằng trong đám hồi hương đó có cả dân ngoại bang đi tìm đến quê hương mới (so sánh Es 44:5).  12  ‘Xứ Si-ni’ (xem lề bản NIV) khiến cho các bản sao chép và dịch giả thời xưa cảm thấy ngỡ ngàng.  Họ đề nghị nên hiểu Si-ni là Ba-tư, miền Nam, hoặc Aswan.  Một số học giả nổi danh cho rằng đây là Trung Hoa (so sánh từ ‘sinologist’ trong tiếng Anh, có nguồn gốc từ tiếng La-tinh nghĩa là người Trung Hoa).  Dầu vậy, phạm vi diễn dịch khả dĩ chính xác là hiểu rằng câu 12 tiên tri về những người trở lại tin theo Chúa đến từ các vùng xa xôi trên địa cầu, Si-ni rõ ràng là một địa danh đáng chú ý được nêu làm ví dụ.

2. Niềm an ủi cho Giê-ru-sa-lem (Es 49:14-23)

14  Cảnh trạng chính trong các chương này là tàn tích hoang vắng của Si-ôn, được nhân cách hoá là một phụ nữ than khóc vì chồng con đã mất.  15-16  Câu trả lời của Đức Chúa Trời ở đây rất đặc biệt.  Trước tiên, bà ta không nên than khóc vì Ngài không thể quên bà.  Thứ hai, tương lai trải ra phía trước bà rất sáng lạn vì gia đình mới của bà sẽ đông đảo quá mức (19-20).  Kinh Thánh Tân Ước ứng dụngg những lời hứa này cho ‘Giê-ru-sa-lem ở trên trời’ (Ga 4:25-27 so sánh Es 54:1) tức là hội thánh chung ở thiên đàng và trần gian này chớ không ứng dụng cho ‘Giê-ru-sa-lem đương đại’.  Thật vậy, Giê-ru-sa-lem hoang tàn được tái thiết trong thế kỷ VI và V T.C., còn những lời tiên tri này vượt trên tầm cỡ khiêm tốn của những biến cố lịch sử đó.  22-23  Xin xem bình giải 45:14 về cảnh tượng khiêm nhường thần phục mô tả ở đây.  Xin xem bình giải 25:9 về câu ai trông đợi ta.

3. Niềm an ủi cho kẻ bị bắt (Es 49:24-50:3)

(Es 49:24-26). Ở đây phản ánh sự nghi ngờ về quyền năng và về ý muốn của Đức Chúa Trời trong vấn đề giải cứu.  Đức Chúa Trời giải toả nỗi nghi ngại thứ nhất bằng cách xác định quyền kiểm soát của Ngài trên lịch sử (49:25-26) và trên công cuộc sáng tạo (50:2-3).  Về nỗi nghi ngại thứ hai Ngài xử lý bằng cách so sánh tâm tánh của mình với tâm tánh của dân Y-sơ-ra-ên (50:1) - tâm tánh của Ngài không hề thay đổi, còn dân Y-sơ-ra-ên thay đổi luôn luôn.  Các áp lực bên ngoài không có tác động gì trên Ngài cả (chủ nợ). Chính tội lỗi của họ gây nên nông nỗi (so sánh 59:1-2).  Trong trường hợp này Đức Chúa Trời ngầm biểu lộ một thái độ tương tự như trong Os 3:1-3, trong đó chép về việc người chồng bày tỏ lòng yêu thương đối với người vợ phạm tội và đem vợ về với mình.

Es 50:1-3; xem giải nghĩa Es 49:24-26

4. Bài ca thứ ba của ‘người phục vụ’ (Es 50:4-9)

‘Người phục vụ’ bày tỏ lòng kiên trì nhẫn nại (42:1-9) trong bài ca thứ nhất và tinh thần chấp nhận sự hoài công phí của mặc dù đã hết sức nỗ lực trong bài ca thứ hai (49:4,7).  Còn ở đây người phục vụ phải đương đầu với sự khinh miệt lộ liễu và cơn giận dữ của điều ác.  Độc giả cảm nhận rằng chỉ còn một bước nữa là đến thập tự giá thôi.  Dầu vậy, ở đây không có dấu hiệu nản lòng nào dù là chỉ trong giây lát như trong 49:4.  ‘Người phục vụ’ đã quyết tâm làm một người hiến dâng tâm hồn và thân thể chuyên lo học tập (4) và ban phát (6). 4  ‘Người dạy dỗ’ ở số nhiều nhấn mạnh ý ‘người phục vụ’ chấp nhận qui trình huấn luyện phổ quát (so sánh He 5:8) và phương thức lặp đi lặp lại trong câu mỗi buổi sáng gợi ý về tinh thần chăm chú dõi theo ý muốn của Đức Chúa Trời suốt cả cuộc đời, ‘vấn đề của từng ngày, của riêng mỗi ngày’ (so sánh IVua 8:59).  Lời nói của ‘người phục vụ’ dẫn đến kết quả đầy thẩm quyền và thoả đáng cho thấy ít ra đây là lời nói của vị tiên tri.

Như vậy, sự chịu khổ của ‘người phục vụ’ dù là vẫn chưa lý giải được (cho đến chương 53) cũng đã có kết quả, như mọi sự chịu khổ đều có thể dẫn đến kết quả. 5  Đối với Đức Chúa Trời, ‘người phục vụ’ xem sự chịu khổ của mình là của lễ vâng phục của mình dâng lên Đức Chúa Trời. 6  Đối với con người, ‘người phục vụ’ xem đó là quà tặng đắt giá, tự nguyện chớ không phải là một lối xử sự quá quắt (tôi đã đưa... tôi không che...) 7-9  Về phương diện nội tâm, trong tình cảnh bị hạ nhục và cô lập, ‘người phục vụ’ chứng tỏ lòng mình hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Trời.  Trong Ro 8:31-39 ông Phao-lô ca bài này với lời lẽ Cơ Đốc.  Đối với người Cơ Đốc, sự công nghĩa của một Đấng khác làm cho kẻ tố cáo phải ngậm miệng.và sự cứu giúp của Đức Chúa Trời (7a,9a) được tuyên rao rõ ràng là tình yêu thương của Ngài đối với người Cơ Đốc (8:35,37,39).

5. Phần phụ lục cho bài ca (Es 50:10-11)

Hai câu này vin vào những lời lẽ đầy niềm tin vừa thốt ra, và biến những lời đó thành điểm tựa cho sự sống hoặc sự chết đối với thính giả. 10  Trọn lòng dấn thân theo Đức Chúa Trời cũng có nghĩa là dứt khoát trung thành với ‘người phục vụ’ là đức tin làm chuẩn mực (so sánh c.7-9).  Đây là dấu hiệu để nhận diện nhân thân ‘người phục vụ’, là một cá nhân đơn lẻ và là một bậc thầy cho các môn đệ của mình. 11  Câu này mô tả hoặc những người bắt bớ (so sánh c. 6 và Thi 118:12) hoặc, có thể lắm, những người tự mãn, phản ngược với c.10. Có thể dòng cuối câu này tổng quát hoá vấn đề buồn khổ, luôn luôn là phần kết thúc của tội lỗi. Tuy nhiên, cũng có thể dòng này dự báo về sự dạy dỗ của Kinh Thánh Tân Ước về án phạt sau cái chết.

6. Củng cố niềm tin hơn nữa (Es 51:1-8)

Đức tin, ‘đến bởi sự nghe sứ điệp’ (Ro 10:17) được củng cố bởi ba sứ điệp mở đầu bằng mệnh lệnh Hãy nghe (1), Hãy nghe (4) và Hãy nghe (7).  Những sứ điệp này xác minh lời kêu gọi tin cậy vững vàng trong Es 50:10 bằng một lời khuyến giục trước tiên là nên nhìn lại thời khởi đầu khiêm tốn của Y-sơ-ra-ên, để nhận thấy việc Đức Chúa Trời có thể làm với một người mà thôi (1-2).  Sau đó nên hướng tới lời hứa về thời chung kết ở trần gian này (4-5) lẫn ở thế giới bên kia (6) cuối cùng nên xét cảnh ngộ éo le trong hiện tại so với bối cảnh đó (7-8).  Ý tưởng về sự chết của con người so với cõi đời đời của Đức Chúa Trời vang dội lại lời nói của ‘người phục vụ’ trong 50:9. 6  Khi quyết tâm chuyển ngữ thành như ruồi thay vì dùng một từ có vẻ nhẹ nhàng nhưng ý nghĩa yếu hơn ‘như vậy’ (bản AV, RV) có lẽ lắm các dịch giả mặc nhiên công nhận nguyên bản ở đây dùng một danh từ số ít chỉ về một tập thể hoặc một nhóm như có dùng trong Xu 8:16-17 (12-13, Hi Bá Lai).

7. Lòng trông mong gia tăng (Es 51:9-52:12)

(Es 51:9-23). Những lời nói lặp lại gấp gáp khiến cho toàn bộ phân đoạn này có tính cách cấp bách ngay từ câu mở đầu: Hãy thức dậy, hãy thức dậy!  Đức Chúa Trời trả lời cho sự cầu cứu của con người bằng lối nói lặp lại để tỏ ý chắc chắn bảo đảm và thôi thúc:  Ta, chính ta, là Đấng (12) ‘Hãy thức dậy, hãy thức dậy!’ (17, nghĩa đen) Hãy thức dậy, hãy thức dậy! (Es 52:1) và cuối cùng, Hãy đi, hãy đi, đi ra khỏi đó! (Ba-bi-lôn, 52:11).

(Es 51:9-11)  Vượt tầm cỡ cuộc xuất hành 9-10  Các từ Ra-háp, con quái vật lớn và biển vốn khiến cho người ngoài dân Y-sơ-ra-ên liên tưởng đến những quyền lực hỗn loạn đối địch với các thần trong thời sáng tạo (so sánh bình giải 27:1), nhưng ở đây lại là biểu tượng cho cuộc xuất hành, như c. 10 có nói rõ.  Ra-háp vốn là biệt danh của Ai Cập trong 30:7 (xem chú giải).  Xin xem bình giải 27:1 về biểu tượng khá tương tự trong kỳ đoán phạt chung cuộc. 11  Còn trong khi Ê-sai cầu xin cho một cuộc xuất hành khác nữa, tâm trí của ông liên tưởng đến một lời hứa cũ của Chúa, nên câu này trưng dẫn 35:10 hầu như từng chữ một.

(Es 51:12-16)  Người bị áp bức được an ủi 12-14  Chính Đức Chúa Trời (Ta, chính ta...) là cơ sở của sự an ủi, Ngài vừa là Đấng tạo dựng, trái với tính cách tạm bợ chóng tàn của giới sinh vật thọ tạo, vừa là Đức Chúa Trời của giao ước (15-16, Đức Chúa Trời của ngươi... ngươi là dân của ta).  Đối với Ngài việc Ngài kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên là điều vinh hiển tột đỉnh, chớ không phải thái cực trái ngược trong hàng loạt những điều vinh hiển lạ lùng: các từng trời... đất... Si-ôn.  Chú ý là trong phần cuối câu 16 từ Si-ôn được dùng để chỉ về người.  Câu 16a nhắc lại việc Chúa đã giao phó cho ‘người phục vụ’ trong Es 49:2 thật vậy, Y-sơ-ra-ên hoàn thành phần lớn nhiệm vụ của mình khi truyền lại Lời của Đức Chúa Trời.

(Es 51:17-23)  Thế cờ lật ngược  Trong suốt phân đoạn này từ ngươi ở số ít, giống cái, chớ không phải số nhiều, vì từ này chỉ về thành phố quê hương được nhân cách hoá (xem bình giải c.16).  Trong số những hình ảnh ví sánh, hình ảnh cái chén đoán phạt rồi đây sẽ được chuyển qua tay khác (17,22) chuyên chở sứ điệp chính của phân đoạn này.  Trong khi đó cảnh tượng thương tâm của cuộc chiến bại và những hành động dã man được mô tả cách sống động qua dáng điệu sờ soạng lần mò và nằm sóng soài la liệt trong c.18,23 và với hình ảnh ví sánh về con nai sa lưới (20).  Cảnh tượng mọi đường phố (20) phủ đầy xác chết sẽ lưu lại ấn tượng sâu đậm trong Ca-thương (thí dụ, so sánh Ca 2:11,12,19,21).

(Es 52:1-12)

(Es 52:1-2) Tin mừng về sự hoà bình Đức Chúa Trời kêu gọi, Hãy thức dậy, hãy thức dậy! đẩy ngược lại cho dân Y-sơ-ra-ên lời cầu nguyện của họ trong Es 51:9, đây là hình thức đáp lời thoả đáng nhất.  So sánh với cách đối phó tương tự của Chúa Giê-xu trong Mac 9:22-23.  3-5  Mục đích chính trong mấy câu này là loại trừ mọi ý nghĩ ví sánh sự cứu chuộc với một cuộc mua bán trao đổi trên thương trường.  Như Es 50:1 cho thấy rõ, các chủ nô không có quyền hạn gì trên dân Y-sơ-ra-ên cả, càng không có quyền hạn trên Đức Chúa Trời họ chỉ là công cụ của Ngài.  Trong khi IPhi 1:18-19 sẽ vạch ra ý mới mẻ cho câu 3b, thì ở đây chỉ quan tâm đặt nặng quyền cứu chuộc tối thượng của Đức Chúa Trời, vì cớ danh của ta... danh của ta (5-6 so sánh Exe 36:21  Ro 2:24).

(Es 52:7-10)  Các câu này mô tả cách sống động cảnh tượng tin tức lan truyền đến địa phương (so sánh IISa 18:19-33), ba yếu tố trong mỗi một kinh nghiệm thuộc loại đó.  Trước tiên, người đưa tin, hào quang của người này chính là nội dung mẫu tin (và bắt buộc phải là người được sai phái đi loan tin, như ông Phao-lô xác định rõ trong Ro 10:15, không hơn không kém) thứ hai là người canh gác, là những người trông đợi... sự cứu chuộc (Lu 2:38) bằng không, tin tức loan truyền ra sẽ như nước đổ lá môn thứ ba, biến cố , biến cố ở đây là việc làm của Đức Chúa Trời chớ không phải là một điều gì khác (8b-10), không phải thấy từ xa, nhưng diễn ra sát bên mình, (nghĩa đen ‘mắt nhìn vào mắt’, tức là mặt đối mặt, như trong Dan 14:14 khi nhìn thấy Đức Chúa Trời).  Chú ý c.9-10 bộc lộ tâm tư theo phong cách thi thiên (so sánh Thi 98:3-4  xem bình giải Es 42:10-12).

(Es 52:11-12) Dứt khoát bứt khỏi Ba-bi-lôn Hình ảnh bày ra nơi đây là một cuộc diễu hành theo nghi thức của các thầy tế lễ, chớ không phải một sự ra đi âm thầm nhốn nháo, như trong Xu 12:33.  Cuộc hồi hương trong Exo 1:5-11  7:7-10 phảng phất đôi chút sắc thái này, chính E-xơ-ra tin cậy hoàn toàn vào lời hứa là Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ (8:22), và ông đã không thất vọng.  Nhưng phía sau cuộc rời khỏi Ba-bi-lôn theo nghĩa đen, Kh 18:4 còn thấy một cuộc xuất hành vĩ đại hơn, hội thánh rút lui tách mình khỏi vòng tay của thế gian, ‘hầu cho không cùng phạm tội lỗi với thế gian, mà cũng không cùng chịu những tai vạ với thế gian’.

8. Bài ca thứ tư của ‘người phục vụ’ (52:13-53:12)

(Es 52:13-15) Rời quang cảnh của cuộc hồi hương vĩ đại, chúng ta quay về với nhân vật đơn chiếc là Đấng trả giá cho cuộc hồi hương đó bằng nỗi khốn khổ của mình.  Đây là tâm điểm của sách, trung tâm của toàn bộ khung mẫu về tội lỗi và sự công nghĩa, về ân sủng và sự phán xét.

Bài thơ này có cấu trúc cân đối một cách bất thường, với năm khúc, mỗi khúc ba câu, mở đầu và kết thúc bằng sự vinh hiển của ‘người phục vụ’ (khúc thơ thứ nhất và thứ năm), lồng trong khung này là câu chuyện ‘người phục vụ’ bị ‘loại trừ’ trong khúc thơ thứ hai và thứ tư.  Hai khúc thơ này lại làm khung cho khúc thơ trọng tâm (4-6).  Khúc thơ thứ ba này giãi bày ý nghĩa chuộc tội trong sự chịu khổ.  Đức Chúa Trời và con người sau khi làm hoà với nhau, cùng góp phần giãi bày (xem lối xưng hô ‘của ta’ và ‘ta’ trong khúc thơ đầu và cuối, còn ‘chúng ta’ và ‘của chúng ta’ trong Es 53:1-6).

Niềm vui mừng đặt trước mặt Ngài Mấy câu này tỏ ý tán đồng với lời lẽ can trường trong 50:7-9, nói về ‘người phục vụ’ bằng những từ cao trọng, tôn quí đặc biệt chỉ về Đức Chúa Trời (so sánh ‘cao sang’, 6:1 ‘cao cả’, 57:15 cũng so sánh 5:16  55:9).  Nhiều người vốn chống nghịch ‘người phục vụ’ sẽ phải nhường chỗ cho nhiều người nhận biết tội lỗi của mình và được giác ngộ (14-15 chú ý từ này được dùng lại với ý sâu sắc hơn nữa trong 53:11-12).  15  Thay vì từ vảy rửa bản RSV dùng từ ‘giật mình’ (rất phù hợp với vị trí dẫn đầu trình tự một loạt từ giật mình - ngậm miệng - tin chắc (hiểu biết).  Còn từ vảy rửa (bản AV, RV tuy không hoàn hảo cho lắm về mặt văn phạm nhưng không hẳn là vô căn cứ, lại rất phù hợp với nội dung hàm ý về sự thanh tẩy trong tế lễ (so sánh IPhi 1:2) và có lẽ cả về sự thanh tẩy trong một lễ lập giao ước (so sánh Xu 24:6,8 dùng một từ khác).

(Es 53:1-3) Sự khinh miệt của con người Vực sâu ngăn cách sứ điệp của Đức Chúa Trời với quan niệm của con người rất rõ rệt, khi đối chiếu những điều được mặc khải (so sánh c.1 với Ro 10:16-17,21) với những điều mặc nhiên hấp dẫn (2) và gợi cảm (3).  So sánh phản ứng đối với Chúa Giê-xu trong khi Ngài chịu nhục hình, thí dụ trong Mat 27:39-44 với sự giảng dạy về thập tự giá (ICo 1:23).  Nỗi buồn bực và đau ốm (3) được lặp lại trong câu 4, theo nghĩa đen là ‘đau đớn’ và ‘bịnh tật’ (đau ốm), gợi ý cho độc giả về hình ảnh một người mắc bệnh hoặc một người đau lòng sầu thảm (như trong Gie 15:18).  Nhưng một loại đau đớn khác, đó là tinh thần tự nguyện chung chịu của thầy thuốc vì trong phương diện người thầy thuốc hiến mình tận tâm tận lực đối phó với căn bịnh và lo xoa dịu nỗi khốn khổ của bịnh nhân thì chẳng khác gì người thầy thuốc cũng chịu đau, chịu khổ với bịnh nhân.  Đây là phương diện Mat 8:17 chú trọng khi trích dẫn Es 53:4.

(Es 53:4-6)Chà, một cuộc đổi chác ngon lành...’ Đây là khúc thơ trọng tâm về mọi mặt phơi bày ý nghĩa của nỗi nhục nhã khốn khổ mà ‘người phục vụ’ đã phải gánh chịu, bằng cách đảo ngược trật tự trong câu 4a để nhấn mạnh cuộc đổi chỗ, và bằng cách dùng đại danh từ người và chúng ta ở dạng nhấn mạnh (4a-4b) để vạch trần sự hiểu lầm của chúng ta:  ‘Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta, mà chúng ta lại tưởng rằng...’.

4-5  Qua các câu này ý nghĩa càng lộ rõ:  nỗi đau mà Ngài gánh chịu là nỗi đau của chúng ta (4) nỗi đau đó là sự hình phạt tội lỗi (5a) đó là giá phải trả cho sự cứu rỗi (5b).  Dầu vậy, vẫn còn một hiện tượng nghịch lý, đó là một trong những đường lối của Đức Chúa Trời cao hơn đường lối của chúng ta (Es 55:9) khi chúng ta ngỡ ngàng đối diện với phần cuối câu 5 liên hệ thương tích của ‘người phục vụ’ (tức là ‘lằn roi’, so sánh 1:6) với sự lành bịnh của chúng ta, trong tương quan nguyên nhân và kết quả.  6  Có lẽ đây là câu mô tả cách thấm thía nhất về tội lỗi và sự chuộc tội, vạch trần tinh thần vô trách nhiệm và tánh ngang bướng, lì lợm đã cô lập chúng ta khỏi Đức Chúa Trời và con người nhưng cũng vạch rõ sự kiện Đức Chúa Trời chủ động chuyển sự hình phạt chúng ta qua người thay thế.  Câu nói ví von tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người trở nên rõ nghĩa qua Sa 4:13  Le 5:1,17 (hiểu theo nghĩa đen thì đương sự gánh chịu tội lỗi của mình, tức là chịu sự hình phạt về tội lỗi), và qua những câu Kinh Thánh như 10:17  16:22 chẳng hạn (trong những câu này một đối tượng khác gánh chịu trách nhiệm của việc làm tội lỗi).  Chú ý cụm từ chúng ta thảy đều... hết thảy chúng ta, chuyển đạt đúng phần mở đầu và kết thúc của câu này trong nguyên ngữ Hi Bá Lai ân sủng có đủ để ứng phó với tội lỗi.

(Es 53:7-9) Bàn tay gian ác xấu xa, nạn nhân tình nguyện Sự nín lặng của nạn nhân (trái ngược với tiếng kêu của ‘con chiên con’ ngoan ngoãn khác trong Gie 11:19  12:3) phát xuất từ tình yêu thương và đức tin, như Chúa Giê-xu đã chứng tỏ (IPhi 2:23-24) chớ không phải từ sự nhu nhược hoặc thận trọng cảnh giác.  Chú ý đến lề NIV về câu 8:  ‘Từ chỗ bị bắt và xét xử (lên án) người bị đem (dẫn) đi’, toàn bộ nội dung khúc thơ này buộc chúng ta phải liên tưởng đến vụ xét xử Chúa Giê-xu và mọi chuyện diễn ra sau đó (xem bình giải c.9).

8  Dùng từ hậu duệ không lột hết ý của nguyên bản Hi Bá Lai cho lắm nhưng lại thoả đáng đối với bản LXX theo như Cong 8:33 trích dẫn.  Trong nguyên bản Hi Bá Lai từ dôr nặng ý nói về những người cùng thời với đương sự.  Như vậy cách chuyển ngữ tối ưu là: ‘còn về phần những người đương thời (với người), có ai ngẫm nghĩ về việc đó?’.  So sánh với ‘Có ai tin...?’ (1).

9  Lẽ ra, bản NIV nên duy trì thể số ít của nguyên ngữ Hi Bá Lai: ‘một người giàu có’.  Trong một thời gian dài, đây là một chi tiết nan giải, mãi cho đến sự việc diễn ra trong Mat 27:57,60 và chi tiết này vẫn gây lúng túng cho những người không thừa nhận các tiên tri báo trước những chi tiết nhỏ.  Nhưng những bản nguyên ngữ cổ và những bản trong các cuộn giấy da ở Biển Chết, xác nhận từ người giàu có là có thật.  Dĩ nhiên các cuộn giấy da ở Biển Chết hiệu đính thể số nhiều trong bản LXX, duy trì thể số ít theo như bản chuẩn.

(Es 53:10-12) Hưởng trọn vinh quang tôn trọng Trong khổ thơ này cuộc đấu tranh được hoàn tất.  Kẻ bắt bớ biến khỏi khung cảnh, Đức Chúa Trời (nhấn mạnh trong c.10 so sánh Cong 4:28) và ‘người phục vụ’ (12) xuất hiện trong vai trò Đấng chủ động trong mọi việc đã diễn ra.  Ngoài ra, mỗi câu đều ngụ ý cách rõ ràng về sự sống lại và sự đắc thắng của ‘người phục vụ’.  Bên cạnh đó, những khía cạnh về sự chuộc tội được đề cập đến nhiều hơn là trong c.4-6.

10  Của lễ chuộc tội là một của lễ chỉ về sự đền bù hoặc làm thoả mãn.  Căn cứ vào nguyên ngữ Hi Bá Lai thì trong câu này hoặc ‘linh hồn người’ (tức là ‘chính mình người’) hoặc Đức Chúa Trời là người dâng của lễ.  Nhưng với c.12 thì ‘người phục vụ’ tự hiến để làm của lễ là điều rõ ràng không còn gì nghi ngờ nữa.  11-12  Đề cập đến những phương diện khác trong công tác cứu chuộc của ‘người phục vụ’ với những từ  xưng công bình, gánh tội lỗi, đồng hoá (bị kể vào hàng kẻ dữ, so sánh Lu 22:37) và cầu thay tức là can thiệp.  ‘Người phục vụ’ được mô tả vừa là thầy tế lễ vừa là của lễ, vừa là tổ phụ (10b) vừa là vua.  Cuối cùng, ‘người phục vụ’ đã vì nhiều người mà chịu khổ thì trong c.11-12 từ nhiều người... nhiều người... (cùng một từ được dịch là lớn trong c.12) lại xuất hiện làm thành lời hứa mở đầu (so sánh Es 52:14-15 ‘nhiều người... nhiều người’).

9. Cố đô đông đảo dân cư (Es 54:1-17)

Nền hoà bình, an ninh và nỗi niềm hồ hởi phấn khởi trong chương này phát sinh từ sự từ bỏ và sự chết vừa mô tả ở trên, cắt ngang phần mô tả về cuộc hồi hương vĩ đại ở cuối 52:12.  Theo ngôn từ Cơ Đốc thì từ Thập tự giá trong chương 53 được tiếp nối bởi hội thánh trên đà phát triển trong chương 54 và lời mời gọi của Phúc Âm trong chương 55.

(Es 54:1-10)  Người vợ người mẹ  Ông Phao-lô liên hệ khúc Kinh Thánh này với chuyện bà Sa-ra và bà A-ga (so sánh Ga 4:27) và nhìn thấy ở đây hình ảnh hội thánh thật, với các thành viên do Đức Chúa Trời mà có (cũng xem bình giải Es 49:14-23).  Lời hứa về một cuộc bành trướng ra khắp thế giới (3 so sánh 49:19), và ngụ ý là sự bành trướng đó sẽ ảnh hưởng mạnh tới khuôn mẫu tổ chức cũ (2) được thành tựu một cách sinh động đầy ấn tượng trong thời các sứ đồ.  Xin xem 50:1 về hình ảnh ví von về người vợ lạc lầm.  Tuy nhiên ở đây không nhằm đặt nặng tội danh nhưng đặt nặng nỗi đau (6) trong cuộc dứt tình với giọng điệu đầy thiện cảm hiếm thấy, với giọng ân cần hiền dịu khi nói về cuộc tái hợp (7-8) - một cuộc tái hợp bền vững vô điều kiện và bất tương xứng (so sánh với từ thương xót trong c.10) như lời hứa trong Sa 9:11, và (nay chúng ta có thể nêu thêm) Mat 16:18.

Es 54:11-17  Thành xây bằng ngọc  Lều trại chật hẹp trong câu 2 và thành Giê-ru-sa-lem điêu tàn đều bị lu mờ trước hình ảnh chói sáng của hội thánh, một phối hợp giữa vẻ đẹp và năng lực mà Kh 21:10-27 sẽ luận bàn kỹ hơn.  Nhưng ý nghĩa của hội thánh được diễn dịch bằng những từ không tượng hình trong c.13-15.  Sự công bình trong c.14 và tính cách bất khả xâm phạm trong c. 15-17 đâm rễ sâu trong sự học tập theo Chúa của mỗi cá nhân (13 so sánh Gie 31:34), đó là một trong những dấu chứng của giao ước mới.  Đây là sức mạnh thật sự của thành của Đức Chúa Trời.  Không phải Ngài hứa giữ cho thành được miễn khỏi sự tấn công, nhưng Ngài hứa ban cho khí giới của lẽ thật mà không ai có thể đối phó được (17 so sánh Lu 21:15).

10. Ân sủng chan hòa (Es 55:1-13)

Trong toàn bộ Kinh Thánh, ngay cả trong Kinh Thánh Tân Ước đều không có một lời mời gọi nào ấm áp đầy lòng ưu ái dành cho người đang cần đến thế.  Chương này hai lần đạt đỉnh cao, lần thứ nhất ở câu 1-5, và lần thứ hai, đỉnh cao quan trọng hơn, ở câu 6-13.

(Es 55:1-5) Cảnh nghèo nàn, sung túc, sứ mệnh 1-3  Lời mời lập lại bốn lần trải rộng tương đương với nhu cầu của nhân loại (chú ý c.1-2 nhấn mạnh trên nỗi niềm ao ước bất thành, như trong Tr 1:3  Gi 4:13) và cũng hướng dẫn từng cá nhân (chú ý trong câu 1 xen kẽ từ ở thể số nhiều và số ít, lộ rõ hơn trong bản AV và RV).  Kinh Thánh kết thúc với âm vang của lời mời này (Kh 22:17) Chúa Giê-xu cũng tung ra một lời mời tương tự với hãy đến... và ăn qua lời mời: ‘hãy đến cùng ta’ trong Gi 6:35.  Nghịch lý mua mà không cần tiền làm nổi bật hai yếu tố: sở hữu chắc chắn và hoàn toàn phụ thuộc ngầm ý hiểu là lệ thuộc vào ân sủng (so sánh sự kết hợp giữa sự vững lòng với sự bất xứng trong He 4:16).

3-5  Mấy câu này hướng lời mời trọn vẹn đến với cá nhân thu hút tâm hồn, ý chí và lôi kéo người nghe tham gia vào giao ước, cùng dự phần trong sứ mệnh của Đấng Mê-si đối với toàn thế giới.  Đa-vít chỉ được đề cập đến ở đây trong những chương 40-66 nhưng cũng đủ để cho phép nhận diện Mê-si trong Es 7:14... với ‘người phục vụ’ trong 42:1... mà dân tộc hằng trông đợi.  (Có người đề nghị rằng lời hứa dành cho Đa-vít trong IISa 7:12-16 được chuyển từ vua qua cho dân sự ở đây.  Nhưng nếu vậy thì không phù hợp với tính cách miên viễn của lời hứa được đặt nặng trong c.3b.  Nên hiểu ý tưởng của Đa-vít trong Thi 18:43-45,49 về các dân tộc chịu thuận phục để làm một chứng cớ về Đức Chúa Trời nay được khuyếch đại đến mức các dân tộc trở lại tin Chúa trong tương lai: so sánh c.5 với Xa 8:20-23  9:9-10).

(Es 55:6-13)  Tội lỗi, sự tha thứ, vinh quang 6-9  Nếu con người đói khát và cần được thoả mãn (1-5), thì con người cũng xấu xa gian ác và cần sự cứu rỗi.  Có lời mời gọi và sự tìm kiếm Đức Chúa Trời (1-5) nhưng cũng cần sự đáp ứng của tội nhân.  Câu 7 là một lời xác định kinh điển về sự ăn năn, đánh động tâm trí (so sánh từ ‘ăn năn’ trong Kinh Thánh Tân Ước) và ý chí, những thói quen (đường lối) và những dự tính (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai hiểu ngầm là ý tưởng), gồm phương diện tiêu cực (từ bỏ) và phương diện tích cực (trở lại) tính cách cá nhân (cùng Đức Chúa Trời) và cụ thể (thương xót) được củng cố bởi yếu tố thời gian ngắn ngủi (6) và tính cách đại lượng vô điều kiện của lời hứa (7).

10-11 Lời tuyên bố trong c. 8-9 không những chỉ nhìn lui bàn thêm về c. 7 mà còn nhìn tới giáo đầu cho c. 10-13, khiến cho chúng ta phải hổ thẹn về những sự trông mong nhỏ nhoi của chúng ta.  Ý tưởng của Đức Chúa Trời vươn xa hơn, phong phú hơn, vượt cao hơn ý tưởng của chúng ta.  Lời nói của Ngài được ví với mưa và... tuyết gợi ý về tác động lặng lẽ và từ từ, nhằm biến đổi gương mặt của địa cầu vào thời điểm ấn định.  Lời nói ở đây ngụ ý chỉ về lời chỉ thị (thí dụ so sánh Es 44:26  45:23) chớ không phải lời mời gọi hoặc lời dạy dỗ, vì người ta có thể từ khước một lời mời gọi hoặc một lời dạy (Es 48:18-19 so sánh lối nói ví tương tự với câu 10 trong He 6:4-8).

12-13  Các câu này đưa ra chỉ thị của Ngài tổng hợp niềm vui giải phóng (12a), niềm vui vì Chúa đích thân ngự đến (so sánh c.12a với Es 52:12 c.12b với Thi 96:12-13) và niềm vui vì tàn tích hoang vu bị huỷ phá ngày xưa nay được xoá bỏ rồi phục hồi (so sánh c.13a với Es 7:23-25 và có thể lắm với Sa 3:18).  Ghi nhận sự kiện Ngài đặc biệt nổi danh là Đấng giải phóng (13b).

13. TÌNH TRẠNG ĐÁNG TÔN VINH VÀ ĐÁNG HỔ THẸN CỦA SI-ÔN (Es 56:1-66:24)

Chương 40-55 nhìn bao quát về cuộc lưu đày ở Ba-bi-lôn, trình bày sơ đồ cứu chuộc đa phần trong khung hồi hương của dân Y-sơ-ra-ên.  Phần còn lại của sách tập trung chú ý vào mảnh đất quê hương, một mặt mô tả xứ trong khía cạnh quen thuộc lâu nay là một xứ đầy tham nhũng (Es 56:9-59:15a) và chìm đắm trong hoang tàn (63:7-64:12), nhưng mặt khác, cũng mô tả cảnh trạng của xứ khi Đức Chúa Trời giải cứu biến đổi xứ thành một ‘mão miện xinh đẹp’, một trung tâm thu hút toàn thể thế giới (60-62).  Các chương cuối (65-66), tương tự như phần giáo đầu (56:1-8) bày tỏ Đức Chúa Trời hoan nghinh người ngoại bang và người ngoại đạo đến núi thánh và vương quốc đời đời của Ngài, nhưng cũng xoáy mạnh vào nguy cơ vĩnh viễn bị loại trừ khỏi hào quang vinh hiển đó.

1. Hoan nghinh tầng lớp bị ruồng bỏ (Es 56:1-8)

1-2  Sau đỉnh cao đầy phấn chấn ở chương 40-55, các câu này trình bày những yêu cầu nghiêm túc về cuộc sống chánh trực (1) và sống không nhiễm thế gian (2) là cuộc sống đúng đắn với sự cứu rỗi.  Trong câu 1, sự công bình phô bày hai trong số những yếu tố của sự công bình khi được gộp đôi với sự công bình (tức là giải quyết xử sự công bằng) lẫn sự cứu rỗi vì sự công bình của Đức Chúa Trời nhằm sửa sai những điều quấy, chưa đúng, chớ không phải chỉ nhằm lên án những điều đó là sai quấy (so sánh Ro 3:21-26 cũng xem bình giải Es 46:12-13).

3-8  Tương tự như các câu trên, mấy câu này chuyển khải thị về sự truyền giáo trong chương 40-55 thành những từ khiêm tốn, thực tiễn, trong mối quan tâm đối với người hoạn và người nước ngoài, là những tầng lớp đang ở giữa Y-sơ-ra-ên nhưng lại là người ngoài cuộc.  Dù luật pháp chống lại người hoạn (Phu 23:1) nhưng luật này được ban hành với lòng yêu thương nhân ái (nhằm làm cho người ta ghê sợ tập tục độc ác này ít ra là giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên).  Ở đây tình yêu thương đáp ứng một cách tinh tế thương tật của người hoạn với lời hứa về một danh tốt hơn (5) và bù đắp cho sự việc họ bị loại về mặt thể xác, thì có lời hứa ban cho họ ở tại trong, còn đối với sự kiện họ không có hậu duệ thì có một lời hứa ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt.  Người ngoại quốc cũng được xét căn cứ trên thái độ của họ, chớ không phải căn cứ trên quốc tịch của họ - đây là một nguyên tắc được thiết lập qua việc Đức Chúa Trời chấp nhận Ru-tơ, bất chấp Phu 23:3, là một người có lòng tin.  Ngôn từ quan trọng trong câu 7b hoá ra cao siêu quá đối với giới quản trị đền thờ (so sánh Mac 11:17  Cong 21:28).  So sánh câu 8 là câu ít người biết đến với Gi 10:16 đây là một trong những chi tiết chứng tỏ Chúa Giê-xu biết những chương này rất thấu đáo.

Tầm quan trọng của ngày Sa-bát mà khúc Kinh Thánh này nhắc lại (2,4,6) được xác định rõ nhất trong hai câu ngắn trong câu 4, cho thấy ngày này tự nó không phải là mục đích nhưng là dấu chứng của tình yêu thương dành cho Đức Chúa Trời (so sánh Es 58:13) và lòng trung thành đối với giao ước (so sánh Xu 31:13).

2. Tình trạng đáng hổ thẹn của Si-ôn (Es 56:9-59:15a)

(Es 56:9-12). Người canh gác ngủ   Xem cảnh trạng trái ngược trong Es 52:8  62:6.  Tất cả những câu ngạn ngữ về chó, chó câm như hến, chó ngủ mê, chó tham ăn, đều có trong c.10-11a, và đều được dùng để mô tả giới lãnh đạo thuộc linh (người canh gác so sánh Exe 3:17) trong khi người chăn chiên thường là một từ được dùng trong Kinh Thánh Cựu Ước để chỉ về người cai trị dân.  Trình tự các câu mô tả ở đây rất có ý nghĩa: về phương diện thuộc linh, không có khải thị nào (10a so sánh ISa 3:1) dẫn đến không có sứ điệp (10b) nên lui dần vào tình trạng trốn tránh sự thật (10c) và lo tìm tư lợi cho thoả lòng mình (11a).  Thật vậy, đám chăn chiên đều xử sự tương tự như chiên của họ, vì mọi người đều theo đường riêng của mình (11b so sánh Es 53:6).  Tệ hại hơn nữa, họ là những người đục khoét bóc lột dân, và ăn nhậu say sưa (11-12) nhận chìm thực tế trong rượu.

(Es 57:1-13) Làn sóng bội đạo trắng trợn Người canh gác lo ngủ nghỉ (56:9-12) nên sự xấu xa gian ác đương nhiên tràn vào.  Đây có thể là thời kỳ của Ma-na-se, người con bội đạo của vua Ê-xê-chia.  Có thể có một ngầm ý chỉ về sự kiện vua Ma-na-se bắt bớ người lành (IIVua 21:16).  Có lẽ câu 5b, 9 nói về sự kiện vua thiêu con trai của mình làm của lễ thiêu cho thần Mô-lóc (21:6) và nói về cuộc phục hưng của sự thờ thần này trong thời của vua (5b,9).

2  Ý tưởng trong câu này có họ hàng với ý tưởng trong Kh 14:13.  5  Từ gian dâm chỉ về những nghi thức trong tôn giáo của người Ca-na-an cầu cho đất đai được phì nhiêu bằng những quan hệ tình dục, cũng lan tràn trong phần đầu thời kỳ của Giê-rê-mi (so sánh Gie 2:20-25).  (Xem lời bình giải ở trên về c.5b).  Từ thực trạng điếm đĩ hiểu theo nghĩa đen trong dân chúng, tác giả chuyển một cách nhẹ nhàng suông sẻ qua hình ảnh ví dân Y-sơ-ra-ên như là người vợ phản bội trở thành gái điếm.  Trong c.6-13 (từ ngươi luôn luôn ở ngôi nữ số ít) những hình ảnh ví von như giường, dấu ghi (tức là lô-gô hiện nay, hình ảnh tượng trưng cho ngành nghề mãi dâm), dầu thơm... đan xen với thực tế trong những ngành khác như: tế lễ và hình tượng trong tôn giáo sứ giả trong chính trị.  Không rõ c.9a nói về tôn giáo hoặc chính trị.  Dù nguyên bản Hi Bá Lai dùng từ ‘vua’ nhưng vẫn có thể chỉ về Mô-lóc (xem bình giải ở phần trên, phân đoạn một) rồi cũng có thể là một lực lượng đồng minh (thí dụ, so sánh Es 30:2-5).

Câu 10 bao hàm ý thức đầy ưu ái đối với ý chí kiên trì bền bỉ, lòng say mê và c.11-13 đối với tình trạng thất vọng sắp tới.  Toàn bộ phân đoạn này là bạn đồng hành rất tương hợp với Os 1:1-3:5  Lu 13:34-35.

(Es 57:14-21) Ân sủng đầy ắp Lối hành văn lặp lại thí dụ như:  Hãy đắp đường!  Hãy đắp đường! và Bình an!  Bình an! (19) là nét đặc thù của chương 40-66 (thí dụ so sánh Es 40:1  52:1  65:1), các chương này còn có một nét đặc thù nữa là chủ đề Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Chuộc.  Trong c.14 Ngài là Đấng giải phóng tuyệt vời.  Câu 15 kết hợp nơi cao và khiêm nhường chuẩn bị tinh thần chúng ta cho Mat 11:28-30  Gi 1:14.  Câu 16 lặp lại Sa 6:3 về sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời, còn c.17-18 bày tỏ quyết định rõ rệt của Ngài để đòi lại kẻ không xứng đáng và không có triển vọng gì.  Việc này được tóm tắt trong dòng đầu đáng ghi nhớ của c. 18.  19  Như vậy lời hứa ban phát ân sủng đã kết tinh, xuất hiện lại trong Eph 2:17, được coi như viên ngọc trong Phúc Âm mà ông Phao-lô truyền rao cho người ngoại bang.  20-21  Do đó, ở đây cảnh ngộ khốn khó của kẻ ác lộ rõ hơn trong Es 48:22 tương ứng với sự cứu rỗi mà họ đã từ khước.  Chính sự chọn lựa của họ đã ngăn cách sự bình an, bình an trong c. 19 với tình cảnh không có sự bình an nào cả trong c. 21.

(Es 58:1-14). Giả hình sự thật Tiếng loa của Đức Chúa Trời kêu gọi (1) thành phần khuôn rập theo nghi thức liên quan đến bản cáo trạng trong 57:1-13 tương tự Ro 2:1-29 có liên quan đến 1:1-32.  Sứ điệp đặt nặng trong chương này phần lớn cũng là sứ điệp trong các sách Phúc Âm và thư tín Gia-cơ.  Về phản diện (1-5), chú ý sự kết hợp giữa các chi tiết nhỏ nhặt trong nghi thức thờ phượng (2, 5) và lối xử sự tàn nhẫn trong xã hội (3b-4).  Bất cứ thế hệ nào cũng vậy xem ra tầng lớp  sùng đạo chấp nhận những chuyện đó là bình thường, là thích đáng (so sánh Mat 23:1-39  Gia 4:1-3) còn Đức Chúa Trời thì cho là ghê tởm (so sánh Es 1:15).  Về phương diện tích cực (6-14) sự kiêng ăn được đề cao trong tinh thần mới mẻ là cải tổ xã hội (6) quan tâm chăm sóc với lòng yêu thương nhân ái (7), và từ bỏ lối hành xử chỉ tay năm ngón (9).  Đây là tiền thân của quan điểm của Chúa Giê-xu đối với vấn đề áp dụng luật pháp.

9  Lời hứa Lúc ấy, ngươi gọi... ngầm nhắc lại những lời cầu nguyện mà Chúa không trả lời trong câu 3 (so sánh Gia 4:3,8-10) và phần triển khai phong phú trong câu 9b-12 là một cách nói trình bày nguyên tắc của Mat 7:2  ‘lường cho người ta mức nào, họ sẽ theo mức ấy mà lường lại’.  11  Bức tranh ví von về vườn năng tưới lại xuất hiện trong Gie 31:12.  Một loạt mấy hình ảnh ví von trong câu 10-12 sẽ không phụ lòng người dành thời gian đào sâu nghiên cứu. 13-14  Nhưng e rằng người ta tưởng tất cả chỉ cần lòng nhân đức trong mấy câu này nên tác giả viết rằng Đức Chúa Trời muốn họ giữ ngày Sa-bát cách vui vẻ và nghiêm chỉnh.  Nếu kiêng ăn là cơ hội để bày tỏ lòng yêu thương cho láng giềng hàng xóm, thì với ngày Sa-bát, chúng ta cần tỏ lòng yêu thương đối với Đức Chúa Trời trước hết (dù khúc Kinh Thánh này lẫn thái độ của Chúa Giê-xu khi giữ ngày Sa-bát đều đặt nặng vấn đề quan tâm đến con người).  Như vậy tức là cần quên mình (13a) và tự chế để khắc phục những điều vô bổ (13b).  Đối với những người có tinh thần này Đức Chúa Trời có thể ban cho họ những điều lớn lao (14).

3. Đôi bên xa lánh nhau (Es 59:1-15a)

Đa phần phần Kinh Thánh này là thái cực tăm tối của chương 58.  Cũng vẫn là chuyện cầu nguyện mà Chúa không đáp ứng và một câu giải thích tương tự (1-2).  Trong khi chương 58 mô tả sự công nghĩa thật và phước hạnh của sự công nghĩa đó, chương 59 vạch ra tội lỗi (3-8) và tội lỗi vô hiệu hoá tất cả mọi giá trị (9-15 so sánh Es 58:10  59:10).  Kết thúc là hỗn độn và cuộc sống của con người (nói theo Hobbes) ‘đơn chiếc, cô độc, nghèo nàn, tàn nhẫn, bạo tàn và ngắn ngủi’.

2  Câu này giải thích đúng theo tinh thần kinh điển sự thể Đức Chúa Trời có vẻ thờ ơ bất động đối với tình trạng xa lánh này ở đây không nói rằng Ngài ghê tởm (như trong 1:15) nhưng nói rằng tội lỗi khiến Ngài phải có phản ứng như vậy. 3-8  Tình trạng hỗn loạn tràn lan trong mấy câu này là nguyên nhân nếu là do tội lỗi thì ngay cả xã hội cũng không thể tồn tại nói chi đến sự thông công giữa Đức Chúa Trời với con người.  5-6  Trứng bò cạp và mạng nhện trước tiên lột tả ảnh hưởng tai hại của thành phần xấu xa gian ác, ảnh hưởng tai hại đó lan rộng càng nhanh do chính những biện pháp nhằm trừ khử tội ác (5b thí dụ so sánh với hậu quả của việc ngăn cấm những tệ nạn đồi truỵ dâm dật), và thứ hai là lột tả tính cách vô nghĩa, vô hiệu quả trong những chính sách của họ hoặc những lời hứa mơ hồ hời hợt tựa tơ nhện.

7-8  Ông Phao-lô vận dụng những câu này trong Ro 3:15-17 khi ông xây dựng lý luận của mình dẫn đến đỉnh điểm về vấn đề ai nấy đều can tội chung với nhân loại.  9  Với từ chính vì thế, câu này dẫn vào hàng loạt những hậu quả ngày càng trầm trọng khi chọn sự gian ác. 10  Tình trạng rờ rẫm giữa ban ngày là án phạt mà dân chúng đương thời với Chúa Giê-xu ve vãn (so sánh Gi 3:19) và đã gánh chịu (so sánh Gi 12:35-40). 14  Bốn hình ảnh nhân cách hoá, với lẽ thật (tức là tính cách chân thật đáng tin cậy) ngã sóng soài (luôn luôn là ‘nạn nhân đầu tiên’ trong các thời kỳ hỗn mang) có lẽ ít nhiều đã đóng góp cho cảnh tượng trong Kh 11:7-8. 15a  Lột tả nhiều điều nhất có lẽ là sự kiện người lành trở thành nạn nhân, người lành là người duy nhất không hoà hợp, không ăn ý với lối sống đương thời.  Sự sụp đổ này còn tệ hại hơn sự sụp đổ trong Am 5:13, vì chẳng những cán cân công lý bị bẻ cong mà ý thức của người dân về công lý cũng bị lệch lạc.

4. Đấng tiếp cứu đơn độc (Es 59:15b-21)  (so sánh Es 63:1-6).

Sự can thiệp của Đức Chúa Trời là cầu nối khả thi duy nhất giữa tình trạng nhục nhã của Si-ôn vừa được mô tả ở trên và sự vinh quang sắp đến (xem phần bình giải dẫn nhập các chương 56:1-66:24).

16-17  Các bản dịch không tuyển tải đúng mối quan tâm, ưu tư của Đức Chúa Trời đối với tình trạng này.  Chẳng bằng lòng, ‘không vừa ý’ là chưa đủ mạnh, cần chuyển ngữ là ‘bất bình trong tinh thần kinh ngạc’, như ý trong 63:5.  So sánh nỗi buồn giận đơn độc của Chúa Giê-xu trong Lu 19:41,45 với nỗi buồn giận đơn độc ở đây.  Vũ khí và chiến bào trong c.17 củng cố cho mục đích trong c.16b.  Trong công tác trừ diệt sự xấu xa gian ác, Chúa chẳng có sự trợ lực nào từ bên ngoài, ngoại trừ lòng thánh khiết và quyết tâm trừ khử sự xấu xa gian ác.  Ở đây sự công bình xem ra bao hàm cả tính cách năng động lẫn thánh chiến và tính cách tĩnh trong ý chân thực chánh trực (so với Es 46:12-13).  Như vậy vũ khí và chiến bào của Đức Chúa Trời chiếu sáng rực Eph 6:13-17 chính mình Ngài cũng sử dụng chớ không phải chỉ cho chúng ta dùng mà thôi.

Sự công bình trọn vẹn chi phối điều động lòng hăng say nồng nhiệt này.  Câu 18 đầy lổn ngổn những từ toát mùi báo trả, báo oán (so sánh Ro 12:19).  Câu này cũng mở đường cho vương quốc của những người trở lại tin Chúa. 19-21  Điều kiện được làm thành viên hoặc bị từ khước không phải là quê quán gốc gác (19,20).  Điều kiện là phần thuộc linh (19a,20b, so sánh Mat 8:10-12), còn giao ước là giao ước mới, tất cả mọi thành viên trong giao ước sẽ nhận biết Chúa (Gie 31:34), tất cả sẽ như một dân tộc giữ chức vụ tiên tri làm chứng về Ngài (so sánh Dan 11:29  Gio 2:28).

5. Sự vinh hiển của Si-ôn (Es 60:1-62:12)

1-9 Với giọng hân hoan, trong bầu không khí rạng rỡ các chương này mô tả những phước hạnh vượt xa thể chế cũ ở nhiều điểm, vượt cả thời kỳ Cơ Đốc nữa.  Ngôn từ vẫn đậm màu sắc luật lệ của Cựu Ước và thành Giê-ru-sa-lem thực sự.  Dĩ nhiên cần hiểu rằng những ngôn từ này mô tả về ‘Giê-ru-sa-lem ở trên trời’ (so sánh Ga 4:26). Kh 21:1-27 vận dụng rộng rãi chương 60 để xây dựng những hình ảnh sáng lạn về thành thánh trên trời.  Còn hướng thông giải khải tượng đó (có thể thông giải theo nhiều hướng) chắc chắn có chi phối hướng thông giải lời tiên tri này.  Ở đây chủ trương theo quan điểm là dân Y-sơ-ra-ên tản lạc được trở về Giê-ru-sa-lem.  Cuộc hồi hương trở nên mẫu mã tiền thân cho cuộc hồi hương lớn lao gấp bội, đó là vô số người trên khắp thế giới trở về với Chúa, gia nhập hội thánh.  Rồi ở đây cũng chủ trương là khải tượng này vẫn liên tục phóng tầm nhìn vượt xa những sự kiện đó, đến tận thời chung kết, là đích vinh quang tận cùng.

(Es 60:1-9)  Ngôi sao dẫn đường cho các dân tộc  Các đại danh từ ngươi và của ngươi trong chương này ở ngôi số ít, giống cái, chỉ về mẫu thành Si-ôn (Es 49:14-23  51:17-23  54:1-10), con trai ngươi... con gái ngươi (4) thuộc mọi quốc tịch chớ không riêng gì người gốc Y-sơ-ra-ên bị tan lạc ở các nước (so sánh Thi 87:3-6  Ga 4:26).  Như vậy, các quốc gia (3) các hải đảo (9) không phải đơn giản chỉ là những phương tiện chuyển vận trong cuộc hồi hương này trái lại đông đảo dân chúng từ những nơi đó, là những người khao khát tìm đến ánh sáng (của Si-ôn, c.3) và ngước mắt trông đợi Chúa Hằng Hữu (9) như đàn bồ câu về tổ (8 nghĩa đen ‘cửa sổ’ hoặc ‘khung cửa mắt cáo’).  Cũng xem phần bình giải câu 10-16.  Vàng và nhũ hương (6) khiến cho độc giả Cơ Đốc nhớ lại những người đi đầu trong cuộc di cư này trong Ma-thi-ơ 2.  Họ bày tỏ lòng tôn kính thần phục giữa muôn vàn nguy hiểm.  Trong lễ vật của họ có cả một dược toát ra một bầu không khí huyền bí (so sánh Mac 15:23  Gi 19:39) - tín hiệu về cuộc đấu tranh còn chờ trong tương lai.

Xem phần nhận định trong phần dẫn nhập của các chương Es 60:1-62:12 về toàn cảnh những hình ảnh tượng trưng, đặc biệt là trong c.6-9 (c.7 là mấu chốt đưa vào ý nghĩa của chương này).  Dù câu 7 dùng ngôn từ trong lãnh vực tế lễ nhưng không thể diễn dịch ý nghĩa tiên tri trong câu này đơn thuần theo nghĩa đen vì Kinh Thánh Tân Ước quả quyết là không thể tái lập sự thờ phượng với những của lễ bằng con dê... dâng trên bàn thờ, trong đền thờ tất cả những điều đó đều chỉ là ‘bóng của những điều tốt lành sắp tới’ (He 10:1 bản RSV so sánh 13:10-16  Gi 4:21-26).  Xem bình giải Es 2:16 về Ta-rê-si.

(Es 60:10-16) Vị ngọt trong cuộc chinh phục Người ngoại bang trong khúc Kinh Thánh không phải là những người trở lại đạo mà là những người bị đô hộ, bị chinh phục chớ không phải chịu thuyết phục.  Kinh Thánh luôn luôn nhắc đến những tầng lớp này (thí dụ so sánh Lu 19:27  Kh 20:7-9).  Đức Chúa Trời hứa về rằng vương quốc của Ngài sẽ toàn thắng của dân sự của Ngài sẽ được phạnh phúc đời đời.  Phước hạnh này được diễn tả qua những hình ảnh ví von về sự chiến thắng và những kết quả người nước ngoài lao động chân tay cho họ (10), họ không bị kẻ thù tấn công (11a so sánh Kh 21:25-16), các nước tiến cống những lễ vật quí giá mới lạ (11b) và những việc tương tự.  Dù các đoạn này sặc mùi đế quốc nhưng thật ra tác giả chỉ nhằm bày tỏ một lẽ thật bền vững là ai khước từ ảnh hưởng của Đức Chúa Trời là tự sát (12) còn người khiêm tốn theo Ngài sẽ thừa hưởng đất.

(Es 60:17-22) Vinh quang chói loà Vàng thay vì đồng là hình thức diễn tả giá trị đặc biệt của Đức Chúa Trời (so sánh Es 61:3,7) làm nổi bật tình trạng suy thoái mất giá trị của con người (so sánh biện pháp thay thế trong IVua 14:26-28 và thảm trạng trong Ca 4:1-2). Khúc Kinh Thánh đầy ngập những vinh quang mới mẻ buộc chúng ta phải hiểu rằng tác giả nhằm mô tả tình trạng toàn bích trong thời kỳ cuối cùng khi đó trong dân sự ai ai cũng đều công bình cả không cần đến giám thị hoặc cai thợ, mà chỉ có sự ngay thẳng liêm chính và lẽ phải ràng buộc họ (17b), cũng không cần biện pháp phòng hộ nào vì đã có sự cứu rỗi bất khả ly gián khỏi Đức Chúa Trời (so sánh Es 59:17) và sự ca ngợi trọn vẹn nhờ lòng tin cậy. Trung tâm của sự vinh quang này là sự hiện diện của Đức Chúa Trời hằng sống được mô tả bởi hai câu 19-20 ở giữa khúc Kinh Thánh.  Kh 21:23 và 22:5 xác nhận rằng khải tượng này vượt ra khỏi thời kỳ Cựu Ước lẫn Tân Ước, vận dụng ngôn từ của con người (thí dụ c.22) để mô tả một cuộc sáng tạo mới. Chương Es 65:17-25 sẽ lại đề cập đến việc này.

(Es 61:1-4) Bài ca của Đấng được xức dầu của Đức Chúa Trời Bài ca này không dùng đến danh xưng ‘người phục vụ của Đức Chúa Trời’ (cũng tương tự như trong Es 50:4-9) nhưng nếu cho rằng từ ta trong mấy câu này chỉ về một nhân vật khác nữa thì thật là cưỡng giải.  Chúa nhận thấy rằng bài ca này cũng như mấy bài ca kia bày tỏ rõ ràng sứ mạng của Ngài (so sánh Lu 4:17-21  7:22) chúng ta có thể nhận thấy rằng những câu Thần Chúa ngự, đã xức dầu (so sánh Es 11:2  42:1) ngôn từ liên quan chặt chẽ với nhau mô tả Người Phục Vụ và Vị Vua Cứu Thế.

Công tác thấm đẫm trong niềm hân hoan vui sướng là kết quả rất thoả đáng của những nỗi nhọc nhằn khốn khổ đã bày tỏ trong các bài ca trước (xem phần bình giải của Es 42:1) là kết quả của cuộc đời hi sinh đã phác hoạ trước cho chúng ta trong 53:10-12.  Chúa Giê-xu có thể viện dẫn khúc Kinh Thánh này khi Ngài bắt đầu chức vụ vì qua lễ báp-tem và mấy đợt chịu cám dỗ Ngài đã nhận làm ‘người phục vụ’ và kèm với vai trò đó là thập tự giá.  Đây là ‘những điều lợi qua nỗi khốn khổ của Ngài’ các phép lạ của Ngài cũng vậy.

Bối cảnh vẫn là cảnh lưu đày quan sát từ vị trí là Ba-bi-lôn (1b) và từ tàn tích của thành Giê-ru-sa-lem (3).  Đối với lớp thính giả thời đó thì lời hứa này có nghĩa đen cũng như lời đe doạ về sự lưu đày trước đây cũng vậy (so sánh Es 39:6), nhưng khi lời hứa này được thành tựu trong Chúa (so sánh Lu 4:21) thì lời hứa này mở đầu cho những phước lành được rao truyền trong bài giảng trên núi và ở những chỗ khác cho những người bị chà đạp và đặc biệt là cho những người đang than khóc (có lẽ so sánh Am 6:6).  Tự do cho người ở tù cũng là một sự tự do trong phần thuộc linh như sau này Giăng Báp-tít đã phải học hiểu câu này (phải chăng niềm hi vọng mà ông đặt nơi lời tuyên ngôn trong Lu 4:18 đã khơi mào cho câu hỏi trong 7:19).  Ghi nhận hình ảnh những cây sồi và những thành quách điêu tàn ngụ ý ví von về yếu tố chậm trưởng thành và kiên trì tái thiết.

Nhưng lạ lùng là Chúa Giê-xu bỏ qua câu ngày báo thù... (so sánh 4:19-20), như vậy một cách tế nhị Ngài cho thấy rằng tương lai chung kết mới được chứng kiến sự thành tựu đầy đủ mọi điều ở đây (so sánh Mat 25:31-46  Cong 17:31  IITe 1:6-8).  Lời tiên tri này được thành tựu ở mức độ khác nhau trong nhiều bối cảnh, từ mức độ, mầm, chồi đến hoa rồi, ngầm ý, kết trái đầy đặn.  Xem thêm bình giải Es 63:4.

(Es 61:5-9) Sự đắp dật Đôi khi người ta cho rằng khúc Kinh Thánh biểu lộ một tinh thần thấp thỏi, thấp thỏi hơn lòng rộng rãi độ lượng của các nhà truyền giáo, thí dụ như trong Es 19:24-25  45:22  66:18-21, làm như khúc Kinh Thánh này vĩnh viễn bắt người ngoại bang làm người tôi tớ.  Nhĩ như thế là lẫn lộn sự kiện thực tế với lối nói ví von.  Ở đây mô tả dân Y-sơ-ra-ên làm thầy tế lễ chung quanh có dân nước ngoài hầu hạ (5-6) và sự giàu sang tăng gấp bội nhờ những lần tịch thu tài sản trong các cuộc chinh phục ngày trước (7-8).  Đó là hình ảnh ví von về một thực tại của dân Đức Chúa Trời (một dân chớ không phải một quốc gia so sánh IPhi 2:10  Kh 7:9) được minh oan và được thừa hưởng trọn vẹn chức vụ vua và thầy tế lễ (so sánh IPhi 2:9  Kh 1:6) trong khi đó sự kiêu ngạo của con người bị đốn hạ và quyền lực của họ bị chế ngự.  Xin xem bình giải Es 60:10-16 về vấn đề người ngoại bang là thành phần bại trận xem bình giải 19:16-24  60:1-9 về vấn đề người ngoại bang là thành phần trở lại tin theo Chúa.  7  Lời hứa về phần gấp đôi có thể so sánh với 40:2.

(Es 61:10-11) Bài ca của người được xưng nghĩa Về nỗi vui mừng bộc lộ ở đây, so sánh với 12:1-6 và những bài ca trong chương 24-27.  Chú ý đến hai hình ảnh ví von về sự công nghĩa: thứ nhất, sự công nghĩa được ví với chiếc áo dài, lời bình giải hoàn hảo về hình ảnh ví von này là Lu 15:22 ‘chiếc áo dài tốt nhất’ dành cho lễ hội, tiệc tùng, hơn nữa người mặc áo hoàn toàn không xứng đáng thứ hai sự công nghĩa được ví với mầm chồi của cây cối, là kết quả của hạt giống được gieo ra, và sức sống tiềm tàng của hạt giống được lộ ra qua sự đâm chồi nẩy mầm và hình dạng của mầm chồi.  Hình ảnh thứ nhất nhằm biểu thị sự công nghĩa là điều được ban cho từ ngoài (so sánh Ro 3:22), hình ảnh thứ hai cho thấy sự công nghĩa phát xuất từ bên trong (so sánh 8:10), cả hai hình ảnh đều nhằm cho thấy Đức Chúa Trời là Đấng ban cho sự công nghĩa.  Xem bình giải Es 46:12-13 về ý nghĩa của sự công nghĩa dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

(Es 62:1-5) Si-ôn đẹp lộng lẫy như một dâu Đây là một trong loạt các bài thơ (bắt đầu với Es 49:14 kết thúc với 66:7-16) mô tả Si-ôn như thiếu phụ trông đợi chồng và gia đình của mình.  Nhưng ở đây nhấn mạnh phần của Đức Chúa Trời trong cuộc tái hợp: ý chí đầy năng lực của Ngài (1a) kỳ vọng cao (1b) và rộng (2) của Ngài đối với Si-ôn niềm hãnh diện của Ngài khi khiến cho Si-ôn trở nên hoàn hảo (3) niềm vui của Ngài khi đem những người bị ruồng bỏ về (4a) và trọng tâm đầy bí ẩn là tình yêu thương mạnh mẽ chớ không phải lòng nhân đạo (4b,5b).

4  Trong số bốn tên gọi ở đây, hai tên gọi Hép-xi-ba và Bu-la đã trở thành từ vựng trong Cơ Đốc giáo nhưng nay cũng không mấy ai dùng đến nữa (xem lề bản NIV), cả hai từ đi chung nơi đây nhằm biểu thị sự trái ngược giữa niềm tin căn cứ trên Kinh Thánh và sự thờ phượng của người Ca-na-an về sự ví von Đức Chúa Trời với hình ảnh một người chồng thì đây là một hình ảnh bày tỏ lòng chung thuỷ trung thành (so sánh bình giải 50:1) và niềm vui thích, trong khi đó Ba-anh được trình bày qua hình ảnh một người chồng không có gì đáng kể ngoài ra là nguồn gốc căn nguyên của sự phì nhiêu màu mỡ (so sánh Os 2:12-13). 5  Đối với chúng ta có lẽ chuyện các con trai của Si-ôn phá hỏng hình ảnh ví von nhưng thật ra chi tiết đó nhằm tăng phần phong phú cho hình ảnh ví von bằng cách nhắc nhở rằng người tin kính được gắn bó với mẫu thành thắm thiết như trong tình nghĩa vợ chồng, và cũng như là con đẻ của mẫu thành - mẫu thành được phục hồi là niềm vui sướng của họ cũng như của Đức Chúa Trời.

(Es 62:6-12) Ngày trọng đại vội đến  Sự hồi hương được nhìn từ góc độ trung tâm lẫn ngoại biên, từ vị trí của Giê-ru-sa-lem đang đợi chờ (6-9,11b-12) và từ vị trí những người bị lưu đày ở nơi xa xăm (10-11a).  Ở mỗi một vị trí đó đều có sự chuẩn bị của con người xứng hợp với thời điểm quyết định của Đức Chúa Trời.  6-8  Trước tiên Đức Chúa Trời khiến một số người nặng lòng quan tâm đến Si-ôn như Ngài hằng quan tâm (so sánh c.6-7 với c.1), Ngài kêu gọi những người canh gác (so sánh Es 56:9-12) và những người nhắc nhở (ở đây dùng từ ngươi là kẻ nhắc nhở xem bình giải 63:7) lo cầu nguyện, khuấy động, giục giã (so sánh Lu 11:8  18:7), và Ngài nêu ra những lời hứa rõ ràng để khích lệ họ (7-8).  10  Thứ hai, Ngài kêu gọi những người đang bị giam hãm, bị ràng buộc lo giành lại sự tự do, rồi dẫn dắt các dân tộc ở các vùng xa xôi Đức Chúa Trời sẽ đưa cư dân của Si-ôn trở về từ và cùng với các dân tộc này.  Xin xem bình giải Es 60:1-9 về gốc gác của họ. 12  Cuối cùng, chú ý đến bốn tên gọi của cộng đồng được cứu chuộc này (so sánh tên gọi mới mẻ đã hứa trong c. 2) đây là một đỉnh cao cho mấy chương này và vẫn còn là một lời hứa cho hội thánh của Đức Chúa Trời trong cảnh ngặt nghèo.

6. Đấng báo thù đơn độc (Es 63:1-6)

Mấy câu này tương xứng với 59:15b-21 (so sánh c.5 với 59:16).  Dù cả hai đều luận về sự đoán phạt và sự cứu rỗi, bài thơ này dùng hình thức đàm thoại đầy kịch tính (so sánh Thi 24:7-10) để làm nổi bật ngày báo thù (4).  Ngày báo thù là một vấn đề gắn chặt với vấn đề phục hồi trong Es 61:2.  Hai công tác này liên hệ với nhau trong tương quan nhân quả - như trường hợp sự chiến thắng (có đổ máu) với sự giải phóng (có vui mừng và hoà bình) Kinh Thánh Tân Ước củng cố trình tự này khi triển khai bài thơ trong Kh 19:11-16, trong đó Chúa Giê-xu là chiến sĩ.  Nhưng trong cả hai giao ước, Cựu Ước lẫn Tân Ước, trước tiên, Đức Chúa Trời đều cung cấp một nơi trú ẩn khỏi sự đoán phạt của Ngài (so sánh Es 27:5).

1-2  Ê-đôm và thành trì Bốt-ra tiêu biểu cho thế giới không chịu ăn năn trong Es 34:6.  Giờ đây Ê-đôm lại được dùng qua lối chơi chữ trực tiếp (đỏ) và gián tiếp trên từ Bốt-ra, là một từ tương tự như từ ‘người hái nho’.  Dùng sự công bình mà nói (1) nhằm nói về sự kiện Đức Chúa Trời đã loan báo một điều gì thì chắc chắn Ngài sẽ hoàn thành hoặc thực thi theo lời Ngài đã nói (so sánh Es 45:23  55:11).  Chú ý có quyền lớn để cứu, đây là mối quan tâm hàng đầu dù là ở giữa một văn cảnh viết về sự đoán phạt. 3  Câu chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu có thể nhắc nhở người Cơ Đốc về Gô-gô-tha, nhưng ý nghĩa  của câu này là (so sánh Kh 19:15) chỉ có một mình Đức Chúa Trời quan tâm đúng mức và có đủ quyền hạn để hoàn tất công tác đoán phạt.

7. Những nhu cầu khẩn thiết của Si-ôn (Es 63:7-64:12)

Hào quang trong chương 60-62 và khải tượng về hành động quyết liệt trong Es 63:1-6 đã cảm động vị tiên tri dâng lên một lời cầu thay, một trong những lời cầu thay hùng hồn nhất trong Kinh Thánh khi ông duyệt lại những việc nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời trong quá khứ và đối chiếu với hiện tại ngặt nghèo của dân tộc.

(Es 63:7-14) Ân điển của Đức Chúa Trời trong quá khứ 7  Tiên tri Ê-sai làm công việc của ‘người nhắc nhở’ hướng đến con người (so sánh 62:6), ông quyết tâm tôi sẽ nói nghĩa là (theo nghĩa đen) ‘tôi sẽ nhắc nhở lại’. 8  Qua hình ảnh ví von về nỗi niềm của Đức Chúa Trời với niềm hi vọng của một người cha đối với các con của mình, ông vận dụng lại chủ đề mở đầu sách (1:2,4) và trong câu 9 ông vận dụng rộng rãi tư liệu trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký (so sánh với Xu 3:7  33:14  19:4). 10-14  Ngôn từ ở đây rất tương đương với ngôn từ trong Thi 78:1-72 thí dụ nổi loạn và buồn phiền (78:40) và ví von về việc dẫn bầy thú ra đồng cỏ trong c.13-14 (so sánh 78:52-53).  Nhưng ông dùng từ ngữ trong ý mạnh mẽ hơn (so sánh c.9a) và nhấn mạnh cách mới mẻ hơn về Thánh Linh là Chúa ngự giữa vòng dân sự của Ngài (10-11,14).  Câu 10-14 nói về những đợt phản nghịch của dân Y-sơ-ra-ên sau thời kỳ lang thang trong sa mạc vì cớ đó họ bị sửa phạt (10) nhưng không bị ruồng bỏ.  Vì cớ lòng nhân từ thương xót của Ngài trong quá khứ, Chúa sẽ vẫn tiếp tục dẫn dắt họ (so sánh c.13b-14 với 78:72, ở đây Đa-vít nối tiếp công tác của Môi-se).

(Es 63:15-19) Gia đình bất hạnh của Đức Chúa Trời Lời nài xin khẩn thiết: Ngài là Cha chúng tôi được lặp lại ba lần (Es 63:16  64:8) khiến cho bầu không khí trở nên rất căng bao trùm cảnh trạng người cảm thấy bị chê bỏ đấu tranh để được chấp nhận lại.

(Es 64:1-12)  xem giải nghĩa 63:7-19

Một số những dấu hiệu bị chê bỏ đến từ bên ngoài thí dụ như kẻ thù phá sập và chà đạp tất cả những gì họ cho là thánh khiết (63:18  64:10-11), nhưng những triệu chứng trong nội tâm mới là trầm trọng hơn: chai lì đối với những vấn đề thuộc linh (63:17), sự tàn phá của tội lỗi như được mô tả trong 64:5b-6 (hai câu này mô tả rất sống động về quyền lực của tội lỗi trong việc ngự trị, gây ô uế và phân hoá con người), và thái độ thờ ơ, bất cần (64:7) nên xét theo khả năng của con người thì tình trạng thật là vô phương cứu chữa.

Con mắt đoán xét của Đức Chúa Trời nhìn thấy tất cả những tình trạng này, Ngài chưa vội can thiệp (63:15), để mặc họ cứng lòng (63:17 so sánh 6:10) và phân hoá (Hi Bá Lai: tan rã) trong tội ác (hoặc ‘vì cớ’ tội ác) của họ (64:7).  Câu cuối cùng trong số những câu này cho thấy rõ là Đức Chúa Trời không chịu trách nhiệm về phần thuộc linh ngặt nghèo hiện tại của họ trái lại chính vì họ đã liên hiệp với tội lỗi nên mới ra nông nỗi đó.

Trái lại họ có thể kêu nài với Cha vì Ngài có lòng thành tín (xem phần bình giải mở đầu ở trên) lòng thành tín của Ngài bền bỉ quyết liệt hơn cả lòng trung thành của con người (so sánh 63:16 với 49:15  Thi 27:10) và tồn tại từ lâu đời (Es 63:16).  Hơn nữa, sự thành tín của Ngài đã được chứng minh qua những đợt can thiệp đầy quyền năng của Ngài dành cho những người trông đợi Ngài (64:4 so sánh 8:17  30:18) - Thế sao không thấy tái diễn những đợt can thiệp đó nữa (64:1-5a)?  (Kinh Thánh Tân Ước luận giải rằng những việc đó vượt quá tầm tưởng tượng và nhận biết của chúng ta, so sánh ICo 2:9-10).  Trên hết, lời khẩn nài van xin hướng về Cha trong hình ảnh một người thợ gốm (Es 64:8) là Đấng biết cùng kiểm soát tất cả mọi việc.  Thái độ tin cậy thuận phục này khác xa tinh thần từng được bộc lộ trong 45:9-10 nhờ có thái độ đó mà lời cầu nguyện tích cực mở đầu bằng lời ca ngợi (63:7) và tinh thần cầu nguyện lời cầu nguyện ca ngợi trở thành khuôn mẫu cho những người phải cầu cứu van xin từ vực thẳm.

Nhưng lời cầu xin kết thúc với một câu hỏi.  Câu trả lời của Đức Chúa Trời sẽ cho thấy lòng ăn năn thống hối của vị tiên tri đã có thể khơi dậy một làn sóng ăn năn thống hối nơi dân sự đến mức nào.

8. Cuộc phân loại quan trọng (Es 65:1-66:24)

Thay vì kết thúc trong niềm hân hoan chung, các chương này vạch trần cách không thương tiếc tình trạng trái ngược trầm trọng giữa ánh sáng với bóng tối và phá bỏ hết những hàng rào đặc ân đặc quyền.  Đây là một lối kết thúc xoáy sâu vào lòng người như cách kết thúc trong Khải Thị, còn những ẩn dụ về sự đoán phạt tận dụng mọi chi tiết ngầm hiểu trong khải tượng nhậm chức của tiên tri Ê-sai (chương 6).

(Es 65:1-16) Thành phần thuộc về Đức Chúa Trời không thuộc về Đức Chúa Trời  Lời lẽ trong nguyên bản Hi Bá Lai theo như hiện trạng ủng hộ Ro 10:20-21 với câu 1 nói về người ngoại bang, câu 2 nói về Y-sơ-ra-ên.  Trong bản NIV, câu văn Hi Bá Lai ‘một dân tộc... vốn không được xưng bằng danh ta’ (tức là người ngoại bang) đã được hiệu đính thành một dân tộc vốn không kêu cầu danh ta (như thế này vẫn có thể chỉ về dân Y-sơ-ra-ên).  Dù rằng bản chuyển ngữ này có thể căn cứ vào các bản cổ, nhưng bản Hi Bá Lai nguyên vẹn không bị sửa đổi rõ ràng nói về người ngoại bang, đối ứng lại với thái độ khinh thường của dân Y-sơ-ra-ên trong Es 63:19b, chớ không phải chỉ là âm vang của 64:7.

Thế là người ngoại bang được đưa vào, còn Do Thái giáo phản bội bị từ bỏ (1-7) nhưng c.8-10 xác quyết về lời hứa đối với một số người Y-sơ-ra-ên tin kính còn sót lại (xem bình giải 10:20-23).  Lằn ranh không phân chia người Do Thái với người ngoại bang mà phân chia người ‘tìm cầu Chúa’, là những người được chúc phước, với ‘người từ bỏ Chúa’ (10c-11a), là những người bị rủa sả (13-16).

3-7  Về những nghi thức bị nghiêm cấm so sánh với 57:3-10.  Đa số những vi phạm trước kia có tính cách dâm loạn những chuyện hiện nay có tính cách thách đố chọc giận, gạt bỏ bàn thờ của Đức Chúa Trời (3b,7b so sánh Phu 12:2-7), học đòi lên đồng gọi hồn (4a so sánh 18:11), ăn thịt cấm bất chấp luật pháp (4b so sánh Es 66:17  Phu 14:3,8) và tự hào là mình thánh khiết nhờ những lầm lạc đó, có sức thuyết phục như những bùa mê (5a - nghĩa đen - ‘vì ngươi đối với ta là thánh’).  Xem c. 11 về sự xúc phạm nghiêm trọng nhất.

8  Hình ảnh ví von về những trái nho tốt trong chùm nho thối liên hệ chủ đề ‘dân còn sót lại’ với chủ đề của vườn nho hư trong chương 5 dường như tác giả dùng một bài ca về vụ thu hoạch nho để nêu vấn đề, vì câu Đừng phá huỷ nghe như tên của điệu hát cho các Thi 57:1-59:17. 10  Xem Gios 7:26  Os 2:15 về thung lũng A-cô với một quá khứ đen tối và một tương lai đầy hi vọng.  11-12  Thần vận may và thần số mệnh Gát và Mê-ni, là hai thần trong tín ngưỡng ở Sy-ri và vài vùng khác..  chú ý lối chơi chữ trong câu 12a:  Ta sẽ định cho ngươi... về từ bàn và chén so sánh với ICo 10:21-22.  Câu hỏi của ông Phao-lô: ‘Há chúng ta muốn chọc Chúa ghen sao?’ (so sánh từ chúng ta trong c. 3) chứng tỏ là có thể lúc đó ông liên tưởng đến chương này.

13-16  Nhịp mở đầu là nhịp của một bài ca hoặc một bài hát buồn đầy giọng chê trách (so sánh Es 14:3-23) và những chi tiết trái ngược sắc nét báo trước những cảnh trái ngược trong Phúc Âm (thí dụ so sánh Mat 25:31-46  Lu 6:20-26  Gi 3:36).  Danh xưng Đức Chúa Trời chân thật (16) nghĩa đen là Đức Chúa Trời của ‘A-men’ tức là của điều chắc chắn và trung thành so sánh với câu nói của Chúa Giê-xu ‘Quả thật, quả thật’, (‘A-men, A-men’) và danh hiệu của Ngài trong Kh 3:14 (IICo 1:18-20).

(Es 65:17-25)  Trời mới, đất mới  Trời mới, đất mới được mô tả hoàn toàn dựa trên cái cũ, ngoại trừ những nỗi buồn khổ tác giả không tìm cách mô tả bất cứ một chi tiết mới lạ nào.  Do đó, trong khung cảnh quen thuộc, Giê-ru-sa-lem, dân sự nếm trải cuộc sống hài hoà khiêm tốn, phần lớn là cơ hội ‘tận hưởng công khó của mình’.  Trên khung cảnh đó nổi bật một số điều quan trọng nhất: xoá sạch nỗi đau đớn ngày trước (17b), có niềm vui (18-19) sự sống (20 xem bình giải sau đây) sự an ninh (21-23a) thông công với Đức Chúa Trời (23b-24) và các loài thọ tạo hoà hợp với nhau (25).

Một trăm tuổi (20) nhằm nói rằng trong môi trường mới, một thế kỷ vẫn là quá ngắn so với tiêu chuẩn rộng lớn to tát mới.  Điểm này dẫn đến vấn đề là những lời hứa trong khúc Kinh Thánh này là theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, hoặc ngôn từ trong khúc Kinh Thánh này chỉ nhằm giúp chúng ta mường tượng phần nào khung cảnh trong thời gian sau mà thôi.  Nếu có thể hiểu theo nghĩa đen thì đó là thời kỳ một ngàn năm bình an, như Kh 20:1-15 giãi bày, sẽ có người thánh được phục sinh sống chung với người trên trần gian này trước khi đến ngày phán xét chung cuộc.  Tuy nhiên, còn có thể hiểu khác đi, nghĩa là trời mới, đất mới (17-18), ở đây mô tả là xuất hiện trước các phước hạnh đó thì lại xuất hiện sau, đến kế sau các phước hạnh đó trong 21:1.  Vì lý do này xem ra chúng ta nên hiểu khúc Kinh Thánh này theo ý tương đồng, còn xem những chi tiết về tội nhân (20 xem lề bản NIV) và con rắn (25) là những lời hứa về sự đoán phạt và sự đắc thắng.  Trong thế giới hoàn hảo sắp tới kẻ ác không thể tung hoành nữa, không có cảnh cá lớn nuốt cá bé nữa, còn kẻ cám dỗ thì vô phương thoát khỏi án phạt (25 so sánh với Sa 3:14-15).  Nhưng tất cả những chuyện này được diễn tả qua khung cảnh địa phương, qua hình ảnh tiêu biểu và một cách khoáng đạt nhằm khơi dậy niềm hi vọng chớ không phải nhằm kích thích tánh hiếu kỳ.  Cuối cùng, chú ý là qua những chi tiết tương đồng với Es 11:6-9 chúng ta phải hiểu ngầm là nhờ Vua Cứu Thế mới có được cảnh thanh bình đó chớ không phải chỉ nhờ ban hành những luật lệ đầy sáng tạo.

(Es 66:1-5) Đám người thờ phượng được hoan nghênh đám người thờ phượng không được hoan nghênh Mấy câu này không nhằm phản đối việc tái thiết đền thờ như một số người chủ trương, vì chính Đức Chúa Trời chỉ thị về việc tái thiết chớ chẳng phải ai khác (Ag 1:2-11).  Trái lại, đây là những lời trách cứ chủ nghĩa tôn sùng đền thờ - tức là khuynh hướng bọc kín Đức Chúa Trời trong một bức tường do con người xây lên (1-2a so sánh IISa 7:6-7  Cong 7:48-50,54).  2b  Ghi nhận sự kiện Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải có thái độ hạ mình ăn năn như trong Lu 18:13, vì con người không những nhỏ nhoi mà còn tội lỗi nữa.  Tuy vậy, xem lại Es 57:15

Chủ nghĩa tôn sùng đền thờ này cũng nuôi dưỡng những việc vô ý thức (3) và cố chấp (5).  3  Nguyên bản Hi Bá Lai ghi là (nghĩa đen): ‘thọc huyết một con bò, giết một con người’... cũng có thể hiểu là (như đa số các bản dịch) nếu chỉ có nghi thức phải lẽ, đúng đắn mà thôi thì cũng chẳng khác gì những vụ giết sinh tế một cách vô ý thức và vụ thờ hình tượng (so sánh 1:13 Gie 7:21), hoặc hiểu là trong thực tế hiện nay nghi thức thờ phượng đang đi cặp với sự hung bạo và phạm thượng.  Thái độ cố chấp trong câu 5 được biểu lộ hầu như đúng từng chữ một trong Gi 9:24,34.  Đây là một trong những câu được viết sớm nhất ám chỉ về sự bắt bớ phát xuất hoàn toàn từ tôn giáo và lòng thù hận chỉ vì chủ trương thần học khác nhau.  Đây là một trong những vết ô nhục đen tối nhất của Hội Thánh.

(Es 66:6-17) Sự can thiệp cuối cùng Dù lời lẽ trong khúc Kinh Thánh này lẫn khúc Kinh Thánh kết tiếp vẫn là lời lẽ quen thuộc của Kinh Thánh Cựu Ước: đền thờ (6), xe ngựa (20) ngày trăng mới và ngày Sa-bát (23), mối quan tâm của hai khúc Kinh Thánh này rõ ràng là thời chung cuộc.  Câu 7-9 nhấn mạnh điểm mới mẻ hoàn toàn trong biến cố là điểm chê cười tiến trình chậm chạp của lịch sử: một quốc gia... được hình thành trong chốc lát là câu tương ứng với ICo 15:51-52  ‘chúng ta sẽ được biến hoá... trong nháy mắt’.  Câu 9 là câu trả lời đầy giọng hân hoan đắc thắng chung cuộc cho nội dung những lời vua Ê-xê-chia nhờ chuyển đạt đến cho tiên tri Ê-sai trong Es 37:3.

10-14  Các câu này mô tả quang cảnh hồ hởi phấn khởi của một gia đình, kết thúc một loạt những bài thơ về Si-ôn ví như người vợ và người mẹ (xem bình giải 49:14-23).  Cảnh trạng giờ đây tập trung vào đám con của Si-ôn (so sánh Ga 4:26).  Chú ý là mẫu thành thật sự không phải là nguồn chính mà chỉ là nguồn phụ đem lại cho họ của cải và niềm an ủi tất cả đều đến từ Đức Chúa Trời ngay cả tình yêu thương như tình yêu thương của một người mẹ (13), mặc dù Ngài sử dụng tập thể những người được cứu để phân phát quà tặng của Ngài.  Hai dòng cuối của câu này cho biết sự trợ giúp này đến từ đâu và từ ai:  Ta... ‘ở Giê-ru-sa-lem’ (so sánh bản RSV).  Thông công trực tiếp với Đức Chúa Trời và được tham gia đầy đủ trong hội thánh của Ngài là hai điều đi chung với nhau trong mấy câu này.  Trong Gi 16:22 Chúa Giê-xu nhắc lại cách rõ ràng hình ảnh trong câu 14a để chỉ về chính mình Ngài.

15-16  Lửa và gươm là tính cách mạnh bạo trong mọi sự can thiệp của Đức Chúa Trời (so sánh Mat 10:34), nhưng ở đây là lần can thiệp chót (so sánh 24,  IITe 1:7-10).  Dù mấy câu này nói về sự đoán phạt cả thế giới nhưng mục tiêu đặc biệt của cơn thạnh nộ là những người phản đạo trong c. 17 (so sánh Es 65:3-7  Le 11:7,29), là những người từng biết ánh sáng nhưng khinh thường chối bỏ.  17  Những kẻ biệt mình riêng ra có lẽ là người lãnh đạo trong nghi thức tôn giáo huyền bí (so sánh Exe 8:11, Gia-xa-nia ‘đứng giữa vòng họ’).

(Es 66:18-24) Các dân tộc được gom về Theo quan điểm thiên niên kỷ, sau khi Chúa Giê-xu tái lâm cuộc truyền giáo cho thế giới vẫn sẽ tiếp tục, rồi dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở về với Chúa hoàn toàn, rồi thành Giê-ru-sa-lem sẽ được thiết lập làm thủ đô của thế giới và trung tâm hành hương của mọi dân tộc trên thế giới.  Theo quan điểm khác, chúng ta có thể xem đây là phần phụ lục trải giữa hai mốc thời gian là Chúa đến lần thứ nhất và Chúa đến lân thứ hai.  Như vậy c. 18 sẽ là câu công bố mục đích của Ngài đối với thế giới và c.19-21 công bố phương cách Ngài đạt đến mục đích đó: một dấu hiệu (Chúa Giê-xu chịu đóng đinh và sống lại, Mat 12:38-40) thành phần sống sót, hoặc dân còn sót lại được cứu chuộc được sai phái đến các dân tộc (19) và dân sự của Ngài được gom vào Giê-ru-sa-lem (20), người ngoại bang cũng được kết nạp trọn vẹn làm thuộc viên tương tự như người Do Thái (21).  Trong quan điểm này thì Giê-ru-sa-lem không còn là một thành hiểu theo nghĩa đen (một lần nữa xin so sánh Ga 4:25-26).  Câu 22-24 hẳn là những câu mô tả (theo ngôn từ của Kinh Thánh Cựu Ước) cảnh trạng vinh quang chung cuộc và sự hư mất tận cùng.

Trong c. 19  các tên riêng ở đây tiêu biểu cho các địa danh xa xăm nhất trong thế giới của Y-sơ-ra-ên. 20-21  từ mọi ngõ ngách xa xôi trên địa cầu, dân ngoại bang sẽ đưa dân Y-sơ-ra-ên vốn bị tản lạc về Giê-ru-sa-lem như thể những lễ vật để bày tỏ lòng thần phục của mình.  Từ này chỉ về hai điều:  thứ nhất chỉ về của lễ bằng hạt ngũ cốc trong Le 2:1-16... nhưng thứ hai, cũng chỉ về lễ vật của kẻ thần phục dâng cho chủ vương.  Dầu sao, những dân ngoại bang này vẫn được tiếp nhận không phải chỉ được tiếp nhận trong tư cách là những bình chứa thánh sạch xứng đáng để đưa người Y-sơ-ra-ên đi, nhưng trong tư cách là các thầy tế lễ và người Lê-vi (Theo văn phạm thì một số người lựa từ trong đám họ có thể chỉ về người Y-sơ-ra-ên hồi hương, nhưng không chắc là có một điểm chùng xuống trái ngược với đỉnh điểm ở trên).  Trong Ro 15:15-16 ông Phao-lô vận dụng lối nói ví này một cách sống động dù hơi khác một chút.

22  So sánh trời mới... với Es 65:17. 23  Ngày trăng và ngày Sa-bát không còn ràng buộc chi phối Cơ Đốc nhân nữa (so sánh Co 2:16), không thể nào chủ trương rằng ‘những cái bóng’ đó sẽ được lập làm luật lệ trở lại, vì không thể nào có chuyện đó.  Ở đây những ngày này được nhắc đến để tiêu biểu cho nội dung những việc làm trong ngày.  Đó là mọi người vui mừng dâng đời mình cho Đấng Sáng Tạo.

23  So sánh với Da 12:2  Mac 9:48.  Ở nhà hội người ta đọc lại câu 23 sau khi đọc câu 24 để kết thúc lời tiên tri này trong giọng nhẹ nhàng hơn.  Nhưng đây là câu kết thúc đúng chỗ và hợp lý.  Xin trích dẫn lời của G.A. Smith như sau:  ‘Rõ ràng là không thể có một kết quả nào nữa khi mà người ta đã nghe đầy tai lời tiên tri vĩ đại chuyển đạt trọn vẹn sứ điệp cứu chuộc và niềm an ủi vỗ về nhưng họ vẫn thà miệt mài với hình tượng và thịt heo của mình..., thà ngồi trong huyệt mả thay vì trở về với Đức Chúa Trời là Đấng hết sức rõ ràng và với ân sủng hết sức lớn lao đến thế’.

Hãy tìm kiến Đức Chúa Trời khi Ngài còn cho gặp (Es 55:6)

Lên đầu trang