IITI-MÔ-THÊ
1. LỜI KHÍCH LỆ HÃY TRUNG TÍN (IITi 1:1-18)
1. Lời chào thăm (IITi 1:1-2)
Có một điểm hơi khác nhau giữa phần mở đầu của bức thư này với phần mở đầu thư I Ti-mô-thê. Ở đây, Phao-lô đề cập chức sứ đồ của ông là theo ý muốn Đức Chúa Trời, một sự kiện ông không chán nhắc lại. Khi ông viết thêm (theo) lời hứa của sự sống thì các lời lẽ vốn có đến hai nghĩa, đề cập một niềm hy vọng tương lai cũng như một sự thật hiện tại. Phần mô tả Ti-mô-thê là con rất yêu dấu của ta nhấn mạnh thêm mối liên hệ đặc biệt giữa hai người.
2. Lời cảm tạ (IITi 1:3-5)
Trong khi việc đưa một lời cảm tạ vào trong các bức thư là chuyện bình thường thì chỉ có ở đây trong các Giám mục thư, Phao-lô mới làm như thế. Ông đề cập tổ tiên ta cho thấy tầm quan trọng ông gán cho di sản Do Thái vốn cũng bởi đó mà có Cơ Đốc giáo. Một việc làm điển hình của vị sứ đồ, là bảo đảm với các độc giả của mình rằng ông thường xuyên cầu nguyện cho họ. Khi bảo rằng ông làm việc ấy cả ngày lẫn đêm thì dường như ông có hơi phóng đại, nhưng xin hãy xem Cong 20:31 về một lời tuyên bố cũng mang một phong cách tương tự. Không ai dám phủ nhận tầm quan trọng mà Phao-lô gán cho việc cầu nguyện. Bao gồm cả trong lời cảm tạ của ông là sự hồi tưởng về những giọt lệ của Ti-mô-thê và đức tin thành thật của ông. Những giọt nước mắt đó của Ti-mô-thê nói lên sự gắn bó chặt chẽ của ông với vị sứ đồ, là điều mà rõ ràng được chính Phao-lô đáp lại. Mong ước được đoàn tụ cũng được thể hiện thật rõ ràng. Nơi đâu mà những tình cảm dâng lên mạnh mẽ thì sẽ có cả nước mắt lẫn niềm vui.
Rõ ràng là Phao-lô vốn quen biết với mẹ và bà nội Ti-mô-thê, vì ông biết đức tin của họ (5). Tuy Phao-lô có thể đề cập đến Do Thái giáo nhưng văn cảnh sẽ có nghĩa hơn nếu chúng ta hiểu rằng Cơ đốc giáo mới là điều vị sứ đồ đang nói đến ở đây. Ít nhất chúng ta cũng có thể căn cứ vào IITi 3:14 để kết luận rằng môi trường gia đình của Ti-mô-thê không những gồm những thành viên đầy tin kính mà còn có một ảnh hưởng tốt từ việc hiểu biết về Kinh Thánh. Tuy nhiên, Phao-lô tin quyết rằng Ti-mô-thê không nên cậy vào đức tin của cha mẹ mà phải có đức tin của riêng mình.
3. Phát triển ân tứ (IITi 1:6-10)
Mặc dù Phao-lô dùng phép ẩn dụ được rút ra từ việc quạt những cục than của một ngọn lửa yếu ớt để khích lệ Ti-mô-thê phát triển ân tứ của ông, nhưng chúng ta không nên căn cứ vào đó để suy diễn rằng đức tin của Ti-mô-thê đang bị tàn lụi. Có lẽ Phao-lô nghĩ rằng ông cần thúc giục Ti-mô-thê tận dụng ân tứ mà ông đã nhận được lúc ông được biệt riêng ra cho chức vụ. Ân tứ này rõ ràng là có liên hệ với Đức Thánh Linh, như câu 14 cho thấy, nên vượt trội hơn mọi tài năng (ân tứ) tự nhiên. Một điều đáng chú ý rằng ngay cả với ân tứ của Đức Thánh Linh, khi muốn cho ngọn lửa cháy bùng lên vẫn cần có một phần cộng tác của con người. Theo câu 7 thì dường như rõ ràng là Ti-mô-thê vốn có tính nhút nhát, trong khi Thánh Linh đem đến năng lực, tình yêu và đức tự chủ. Đức Thánh Linh không biến một người nhút nhát thành mạnh mẽ, nhưng Ngài ban cho những năng lực cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Đoạn tiếp theo (8-10) cho thấy cách ứng dụng câu cuối của phân đoạn vừa đề cập. Sự nhút nhát dễ nuôi dưỡng sự xấu hổ, nên Phao-lô cảnh cáo điều đó. Lời kêu gọi Ti-mô-thê hãy cùng với ông chịu khổ với Tin Lành là một lời nhắc nhở thật cảm động rằng Phao-lô đang ở tù khi viết bức thư này. Chỉ cần nói đến Phúc Âm đủ khiến cho sứ đồ suy nghĩ về quyền năng và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Ở đây, ông đã kết hợp nhiều chủ đề lại với nhau – quyền năng của Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi, đời sống thánh khiết, chủ đích và ân điển của Đức Chúa Trời. Câu chẳng phải theo việc làm (của) chúng ta thể hiện ý thức đặc biệt của Phao-lô rằng sự cứu rỗi hoàn toàn thuộc về ân điển. Ti-mô-thê được nhắc nhở rằng việc chịu khổ vì một chân lý như thế phải được nghĩ đến, nhưng sẽ là bởi quyền phép Đức Chúa Trời chớ không phải nhờ sức riêng.
Phao-lô khai triển ý niệm về ân điển (9-10) Ý niệm này tập trung vào Chúa Cứu Thế Giê-xu, có nguồn gốc cổ xưa (từ trước muôn đời vô cùng), và được bày tỏ qua sự nhập thể của Chúa Cứu Thế, Đấng huỷ diệt sự chết. Phao-lô viết rõ rằng mọi điều đó đã xảy ra, không phải bởi những nỗ lực của loài người, mà bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Ý niệm của ông về Phúc Âm vốn bắt nguồn từ việc Đức Chúa Trời ban cho sự sống và sự không hề chết. Những sự cung ứng kỳ diệu của Đức Chúa Trời đã trở nên rõ ràng qua Phúc Âm, vốn là lời bày tỏ tận tường về những điều đó.
4. Lời chứng riêng của Phao-lô (IITi 1:11-12)
Tại sao Phao-lô lại cần nhắc nhở Ti-mô-thê về sứ mạng của ông để truyền giảng Phúc Am khi ông cũng đã đề cập việc này ở ITi 2:7 ? Có lẽ vì Phao-lô muốn khích lệ Ti-mô-thê. Nếu vị đại sứ đồ, với ý thức rõ ràng về sứ mạng mà còn được kêu gọi để chịu khổ, thì Ti-mô-thê cũng không nên ngạc nhiên nếu sự việc tương tự xảy đến cho mình. Câu 12 là một khẳng định quan trọng đã chứng minh một cảm thúc đối với nhiều người. Sau khi khuyến giục Ti-mô-thê chớ lấy làm hổ thẹn trong câu 8 giờ đây Phao-lô khẳng định rằng bản thân ông không hổ thẹn về sự chịu khổ của mình. Ông như bị nung sôi bởi niềm tin quyết rằng Đức Chúa Trời có quyền phép giữ điều mà ông đã phó thác cho Ngài. Lời bảo đảm của ông ở đây dựa trên cơ sở là sự hiểu biết của riêng ông về Đức Chúa Trời và Phao-lô chẳng có chút gì để thiếu tin chắc cả. Niềm tin quyết của ông ở đây đạt đến một sự chắc chắn thật.
Nhưng Phao-lô đã phó thác gì cho Đức Chúa Trời? Bản Hi văn đề cập “điều đã phó thác của ta”. Một số người thấy điều đó có liên quan với điều mà Đức Chúa Trời đã phó thác cho Phao-lô nghĩa là sự sai phái hay giáo lý của Ngài, mà như thế thì phù hợp với cách dùng cùng một từ ngữ ấy trong câu 14. Nhưng tốt hơn hết là nên hiểu “sự ta đã phó thác” trong khúc sách trước là những điều mà Phao-lô hoàn toàn phó thác cho Đức Chúa Trời – chính bản thân ông, sự thành công và việc tiếp tục sứ mạng truyền giáo của ông, tất cả những gì thật thiết thân với ông. Mấy chữ cho đến ngày đó có lẽ ngụ ý đến ngày mà Phao-lô biết ông phải khai trình về chức quản gia của mình. Ông đã sống và làm việc trong suy nghĩ chuẩn bị cho ngày tính sổ cuối cùng, nhưng chắc chắn rằng ông có thể phó thác kết quả cho Đức Chúa Trời. Điều này được dùng để đem đến sự khích lệ thật cho Ti-mô-thê.
5. Một lời khuyên cho Ti-mô-thê (IITi 1:13-14)
Phao-lô vẫn ý thức mối đe doạ của các giáo sư giả và nghĩ đến việc hậu thuẫn cho Ti-mô-thê để chiến đấu chống lại mối đe doạ đó. Điều cấp bách nhất cho Ti-mô-thê là phải giữ lấy mẫu mực của các sự dạy dỗ có ích được xác định là sự con đã nhận lãnh nơi ta. Ở đây Phao-lô không có ngụ ý rằng điều này chung quy là việc truyền lại sự dạy dỗ của ông, vì ở chỗ khác ông cho biết rõ ông đã được nhận lãnh sự dạy dỗ đó (ICo 15:3). Nhiệm vụ của Ti-mô-thê là phải giữ lấy điều phó thác này theo nghĩa là gìn giữ nó an toàn. Phao-lô ý thức sâu sắc rằng điều ấy chỉ có thể thực hiện được nhờ sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, là người bảo vệ thật sự cho chân lý.
6. Phao-lô và các bạn đồng sự (IITi 1:15-18)
Lòng tin cậy của ông đối với Ti-mô-thê nhắc nhở vị sứ đồ về kinh nghiệm của ông với một số người khác, trong đó có một số đã tỏ ra không đáng tin cậy. Ông cho rằng chắc Ti-mô-thê sẽ biết là mọi người ở xứ A-si đã lìa bỏ ta. Sự đào ngũ toàn diện này chắc đã khiến cho Phao-lô rất đau lòng. Việc Phao-lô đề cập đặc biệt về Phy-ghen và Hẹt-mô-ghen (15) có lẽ gợi ý rằng họ là những kẻ cầm đầu.
Ô-nê-si-phô-rơ thì đáng khích lệ hơn. Phao-lô đề cập ông này bằng thì quá khứ, và không rõ là ông ta có còn ở quanh đấy không, vì sự đề cập là về nhà Ô-nê-si-phô-rơ. Nhưng cũng không cần phải phân biệt Ô-nê-si-phô-rơ với nhà của ông ta. Phao-lô đề cập nhiều phương diện mà người này đã giúp đỡ ông, nhất là ông bảo rằng Ô-nê-si-phô-rơ chẳng hề lấy sự ông bị xiềng xích làm xấu hổ, và đã thật sự chịu khó nhọc đi tìm ông ở Rô-ma. Phao-lô cầu nguyện hai lần xin Chúa thương xót Ô-nê-si-phô-rơ (16,18) lần thứ hai có liên quan đến ngày đó, chắc ám chỉ ngày phán xét của Chúa Cứu Thế. Căn cứ vào việc Phao-lô nhắc đến sự giúp đỡ của Ô-nê-si-phô-rơ tại Ê-phê-sô, chúng ta có thể hiểu dường như ông là người thường xuyên giúp đỡ vị sứ đồ.
2. LỜI KHUYÊN ĐẶC BIỆT CHO TI-MÔ-THÊ (IITi 2:1-26)
1. Một lời kêu gọi Ti-mô-thê (IITi 2:1-13)
(IITi 2:1-7) Một lời kêu gọi phải mạnh mẽ Về một số phương diện, Ti-mô-thê phải có sự khác biệt rõ ràng với những người đã từ bỏ Phao-lô. Ý niệm về sự “mạnh mẽ” được thấy trong Eph 6:10. Do sự chống đối Phúc Âm, một cách ứng phó mạnh mẽ bao giờ cũng cần thiết. Nhưng sức lực ở ân điển trong Đức Chúa Giê-xu Christ, nghĩa là sức hậu thuẫn của Đức Chúa Trời mà chúng ta không xứng đáng để nhận được, chớ không phải là sự trông cậy vào tài năng tự nhiên. Khi Phao-lô đề cập nhiều người chứng thì không rõ ông đang nghĩ gì. Một số người thấy đây là câu ám chỉ số người chứng lúc Ti-mô-thê được tấn phong, nhưng cách dịch ở trước mặt không phải là cách hiểu tự nhiên nhất về giới từ Hi văn đã được dùng ở đây. Hữu lý hơn là sự đề cập này chỉ về những người làm chứng có thể xác nhận cho loại lời truyền dạy mà Phao-lô truyền cho Ti-mô-thê. Lời truyền dạy phải giao phó nó cho những giáo sư khác rất quan trọng để chúng ta có thể hiểu sự phát triển của Hội Thánh đầu tiên. Những người được chọn đặc biệt hội đủ hai đức tính- trung tín và có tài dạy dỗ- cần phải được biệt riêng ra cho công tác rao truyền sự dạy dỗ này và Phao-lô cũng muốn cho công tác quan trọng này phải được điều hành thật đúng đắn.
Ba thí dụ minh hoạ tiếp theo sau đó (3-6) đều nhằm khích lệ Ti-mô-thê phải kiên trì dù nhiệm vụ ấy có khó khăn. Phép ẩn dụ về người lính cho thấy bổn phận phải nhắm vào một mục đích duy nhất; phép ẩn dụ trong thể thao cho thấy sự cần thiết phải giữ đúng luật lệ thi đấu và phép ẩn dụ về nông nghiệp cho thấy sự biết chắc về một phần thưởng do công lao khổ nhọc bỏ ra. Cả ba phép ẩn dụ được rút ra từ sinh hoạt hằng ngày đều bổ túc lẫn cho nhau. Phao-lô khuyên phải suy nghĩ như thế, vì kinh nghiệm sẽ làm sáng tỏ thêm cho vấn đề ấy, còn Chúa thì ban cho sự sáng suốt (7). Những lời tiếp theo gợi ý Phao-lô đang nói theo những kinh nghiệm riêng của ông. Đoạn sách của gần hai ngàn năm này đã không làm mòn đi sự sắc bén của những việc tương tự này hằng ngày.
(IITi 2:8-10) Những suy nghĩ về vấn đề chịu khổ vì Phúc Âm Trong câu 8 Phao-lô đưa ra một tóm tắt ngắn gọn về Phúc Âm mà ông rao truyền. Nó gồm ba yếu tố: Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế, Đấng được xức dầu của Đức Chúa Trời, tức là Đấng Mết-si-a; Ngài đã được khiến từ kẻ chết sống lại (một lời tuyên bố tự nhiên có liên quan đến sự chết của Ngài); Ngài được sanh ra bởi dòng vua Đa-vít. Chỗ duy nhất khác nữa mà Phao-lô đề cập sự kiện này là Ro 1:3. Có lẽ nó đã được đưa vào đây để kéo sự chú ý vào việc ứng nghiệm các lời hứa của Đức Chúa Trời. Khi chỉ đứng một mình, là một câu cô lập, nó sẽ không đủ để tóm tắt toàn bộ Phúc Âm, nhưng Ti-mô-thê sẽ có đủ khả năng để lấp đầy các khoảng trống của nó.
Phao-lô xem các xiềng xích của ông là hình ảnh tương phản với đặc tính không hề bị trói buộc của lời Đức Chúa Trời (9). Bởi điều này, chắc ông muốn nói rằng bất chấp các xiềng xích của ông, Phúc Âm vẫn được nhiều người khác truyền giảng. Khi nêu lên lý do để ông chịu khổ là vì cớ những người được chọn trong câu 10, Phao-lô nhìn thấy những hoạn nạn của ông nổi bật hẳn lên trên bối cảnh những người sẽ đến với đức tin nơi Chúa Cứu Thế như một kết quả của việc truyền giảng Phúc Âm. Có lẽ đề cập của ông về sự cứu rỗi trong Đức Chúa Giê-xu Christ là có ý phân biệt nó với sự cứu rỗi mà các giáo sư giả đã đưa ra. Mấy chữ sự cứu trong Đức Chúa Giê-xu Christ không chỉ định nghĩa sự cứu rỗi thuộc về Chúa Cứu Thế, mà còn chứng minh rằng nó thuộc quyền sở hữu của toàn thể những người đang ở trong Chúa Cứu Thế nữa. Xin chú ý là ở chỗ khác, Phao-lô liên kết sự cứu rỗi với sự vinh hiển (IITe 2:13-14).
(IITi 2:11-13) Một lời nói đáng tin Rõ ràng lời nói được trích dẫn ở đây gồm mấy câu tiếp theo, vì mấy câu ấy đều có vần có điệu. Trông chúng có vẻ như là một bài thánh ca của Cơ Đốc giáo (ITi 3:16 6:16-17). Nhưng giữa bài thánh ca này với mâý câu đi trước có liên quan gì với nhau? Rất có thể là chúng đều tiếp theo nhau về mặt tư tưởng về sự vinh hiển trong tương lai. Bốn đoạn của bài thánh ca nói về một tương lai sẽ bù đắp cho những hoạn nạn hiện tại. Việc “cùng chết với Ngài” nhắc lại Ro 6:8 là câu dùng cách diễn tả về phép báp-tem. Mối liên hệ giữa chết và sống nói lên việc Cơ Đốc nhân được đồng nhất hoá với Chúa Cứu Thế trong sự chết và sự sống lại của Ngài.
Nhận định thứ hai về việc chịu khổ có liên quan với câu 10 và đem đến lời bảo đảm về chiến thắng tương lai.Tư tưởng này hoàn toàn giống với 8:17. Lời cảnh cáo về việc chối Ngài và bị Ngài chối bỏ lặp lại lời cảnh cáo của Chúa Giê-xu trong Mac 10:33. Tuy nhiên, nhận định kết thúc đầy vẻ trấn an. Sự thành tín của Chúa Cứu Thế không bị lệ thuộc sự thất tín của chúng ta, vì Ngài không thể hành động trái với bản tính của chính Ngài. Do đó, bài thánh ca này kết thúc bằng một âm điệu lạc quan, đặt nền trên tính cách của Chúa Cứu Thế. Như đã gợi ý ở trên, nếu đây chỉ là một phần của một bài ca đầy đủ hơn, thì chúng ta không thể phỏng đoán những phần còn thiếu hàm chứa những gì. Nhưng Phao-lô vui lòng trích dẫn phần này để phục vụ cho chủ đích trước mắt của ông, đó là nhằm trấn an Ti-mô-thê.
2. Trở thành một người làm công được tán thưởng (IITi 2:14-26)
Này là điều trong câu 14 phải hơn cả chân lý của bài thánh ca trong mấy câu 11-13. Nó bao gồm toàn thể những gì Phao-lô truyền dạy cho Ti-mô-thê trong bức thư này. Việc Phao-lô xem lệnh truyền này rất nghiêm túc được thấy rõ qua mấy chữ trước mặt Đức Chúa Trời. Vị sứ đồ ý thức sâu sắc rằng những cãi lẫy về lời nói chỉ là phí thì giờ vô ích, và ông muốn cảnh cáo Ti-mô-thê về việc đó. Không phải người ta luôn thừa nhận rằng những tranh luận vụn vặt là có hại, nhưng Phao-lô dùng một từ có nghĩa mạnh ở đây (hại), nhấn mạnh đến ảnh hưởng tai hại trên những người khác. Câu 15 là một lời khuyên quý báu về thân vị (person) của Đức Chúa Trời. Mục tiêu của nó là làm sản sinh một người làm công được (Đức Chúa Trời) tán thưởng. Điều này đòi hỏi sự cố gắng, thế nhưng không ai có thể làm hơn khả năng tốt nhất của họ. Có hai đòi hỏi: một cách làm việc mà mình không cảm thấy xấu hổ, và việc cầm giữ thật đúng lời của chân lý. Cái sau sẽ củng cố cho cái trước. Động từ Hi văn được dịch ra là lấy lòng ngay thẳng giảng dạy thật ra có nghĩa là vạch ra một con đường thẳng và gợi ý về việc phải giải kinh cho trung thực. Đây phải là mục tiêu của tất cả các giáo sư thật dạy lời Chúa. “Hiểu” văn bản như là điều rõ ràng không có ở trong đó thì chẳng giúp ích gì được ai, nhưng lại là điều phổ biến gây chán nản.
Tư tưởng về việc hiểu đúng lời Chúa đưa Phao-lô đến chỗ lại phải suy nghĩ thêm về những kẻ đã đi sai lệch khỏi đó (16-19) Sự dạy dỗ khác đi đầy đe doạ, được mô tả là những lời hư không phàm tục và được so sánh với chùm bao ăn lan trong những ảnh hưởng của nó, là điều phải tránh. Gương của Hy-mê-ne và Phi-lết được viện dẫn và yếu điểm của sự sai lầm của họ đã được nêu rõ, là sự sống lại đã đến rồi. Cần lưu ý đây là một thí dụ bất thường trong các Giám mục thư vì một tà giáo đặc thù đã được đề cập. Bất chấp các tác dụng tai hại của loại giáo thuyết này, Phao-lô nhấn mạnh chân lý tích cực rằng nền vững bền của Đức Chúa Trời đã đặt vẫn còn nguyên. Một vấn đề đã được đặt ra là ý nghĩa của từ ngữ cái nền. Đó là Hội Thánh nói chung, Hội Thánh Ê-phê-sô nói riêng, hay toàn bộ chân lý của Đức Chúa Trời kể cả công tác cứu chuộc của Ngài? Khả năng thứ ba phải được chọn hơn, mặc dù ở nhiều chỗ khác, Phao-lô đã dùng hình ảnh ẩn dụ này để liên hệ đến Hội Thánh. Dường như “mấy lời như ấn đóng” được đề cập trong câu 19 là trích từ Dan 16:5,26, tuy câu sau không phải là một câu trích dẫn chính xác và có thể có nguồn gốc từ Es 52:11. “Dấu ấn” được Phao-lô dùng ở chỗ khác như một dấu hiệu về một điều gì đó là đúng (Ro 4:11 ICo 9:2).
Thí dụ minh hoạ trong hai câu 20-21 tiếp tục sử dụng hình ảnh ẩn dụ của một toà nhà trong câu 19. Nhưng giờ đây, Phao-lô tập trung vào các vật dụng được dùng trong một ngôi nhà lớn. Các vật dụng này được làm từ những vật liệu khác nhau với nhiều chủ đích, một số cho việc sang, một số khác cho việc hèn. Cách ứng dụng ở đây có hơi lộn xộn, vì các bình bằng gỗ vốn cũng cần thiết như cái bình bằng vàng vậy, và thật ra còn được sử dụng thường hơn nữa. Nhưng Phao-lô nghĩ về những người làm công Cơ Đốc nhân đều quý giá trước mặt Đức Chúa Trời. Thế nhưng ông muốn nói gì khi viết về việc “giữ mình cho khỏi những điều ô uế” đó? Có lẽ cách lý giải đúng nhất là Phao-lô vẫn còn suy nghĩ về Hy-mê-nê và Phi-lết (tham khảo ICo 5:7 về một cách dùng tương tự của động từ có nghĩa là tẩy hay rửa sạch). Ở đây Phao-lô đang nhìn vào tình hình một cách tích cực. Xin lưu ý các phần mô tả, thánh, có ích và sẵn sàng, chỉ ra các đặc điểm của một vật dụng dùng vào việc sang. Rõ ràng là Phao-lô có một quan điểm cao về chức vụ.
Phân đoạn cuối cùng của đoạn này (22-26) chỉ ra tính chất tổng quát của cách ăn ở cư xử của tôi tớ Đức Chúa Trời. Một lần nữa, cái tiêu cực (trách khỏi tình dục trai trẻ, hãy cự những lời biện luận điên dại và trái le) được liên kết với cái tích cực (tìm những điều công bình và các đức tính khác). Phao-lô từng thực hiện một cách so sánh tương phản tương tự như thế trong ITi 6:11. Ở đây ông trình bày một phương diện tập thể cùng với kẻ lấy lòng tinh sạch kêu cầu Chúa nghĩa là với tất cả những người tự xưng là Cơ Đốc nhân. Một lần nữa, Phao-lô khuyến caó chống lại việc tranh cạnh (24), rồi thêm một lời khuyên tích cực bao gồm nhiều thái độ (tử tế, không bực tức) và tài năng (tài dạy dỗ). Ông khuyên phải có cách tiếp cận tử tế với những kẻ chống đối, để đem về một kết quả tích cực. Phao-lô biết thái độ tử tế không thể sản sinh ra sự ăn năn, nhưng Đức Chúa Trời có thể ban điều đó nếu chúng ta biết chọn một thái độ hoà giải. Ông diễn tả kết quả của mong muốn bằng một hình thức tích cực (dẫn họ đến chỗ nhìn biết lẽ thật) và cũng bằng một hình thức tiêu cực (khỏi lưới ma quỉ).
Câu kết thúc (26) đã dẫn đến nhiều tranh luận. Bản Hi văn không được rõ ràng vì hai đại danh từ khác nhau được dùng có nghĩa là “Ngài” hoặc “của Ngài ”. Nếu không có ý phân biệt ở đây, thì cả hai đều chỉ về ma quỉ. Nhưng còn có thể có một lý giải khác, trong đó “Ngài sẽ” có thể chỉ về ý muốn Đức Chúa Trời, Đấng cũng được xem đã nắm giữ những người thoát khỏi ma quỉ” nhưng thật khó có thể là như thế, vì nó ngụ ý rằng những người thoát khỏi bẫy này lại rơi vào bẫy khác. Một khả năng thứ ba nữa là hiểu từ ngữ ấy theo nghĩa là bị ma quỉ bắt lấy đặng làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, như thế sẽ phân biệt được hai đại danh từ. Nhưng đây có vẻ là một ý niệm lạ lùng, nên cách lý giải thứ nhất đã được chọn.
3. NHỮNG LỜI TIÊN BÁO VÀ KHUYÊN RĂN (IITi 3:1-17)
1. Những lời tiên báo về những ngày sau rốt (IITi 3:1-9)
(IITi 3:1-4) Không phải là Phao-lô không thường đề cập những ngày sau rốt, bởi đó dường như ngụ ý chỉ thời gian ngay trước khi tận thế. Nhưng ở chỗ khác trong Tân Ước kinh, những ngày sau rốt chỉ thời bắt đầu của kỷ nguyên Cơ Đốc giáo (Cong 2:17-21 He 1:1). Rõ ràng là có một mối liên hệ chặt chẽ giữa hiện tại và tương lai, vì tuy trong khúc sách này, Phao-lô đề cập các giáo sư giả trong tương lai nhưng thật ra, ông đã đề cập đến họ trong hiện tại. Ông cũng quan tâm nhiều nhất đến sự thoái hoá đạo đức chen vào như một hậu quả của tà giáo. Trong bảng liệt kê ở mấy câu 2-4, có một sự pha trộn các hành động sai lầm với các thái độ sai lầm. Nét tương phản giữa mấy chữ đầu với mấy chữ cuối trong bảng danh sách làm nổi bật thật sống động sự khác nhau giữa thói tư kỷ với tình yêu của Đức Chúa Trời. Thật vậy, bảng liệt kê này cho thấy các hậu quả tai hại của thói vị kỷ. Ở đây có nhiều từ ngữ chỉ thói tự cao tự mãn – khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, dữ tợn, lường thầy phản bạn. Điều tệ hại nhất là đám người này rêu rao họ giữ một số bề ngoài nhơn đức, ra vẻ tin kính nhưng không hề có ý định đem các tín ngưỡng của họ ra thực hành. Hình thức suông mà không có quyền năng gì, thì vô cùng tai hại. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi Phao-lô khuyến giục Ti-mô-thê hãy lánh xa họ đi (5). Câu này cho thấy ông đang nghĩ đến một vấn đề sắp xảy ra.
(IITi 3:6-7) Sau bảng liệt kê ấy, Phao-lô bình luận về những điều cần lưu ý. Phương pháp của các giáo sư giả này rất xảo quyệt như nhóm từ gây ấn tượng lẻn vào các nhà cho thấy. Hơn nữa cách họ chọn những người nhẹ dạ làm đối tượng là đặc điểm của phần lớn các giáo sư giả. Ở đây, những người đàn bà nhẹ dạ là những người mang tội lỗi được chỉ ra. Điều này gợi ý rằng các phụ nữ có liên quan vốn bị lương tâm cắn rứt đến mức họ muốn quay sang với một ai đó nhờ giúp đỡ, dù rõ ràng họ không được thúc đẩy hướng về điều tốt lành. Các phụ nữ này dường như cũng muốn hiểu biết, nhưng không thể đạt đến chân lý được. Có thể cho rằng họ đang tìm kiếm các kinh nghiệm nhục cảm. Bản thân các giáo sư giả vốn không thể truyền đạt sự hiểu biết về chân lý được, vì họ vốn thiếu hiểu biết về nó. Bức tranh Phao-lô vẽ ra ở đây phù hợp trong bất cứ thời đại nào mà các giáo sư giả đang hành động.
(IITi 3:8-9) Câu đề cập về Gian-nét và Giam-be (8) khá lý thú vì họ không được đề cập ở bất cứ chỗ nào khác trong Thánh Kinh, tuy họ có xuất hiện trong sách Targum của Jonathan nói về Xu 7:11. ( Targum là bản dịch của Thánh Kinh Hi Bá Lai qua tiếng A-ram, tuy có lẽ phần lớn đã được viết sau bức thư của Phao-lô gởi cho Ti-mô-thê). Vào thời của Phao-lô kiến thức phổ biến cho rằng hai thuật sĩ của Pha-ra-ôn có tên như thế. Điểm tương tự giữa các thuật sĩ này với các giáo sư giả hiện nay là họ chống lại chân lý nên họ phải bị chối bỏ. Như trong trường hợp của tất cả các giáo sư giả điều chắc chắn là cái mà họ cho là sự tiến bộ chỉ là ảo tưởng mà thôi. Sự dại dột cuối cùng của họ sẽ bày tỏ ra cho thiên hạ, dù có thể sẽ mất một thời gian dài trước khi việc đó xảy ra. Phao-lô tin quyết rằng rốt cuộc rồi thì điều sai lầm không thể nào thắng hơn được.
2. Những lời khuyên răn thêm cho Ti-mô-thê (IITi 3:10-17)
Trong đoạn này, những câu Phao-lô đề cập đến Ti-mô-thê tương phản rõ rệt với phần mô tả các giáo sư giả trong đoạn trước. Điều này được làm rõ bằng đại từ nhấn mạnh con. Trước hết, Ti-mô-thê được nhắc nhở về những việc đã xảy ra trước đây (10-12). Ông từng được lợi là quan sát cách dạy dỗ cũng như nếp sống của Phao-lô. Việc Phao-lô lưu ý rằng Ti-mô-thê biết hết những gì ông từng dạy dỗ giúp chúng ta nên cẩn trọng để khỏi rút ra những giả định không chắc chắn do việc không thấy có một vài đại chủ đề của Phao-lô trong các Giám mục thư, như thể đây có thể là một luận cứ chống lại tác quyền của ông. Hơn nữa, cần lưu ý việc đề cập các tánh hạnh thuộc linh (đức tin, nhịn nhục, yêu thương, bền đỗ) mà Phao-lô trình bày cũng chính là các đức hạnh mà ông đã khuyến giục Ti-mô-thê (ITi 6:11). Còn về các khổ nạn của mình, thì Phao-lô đã kể lại các biến cố trong hành trình truyền giáo đầu tiên của ông, có thể vì chính vào lần đầu tiên đó mà ông quen biết với Ti-mô-thê. Chắc Ti-mô-thê phải nhớ thật rõ ràng những gì Phao-lô đã phải chịu đựng, và có thể rằng kinh nghiệm đó là yếu tố mạnh mẽ trong việc thuyết phục Ti-mô-thê dấn thân vào công tác truyền bá Phúc Âm. Khi Phao-lô nói và Chúa đã cứu ta thoát khỏi luôn luôn, chắc Ti-mô-thê phải tự biết bằng sự quan sát cá nhân rằng điều đó đúng ra sao.
Từ một đề cập đến kinh nghiệm bản thân về bắt bớ bách hại, Phao-lô bảo đảm với Ti-mô-thê rằng bất kỳ ai bắt đầu sống một cuộc đời tin kính đều sẽ bị bắt bớ (12). Trong việc này ông chỉ nhắc lại lời dạy của Chúa Giê-xu. Phao-lô biết rằng những kẻ lường gạt tiếp tục làm như thế trong thời đại này. Bản tính của những kẻ lường gạt là cứ ngày càng chìm đắm thêm (13) mà thôi. Một khi tiến trình ấy bắt đầu thì thật là khó ngăn chặn. Cuối cùng những kẻ lường gạt người khác thì tự lường gạt chính mình. Điều này đúng vào mọi giai đoạn phát triển của tà giáo.
Một lần nữa, Phao-lô vạch ra một nét tương phản sâu đậm giữa những kẻ lường gạt này với Ti-mô-thê, là người được khích lệ để khỏi bị lường gạt.Về cơ bản, ông phải tiếp tục từ những gì mình đã học hỏi và biết được từ niềm tin quyết cá nhân (14). Một lời khuyên như thế có thể ứng dụng cho mọi cấp lãnh đạo Cơ Đốc. Lẽ tự nhiên, nguồn mạch của sự hiểu biết được truyền đạt, rất quan trọng, chẳng những Ti-mô-thê có lợi thế được học hỏi nhiều về Phúc Âm Cơ Đốc từ các sứ đồ, mà ông còn được dạy Kinh Thánh từ những năm tháng đầu tiên của mình. Điểm nhấn mạnh đến Kinh Thánh ở đây rất quan trọng vì bản thân Phao-lô vẫn căn cứ một phần lớn vào lời chứng của Kinh Thánh. Phao-lô không trông đợi Ti-mô-thê chỉ trông cậy vào những gì đã học hỏi được từ ông mà không đối chiếu nó với Kinh Thánh. Ở đây có lời nhắc nhở rằng một bối cảnh giáo dục tốt đáng tin cậy rất cần thiết cho người thi hành chức vụ của Phúc Âm.
Cần lưu ý rằng trong câu 15, Phao-lô dùng nhóm từ Kinh Thánh, thu hút sự chú ý đặc biệt đến tính cách thiêng liêng của bộ sách ấy, có lẽ là nhằm đặt tương phản nó với các nguồn tài liệu phàm tục của tà thuyết giả mà ông vừa đề cập. Có một phương diện quan trọng là chức năng của Kinh Thánh nhằm “khiến con khôn ngoan để được cứu rỗi”. Điểm này có thể được minh hoạ rộng rãi căn cứ vào nhiều lần trong các bức thư của mình, Phao-lô đã nhờ vào Kinh Thánh để giải trình về công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế.
Câu 16 đưa ra một khẳng định rõ ràng về đặc tính của Kinh Thánh và lợi ích của bộ sách ấy. Nhưng nghĩa chính xác đã gây nhiều tranh luận. Một số người thắc mắc liệu từ ngữ Hi văn graphe có nhất thiết đề cập Kinh Thánh hay không vì nó có thể có nghĩa là bất kỳ một văn phẩm nào. Nhưng cách dùng từ ngữ ấy trong Tân Ước nhằm chỉ Kinh Thánh vốn đã được thiết lập vững vàng. Nhưng từ ngữ ấy đề cập toàn bộ Kinh Thánh, hay chỉ một phần? Cách dùng từ ngữ cả có giá trị quyết định. Nếu cả ở đây có nghĩa là “tất cả”, thì có thể hiểu nó thuộc các phần riêng biệt của Kinh Thánh. Nhưng cách dùng tương tự trong Tân Ước kinh gợi ý rằng từ “cả” là cách dịch đúng. Nếu là như thế, thì ở đây, Phao-lô cho rằng cả Kinh Thánh đều hoàn toàn được Đức Chúa Trời hà hơi vào. Thế nhưng tại sao ông cần phải bảo cho Ti-mô-thê biết về điều này? Dường như tốt hơn là nên giả định rằng điểm chính của khúc sách này không phải là về sự hà hơi mà là lợi ích của Kinh Thánh. Ti-mô-thê sẽ biết về sự hà hơi của nó, và điều này sẽ dẫn đến tính hữu ích của nó. Bốn chức năng của Kinh Thánh phủ trùm một phạm vi rộng lớn, từ việc truyền đạt giáo lý đến việc thách thức cách ăn ở cư xử và huấn luyện trong sự công chính. Các chức năng này vẫn còn là chủ đích có giá trị của Kinh Thánh và là tối quan trọng để trang bị cho người thuộc về Đức Chúa Trời, một thuật ngữ đặc biệt dành cho toàn thể các giáo sư Cơ Đốc, nhưng cũng có thể áp dụng cho mọi cộng sự Cơ Đốc. Chú ý điểm nhấn mạnh đầy ý nghĩa về tính hoàn hảo trong việc chuẩn bị cho công tác của Đức Chúa Trời.
4. LỜI GIÃ BIỆT TI-MÔ-THÊ CỦA PHAO-LÔ (IITi 4:1-22)
1. Một lời khuyên ở cuối thư (IITi 4:1-5)
Do sự kiện ông đang trực diện với sự cuối cùng của đời mình, Phao-lô muốn tự bộc lộ thật nghiêm túc. Lời khuyên răn được kết hợp với ba sự kiện: sự thật về sự phán xét của Chúa Cứu Thế, tính chắc chắn về sự tái lâm của Ngài và việc thiết lập Nước Ngài.
Nội dung của lời khuyên răn được trình bày trong câu 2 và gồm năm mệnh lệnh, tất cả đều có thể áp dụng cho những người thi hành chức vụ của Phúc Âm ngày nay cũng như cho Ti-mô-thê. Phao-lô bắt đầu bằng công tác truyền giảng vì ông thừa nhận rằng đây là phần cơ bản (Ro 10:14). Sự cần thiết phải luôn luôn sẵn sàng gợi ý rằng người của Đức Chúa Trời phải luôn thi hành bổn phận. Ba mệnh lệnh khác (bẻ trách, sửa trị và khích lệ) bổ sung lẫn cho nhau. Ở đây có sự kết hợp giữa sự nghiêm trang với thái độ ân cần tử tế, toàn bộ công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và quan tâm chăm sóc. Phao-lô muốn cho Ti-mô-thê có được một bức tranh rõ ràng về những đòi hỏi của sự phục vụ Cơ Đốc. Bức tranh được hoàn tất trong câu 5, chỗ bốn mệnh lệnh khác nữa được đưa ra. Ti-mô-thê phải tỏ ra tỉnh táo trong mọi hoàn cảnh và sẵn sàng chấp nhận gian khổ. Chức vụ Cơ Đốc không phải là luống hoa hồng. Công tác của nhà truyền đạo chủ yếu là truyền giảng Phúc Âm, trong khi mấy lời kết thúc kêu gọi sự tận hiến cho mọi phương diện khác nhau của chức vụ.
Hai câu 3 và 4 có phần xa rời tư tưởng của Phao-lô. Ông gắn vào đó một lời cảnh cáo cuối cùng về các giáo sư giả. Ông biết rằng nhiều người sẽ không thích sự dạy dỗ lành mạnh, mà chỉ chịu nghe những gì họ thích nghe do đó mà bịt tai lại. Một lần nữa Phao-lô đề cập các chuyện huyễn mà đám người ấy sẽ loan truyền.
2. Một lời làm chứng cá nhân (IITi 4:6-8)
Như chữ về cho thấy, đoạn sách này có liên quan với đoạn trên. Điều Phao-lô sắp nói là có ý định nêu gương cho Ti-mô-thê. Ông dùng phép ẩn dụ tương tự về lễ quán mà ông đã dùng trong Phi 2:17. Đây là một hình ảnh sống động về việc vị sứ đồ sắp phải dốc đổ mạng sống của mình ra vì Chúa Cứu thế. Ông cảm thấy kết cuộc đã gần kề. Ông nhanh chóng đổi phép ẩn dụ về của lễ thành phép ẩn dụ về việc đánh trận và chạy đua (7). Trong cả hai trường hợp, ông đều biết rằng các nhiệm vụ đã sắp hoàn tất. Nhưng ở đây có một niềm tin rất lớn. Phao-lô không hề xấu hổ về những gì ông đã làm. Mấy chữ (ta) đã giữ được đức tin tương tự với hai lời quả quyết khác, gợi ý rằng đức tin ở đây là sự dạy dỗ Cơ Đốc mà Phao-lô đã ký thác cho Ti-mô-thê. Cũng có thể là ông ngụ ý nói rằng ông đã trung thành với sự tín nhiệm của ông.
Câu 8 là một tiếng reo hò chiến thắng về điều đó. Phao-lô không hề nghi ngờ về mão triều thiên. Có lẽ ông đang nghĩ đến vòng nguyệt quế mà những người chiến thắng trong các cuộc thi tài điền kinh vẫn giật được. Tuy nhiên sự mô tả về nó là của sự công bình, cho thấy tính chất thuộc linh của phần thưởng mà ông sẽ nhận được. Sự công bình không do bản thân Phao-lô tạo ra được, nhưng là một cái gì đó được ban cho. Vì Đức Chúa Trời là Quan án công bình, Ngài không thể ban cho điều gì không phải là sự công chính. Ngày ở đây là ngày cuối cùng khi Chúa Cứu Thế hiện ra. Nó chỉ về điều mà ở chỗ khác Phao-lô gọi là “tòa phán xét của Chúa Cứu Thế.” Ông nhìn thấy cái ngày trong tương lai ấy được áp dụng cho toàn thể các Cơ Đốc nhân mà ông nghĩ rằng họ sẽ chờ đợi biến cố quang vinh ấy.
3. Những nhận định cá nhân (IITi 4:9-18)
Trong đoạn kế (9-13), Phao-lô gợi ý khả năng gặp Ti-mô-thê một lần nữa, dù biết rằng ngày qua đời của ông đã gần lắm rồi. Ông vẫn mong Ti-mô-thê sẽ thu xếp để đến với ông. Mong ước được gặp lại Ti-mô-thê của ông được thúc đẩy bởi những sự đi lại của các bạn đồng sự khác của ông. Đáng buồn nhất là câu bình luận ngắn ngủi về việc Đê-ma đã lìa bỏ ông. Con người này từng là một trong những người bạn đồng sự thân cận của Phao-lô khi ông viết Col 4:14. Chúng ta phải cho rằng việc đi lại là quá vất cả cho ông ta và sức lôi kéo của đời lại quá mạnh. Trong số những người còn lại được đề cập ở đây thì việc đề cập đến Lu-ca rất có ý nghĩa vì hiện ông là người hổ trợ duy nhất của Phao-lô. Cả ông lẫn Mác cũng như Đê-ma đều được đề cập trong thư Cô-lô-se. Thật là đau lòng khi đọc lời Phao-lô yêu cầu Ti-mô-thê hãy đem áo choàng đến. Phải chăng điều này gợi ý rằng ông đang lạnh lẽo trong nhà tù? Ông cũng đặc biệt quan tâm đến những sách vở và sách bằng giấy da. Đó là những sách gì thì không thể nào nói được. Có thể đó là các văn bản Cựu Ước, cũng có lẽ là các giấy tờ cá nhân của Phao-lô, hoặc là cả hai. Trong hai câu 14-15 là một lời cảnh cáo chống lại A-léc-xan-đơ thợ đồng. Có thể nhận diện tên này là A-léc-xan-đơ từng được đề cập trong Cong 19:33-34 hoặc trong ITi 1:20. Ở đây, Phao-lô nói về điều tai hại lớn mà anh ta đã làm chính là việc chống trả bức thông điệp của Phao-lô, là chi tiết đã được xác định về sau. Phần cuối của câu 14 lặp lại ý trong Thi 62:12.
Đoạn thứ ba (16-18) đề cập về hiện trạng của Phao-lô. Ta bênh vực mình lần thứ nhất chắc là lần tra xét sơ khởi. Vì cớ Phao-lô không cho thông tin gì thêm nên không thể xác định thời điểm của cơ hội này. Điều ông quan tâm nhất là sự kiện không ai đến để giúp đỡ ông cả. Ở đây có vài điểm giống với lần Phao-lô bị cầm tù tại Sê-sa-rê, nhưng trong sách Công vụ đã không thấy chép gì về việc ông đã bị bỏ rơi lúc đó. Tốt hơn là nên giả định rằng ý muốn nói ở đây là về lần thẩm vấn trước đó tại Rô-ma. Nếu điều này ngụ ý rằng những Cơ Đốc nhân người Rô-ma đã không đến giúp đỡ ông cả, có lẽ vì họ chưa biết đủ về tình trạng của ông, hoặc vì họ ngại bị liên lụy. Vì vị sứ đồ nói về việc bị bỏ rơi, rõ ràng là ông đang cảm thấy hết sức thất vọng.
Tương phản với việc bỏ rơi của những người khác, ông được an ủi bởi sự kiện Chúa đang đứng bên ông. Điều này phản ánh cái gì đó trong nguồn thuộc linh đã hậu thuẫn cho Phao-lô trong hoạn nạn của ông, và chúng cũng có thể là một sự an ủi cho toàn thể các tôi tớ Đức Chúa Trời khi chịu khổ vì Ngài. Trong trường hợp của Phao-lô, ông tuyên bố rằng mình đã được thêm lòng can đảm để truyền giảng Phúc Âm cả trong lúc thử thách của ông. Khi ông nói hầu cho Tin Lành bởi ta… để hết thảy dân ngoại đều nghe thì một khó khăn đã nảy sinh. Rõ ràng là nếu ông đang đề cập vụ xét xử mình thì hết thảy các dân ngoại đã không thể nào nghe được nếu phải hiểu câu này theo nghĩa đen. Tuy nhiên có thể ông muốn nói những từ này theo nghĩa bóng có nghĩa là nhờ việc truyền giảng Phúc Âm tại trung tâm của đế quốc nên cả thế giới ngoại bang đều “có thể được nghe”. Câu được dịch ra là để sứ điệp được rao ra đầy dẫy nguyên văn có nghĩa là “để cho việc truyền bá sứ điệp được hoàn tất”. Có lẽ Phao-lô nghĩ rằng lúc ông truyền giảng tại Rô-ma, thì sứ mạng truyền giảng của ông đã được hoàn thành.
Một số người thấy con sư tử mà Phao-lô đã được cứu khỏi là hoàng đế Nero, nhưng đây là một ẩn dụ phổ biến chỉ sự nguy hiểm và có lẽ chẳng ngụ ý gì thêm. Ở nhiều chỗ khác trong Tân Ước, sư tử là biểu tượng về Sa-tan (IPhi 5:8). Phao-lô kết thúc bằng một âm hiệu đầy tin quyết đưa ông đến chỗ ứng khẩu một bài tán ca. Căn cứ vào những gì ông đã viết, việc giải thoát khỏi mọi điều ác không thể được cho là ngụ ý rằng ông trông mong được trả tự do, nhưng phải được hiểu theo nghĩa thuộc linh. Điều này sẽ hài hoà với đề cập của ông về nước trên trời của Đức Chúa Trời. Ở đây có một nét tương phản rõ rệt giữa những hoạn nạn liên hệ của Phao-lô trong một vương quốc trên đất với Nước Trời chiến thắng và bền vững hơn mà ông đang hướng về.
4. Những lời chào thăm cuối cùng (IITi 4:19-22)
Phao-lô đề cập đến một số bạn bè thân cận. Bơ-rít-ca và A-qui-la thân thiết đặc biệt với ông, vì ông từng ở trọ nhà họ tại Ê-phê-sô (Cong 18:1-28). Ô-nê-si-phô-rơ được khen ngợi trong IITi 1:16. Ê-rát được đề cập với tư cách một bạn đồng sự của Ti-mô-thê trong Cong 19:22. Trô-phim được đề cập hai lần trong sách Công Vụ - trong 20:4 tại Mi-lê và trong 21:29 tại Giê-ru-sa-lem. Vì Trô-phim là một người Ê-phê-sô, có thể ông có ý định tháp tùng Phao-lô trong các chuyến đi gần đây của ông nhưng đã bị ngăn trở vì đau ốm. Dường như Ti-mô-thê không hay biết điều này nên cần được thông báo cho ông biết.
Lại còn một lời kêu gọi cấp bách Ti-mô-thê hãy gấp rút đến bên cạnh Phao-lô (21). Có lẽ câu đề cập về mùa đông gần đến là do sự kiện tàu thuyền phải ngưng chạy suốt giai đoạn mùa đông. Người ta chẳng biết được gì về bốn người đã được nêu tên trong câu 21. Trong lời chúc phước sau cùng (22) phần đầu được nhằm vào Ti-mô-thê theo số ít, trong khi ân điển là cho toàn thể các Cơ Đốc nhân nói chung theo số nhiều.