ÁP-ĐIA
1. TỰA (Ap 1:1a)
Câu đầu tiên xác định thể loại của sách và người viết ra sách. Sự Khải Thị của Đức Chúa Trời đến với con người qua Áp-đia trong một khải tượng. Điều này chứng tỏ từ này dùng trong phạm vi ý tứ rộng rãi hơn thay vì chỉ nói về sự khải thị qua thị giác (Es 29:7 Exe 12:27), ở đây từ này chỉ về sự khải thị bằng tiếng nói (Es 1:1 Na 1:1). Từ “khải tượng’ không liên quan đến từ thông thường chỉ về việc nhìn thấy cho nên con người có tên riêng là Áp-đia có nghĩa là “tôi tớ của Đức Giê-hô-va” được ban cho khả năng nhận thức lạ lùng với hàm ý về nguồn cội tối cao của sứ điệp.
2. Ê-ĐÔM-TIỀN THÂN CỦA KẺ THÙ NGHỊCH ĐỨC CHÚA TRỜI (Ap 1:1b-15)
1. Sự diệt vong đang lơ lửng (Ap 1:1b-9)
(Ap 1:1) Dẫn nhập Tác giả của sứ điệp mà ông truyền ra là Chúa Giê-hô-va, là Đấng khiến cho sứ điệp có uy quyền, là Đấng mà ông giới thiệu bằng lối hành văn đặc thù trong các bài tường trình (so sánh Exe 2:4 danh hiệu này của Đức Chúa Trời được dùng đến 432 lần). Chúa Giê-hô-va là Đấng Tối Cao cầm quyền không những trên Y-sơ-ra-ên mà trên hết thảy các dân tộc, kể cả Ê-đôm. Tên riêng của Đức Chúa Trời, tên mà dùng trong giao ước là “Đức Giê-hô-va” (Yahweh, Chúa) nhắc nhở dân sự Ngài về những lời hứa giao ước mà Ngài đã dành cho họ, kể cả xứ mà họ sẽ tiến vào để định cư (Sa 12:1 15:7). Họ đặc biệt cần nghe nhắc lại điều mà trong thời điểm bị lưu đày, và toàn dân gánh chịu sự mất mát nghiêm trọng (10-14 so sánh 19-21).
Đối tượng của riêng bài giảng này là Ê-đôm, kẻ thù lâu đời của dân Y-sơ-ra-ên (xem dẫn nhập). Là một nưóc nằm sát nách đông nam của Y-sơ-ra-ên, nên Ê-đôm không xa lạ gì với dân Y-sơ-ra-ên qua bài giảng mà các tiên tri đã rao ra (Es 34 63:1-6 Gie 49:7-22 Exe 25:12-14 35:1-15 Am 1:11-12 Ma 1:2-5).
Kế tiếp mẫu câu ở đầu một bài tường trình là một số thông tin nữa thay vì bài giảng mà người ta trông đợi. Thông tin này hoặc liên quan đến một sứ điệp đã được rao ra trước kia về Ê-đôm với nội dung cũng phù hợp với tình hình hiện tại, hoặc một bài mà ông Áp-đia mới giảng đây về vấn đề các dân tộc. Ủng hộ cho ý thứ nhất là sự kiện bài giảng này có nhiều chi tiết tương đồng với Gie 49:7-16 vốn là bài tiên tri về Ê-đôm. Có thể ông Áp-đia nhắc đến bài giảng của ông Giê-rê-mi là một bài nổi tiếng, hoặc là bài ông đã nghe giảng tại Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên chúng ta không thể chứng minh gì cả, chúng ta không biết chính xác thời điểm ông Áp-đia thi hành chức vụ nên cũng không thể xác định mối tương quan trong chức vụ của hai ông.
Dường như bài giảng này nói về một phái bộ hoặc một sứ giả do Đức Giê-hô-va sai đi để truyền cho các dân tộc trong vùng liên kết với nhau tiến đánh Ê-đôm. Rồi chúng ta sẽ thấy là cả Y-sơ-ra-ên, Đức Giê-hô-va lẫn các dân tộc trong vùng đều tham gia để chiến thắng Ê-đôm.
(Ap 1:2-4) Những nguy cơ của sự kiêu ngạo Bài giảng của Đức Giê-hô-va bắt đầu ở đây. Dù bài giảng dùng các đại danh từ ngươi, nhưng không chắc là tiên tri của Đức Chúa Trời đối diện với người Ê-đôm mà giảng cho họ. Hầu hết các bài tiên tri chống các dân tộc đều được tiên tri giảng cho cho dân của Đức Chúa Trời để khuyến giục họ, vì kẻ thù nghịch sẽ thất trận, hoặc để cảnh báo họ, vì có khả năng đến phiên họ cũng rơi vào số phận đó nếu họ không thật lòng theo Đức Chúa Trời của giao ước.
Ê-đôm đặc biệt kiêu hãnh về địa thế bất khả xâm phạm của một đất nước nằm giữa vùng núi đá và khe vực ở bên tả ngạn sông Giô-đanh, nhưng rồi đây Ê-đôm sẽ bị hạ nhục. Dù người Ê-đôm tự cao tự đại khoe khoang khoác lác như thế họ sẽ bị đánh hạ và khinh dể. Vì họ đã tự dối, tự lừa phỉnh như bà Ê-va đã bị lừa phỉnh, rồi cuối cùng bị hình phạt ở vườn Ê-đen (Sa 3:13). Từ vầng đá cũng có thể là “Sê la”, (xem lề bản NIV) - thủ đô của nước Ê-đôm (xem phần dẫn nhập).
Tính khoe khoang khoác lác tự cao tự đại của người Ê-đôm xui khiến họ ví sánh sự an toàn của mình với cánh chim ưng sải cánh bay cao, hoặc với những vì sao xa tít. Họ quên rằng ngoài những vụ tấn công quân sự bằng đường bộ còn có điều đáng sợ khác nữa. Họ sẽ phải đối đầu và chung cuộc sẽ thất bại, với chính Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo trời đất vũ trụ này, chẳng có đồn lũy bằng đá nào là an toàn cả. Ngài sẽ lôi họ xuống từ những vị trí cao chót vót. Và chắc chắn chuyện đó sẽ xảy ra vì chính Đức Giê-hô-va đã tuyên bố như vậy.
Ngạo mạn là một tội nơi người Ê-đôm cũng như nơi dân sự của Đức Chúa Trời. Trong khi họ huyênh hoang về “sự an toàn” của mình trong vùng núi đồi họ quên rằng họ rất yếu đuối so với tia nhìn sắc bén của Ngài. Cũng vậy Hội thánh không những phải ý thức đầy đủ về sự quan sát thường xuyên và sự chê bai soi mói của thế gian mà còn phải nhận biết rõ ràng rằng ngay cả những tật xấu và sự lệch lạc bí ẩn nhất nơi họ cũng không qua mắt Đức Chúa Trời được.
Ê-đôm đã học một bài học mà tất cả chúng ta dù cá nhân hoặc tập thể cần ghi nhớ. Thay vì chế nhạo hoặc tấn công người sa cơ hoạn nạn chúng ta nên cứu giúp thì hơn. Như vậy chúng ta được phước hơn và vương quốc của Đức Chúa Trời được ích lợi hơn. Chê bai chế nhạo là trái ý của Đức Chúa Trời vì Ngài muốn chúng ta chăm lo cho người bị hà hiếp sa bại. Ngoài ra cũng trái với lương tri lệ thường nữa, vì nay sa bại mai lại phất lên không chừng rồi biết đâu lại trở thành người chủ chốt như trường hợp của Giu-đa vậy, họ đã vươn lên dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời.
(Ap 1:5-7) Hành vi phản trắc 5-6 Tiếp theo những hình ảnh ví von trong những câu cuối, diễn giả kéo thính giả trở về với kinh nghiệm thường nhật của họ. Họ dư biết bọn ăn trộm và ăn cướp thường âm thầm lén lút đến để trộm cướp và hủy phá. Những phạm nhân này chỉ có thể ăn cắp những món đồ mà họ có thể mang đi. Tác giả ví sánh họ với những người hái nho được lịnh (Phu 24:21) phải chừa lại vài chùm cho người nghèo. So với một vụ hái trộm nho thì Ê-đôm sẽ trải qua cuộc cướp bóc phá phách triệt để hơn nhiều. Ê-sau, là tên riêng của ông tổ người Ê-đôm (Sa 36:1,9). Đôi khi người ta cũng dùng tên riêng này để nói về dân tộc Ê-đôm. Của báu mà Ê-sau (họ) chôn giấu cách kín đáo cũng bị moi móc sạch, không còn sót một thứ gì cả.
7 Câu này dùng đại danh từ ngươi ở dạng nhấn mạnh đến bảy lần để nói với Ê-đôm. Ngay cả những người vốn là bạn hữu và liên minh sát cánh với Ê-đôm, tức là “những người hòa thuận cùng ngươi” trong nguyên ngữ Hi Bá Lai, cũng sẽ phản bội Ê-đôm. Một số người khác cũng là bạn nối khố, trong nguyên ngữ Hi Bá Lai gọi là “ăn bánh của ngươi”, có lẽ phải hiểu là “người ăn bánh của ngươi” (Thi 41:9, trong câu này cụm từ này được dùng chung với cụm từ “người hòa thuận”). Thông thường ở Y-sơ-ra-ên sau khi lập giao ước xong thành viên hai bên họp lại ăn uống với nhau (Sa 31:54 Xu 24:11 so sánh ICo 11:23-26). Cho nên có lẽ những người này vốn là thành viên trong giao ước nay dứt bỏ quan hệ này.
Bạn hữu nối khố từ xưa giăng bẫy hại Ê-đôm cách bất ngờ đến nỗi chính Ê-đôm không phát hiện ra được.
(Ap 1:8-9) Sự hình phạt sắp đến Ê-đôm sẽ mất hết nguồn nhân lực ủng hộ mình: thành phần khôn ngoan, là những người nổi tiếng (Ê-li-pha, một trong mấy bạn của Gióp người ở Thê-man, Giop 2:11 Gie 49:7 so sánh IVua 4:30) lẫn quân đội. Những lực lượng này được kể là dũng mãnh sẽ bị kinh hãi và tất cả sẽ bị giết hại. Đây là vực sâu của sự mất mát về phần vật chất (5-6), mất thông cảm và ý kiến xây dựng (7-8), đến mất năng lực quân sự (9). Toàn bộ xã hội phải sụp đổ thôi.
2. Tội ác của Ê-đôm (Ap 1:10-15)
Với cấu trúc khá đơn giản nhưng sôi nổi và mãnh liệt, mấy câu này lên án Ê-đôm về những hình thức hãm hại Y-sơ-ra-ên từ chỗ đơn giản nghiêng dần về vũ lực và bạo tàn.
(Ap 1:10-11) Tác giả bất ngờ đặt từ anh em bên cạnh từ hung bạo tăng mạnh ấn tượng về sự xảo trá của Ê-đôm đối với Y-sơ-ra-ên, ở đây tác giả dùng tên gọi là Gia-cốp (so sánh Dan 20:14 Phu 23:7 Am 1:11). Câu này nhằm nhắc lại sự xung đột của Ê-sau với em song sinh của mình (Sa 25:19-34 27:1-28:9 33:1-20), tình trạng xung đột này vẫn còn kéo dài đến thời hậu duệ của họ. Mấy câu kế tiếp viết chi tiết về những hành động bạo tàn đáng hổ thẹn này.
Giai đoạn này họ chỉ thụ động quan sát cuộc cướp phá. Dù Ê-đôm có thể thanh minh là: “Chúng tôi không tham gia. Chính là quân thù của các ông, người lạ... dân ngoại quốc” nhưng một khi không cứu giúp, thì Ê-đôm đã xử sự như họ.
(Ap 1:12-14) Cường độ chống phá Y-sơ-ra-ên tăng mạnh, làm tổn hại hơn và ngày càng công khai hơn. Từ chỗ quan sát cách thụ động , Ê-đôm tiến tới chỗ vui sướng hể hả khi Giu-đa gặp nạn, tiến vào cổng thành (so sánh Ca 4:12-13) để xem cho gần cho rõ hơn và rồi hôi của trong những nhà vắng chủ. Cuối cùng, họ nỡ tấn công người Giu-đa chạy loạn (IIVua 25:4-5), bắt những người sống sót khốn nạn này mà nộp cho kẻ áp bức nọ. Vì họ diệt kẻ bất lực nên họ sẽ chịu cùng một số phận (9-10), dân Ê-đôm sẽ không còn một ai sống sót (18).
(Ap 1:150 Câu này bắc cầu nối giữa hai phần trong sách này, liên hệ phần tiên tri cụ thể về Ê-đôm (2-15) với phần tiên tri tổng quát hơn về Y-sơ-ra-ên và các dân tộc (16-21 xem phần dẫn nhập).
Ngày của Đức Giê-hô-va là mục tiêu mà lịch sử đang tiến tới. Trong ngày đó Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt những người chống đối Ngài và giải phóng dân sự của Ngài. Y-sơ-ra-ên cho là họ được kể là dân sự của Đức Chúa Trời, nhưng khám phá ra rằng họ thuộc về nhóm chống đối Ngài, vì cớ họ phản loạn và vi phạm giao ước (Gio 1:15 3:14 Am 5:18-24). Họ sẽ thuộc về số những dân tộc bị hình phạt (Phu 32:35-36 Xa 14:1-3), mà Ê-đôm là một trường hợp điển hình. Ê-đôm sẽ bị hình phạt phù hợp với những sai phạm của họ, một thí dụ điển hình về phương thức “ăn miếng trả miếng”, hoặc nói theo từ chuyên môn hơn thì “mắt đền mắt, răng đền răng” (so sánh Le 24:19 Gie 50:15,29). Sự công bình của Đức Chúa Trời được giữ đúng vì Ngài không miễn hình phạt kẻ can tội.
3. Y-SƠ-RA-ÊN VÀ CÁC DÂN TỘC – HÌNH PHẠT VÀ GIẢI CỨU (Ap 1:15-21)
1. Ván cờ lật ngược đối với kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên (Ap 1:15-18)
(Ap 1:15-16) Trong phần này tác giả vẫn dùng đại danh từ ngươi (7) khi nói với Ê-đôm, và Ê-đôm trở nên trường hợp điển hình báo trước rằng các dân tộc khác cũng bị hình phạt như vậy. Thay vì tiệc tùng say sưa ăn mừng tại Giê-ru-sa-lem, trên núi thánh của Đức Chúa Trời về sự sụp đổ của Y-sơ-ra-ên, họ sẽ phải uống cạn chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời (so sánh Es 51:17 Gie 25:1-38 Ha 2:15-16 Mac 14:36). Họ bị diệt hoàn toàn đến nỗi coi như họ chưa hề có mặt trên trái đất này.
(Ap 1:17) Nhưng trái ngược với không những Ê-đôm (1-15) mà cả với các dân tộc (16), trên Núi Si-ôn (16) tức là núi thánh của Đức Chúa Trời người tị nạn sẽ được giải cứu (14). (Ở đây tác giả áp dụng một lối nói chơi chữ vì trong trong nguyên ngữ Hi Bá Lai cả hai từ đó đều có chung một từ gốc). Ân sủng chung cuộc của Đức Chúa Trời dành cho dân sự của Ngài được chứng tỏ qua việc Ngài phục hồi họ, cho họ thừa hưởng sản nghiệp trong giao ước trở lại tức là đất hứa Đức Chúa Trời tạm thời ngưng thực hiện lời hứa này vì cớ tội lỗi của họ (so sánh Phu 30:1-20). Câu nói về sự giải cứu đích thực là lời của Đức Chúa Trời được ông Giô-ên trích dẫn trong Gio 2:32. Điều này gợi ý là ông Áp-đia sống trước thời của ông Giô-ên. Ở đây tác giả khơi bùng trở lại hai phương diện trong giao ước với Đa-vít là Đức Chúa Trời hiện diện trong nơi thánh của Ngài, và sự hiện diện của dân sự tại đất hứa qua tập thể còn sót lại .
(Ap 1:18) Ê-đôm, được nêu danh là nhà Ê-sau đã tìm cách diệt trừ Y-sơ-ra-ên, hoặc chí ít thì cũng trục lợi trong dịp Y-sơ-ra-ên sụp đổ (10-14), nên lửa của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ diệt trừ họ (so sánh Thi 18:8 Am 5:6) qua dân sự của Ngài, được nêu danh là nhà Gia-cốp (chỉ về toàn bộ dân Y-sơ-ra-ên (so sánh Thi 22:23) hoặc chỉ về Giu-đa ở phía nam mà thôi) và nhà Giô-sép (chỉ về liên minh của mười chi phái so sánh IVua 11:28 Am 5:6). Như vậy, chung cuộc toàn bộ dân tộc gồm mười hai chi phái sẽ được khôi phục (so sánh Exe 37:15-28). Dân tộc đã phản bội những người tị nạn Y-sơ-ra-ên (14 so sánh câu 17), sẽ không còn một người nào sống sót (so sánh Ca 2:22). Trong khi từ một số ít người Y-sơ-ra-ên còn sống sót sẽ sản sinh ra một dân tộc, thì Ê-đôm sẽ bị tận diệt.
Cụm từ Đức Giê-hô-va đã phán vậy bảo đảm rằng những lời tiên tri này là chắc chắn.
2. Khôi phục dân Y-sơ-ra-ên (Ap 1:19-21)
Ba câu cuối này ở thể loại văn xuôi chớ không phải ở thể thơ như phần tiên tri ở trên. Có người căn cứ vào sự thay đổi đột ngột thể văn mà cho rằng mấy câu cuối này được một người khác bổ túc sau. Tuy nhiên, chủ trương này không có cơ sở vững vàng vì các nhà văn thời xưa hoặc thời nay đều có thể viết văn xuôi hoặc các thể loại văn chương khác. Thể loại văn thay đổi không phải là yếu tố quyết định để chứng tỏ rằng quyển sách do nhiều nhà văn thực hiện. Lời văn trong nguyên ngữ Hi Bá Lai ở phần này khá mập mờ ở nhiều điểm, nhưng vẫn chuyển tải đầy đủ sứ điệp.
(Ap 1:19) Câu này và câu kế tiếp chú trọng đến việc sở hữu đất đai. Giờ đây Y-sơ-ra-ên có thể thừa hưởng sản nghiệp của mình (17). Có lẽ cư dân ở Nê-ghép vùng hoang mạc phía nam Bê-e-sê-ba đã đánh bật dân Ê-đôm ra khỏi xứ sở của họ. Có lẽ do đó mà một số dân cư trong vùng di cư qua lãnh thổ của Ê-đôm bên tả ngạn sông Giô-đanh (các núi của Ê-sau). Nhưng bằng cớ chứng minh cho việc này thì lại hiếm. Có nhiều khả năng là câu này nói về việc dân Y-sơ-ra-ên quay về sống trong những vùng lãnh thổ của Giu-đa vốn bị dân Ê-đôm lấn chiếm khi đất nước của Y-sơ-ra-ên bị dân Ả-rập - Nabatean chiếm đóng từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ IV T.C. (xem dẫn nhập). Đồng bằng (bản NRSV, Sê-phê-la) trải rộng giữa bờ biển và vùng cao nguyên được gọi theo tên của dân Phi-li-tin, cư dân lâu đời nổi tiếng. Dân này cũng bị mất nước. Trong thời Mác-ca-bê (IMác-ca-bê 10:84-89 11:60-62) Y-sơ-ra-ên chiếm được quyền kiểm soát vùng này. Trong thời John Hyrcanus năm 106 T.C. (Ant. 13.5.2-3) họ cũng chiếm được Sa-ma-ri. Giu-đa kiểm soát lãnh thổ quanh vùng Sa-ma-ri (Ép-ra-im, theo tên gọi của chi phái chính định cư ở miền bắc) năm 153 TC (IMác-ca-bê 10:38). Mập mờ hơn nữa là ý nghĩa của tên riêng Bên-gia-min, một chi phái ít người định cư ở miền bắc, sở hữu Ga-la-át nằm bên tả ngạn sông Giô-đanh ở phía đông. Maccabees cũng chiếm được vùng này năm 164 TC (IMác-ca-bê 5:9-54).
(Ap 1:20) Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai câu này không sáng sủa cho lắm nên khó hiểu ý nghĩa. Dầu vậy, hai phần của câu này có cấu trúc song hành nên cũng góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa. Dường như câu này nói về hai nhóm người Y-sơ-ra-ên bị lưu đày. Nhóm thứ hai, là những người bị bắt đi Ba-by-lôn năm 587 T.C. từ Giê-ru-sa-lem. Hiện thời họ đang ở Sê-pha-rát, nhưng sẽ hồi hương và nhận lại đất đai của họ ở miền nam. Không rõ họ bị lưu đày đến xứ nào, nhưng có ý kiến cho rằng họ bị đày đi Tây Ban Nha hoặc Tiểu Á. Trong một bảng đá khắc lưu của vua A-si-ri Sargon II (cuối thế kỷ thứ VIII T.C.) nhắc đến địa danh Saparda ở Mê-đi có thể lắm vốn là một nơi tiếp nhận người bị lưu đày. Những kẻ phu tù của cơ binh con cái Y-sơ-ra-ên có lẽ là của dân trong vương quốc phía bắc, vương quốc này rơi vào tay quân A-si-ri năm 722 T.C.. Thay vì dùng từ “cơ binh”, bản NRSV gợi chuyển ngữ là “Halah” bằng cách đổi vị trí của chỉ một chữ trong từ của nguyên ngữ Hi Bá Lai. Một số người Y-sơ-ra-ên bị đày đến nơi này ở trong xứ A-si-ri (so sánh IIVua 17:6 18:11 IISu 5:26). Họ sẽ được hồi hương, nhận lại xứ sở của họ mở rộng đến tận Sa-rép-ta, một thành phố ở phía bắc của vương quốc Y-sơ-ra-ên, nằm giữa Ty-rơ và Si-đôn (so sánh IVua 17:9). Trong ngày chung kết của Đức Giê-hô-va toàn bộ đất nước Y-sơ-ra-ên sẽ được khôi phục, biên cương mở rộng hơn là trong thời kỳ cai trị của các vua.
(Ap 1:21) Các kẻ giải cứu đem sụ cứu rỗi đến (Ne 9:27) sẽ đến Giê-ru-sa-lem (Núi Si-ôn), từ đó họ sẽ cai trị trên các núi khác đã được đề cập đến trong lời tiên tri này, các núi của Ê-sau (tức là Ê-đôm). Đây là tín hiệu cho thế giới biết rằng ai là vị vua chân chính và sẽ cai trị trên toàn thế gian. Vị vua đó là chính Chúa, Đức Giê-hô-va, Ngài là “Vua của các vua và Chúa của các Chúa” Ngài đã cai trị, hiện đang cai trị và sẽ cai trị mãi mãicho đến đời đời” (Kh 11:15 so sánh Thi 22:28 47:7-9).
Danh của Đức Chúa Trời được dùng như hai ngoặc đơn mở và đóng sách tiên tri này (1, 21) bày tỏ vai trò và quyền hạn của Ngài, Ngài chẳng những cầm quyền tối cao trên Ê-đôm và trên Y-sơ-ra-ên, mà Ngài cũng cầm quyền tối cao trên tất cả mọi dân tộc nữa.