PHI-LÊ-MÔN

MỤC LỤC

PHI-LÊ-MÔN

1. LỜI CHÀO THĂM CỦA PHAO-LÔ (Phil 1:1-3)

Phil 1:1-2  Phao-lô theo khuôn mẫu như đã thấy trong các bức thư khác của ông (Co 1:1) bằng việc đề cập trước giả (và các bạn đồng sự của ông), (những) người nhận thư và một lời chào thăm.  Kẻ của Đức Chúa Giê-xu Christ: Là một câu đề cập việc Phao-lô thật sự bị cầm tù và ông mong mình sớm được trả tự do (22) chớ không phải là một tình trạng bị trói buộc theo nghĩa bóng.  Cho nên ngay từ đầu thư đã đề cập hoàn cảnh của ông: ông đang vì Tin lành mà chịu xiềng xích (13).  Của Đức Chúa Giê-xu Christ: có nghĩa là “vì cớ Chúa Cứu Thế”.  Phao-lô đưa Ti--thê vào trong lời ngỏ của ông không phải với tư cách đồng trước giả, nhưng vì ông đã từng là bạn đồng hành của vị sứ đồ trong phần lớn chức vụ của ông tại Ê-phê-sô và có lẽ cũng đã gặp Phi-lê-môn ở đó.  Phi-lê-môn được mô tả là người rất yêu dấu cùng làm việc, là những từ ngữ cho thấy ông là một bạn đồng sự đặc biệt quý giá của vị sứ đồ trong chức vụ của Phúc Âm.  Bức thư này được gởi đặc biệt cho ông ta.  Tuy Áp-bi, A-chípHội Thánh nhóm họp trong nhà anh được gồm luôn trong lời chào thăm của Phao-lô (c.25), sở dĩ như thế là do phép lịch sự của ông và vì phần thân của bức thư này (4-22 đều theo số ít) chỉ được gởi cho một người duy nhất là Phi-lê-môn.  Áp-bi, có lẽ là vợ Phi-lê-môn.  A-chíp với tư cách một bạn cùng đánh trận dường như đang đóng một vai trò quan trọng trong việc trợ giúp Phao-lô trong các công tác truyền giáo của ông, đã trung tín đứng bên cạnh ông qua bắt bớ, thử thách – có lẽ thậm chí là trong cảnh lao tù nữa.  Ông là một người trú ngụ tại Cô-lô-se, có lẽ là con trai của Phi-lê-môn với Áp-bi (tuy chúng ta chẳng có cách nào để biết chắc) và là người đã được khích lệ đặc biệt để chu toàn chức vụ ông đã nhận được trong Chúa (4:17).

(Phil 1:3)  Lời chào thăm của Phao-lô cho thấy một sự quan tâm cầu nguyện cho Phi-lê-môn và các bạn Cơ Đốc nhân của mình, để họ được thông hiểu và cảm kích càng hơn ân điển của Đức Chúa Trời mà họ đang đứng trong đó, và sự bình an mà Ngài đã thiết lập với họ (Ro 5:1-2).

2. LỜI CẢM TẠ VÀ CẦU THAY CHO PHI-LÊ-MÔN (Phil 1:4-7)

Phân đoạn cảm tạ của Phao-lô (4-6) là phân đoạn ngắn nhất trong các bức thư của ông và có liên hệ mật thiết hơn với các bức thư riêng và cá nhân thông thường thời bấy giờ.  Câu 4-7 nhằm dọn đường cho vấn đề cụ thể mà bức thư này quan tâm trước nhất, tức là lời yêu cầu liên quan đến Ô-nê-sim.

(Phil 1:4)  Sự tạ ơn là quan trọng hơn hết trong tâm trí Phao-lô lúc ông bắt đầu viết khúc này.  Ông dâng lên lời cảm tạ cho Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, rồi để nhấn mạnh ý thức về một mối liên hệ cá nhân với Ngài, ông thêm vào đại danh từ tôi (1:8  Phil 1:3).  Đấng mà ông tạ ơn vì sự tiến bộ của Phi-lê-môn là Đức Chúa Trời của các trước giả Thi Thiên, được Phao-lô biết đến qua Chúa Cứu Thế Giê-xu với cương vị là “Cha” (3).  Hằng gợi ý sự tạ ơn thường xuyên chớ không phải liên tục,

(Phil 1:5)  Phao-lô được nghe nhiều điều tốt (tôi nghe theo thì hiện tại) về đức tintình yêu thương của Phi-lê-môn, khiến ông cảm tạ Đức Chúa Trời.  Có lẽ tin tức vốn từ Ê-pháp-ra đến (Co 1:4,7-8), và có thể là từ Ô-nê-sim.  Đức tin (lòng trung tín) và tình yêu đôi khi được hiểu là hướng về cả Chúa Giê-xu lẫn toàn thể những người thuộc về Đức Chúa Trời.  Kế đến, tình yêu và đức tin được kết chặt vào nhau (và được dịch ra là “sự tin kính” hay “ngoan đạo”) trong một thái độ được bày tỏ ra, một mặt là đối với Chúa Giê-xu, và mặt kia là đối với những người thuộc về Đức Chúa Trời.  Có lẽ tốt hơn là nên thấy ở đây có một sự “đảo ngược chữ nghĩa” (chiasmus, như kiểu chữ abba) theo đó tình yêu của Phi-lê-môn thì hướng về toàn thể những người thuộc về Đức Chúa Trời, còn đức tin của ông thì hướng về Chúa Giê-xu.  Bình thường thì Phao-lô đặt đức tin trước tình yêu.  Nhưng ở đây, vì hoàn cảnh đòi hỏi ông phải viết bức thư này, sự chú ý của ông được tập trung vào tình yêu thương của Phi-lê-môn (c.7,9).  Điều này dẫn tới đức tin của bạn ông (được một người đang ở trong Đức Chúa Giê-xu chứng tỏ); rồi đến lượt nó lại hướng tư tưởng của người đó đến với phạm vi và sự bao quát của tình yêu thương, là những gì đã bày tỏ ra đối với toàn thể những người thuộc về Đức Chúa Trời trong quá khứ.

(Phil 1:6)  Lời cảm tạ của Phao-lô trực tiếp dẫn tới lời khẩn cầu của ông–một lời khẩn xin liên quan đến lòng hào hiệp của Phi-lê-môn.  Sự việc dường như là Phao-lô đã không thể nào dâng lên lời cảm tạ thay cho người bạn đồng sự của ông mà lại không cầu thay cho ông ta.  Câu này rất khó lý giải, cho nên có nhiêù gợi ý có thể chọn dưới đây.  Chữ chung (Hi văn koinonia) được hiểu theo nghĩa tích cực, tổng quát nghĩa là “hào hiệp” hay “hào phóng”.  Đức tin đó (của anh) chỉ về nguồn mạch mà từ đó lòng tốt nảy sinh, trong khi từ hiệu nghiệm tốt hơn nên dịch là “có kết quả”.  Đức tin của Phi-lê-môn vốn đã là tích cực rồi, bây giờ Phao-lô còn muốn nó hiệu nghiệm đối với Ô-nê-sim nữa.  Mọi điều lành ám chỉ toàn thể các phước hạnh của Phi-lê-môn với tư cách một Cơ Đốc nhân, trong khi biết ở đây nói lên cả hai ý niệm về hiểu biết và từng trải.  Nhóm từ cuối cùng, Đấng Christ có lẽ chỉ đến việc được hợp nhất với Ngài do đó, cũng có thể dịch đúng là trong Chúa Cứu Thế.  Điều mong mỏi quan trọng của vị sứ đồ là Phi-lê-môn có thể hiểu và từng trải được kho của báu vốn đã thuộc về ông rồi với tư cách một tín hữu.  Cho nên lời cầu xin của Phao-lô là lòng hào hiệp của Phi-lê-môn sẽ đưa ông tới chỗ hành động có hiệu nghiệm (nghĩa là Phao-lô mong rằng sự tự do của bạn đồng sự của ông có thể đưa đến hành động nào đó trong trường hợp của Ô-nê-sim).  Tiếp đến, điều này sẽ giúp cho Phi-lê-môn đi vào chỗ hiểu biết và cảm kích sâu sắc hơn về mọi phước hạnh đã thuộc về ông (và mọi người khác nữa là những người đã được hợp nhất) trong Chúa Cứu Thế.

(Phil 1:7)  Chuyển sang lời ngỏ trực tiếp, Phao-lô bảo cho Phi-lê-môn biết tại sao ông được vui mừng và yên ủi.  Tình yêu của Phi-lê-môn từng được bộc lộ cụ thể đối với các Cơ Đốc nhân tại Cô-lô-se, và Phao-lô có thể tự đặt mình vào địa vị của các tín hữu bạn ấy (có một số người mà ông chưa tưng gặp mặt bao giờ, (Co 2:1) vì ông nhấn mạnh rằng sự vui mừng yên ủi mà Phi-lê-môn đem đến cho họ, thì chính ông cũng đã nhận được nữa.  Khi nào các Cơ Đốc nhân từ bỏ mình đi để bày tỏ tình yêu thương và mối quan tâm của họ đối với người khác, thì điều đó có một ảnh hưởng sâu sắc tạo ra sự ấm áp và lòng tri ân.

3. PHAO-LÔ BIỆN HỘ CHO Ô-NÊ-SIM (Phil 1:8-20)

Trong một phân đoạn với cấu trúc cẩn thận và Phao-lô cân nhắc từng lời nói của mình, ông đã biện hộ cho Ô-nê-sim, người nô lệ bỏ trốn của Phi-lê-môn.  Ông bắt đầu bằng một mô tả ngắn gọn về hoàn cảnh của mình (8-12).

(Phil 1:8)  Tính cách Cơ Đốc thuần hậu của Phi-lê-môn, được mô tả rõ ràng trong mấy câu đi trước (vậy nên cho thấy các mối liên hệ chặt chẽ), ngụ ý là Phao-lô có thể nói một cách công khai và trìu mến.  Tình bạn của họ có lẽ đã bắt đầu lúc Phi-lê-môn ăn năn quy đạo khi Phao-lô là công cụ Đức Chúa Trời dùng (19).  Trách nhiệm của Phao-lô với tư cách sứ đồ cho người ngoại quốc cũng khiến ông có thể mạnh dạn ngỏ lời trong Chúa Cứu Thế.  Việc nên làm (nguyên văn “điều đúng”) chỉ điều mà Phi-lê-môn, với cương vị một Cơ Đốc nhân, đáng phải làm trong hoàn cảnh liên quan đến Ô-nê-sim.  Phao-lô đã không nói ra nội dung của việc ấy.  Ông chỉ nói rằng mình có thể đưa ra một mệnh lệnh về vấn đề đó.

(Phil 1:9)  Nhưng thay vào đó, ông đặt cơ sở cho lời kêu gọi (Hi văn parakalơ) của ông trên nhiều nền tảng khác, tức là tình yêu thương của Phi-lê-môn.  Từ ngữ này đã được dùng hai lần trong phân đoạn trước nhằm nói lên tình yêu thương mà Phi-lê-môn đã bộc lộ thật cụ thể đối với các thánh đo.  Cho nên tự nhiên nhất là nên hiểu nó theo cùng một ý nghĩa như thế ở đây, thay vì hiểu rằng tình yêu thương là một nguyên tắc hay thậm chí, là tình yêu thương của Phao-lô.  Chính vì đã biết rõ lòng hào hiệp của Phi-lê-môn nên Phao-lô mới có thể nài xin thay vì ra lệnh, và ông trông mong cho tình yêu của người bạn thân của mình được bộc lộ một lần nữa, lần này là đối với Ô-nê-sim.  Đằng sau lời khẩn xin là một người vừa là một “vị đại sứ” (hợp lý hơn là một ông già) và là một nhân của Chúa Cứu Thế Giê-xu, nghĩa là một người hiện đang dự phần những thương khó của Chúa Cứu Thế.  Vì vậy, đây là một lời biện hộ mạnh mẽ.

(Phil 1:10)  Bây giờ Phao-lô đề cập điều ông khẩn xin, cũng là chủ đích cụ thể của ông khi viết bức thư này.  Phi-lê-môn chớ không phải là cả hội chúng, là người nhận bức thư này (anh có số ít) và lời biện hộ là cho một người đã ăn năn quy đạo qua chức vụ của Phao-lô khi ở trong tù và đã trở thành thân thiết với ông là Ô-nê-sim.  Hình ảnh về tình phụ tử thuộc linh này cũng được sử dụng trong mối liên hệ với người Cô-rinh-tô (ICo 4:15), Ti-mô-thê (4:17) và Tít (Tit 1:4) là những người đều đã ăn năn quy đạo nhờ Phúc Âm.

(Phil 1:11)  Là một nô lệ người Phi-ri-gi – mà tục ngữ đã cho là những kẻ không đáng tin cậy và bất trung, trước kia Ô-nê-sim vốn dụng (không ích) cho Phi-lê-môn.  Nhưng một sự thay đổi lớn lao đã xảy ra và Phao-lô mô tả nó bằng nét tương phản giữa “ngày trước” với “bây giờ”.  Sự biến đổi lạ lùng ấy xảy ra khi Ô-nê-sim ăn năn quay về với Chúa Cứu Thế, nhận Ngài làm Chúa mình, nên giờ đây, có thể nói là hữu ích, một phần mô tả thật phù hợp với tên anh ta, vì Ô-nê-sim có nghĩa là “hữu ích” hay “hữu dụng”.

(Phil 1:12)  Phao-lô gởi trả về cho Phi-lê-môn một người nay đã trở thành thân thiết với ông kèm theo bức thư này.  Thật vậy, ông đã rất gắn bó với Ô-nê-sim đến độ ông nói về anh ta rằng người như lòng dạ tôi vậy.  Dường như vị sứ đồ phải có một hành động hi sinh khi gởi anh ta lại cho chủ anh ta.  Có người gợi ý rằng “sai người trở về” nghĩa là Phao-lô đề cập việc trả Ô-nê-sim lại cho Phi-lê-môn, để có một “quyết định” với hi vọng Ô-nê-sim sẽ được phép quay trở lại với Phao-lô.

(Phil 1:13)  Ông mô tả vắn tắt những gì đã xảy ra trước khi viết bức thư này và gởi Ô-nê-sim trở về.  Tôi vốn muốn bộc lộ sự mong ước hay ý thích riêng của Phao-lô muốn giữ Ô-nê-sim lại với ông.  Anh ta đã trung tín phục vụ vị sứ đồ, và chính Phao-lô muốn anh ta cứ tiếp tục như thế để thay cho Phi-lê-môn đang vắng mặt.  Nhóm từ đặng thế cho anh là một sự tế nhị vì Phao-lô cho rằng Phi-lê-môn chắc cũng mong muốn được phục vụ ông như thế (nhất là trong chức vụ trong Phúc Âm) nếu có thể được.

(Phil 1:14)  Tuy nhiên, cho dù Phao-lô rất muốn giữ Ô-nê-sim lại, ông sẽ chẳng làm gì cả nếu không có sự đồng ý của Phi-lê-môn.  Rất có thể rằng làm như thế sẽ phá vỡ mối thông công Cơ Đốc.  Ông không muốn ép buộc người anh em của mình hay chen vào quyết định của Phi-lê-môn.  Bởi lòng thành đề cập một quyết định tự do, còn chẳng phải bởi ép buộc cho thấy Phao-lô biết tự kèm chế, để không áp đặt một áp lực ngoại tại nào buộc Phi-lê-môn hành động một cách đặc biệt.  Sự lịch thiệp và khôn khéo của Phao-lô là một bài học cho tất cả những ai cần thu xếp các mối liên hệ tế nhị.  Quyết định là của Phi-lê-môn.

(Phil 1:15)  Một lý do khác được nêu ra cho quyết định của Phao-lô, để không giữ Ô-nê-sim lại là ông có thể hành động trái với chủ đích được giấu kín của Đức Chúa Trời.  Thể thụ động người đã tạm (bị) xa cách chỉ về hành động kín giấu của Đức Chúa Trời như người chịu trách nhiệm về điều đã làm.  Như thế, sự chú ý của Phi-lê-môn chuyển từ những sai lầm cá nhân mà Ô-nê-sim có thể mắc phải sang sự tiên liệu của Đức Chúa Trời đã khiến những sai trái này trở thành có ích lợi (Sa 45:4-8).  Nếu (chú ý le) có chủ đích kín giấu của Đức Chúa Trời ẩn phía sau biến cố này thì ý định của Đức Chúa Trời là Phi-lê-môn phải nhận lại Ô-nê-sim trong một mối liên hệ mới mãi mãi (với tư cách một anh em Cơ Đốc).

(Phil 1:16)  Lần đầu tiên trong bức thư này, từ tôi mọi được dùng cho Ô-nê-sim.  Nhưng điều này lập tức được làm rõ là không coi như tôi mọi nữa, coi như anh em yêu dấu.  Phao-lô đã cẩn thận chọn lời lẽ, ông không bảo rằng Phi-lê-môn phải nhận lại Ô-nê-sim như một người tự do không còn là nô lệ nữa, hay anh ta phải được giải phóng ngay sau khi trở về.  Nhưng cho dù Ô-nê-sim có còn là một nô lệ hay không, anh ta không thể cứ bị xem như một nô lệ.  Một sự thay đổi đã được thực hiện trong anh ta, không phụ thuộc vào việc anh ta có thể được trả tự do.  Anh ta là một anh em yêu dấu và được ngỏ lời y như với chính Phi-lê-môn vậy (7,20) vì anh ta cũng là một chi thể trong thân thể của Chúa Cứu Thế.  Mối liên hệ giữa chủ nô với nô lệ phải được thực hiện căn cứ vào việc cả hai người đều thuộc cùng một Chúa.

Phao-lô thật sự không giải quyết vấn đề nô lệ như thế hay giải pháp cho một trường hợp cá biệt về sự chiếm hữu nô lệ.  Thay vào đó ông giải quyết ở đây vấn đề về tình yêu thương anh em.  Tuy quyền tự do ở dưới đất này của Ô-nê-sim có thể có giá trị tích cực, nhưng xét cho cùng, việc anh ta đang được tự do hay đang là nô lệ cũng không có ý nghĩa lớn lao cho anh ta với cương vị Cơ Đốc nhân.  Điều quan trọng là anh ta đã tiếp nhận tiếng gọi của Đức Chúa Trời và đã theo Ngài (ICo 7:21-24).

(Phil 1:17)  Tuy Phao-lô đề cập sự kiện ông khẩn cầu Phi-lê-môn cho Ô-nê-sim trong câu 10, chỉ đến đây ông mới nói ra nội dung của nó và đi đến luận điểm thật sự của bức thư.  Ông đặt cơ sở cho lời khẩn cầu của mình trên sợi dây ràng buộc giữa bản thân ông với Phi-lê-môn là bạn đồng sự với) ông.  Điều này không đề cập sự hùn hạp kinh doanh, cũng không phải  mối ràng buộc đặc biệt của tình bạn.  Đúng hơn, mối “thông công” giữa ông với Phi-lê-môn là với Con Đức Chúa Trời, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà cả hai đều đã được kêu gọi để bước vào (1:9).  Mối liên hệ này đã kéo họ lại gần nhau trong những hoạt động chung, cho nên danh từ bạn đồng sự có thể được thêm vào ở đây cái sắc thái của “bạn đồng công”.  Phao-lô không chỉ cầu thay cho Ô-nê-sim, mà ông còn đồng nhất hoá mình với anh ta: hãy nhận lấy người như chính mình tôi vậy.

(Phil 1:18)  Bây giờ, vị sứ đồ phòng ngừa bất cứ trở ngại nào có thể có cho việc Phi-lê-môn sẽ nhận lại Ô-nê-sim một cách thuận lợi.  Ông không muốn cho việc giải hoà này bị sụp đổ vì bất kỳ một sự đòi hỏi đền bù nào.  Phi-lê-môn được yêu cầu cứ kể mọi thiệt hại quan trọng do việc Ô-nê-sim chạy trốn hay do việc anh ta vắng mặt gây ra như món nợ của chính vị sứ đồ.  Ông nói “hãy cứ kể cho tôi”.  Phao-lô tuyên bố rằng ông sẵn sàng gánh hết mọi thiệt hại như một người cha chịu thay cho con mình vậy (c.10).

(Phil 1:19)  Như trong một ngoặc đơn ông thêm vào một lời hứa do chính tay ông viết: Tôi sẽ trả.  Rồi lấy lại tư tưởng ở câu 18, ông nhắc lại cho Phi-lê-môn rằng chính ông ta đã mắc nợ vị sứ đồ, vì chính nhờ ông mà Phi-lê-môn đã ăn năn quy đạo.  Do đó mà Phi-lê-môn đã mắc nợ sự sống thuộc linh của mình đối với Phao-lô, mà đây là món nợ còn lớn hơn món nợ của Ô-nê-sim mà Phao-lô sẽ chịu trách nhiệm nữa.  Bức thông điệp đã rất rõ ràng: Phi-lê-môn sẽ hiểu rằng Ô-nê-sim đã được hưởng cùng một ân điển của Đức Chúa Trời (như chính Phi-lê-môn) khi anh ta ăn năn quy đạo.  Ông ta phải tiếp nhận Ô-nê-sim như một người anh em trong Chúa Cứu Thế, chớ không phải tỏ ra giận dữ đối với anh ta, dù có thể có những lý do chính đáng để làm như thế. 

(Phil 1:20)  Phao-lô kết thúc phần thân của bức thư bằng cách nhấn mạnh lời khẩn xin của ông và bày tỏ mong ước rằng Phi-lê-môn sẽ làm cho ông thoả lòng trong Chúa Cứu Thế.

4. CÁC NHẬN ĐỊNH VÀ LỜI CẦU THĂM CUỐI CÙNG (Phil 1:21-25)

Trong mấy câu ngắn ngủi cuối cùng của bức thư, Phao-lô bảo đảm với Phi-lê-môn về niềm tin của ông rằng Phi-lê-môn sẽ biết làm thế nào cho phải lẽ rồi thông báo rằng ông định đến thăm Phi-lê-môn (21-22).  Một bảng liệt kê ngắn những lời chào thăm (23-24) và lời chúc phước kết thúc bức thư (25).

(Phil 1:21)  Phao-lô tin tưởng nơi sự vâng lời của Phi-lê-môn, không phải đối với uy quyền sứ đồ của ông được giả định là ẩn bên dưới lời thỉnh cầu hay kêu gọi ông đã nêu ra trong bức thư, mà là đối với ý chỉ Đức Chúa Trời.  Ông đã cầu nguyện (6) để Phi-lê-môn thấu hiểu được càng sâu nhiệm hơn ý chỉ của Đức Chúa Trời và thực hành điều đó trong tình yêu thương.  Trong quá khứ đã có chứng cứ rõ ràng về sự vâng lời này vốn được chứng minh thật cụ thể qua thái độ hào hiệp liên tục của ông khi ông làm thoả lòng các thánh đồ (7).  Bây giờ, Phao-lô trông mong cho nó lại được bộc lộ một lần nữa.  Thật vậy, ông tin rằng Phi-lê-môn sẽ làm quá sự tôi nói đây, một ngụ ý (chứ không có gì hơn thế) về điều ông vừa khẩn xin, tức là Ô-nê-sim sẽ được trả lại cho ông để phục vụ cho Phúc Âm.

(Phil 1:22)  Lời đề cập nhà trọ gợi ý rằng Phao-lô xem việc ông bị cầm tù chỉ là tạm thời.  Ông hi vọng rằng mình sẽ đích thân đến thăm Phi-lê-môn, và nếu điều đó xảy ra thì ấy là vì Đức Chúa Trời đã nhân từ nhậm lời cầu nguyện của Hội Thánh họp tại nhà này.  Lời ông báo về niềm hy vọng của ông cũng nhấn mạnh phần nào việc ông cầu thay cho Ô-nê-sim, vì điều đó sẽ giúp chính ông thấy được mọi việc đã diễn tiến như thế nào.

(Phil 1:23-24)  Số người gởi lời chào thăm cũng đã được đề cập trong Co 4:10-17 trong khi câu kết thúc (25) cũng giống như ở cuối thư Ga-la-ti.

Lên đầu trang