TÍT

MỤC LỤC

TÍT

1. LỜI CHÀO THĂM (Tit 1:1-4)

Đây là một lời chào thăm dài hơn cả trong I và II Ti-mô-thê rất nhiều.  Thật ra nó mang tính thần học nhiều hơn.  Chỉ ở đây, Phao-lô tự mô tả mình cụ thể là tôi tớ của Đức Chúa Trời, tuy ở chỗ khác, ông tự xưng là “tôi tớ của Đức Chúa Giê-xu Christ”.  Tuy nhiên, nhóm từ thông dụng sứ đồ của Đức Chúa Giê-xu Christ được thêm vào và khai triển sau đó.  Phao-lô nêu lên chủ đích của chức vị sứ đồ của ông là sự kết hợp giữa đức tin sự thông hiểu, theo nghĩa là làm thăng tiến cả hai (2).  Nhiệm vụ của ông là truyền bá Phúc Âm, ông thừa nhận rằng cả đức tin lẫn sự thông hiểu đều là cách đáp ứng thích hợp.  Sự thông hiểu cần có thêm phẩm cách, vốn là điều duy nhất dẫn đến một đời sống tin kính.  Hơn nữa, cả đức tin lẫn sự thông hiểu đều liên quan đến tương lai (trông cậy sự sống đời đời) cũng như với thực tại hiện hữu.

Tại sao Phao-lô lại đặt chen vào đây nhận định (Đấng) không thể nói dối để đề cập đến Đức Chúa Trời? Chắc chắn là Tít đã không hề nghi ngờ về điều đó.  Chắc ý định của ông là muốn nhấn mạnh tính đáng tin cậy của các lời hứa của Đức Chúa Trời.  Mấy chữ thêm vào từ muôn đời về trước lưu ý đến sự kiện các lời hứa ấy được đặt nền tảng trên những chủ đích đời đời của Đức Chúa Trời.  Được liên kết với quan điểm vĩnh hằng và các chủ đích của Đức Chúa Trời là thời kỳ được chỉ định để bày tỏ lời của Ngài ra, nghĩa là vào lúc Ngài nhập thể.  Mấy chữ ở đây nhắc lại phần mở đầu sách Phúc Âm Giăng.  Phao-lô chẳng bao giờ có thể rời xa tầm quan trọng của việc giảng dạy (3) nhằm truyền bá tin tức về hành động của Đức Chúa Trời, ông cũng không xa rời đặc quyền mà ông cảm nhận khi được đuợc kêu gọi để phục vụ Đức Chúa Trời theo cách đó.  Phần mô tả Tít là con thật ta trong đức tin chung (4) gợi ý rằng Tít là một bạn đồng sự thân tín của vị sứ đồ, tuy ông không được đề cập trong sách Công vụ các sứ đồ.  Tuy nhiên, ông được nói đến trong cả thư II Cô-rinh-tô lẫn thư Ga-la-ti.

2. VIỆC BỔ NHIỆM CÁC CHỨC SẮC CỦA HỘI THÁNH (Tit 1:5-9)

Những lời chỉ giáo dành cho Tít tương tự với các lời chỉ giáo cho Ti-mô-thê ở I Ti-mô-thê 3 nhưng có vài điểm khác nhau có ý nghĩa do hoàn cảnh có phần khác biệt hơn mà Tít bị đặt vào tại Cơ-rít.  Nhiệm vụ của ông gồm có hai phương diện: sắp đặt mọi việc chưa thu xếplập các trưởng lão (5).  Điều không được rõ ràng là Phao-lô còn để lại những việc gì chưa thu xếp xong, trừ phi ông muốn nói đến việc chỉ định và bổ nhiệm các trưởng lão.  Phao-lô không cho biết phải bổ nhiệm bao nhiêu người, nhưng rõ ràng là ông đã chỉ thị cho Tít về vấn đề này rồi.  Ông quan tâm nhiều hơn đến các phẩm cách đòi hỏi phải có (6).  Điểm nổi bật là sự cần thiết không phải chỉ về vấn đề không chỗ chê trách về mặt luân lý đạo đức (được đề cập hai lần) mà còn về một đời sống gia đình ổn định nữa.  Dường như nếu một người không giữ được cho con cái mình có nề nếp, thì sẽ bị xem là không đủ tư cách để lãnh đạo Hội Thánh.  Từ được dịch là tin có thể có nghĩa là “trung tín” (Bản dịch AV).  Không chắc Phao-lô muốn bảo rằng các lãnh đạo Hội Thánh có con cái chưa xưng nhận đức tin thì chưa đủ phẩm cách.

Sự thay đổi từ trưởng lão trong câu 5 sang giám mục trong câu 7 rất quan trọng, vì dường như không có sự khác nhau mấy giữa hai chức vị này.  Trưởng lão thi hành chức năng giám sát.  một sự pha trộn những thái độ và hành động sai lầm khiến một người không đủ tiêu chuẩn cho chức vụ (8-9).  Điều đáng ghi nhận là Tít không được khuyên rằng không nên bổ nhiệm những người mới ăn năn quy đạo như Ti-mô-thê đã được khuyên tại Ê-phê-sô, có lẽ vì Hội Thánh tại Cơ-rét chỉ mới được thành lập gần đây hơn.  Nếu câu 7 nêu ra mặt tiêu cực, thì mặt tích cực được tìm thấy trong hai câu 8 và 9.  Các đức hạnh được đề cập là những phẩm cách phải được nhìn thấy rõ ràng nơi một Cơ Đốc nhân tận hiến.  Điểm nhấn mạnh về lòng hiếu khách rất đáng lưu ý vì Hội Thánh ban đầu phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề đó.  Câu 9 làm sáng tỏ việc lãnh hội đạo lành quan trọng như thế nào đối với những người thi hành quyền lãnh đạo người khác trong Hội Thánh.  Người ta chỉ có thể phản bác các giáo sư giả nếu đã thông hiểu thấu đáo giáo lý thuần chánh.  Theo quan điểm của Phao-lô thì không thể có sự mập mờ trong các vấn đề này.

3. CÁCH ĐỐI PHÓ VỚI CÁC GIÁO SƯ GIẢ (Tit 1:10-16)

Một lần nữa, có một ít điểm khác biệt giữa đoạn sách này với các khúc sách trong I và II Ti-mô-thê về cách đối phó với các giáo sư giả.  Ở đây có sự nhấn mạnh rõ ràng hơn về lời truyền dạy thiên về Do Thái giáo.  Nhóm người chủ trương phải làm phép cắt bì và các thần thoại Do Thái cũng được đề cập (14).  Tuy nhiên, các đặc điểm rõ rệt nhất của các giáo sư giả là lối trò chuyện rỗng tuếch của họ, cái khuynh hướng lường gạt, các hậu quả tai hại và động cơ tiền bạc (10-11).  Tình hình tại Cơ-rét thật trầm trọng hơn do cá tính của dân chúng, được diễn tả trong câu 12 bởi một trong các thi sĩ của chính họ được dư luận rộng rãi xác định là Epimenides, một triết gia hồi thế kỷ thứ sáu T.C..

Do tính cách khó chịu của đám người này, Phao-lô khuyên phải có biện pháp mạnh.  Đáng phải bịt miệng họ đi (10) hãy quở nặng họ (13) và Tít chớ nghe (chú ý đến) họ (14).  Phao-lô không tin là họ đáng để tranh luận, nhưng Tít phải tập trung vào việc quở trách họ, để họ có thể trở nên vẹn lành trong đức tin.  Đây là một phương pháp tiếp cận tích cực vẫn còn giá trị rất lớn khi đối phó với những người đã đi lệch khỏi chân lý.  Câu 15 cung cấp thêm một lời bình luận để giúp Tít vì những kẻ có tâm trí ô uế sẽ không thể nhận thức được sự thanh sạch.  Một khi tâm trí đã băng hoại, thì lương tâm tức khắc noi theo.  Phao-lô nhận thức rằng các giáo sư giả vốn tế nhị trong cách làm ra vẻ đạo đức bề ngoài (họ xưng mình biết Đức Chúa Trời), nhưng hành động của họ lại từ chối Ngài (16).  Có thể nghĩ rằng Phao-lô đã đặc biệt nói nghịch lại họ trong phần thứ hai của câu 16, và điều này cho thấy thái độ ghê tởm của ông đối với những kẻ dẫn dụ người khác đi sai lạc.  Thật khó có thể nào nhấn mạnh hơn tầm quan trọng của việc phải thông hiểu đúng giáo lý Cơ Đốc.

4. NHỮNG LỜI CHỈ GIÁO CHO NHIỀU NHÓM NGƯỜI KHÁC NHAU (Tit 2:1-10)

1. Về những người cao tuổi (Tit 2:1-3)

Ở đây Phao-lô một lần nữa dùng cách nói về giáo thuần chánh hay đạo lành (Tit 1:9).  Điều này tương phản với lời truyền dạy “bệnh hoạn” của các giáo sư giả.  Từ được dịch là hiệp với lưu ý đến sự phù hợp của lời truyền dạy, gợi ý rằng tà giáo không phù hợp trong phương diện này.  Rồi Phao-lô tiếp tục đưa ra nhiều thí dụ về những gì ông ngụ ý muốn nói liên quan đến lời truyền dạy thích hợp.  Nó đại khái có tính cách thực tiễn.  Những người già cả phải dùng đời sống mình để chứng minh rằng cách ăn ở cư xử của họ là phù hợp với giáo lý của họ (2).  Điều này đòi hỏi cách cư xử khiến cho người khác phải kính trọng.  Nhưng Phao-lô bổ sung thêm cho ý này khi bảo họ cũng cần phải có đức tin, lòng yêu thương tánh nhịn nhục vẹn lành nữa, vốn là một kết hợp vẫn xuất hiện đây đó trong các Giám mục thư và trong các bức thư khác của ông (ITe 1:3).  Khi đưa ra lời khuyên cho các cụ , Phao-lô chú trọng vào sự cần thiết phải có thái độ nghiêm túc của tâm trí (3).

Việc cấm nói xấu và uống rượu quá độ phản ảnh tình hình thời bấy giờ tại Cơ-rét.  Sự kiện Phao-lô dùng một từ ngữ (nghiện rượu) gợi ý sự nô lệ cho việc uống quá nhiều rượu, cho thấy vấn đề này thật là nghiêm trọng giữa vòng các phụ nữ tại Cơ-rét hơn là tình hình tương tự tại Ê-phê-sô (ITi 3:8,11), nơi ông đã dùng một cách diễn tả nhẹ nhàng hơn.  Về một âm hiệu tích cực, thì các phụ nữ cao tuổi phải là những giáo sư giỏi tại gia.

2. Về các thanh niên (Tit 2:4-8)

Phao-lô thấy các phụ nữ cao tuổi có nhiệm vụ phải dạy bảo các phụ nữ trẻ tuổi hơn.  Điều này rõ ràng cần đến một sự khôn khéo để tránh cái ấn tượng can thiệp vào việc của người khác.  Lời chỉ giáo phải tập trung vào tình yêu đối với chồng con.  Điều này không thể bị xem nhẹ, nhất là trong thời đại hiện nay của chúng ta, khi mà tỷ lệ ly dị cứ tăng nhanh, và khi việc chăm sóc con cái rất thường bị đặt sau vấn đề sự nghiệp.  Đức hạnh đòi hỏi nơi phụ nữ trẻ là các đức hạnh phù hợp với bối cảnh gia đình, nơi mà đức tự chủ, trong sạch và dịu dàng tử tế đều có giá trị lớn lao trong một gia đình theo Cơ Đốc (5).  Cũng như ở một chỗ khác, Phao-lô cho rằng một người vợ Cơ Đốc phải vâng phục chồng.  Toàn bộ chủ đề này đều bị động cơ tôn giáo áp đảo, nhằm tránh bất cứ sự chê bai nào đối với đạo Đức Chúa Trời.  Trong một phần thảo luận đầy đủ hơn về mối liên hệ vợ chồng (xem phần giải nghĩa Eph 5:22-33), Phao-lô đặt sự vâng phục của người vợ vào trong văn cảnh của tình yêu sẵn sàng hi sinh của người chồng.  Vào thời ấy, và hiện nay, mối liên hệ lý tưởng này đòi hỏi sự quên mình của mỗi người đối với nhau.  Hễ nơi nào sự vâng phục hay tình yêu sẵn sàng hy sinh bị bỏ quên hay bị tổn thương thì hôn nhân bị ảnh hưởng hoặc bị sụp đổ hoàn toàn.

Khi đề cập đến các thanh niên, sau khi khuyến giục phải tự chủ (một đòi hỏi đối với mọi hạng tuổi) Phao-lô nhấn mạnh nhất về gương tốt của Tít (7).  Là một người thi hành chức vụ của Phúc Âm, ông có trách nhiệm nặng nề là phải tỏ ra thanh liêmnghiêm trang, nhất là trong cách nói năng.  Điều này cũng xuất phát từ một động cơ tôn giáo nữa, nghĩa là để người khác không có cớ nói xấu các Cơ Đốc nhân.

3. Về nô lệ (Tit 2:9-10)

Phao-lô đã đề cập vấn đề về chế độ nô lệ trong I Ti-mô-thê 6 và những gì ông nói ở đây cũng tương tự như thế.  Từ được dịch là vâng phục ở đây có nghĩa mạnh hơn “vâng lời” và phản ảnh tình hình xã hội thời bấy giờ.  Các nô lệ Cơ Đốc còn có thêm trách nhiệm là phải cố gắng để làm đẹp lòng các chủ nô của mình mà không được cãi trả.  Việc các nô lệ được khuyên chớ ăn cắp gợi ý rằng họ vốn đặc biệc dễ bị cám dỗ trong vấn đề này.  Phao-lô thấy khả năng để các nô lệ giới thiệu Phúc Âm bằng thái độ của họ, một khả năng mà dĩ nhiên có thể được dùng như nhau đối với toàn thể các Cơ Đốc nhân.  Từ ngữ Hi văn được dịch ra là làm cho tôn quí vốn được dùng chỉ cách dùng đồ trang sức để khiến người sử dụng chúng trở nên hấp dẫn nhất.

5. NỀN TẢNG GIÁM LÝ CHO ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC NHÂN (Tit 2:11-3:8)

(Tit 2:11-15) Đầy ơn với cương vị một giáo Đặc điểm của Phao-lô là hay chuyển sang một quan điểm thần học khi bàn về cách ăn ở cư xử, vì các nhận định về giáo lý chẳng bao giờ thiếu trong các phần thảo luận của ông.  Ở đây, ông dùng thuật ngữ ân điển của Đức Chúa Trời để tóm tắt mọi hành động của Đức Chúa Trời thay cho chúng ta.  Bằng một câu ngắn gọn, Phao-lô lưu ý về sự nhập thể lẫn sự cứu chuộc, rồi nối kết chúng với sự tái lâm.  Sự xuất hiện của sự cứu rỗi chỉ về sự giáng lâm lần đầu tiên của Chúa Giê-xu, nhưng phải hiểu câu hay cứu mọi người như thế nào? Phải chăng Phao-lô ngụ ý dạy rằng mọi người đều được cứu? Nếu sự hiện ra của Ngài được xem như một sự kiện lịch sử, thì quả đúng là sự giáng lâm của Chúa Giê-xu đã có một ý nghĩa phổ quát.  Ý nghĩa có thể có, là bởi ân điển Ngài, Đức Chúa Trời đã khiến cho tất cả mọi người đều có thể được cứu rỗi.  Nhưng phạm vi ân điển của Đức Chúa Trời không phải là điểm nhấn mạnh chính, mà đó là cách cư xử đạo đức của Cơ Đốc nhân xuất phát từ ân điển Đức Chúa Trời.  Đó cũng là ý nghĩa của câu 12.  Trở lực của sự không tin kính là mục đích chính của ân điển Đức Chúa Trời.  Thật vậy, người ta không thể nào sống tự chủ ngoài ân điển của Đức Chúa trời.  Sự tự chủ không thể thực hiện được chỉ nhờ vào nỗ lực bản thân.  Điểm này phân biệt ngay tức khắc đạo đức học Cơ Đốc với Thuyết Khắc Kỷ (Stoicism) vốn đề cao tinh thần tự quyết.

Trong khúc sách này, Phao-lô nối liền hiện tại với quá khứ và tương lai.  Nhiệm vụ hiện tại được nhìn thấy trong câu 12 – sự đòi hỏi phải sống tin kính trong đời này.  Nhưng trong câu 13, trọng tâm rơi vào tương lai.  Sự trông cậy hạnh phướcsự hiện ra của sự vinh hiển rõ ràng là vẫn chưa xảy ra, tuy chúng đều có ảnh hưởng đặc biệt đối với hiện tại.  Phao-lô trình bày một thế cân bằng đẹp đẽ giữa những điều trông mong vinh hiển trong tương lai của Cơ Đốc nhân với những trách nhiệm hiện tại của họ.  Việc trông mong Chúa tái lâm là điểm căn bản trong giáo lý của Phao-lô về tương lai.  Ở đây, điều có ý nghĩa là Phao-lô đề cập cùng lúc Đức Chúa Trời lớn Cứu Chúa chúng ta Đức Chúa Giê-xu Christ, vì điều này gợi ý rằng ông tin quyết vào thần tánh của Chúa Giê-xu, một tư tưởng phù hợp với cách hiểu đúng nhất cho Ro 9:5.  Có một số người tách rời Đức Chúa Trời với Cứu Chúa, nhưng đó không phải là ý nghĩa rõ rệt của văn bản Hi văn.  Một khả năng nữa là hiểu “Đức Chúa Giê-xu Christ” như một cách giải nghĩa về “sự vinh hiển”, mà trong trường hợp đó Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-xu không được đồng nhất hoá rõ ràng như thế.  Nhưng kết hợp “Cứu Chúa” với Cứu Chúa Giê-xu dựa vào câu tiếp theo đó thì tự nhiên hơn.

Trong câu 14, Phao-lô nhìn lui trở về quá khứ, về hành động cứu chuộc mang tính lịch sử đã tạo thành nền tảng của địa vị Cơ Đốc nhân.  Ông đạt được điều đó khi suy nghĩ về những gì mà Chúa Cứu Thế đã làm cho chúng ta.  Trong ITi 2:6 Phao-lô đề cập rằng Chúa Cứu Thế đã dâng mình làm một “giá chuộc” còn ở đây, ông tiếp tục cùng một ý niệm ấy bằng cách dùng động từ truy nguyên từ danh từ ấy.  Sự cứu chuộc là một chủ đề tâm đắc của vị sứ đồ.  Nó mang ý niệm về sự giải phóng khỏi ách nô lệ mà trong trường hợp ở đây, đã được tóm tắt là mọi tội.  Phao-lô thấy công việc của Chúa Cứu Thế là làm điều gì đó cho chúng ta vì chúng ta không thể nào làm được cho mình.  Được giải thoát khỏi tội lỗi là ý nghĩa đầy đủ nhất.  Nhưng với Phao-lô sự giải thoát có đến hai phương diện: không chỉ là khỏi tội, mà còn đến một đời sống thanh sạch.  Ẩn dụ về sự rửa sạch, là một phương sách tâm đắc khác nữa của Phao-lô để giải thích công lao của Chúa Cứu Thế.  Cơ Đốc nhân là một con người đã được làm cho sạch (Eph 5:25,26).  Cái ý niệm về dân sự Đức Chúa Trời là một tài sản đặc biệt của Chúa Cứu Thế Giê-xu, đã được đưa ra thật sống động ở đây.  Về một từ ngữ tương tự, xin tham khảo Xu 19:5.  Mục tiêu của Cơ Đốc nhân là làm điều lành được thúc đẩy mạnh mẽ bởi tư tưởng rằng nó là điều thiết yếu, bởi vì chúng ta thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu một cách đặc biệt.

Câu 15 là một cách kết luận cho những lời chỉ giáo thực tiễn, tuy Phao-lô vẫn chưa nói xong các suy nghĩ thần học của mình, vì ông sẽ trở lại với chúng trong chương 3.  Tít được nhắc nhở về sự cần thiết phải thực thi uy quyền để hỗ trợ cho sự dạy dỗ này.  Uy quyền ấy được căn cứ trên sự dạy dỗ của các sứ đồ, và phải giúp đỡ Tít chống lại ý đồ của số người muốn khinh dể ông.

(Tit 3:1-2) đốc nhân trong cộng đồng Dường như Tít đã từng dạy mọi người về trách nhiệm của họ đối với các nhà cầm quyền rồi, vì ông được bảo là hãy nhắc lại cho họ.  Nhưng có lẽ người Cơ-rét có xu hướng quên rằng sự vâng phục đối với các nhà cầm quyền làđiều được trông đợi nơi các Cơ đốc nhân.  Phao-lô thừa nhận rằng ngoại trừ các vấn đề liên quan đến lương tâm, thì thái độ không vâng phục về mặt chính trị sẽ làm cho Phúc Âm mang tiếng xấu.  Điểm nhấn mạnh trong câu 2 làcách ăn ở cư xử phải khiến cho Phúc Âm được khen ngợi.  Người ngoại phải có ấn tượng về người công dân tốt giữ đúng pháp luật.  Hãy đặc biệt lưu ý các đức tính về sự cân nhắc và khiêm tốn, vốn thường không được đặt lên hàng đầu trong các mối quan hệ xã hội.

(Tit 3:3-8) Phúc Âm tương phản với ngoại giáo Trong các bức thư của ông, Phao-lô thường đối chiếu tình trạng của các Cơ Đốc nhân trước khi họ ăn năn quy đạo, với tiềm năng mới mẻ của họ trong Chúa Cứu Thế.  Câu 3 lưu ý đến quá khứ.  Bảng liệt kê các thói xấu được kể ra ở đây vốn được xem là tiêu biểu cho từng trải trước khi là Cơ Đốc nhân dường như có phần phóng đại.  Nhưng có chứng cứ về các nhược điểm ấy trong kinh nghiệm của tất cả các Cơ Đốc nhân trước khi họ ăn năn quy đạo và các dấu vết vẫn còn tồn tại sau đó nữa.  Ngu muội nói lên sự thiếu hiểu biết thuộc linh, bội nghịch và lừa dối được thấy trong các mối liên hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời, còn toàn thể bối cảnh của đời sống được tóm tắt là làm nô lệ cho những đam mê và lạc thú.  Điều quan trọng là phải thừa nhận lẽ đương nhiên của nếp sống này trước khi người ta trở thành Cơ Đốc nhân để nhìn thấy một cách sống động hơn sự thay đổi mà Cơ Đốc giáo đem đến.  Cao điểm được đạt đến khi sự nhân bội lòng căm thù được dùng làm nền để mô tả nét tương phản với tình yêu của Đức Chúa Trời.

Trong một nhận định mang tính cách thần học trong các câu 4-7, Phao-lô đưa ra điều mà lòng nhơn từtình thương yêu của Đức Chúa Trời đã làm để phản công lại sự căm thù cứ ngày càng gia tăng của thế giới tự nhiên.  Trọng tâm tình yêu của Đức Chúa Trời tập trung vào sự giáng lâm và sứ mạng của Chúa Cứu Thế, nhưng trong văn cảnh này điểm nhấn mạnh chính là kinh nghiệm của Cơ Đốc nhân về tình yêu đó.  Khi đề cập Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta có lẽ Phao-lô muốn đặt Đức Chúa Trời tương phản với hoàng đế, là người mà trong thế giới thời bấy giờ thỉnh thoảng vẫn được dành cho danh hiệu là Vị cứu tinh.  Nhưng căn cứ vào Tit 2:11-14 thì điều càng hữu lý hơn là tâm trí Phao-lô đang nghĩ xuyên suốt về sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế.  Trong câu 5 Phao-lô bám chắc sự cứu rỗi nơi lòng thương xót của Đức Chúa Trời chớ không phải ở nỗ lực của con người (sự công bình ở đây chỉ về những gì đã đạt được nhờ các công việc làm của luật pháp), phù hợp với lời truyền dạy của ông ở chỗ khác (nhất là trong thư Rô-ma).

Có nhiều tranh luận về cách dẫn dắt bởi sự rửa về sự lại sanh sự đổi mới của Đức Thánh Linh (5).  Sự kết hợp những thuật ngữ này trình bày hai phương diện về sự cứu rỗi của Cơ Đốc nhân.  Sự tái sanh là bước vào một đời sống mới, và sự đổi mới là kết quả của chính đời sống mới đó.  Sự tái sanh có thể hiểu là có liên hệ với việc ăn năn quy đạo trong khi sự đổi mới có liên quan đến việc ban cho của Đức Thánh Linh.  Có rất nhiều điều cần nói để hiểu sự lại sanh ở đây theo nghĩa được tìm thấy trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu (Gi 3:5).  Có nhiều ý kiến khác nhau về cách lý giải sự rửa, vì không phải tất cả mọi người đều nhìn thấy điều này đề cập đến sự quy đạo.  Nó có thể chỉ phép báp-tem, là trường hợp mà cả hai từ ngữ đều có thể đề cập đến ảnh hưởng của Đức Thánh Linh trong phép báp tem.  Từ ngữ này cũng có thể được hiểu là sự tẩy sạch thuộc linh theo nghĩa bóng.

Câu 6 rõ ràng là ám chỉ việc Đức Thánh Linh đã được ban xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần.  Khi Phao-lô suy gẫm kinh nghiệm của riêng ông và của các bạn đồng sự của ông (xin chú ý mấy chữ trên chúng ta) ông rất kinh ngạc về tính rời rộng của sự ban cho này.  Đức Thánh Linh chẳng bao giờ được ban cho nhỏ giọt.  Câu này đề cao hoạt động theo ba phương diện của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giê-xu Christ Cứu Chúa chúng ta, và Đức Thánh Linh.

Phao-lô kết thúc nhận định thần học ngắn gọn này bằng một đề cập về sự xưng công bình.  Phao-lô có cách nhấn mạnh điển hình rằng sự xưng công bình là nhờ ân điển, vì đây là một chủ đề tâm đắc của ông.  Điều này chủ yếu đề cập địa vị mới của chúng ta đối với Đức Chúa Trời và chỉ về tương lai của chúng ta.  Đây là một trong số nhiều chủ đề khác nữa của Phao-lô nhằm lưu ý về cơ nghiệp của chúng ta, và tại đây, ông tập trung vào sự sống đời đời.  Ông gọi nó là sự trông cậy, theo nghĩa là một điều gì đó chắc chắn.

Đoạn này kết thúc bằng công thức về lời nói đáng tin (8), vốn có liên hệ với nhận định thần học vừa được xét đến.  Nhưng tiếp theo đây còn có một yêu cầu trực tiếp là Tít phải nhấn mạnh đến (mọi) sự đó vốn nên hiểu là toàn thể những gì Phao-lô đã viết trong bức thư này.  Điều khiến ông lo lắng nhất là phải thu được một kết quả thực tiễn. một sự tận hiến thận trọng để làm việc lành.  Ngụ ý này là một nền tảng thần học lành mạnh rất cần thiết cho các hành động đúng.  Ý nghĩa của những điều này ở cuối câu 8 có phần mơ hồ.  Nếu đó là những điều giống như ở phần đầu câu thì chúng đề cập các chân lý thiết yếu của Phúc Âm.  Nhưng nếu chúng phản nghĩa với tà thuyết vô ích thì chúng có thể là những việc làm tốt lành của các tín hữu.  Vì điểm nhấn mạnh trong câu 9 là những cãi lẽ dại dột, dường như quan điểm trước là hữu lý hơn.

6. NHỮNG LỜI CẢNH CÁO THÊM (Tit 3:9-11)

Ở đây có âm vang của một lời cảnh cáo đã được đưa ra trong Tit 1:10.  Phao-lô không thể kết thúc mà không đưa ra thêm một lời cảnh cáo.  Vì ông nhấn mạnh sự vô ích của tà thuyết, có lẽ ông thấy nó tương phản với lời truyền dạy tích cực ông vừa đưa ra.  Ông bảo với Tít cũng như đã từng bảo với Ti-mô-thê, là phải tránh việc phí thì giờ cho các cuộc tranh luận vô ích đó.  Nhưng ông rút ra một phân biệt giữa sự dạy dỗ với những người có liên quan..  Toàn thể quý vị mục sư phải quan tâm đến các tín đồ của mình, nhất là những kẻ gây rắc rối trong cộng đồng, và phải cảnh cáo những kẻ ấy.  Nhưng ông xét thấy chỉ cần một lời cảnh cáo song phương là đủ.  Những kẻ cố ý hoạt động nhằm gây chia rẽ rất ít khi chịu đáp ứng hơn điều này.  Theo quan điểm của Phao-lô, một người như thế chắc chắn có một tâm trí hư xấu.

7. NHỮNG NHẬN ĐỊNH KẾT THÚC (Tit 3:12-15)

Rõ ràng là A--ma hoặc Ti-chi- đã phải thay thế Tít ở Cơ-rết.  Phao-lô đề cập ý định của ông muốn qua trú đông tại Ni-cô-bô-li, mà mọi người đều nghĩ rằng đó là một thành phố nằm trên duyên hải phía Đông Hi Lạp.  Không có một lý do nào được đưa ra cho việc chọn một địa điểm nằm ngoài đường đi như thế.  -na không được đề cập ở chỗ nào khác trong Tân Ước.  A-- đã được biết trong sách Công Vụ và thư I Cô-rinh-tô như một bạn đồng sự của vị sứ đồ.  Rõ ràng là bằng cách nào đó, Tít phải sẵn sàng cấp cho hai người này sự giúp đỡ về vật chất cho chuyến du hành của họ.  Rồi Phao-lô ngỏ lời với các Cơ Đốc nhân người Cơ-rét nói chung và nhấn mạnh một lần nữa giá trị của các công việc lành.  Chẳng có gì rõ ràng là ông đang nghĩ đến những túng ngặt của ai.  Có thể Phao-lô ngụ ý đến những trường hợp túng thiếu; trong trường hợp đó thì lời kêu gọi này là về các công việc từ thiện.  Điều này sẽ tạo ý nghĩa cho phần cuối cùng (khỏi sống đời sống không kết quả).  Mấy lời chào thăm kết thúc đều rất tổng quát, còn lời cầu nguyện xin ban ân điển thì ngắn ngủi bất thường.

Lên đầu trang