GIÔ-NA
1. ÔNG GIÔ-NA PHẢN ĐỐI KHÔNG LÀM NHIỆM VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI GIAO PHÓ LÀ ĐEM ĐẾN CHO DÂN NI-NI-VE MỘT CƠ HỘI ĂN NĂN SÁM HỐI (Gion 1:1-3)
(Gion 1:1) Xác định ông Giô-na là một tiên tri người Y-sơ-ra-ên ở phía bắc vào đầu thế kỷ thứ VIII TC (căn cứ vào IIVua 14:25).
(Gion 1:2) Bản NIV chuyển ngữ là rao giảng chống lại nó, vì tội ác của nó đã lên thấu trước mặt ta không phù hợp bằng “rao giảng cho họ về tai hoạ của họ khiến ta quan tâm”. Từ r‘h đôi khi có nghĩa là “gian ác” hoặc “tội ác”, nhưng thường có nghĩa là “sự khó khăn”, “tai ương” hoặc “thảm hoạ”. Bản LXX chuyển ngữ là “rao giảng trong thành đó” có lẽ sát ý với nguyên bản hơn là “rao giảng cho thành đó”. Ông Giô-na nhận một nhiệm vụ phát sinh từ lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với Ni-ni-ve chớ không phải một nhiệm vụ với kết quả đương nhiên là thành Ni-ni-ve bị hình phạt.
(Gion 1:3) Ta-rê-si, đôi khi dùng làm địa danh, có nghĩa là “ngoài biển khơi” ông Giô-na hi vọng trốn xa Đức Chúa Trời bằng cách đáp tàu biển khởi hành từ cảng Giốp-bê ở xứ Phi-li-tin, lênh đênh trên Địa Trung Hải để đến một nơi xa xăm. Có lẽ ông không cần biết đó là nơi nào. Các tiên tri trong thời Cựu Ước vẫn có thể được Đức Chúa Trời sử dụng dù trong mọi lãnh vực họ chưa nắm vững thần đạo gì cả. Trong trường hợp của ông Giô-na dường như ông chủ trương một cách sai lầm theo quan niệm chung của hầu hết người xưa là một vị thần chỉ có quyền hành những nơi được dân chúng tích cực tôn thờ. Như vậy, khi bỏ xứ Y-sơ-ra-ên ra đi, ông Giô-na hi vọng là sẽ thoát xa quyền hành của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ không còn quyền hạn ép buộc ông phải làm điều ông không muốn làm - tức là đi rao giảng cho dân A-si-ri, kẻ thù của Y-sơ-ra-ên.
2. MỘT TRẬN BÃO ĐẾN TỪ ĐỨC CHÚA TRỜI NGĂN CẢN ÔNG GIÔ-NA TRỐN TRÁNH LÀM NHIỆM VỤ (Gion 1:4-16)
(Gion 1:4-6) Ông Giô-na ngủ say có lẽ vì chuyến hành trình cấp tốc từ vùng cao nguyên Y-sơ-ra-ên đến bờ biển, hoặc vì tinh thần xuống thấp trước viễn cảnh lưu vong tự nguyện. Ông thuyền trưởng bị chấn động mạnh khi thấy ông Giô-na ngủ say giữa cơn bão tố. Cũng như thuỷ thủ đoàn theo đa thần tín ngưỡng, ông tin rằng một vị thần nào đó đang nổi giận với họ, và nếu họ cầu khẩn với vị thần đó (hoặc vị thần nào khác) thì chắc trận bão sẽ tan.
(Gion 1:7-9) Bốc thăm (những hòn sỏi tung lên trong một cái thùng tròn, hòn sỏi rơi xuống bày mặt nào lên trên có nghĩa là đúng hoặc sai) là cách thức loại trừ dần những người vô can. Cuộc bốc thăm đã đi đến kết cuộc chính xác là mối liên hệ của ông Giô-na với thần của ông đang trục trặc. Rõ ràng Đức Chúa Trời chân thần đã run rủi cho họ đạt được kết quả đó (so sánh Cong 1:26) cũng cần ghi nhận rằng Ch 16:33 (“sự quyết định của sự bỏ thăm do nơi Đức Giê-hô-va”) là một cách công nhận rằng Đức Chúa Trời (chớ không phải những phương pháp bói của loài người) kiểm soát mọi biến cố trong đời sống, và câu đó cũng không hứa rằng các hình thức bói, bốc thăm luôn luôn cho biết ý muốn của Đức Chúa Trời. Dầu vậy, nếu muốn Ngài có thể dùng bất cứ trường hợp bốc thăm nào, hoặc bất cứ phương cách tiên đoán nào để bày tỏ ý của Ngài, ngay cả khi cuộc bốc thăm nằm trong tay người ngoại đạo. Ông Giô-na tự khai nhân thân theo cách một người Hê-bơ-rơ thường làm đối với người lạ, và qua lời nói ông công nhận rằng quyền hành và ảnh hưởng của Đức Chúa Trời, Đấng Sáng Tạo tất cả mọi thứ trên đời này không hề bị giới hạn trong một vùng địa lý này.
(Gion 1:10) Tất cả các chuyện kể trong Kinh Thánh Cựu Ước đều rất gọn gàng súc tích, nên chúng ta cần nhớ rằng trong sách Giô-na có nhiều lời nói và hành động không được tác giả nhắc đến. Cũng vậy, toàn bộ những lời giảng dạy của ông Giô-na cũng không được ghi lại. Chương Gion 3:4 chỉ ghi tóm tắt vài lời chủ chốt. Ở đây, câu “Ngươi đã làm gì?” là một câu hỏi theo kiểu hùng biện có ý nói rằng: “Hãy nghĩ lại đi, ông đã phạm một việc kinh khủng!”. Câu này cho thấy các thuỷ thủ công nhận tội đó đáng bị hình phạt nặng.
(Gion 1:11-13) Ông Giô-na đưa ra một cách xử lý. Đó là cái chết của chính mình ông - một cách kết thúc cho nỗi buồn của ông là ông đã bỏ nhà, bỏ cuộc sống ra đi tìm một lối thoát để rồi giờ đây thất bại, và cũng là một lối thoát nguy cho con tàu. Các thuỷ thủ tìm mọi cách để đưa con tàu vào bờ, vì trong các chuyến hải hành, hầu hết các tàu bè đều theo một hải trình dọc theo bờ biển, nhưng họ không thể nào đưa tàu vào bờ được. Trong khi đó, họ không nỡ áp dụng phương án cứu nguy khác là giết ông Giô-na vì đối với họ phương án đó xem ra quá tàn nhẫn.
(Gion 1:14-16) Rồi vì không có cách nào khác họ đành ném ông Giô-na vào cõi chết. Lập tức họ thấy kết quả như ý. Là những người tin tưởng rằng thần thánh của mọi dân tộc thực sự có thật và khi cần thì phải kính trọng các thần đó nên họ cảm thấy dễ dàng quay qua cầu nguyện với Đức Chúa Trời là thần của dân Y-sơ-ra-ên. Rồi về sau, sau khi cặp bờ an toàn có lẽ họ đi đến một trong những ngôi đền của Đức Giê-hô-va để dâng của lễ tạ ơn và của lễ làm cầu hoà với Ngài, mặc dù họ là người Phi-li-tin chớ không phải là người Y-sơ-ra-ên (thuở đó Giốp-bê là một thành của người Phi-li-tin). Tiếc là trong thời đó, nhiều thầy tế lễ người Y-sơ-ra-ên vui lòng tiếp nhận của lễ từ những người ngoại quốc không tin Chúa. Sự kiện họ không phải là người gốc Y-sơ-ra-ên vẫn không thành vấn đề. Vì IVua 8:41-43 vua Sa-lô-môn cầu nguyện tại buổi lễ cung hiến đền thờ với niềm hi vọng rằng người ngoại quốc sẽ thờ phượng tại đền thờ là những người “biết danh của Ngài, kính sợ Ngài như dân Y-sơ-ra-ên kính sợ Ngài”. Tuy nhiên, sách Giô-na không viết là họ trở lại tin Đức Chúa Trời, cũng không ghi là họ có đến đền thờ Giê-ru-sa-lem để thờ phượng. Vì Giốp-bê là thành ở phía bắc, ngang với nước Y-sơ-ra-ên (vương quốc phía bắc, chớ không dính dấp đến nước Giu-đa (vương quốc phía nam), cho nên nếu có đi thờ phượng, có lẽ lắm các thuỷ thủ đến một trong những đền miếu trong vương quốc phía bắc, nhưng lại là những đền miếu trái với luật pháp trong Kinh Thánh (Phu 12:1-32 so sánh IVua 12:25-33). Ngay cả tại Giê-ru-sa-lem, một người ngoại quốc chưa trở lại đạo cũng không được phép thờ phượng (Xu 12:43-49 Le 22:25) mặc dù một người ngoại quốc đã gia nhập đạo thì được phép thờ phượng trên cùng một căn bản như người Y-sơ-ra-ên (so sánh Dan 9:14 15:14).
3. ÔNG GIÔ-NA TỎ LÒNG BIẾT ƠN ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ BỞI ÂN SỦNG NGÀI ĐÃ CỨU ÔNG THOÁT CHẾT (Gion 1:17-2:10)
(Gion 1:17). Ông Giô-na nghĩ là chỉ có cái chết đang chờ ông ở dưới biển. Câu Đức Giê-hô-va sắm một con cá lớn là tín hiệu báo cho độc giả biết là ông sẽ không chết, mà sẽ được cứu. Có nhiều tài liệu kể chuyện người đi biển sống sót sau khi bị cá voi nuốt (xem Ô-sê - Giô-na do D. K. Stuart - Word Books, 1987). Họ sống sót nhờ cơ thể con người có khả năng thích nghi tuyệt vời cho phép họ có thể sống còn với số lượng ô-xy rất nhỏ (dù là trong trạng thái mê man bất tỉnh) trong nước lạnh. Đây là một sự kiện thiên nhiên đã được y học chứng minh vững vàng. Hơn nữa, cá voi thường xuyên trồi lên mặt nước để thở. Dầu vậy, ông Giô-na được cứu nhờ sự sắp xếp của Đức Chúa Trời và như vậy có tính cách siêu nhiên lớn lao. Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai con cá lớn có thể chỉ về cá voi hoặc một trong những loại cá mập lớn. Ba ngày và ba đêm là thành ngữ người xưa thường dùng với ý là “thời gian đủ dài để chứng tỏ là chết hoàn toàn rồi”. Câu này phát xuất từ quan niệm của người ngoại đạo thời cổ cho rằng sau khi con người tắt hơi linh hồn đi đến nơi ở của mình mất ba ngày ba đêm mới tới. Chúa Giê-xu dùng câu này khi nói về tình trạng chết trước khi sống lại (Mat 12:40) cũng nhấn mạnh cùng một ý: Ngài thực sự chết, chết hoàn toàn chớ không phải nói theo nghĩa đen là Ngài nằm chết trong một thời gian đúng bảy mươi hai tiếng đồng hồ.
(Gion 2:1) Không rõ ông Giô-na có tỉnh táo suốt thời gian ở trong bụng cá hay không nhưng chắc ông còn đủ tỉnh thời gian đầu và biết rằng mình không chết đuối nhưng còn sống để dâng lên một thi thiên cảm tạ Đức Chúa Trời như có chép trong câu 2-9. Cấu trúc và nội dung bài thi thiên cho thấy ông Giô-na ý thức rõ ràng là Đức Chúa Trời cho ông sự sống chớ không phải cái chết xứng đáng với tội của ông. Thi thiên tạ ơn là một bài thơ được phổ nhạc dùng làm bài cầu nguyện cảm tạ sau khi thoát khỏi một mối hiểm nguy khốn đốn nào đó. Trong Thi Thiên có mười hai bài thơ cảm tạ hoàn toàn của cá nhân hoặc một phần là lời cảm tạ của cá nhân (Thi 18:1-20 21:1-13 30:1-12 32:1-11 34:1-22 40:17 66:1-20 92:1-15 103:1-22 108:1-13 116:1-19 118:1-29). Có sáu bài thơ cảm tạ của tập thể hoặc một phần là lời cảm tạ của tập thể (65:1-13 67:1-7 75:1-10 107:1-43 124:1-8 126:1-6). Ngoài Thi Thiên ra trong một số sách khác cũng có vài bài thơ cảm tạ tương tự (ISa 2:1-10 Es 38:9-20). Thi thiên cảm tạ thường gồm có năm yếu tố: (i) Dẫn nhập là lời cảm tạ vì được giải cứu (ii) ô tả tình cảnh bi đát mà đương sự vừa thoát. (iii) Trình bày lời cầu cứu (iv) Mô tả chuyện được cứu (v) Lời làm chứng hoặc lời hứa nguyện là sẽ tiếp tục cảm tạ qua những cuộc thờ phượng trong tương lai. Bài thơ cảm tạ của ông Giô-na có đủ năm yếu tố theo thứ tự nêu trên đây. Chúng ta không làm sao biết rõ ông Giô-na sáng tác bài thơ này (vì là một tiên tri nên ông đã được huấn luyện sáng tác thơ và đặt nhạc) hoặc ông dùng một thi thiên quen thuộc để bày tỏ lòng biết ơn. Dầu sao, thi thiên này rất hùng hồn gãy gọn, nên có lẽ đã qua nhiều lần trau chuốt trước khi sự việc xảy ra.
(Gion 2:2) Câu này dẫn nhập vào bài thi thiên, tóm lược sự việc ông Giô-na được giải cứu.
(Gion 2:3-6) Mấy câu này ôn lại tình cảnh ngặt nghèo mà ông Giô-na đã sống qua. Nhiều bài thi thiên dùng hình ảnh chết đuối để nói ví về tình cảnh cùng cực vì vậy không nên xem bài thơ của ông Giô-na chỉ mô tả riêng hoàn cảnh của ông. Các bài thi thiên thường nhằm mô tả một số những hoàn cảnh thử nghiệm nghiệt ngã (chính yếu có thể kể thái độ thù nghịch, bệnh tật, mắc mưu, chết đuối và chết) là những nỗi khó khăn trắc trở tiêu biểu để độc giả thay thế vào đó nỗi khốn đốn khổ cực của chính mình. Căn cứ vào bản dịch Hi Lạp cổ có thể chuyển ngữ sát ý hơn câu 4b: Dù vậy con vẫn nhìn lại Đền thánh Ngài (bản Diễn Ý), dầu vậy, tôi còn nhìn lên đền thánh của Ngài (bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ (5b) thành ra là “Làm thế nào tôi dám nhìn lại...”). Câu 6 mô tả ngắn gọn công cuộc giải cứu.
(Gion 2:7) Trong câu này ông Giô-na dùng chung ý những từ cầu cứu với việc giải cứu, một nét đặc thù trong những thi thiên thuộc loại này.
(Gion 2:8-9) Hai câu này là phần làm chứng kết thúc/ phần hứa nguyện của bài thơ. Hình tượng hão huyền (bản diễn ý câu 8), nghĩa đen trong nguyên ngữ Hi Bá Lai là những sự hư không trống rỗng. Sự thờ hình tượng nguy hại vì nhiều lý do, một trong những lý do nổi cộm là hình tượng không thể giải cứu ai được. Chỉ một mình Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có thể giải cứu. Mấy từ cuối của bài thơ: Sự cứu đến từ Đức Giê-hô-va (nghĩa đen: “Sự cứu rỗi là của Đức Giê-hô-va” cũng có thể có ý nói rằng Ngài giải cứu người Ngài muốn giải cứu - Ngài hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ công cuộc cứu rỗi. Câu này do chính miệng ông Giô-na thốt ra, ngụ ý báo trước rằng Đức Chúa Trời có ý định giải cứu người Ni-ni-ve khỏi tai ương của họ.
(Gion 2:10) Một lần nữa câu này nhắc chúng ta rằng mọi hành động của con cá mập hoặc cá voi đều có Đức Chúa Trời kiểm soát. Thuỷ thủ đoàn không đem ông Giô-na đến bến bờ được (Gion 1:13). Thế mà Đức Chúa Trời làm được việc đó qua con cá, bảo toàn mạng sống của ông. Những ý kiến cho rằng làn da của ông Giô-na bị dịch axít trong bao tử cá ăn nham nhở... đều là tưởng tượng mà thôi!
Bài thi thiên thuộc loại này đặt vào sách ở vị trí này gói ghém một sứ điệp rõ ràng. Người Y-sơ-ra-ên thời xưa khi nghe hoặc khi đọc chuyện của ông Giô-na thì không thể nào không nắm được sứ điệp này. Một thi thiên cảm tạ là một bài ca tỏ lòng biết ơn, chớ không phải là một bài cầu nguyện phù hợp cho mọi cảnh ngộ. Thi thiên cảm tạ được dùng làm bài cầu nguyện sau khi người ta được giải cứu khỏi tình cảnh hiểm nghèo hoặc khổ cực, để cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài đã thương xót mình. Với bài này ông Giô-na xác định, trong hình thức thờ phượng phổ thông của người Y-sơ-ra-ên trong thời của ông rằng (tức là qua lời lẽ của thi thiên này) ông biết ơn Đức Chúa Trời về lòng thương xót mà Ngài đã dành cho ông. Ông được sống dù ông không còn đáng sống nữa. Ông không bị chết đuối, dù tử hình là mức hình phạt xứng đáng với tội của ông (1:12). Ông Giô-na đã kinh nghiệm ân sủng của Đức Chúa Trời, ông biết rõ và đã thổ lộ cách hùng hồn, dài dòng và đầy đủ chi tiết như vậy. Đức Chúa Trời đã không đối xử với ông đúng án phạt của tội lỗi. Đó là sứ điệp của bài thi thiên mà ông đã dâng làm lời cầu nguyện từ trong bụng con cá lớn.
4. CƠ HỘI THỨ HAI ĐỂ LÀM NHIỆM VỤ RAO GIẢNG TẠI NI-NI-VE (Gion 3:1-3a)
Lời của Đức Chúa Trời đến với ông Giô-na lần thứ hai. Từ 1:2 ông đã kinh nghiệm quyền kiểm soát của Đức Chúa Trời trên mọi việc xảy ra trong đời sống của ông, nhưng ông chưa nghe Đức Chúa Trời phán bảo với ông cách trực tiếp. Giờ đây ông được nghe mạng lệnh của Đức Chúa Trời phán bảo với ông một cách trực tiếp trở lại. Trên căn bản, nhiệm vụ mà Ngài giao phó cho ông trong lần thứ hai này cũng tương tự như lần trước. Lời lẽ trong câu 2, rao cho nó lời ta cho ngươi, là một mệnh lệnh thông thường của Đức Chúa Trời hàm ý là Ngài sẽ cảm thúc ông nói ra những lời thoả đáng khi ông xuất hiện tại Ni-ni-ve. Câu 3a cho thấy ông Giô-na vâng lời và giờ đây ông sẵn lòng nói ra bất cứ lời nào mà Đức Chúa Trời bảo ông phải nói tại Ni-ni-ve. Ông không còn phản đối việc phải rao một sứ điệp xây dựng cho kẻ thù của dân tộc mình.
Ông Giô-na có được một cơ hội thứ hai. Và như vậy,bởi ân sủng của Đức Chúa Trời chúng ta cũng có thể có một cơ hội thứ hai. Nhưng chúng ta không thể xem đây là phần đạo đức của câu chuyện. Tác giả không căn cứ vào một nguyên tắc nào để chủ trương rằng Đức Chúa Trời luôn luôn xử sự như thế đối với những người chống nghịch ý muốn của Ngài. Ông Giô-na không hề làm một mẫu người tiêu biểu và hoàn cảnh của ông cũng không hề là hoàn cảnh tiêu biểu cho tất cả những người tin Chúa. Thái độ lệch lạc của ông đối với kẻ thù dứt khoát là một lời cảnh báo cho người tin Chúa
Chương bốn xử lý thái độ sai lầm này cách công khai rõ ràng để mưu ích cho chúng ta. Nhưng không phải mọi tình tiết trong đời sống của ông đều được dùng làm gương mẫu cho đời sống của chúng ta. Vì vậy, chúng ta chớ tưởng rằng lúc nào Đức Chúa Trời cũng dùng mọi cách tương như nhằm chỉnh sửa sự chống nghịch của chúng ta. Rồi chúng ta cũng chớ quên rằng ông Giô-na vẫn không ưa nhiệm vụ mình dù giờ đây ông đành khuất phục, để rồi sau này ông khốn khổ càng hơn nữa. Như vậy câu chuyện này không dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ ngăn chận chúng ta khỏi công tác phục vụ Ngài dù chúng ta đi chệch đường trong đợt thứ nhất (so sánh Lu 9:57-62).
5. DÂN NI-NI-VE ĂN NĂN NHỜ NGHE ÔNG GIÔ-NA RAO GIẢNG (Gion 3:3b-10)
(Gion 3:3) Đúng ra vào thời này Ni-ni-ve không phải là thủ đô của A-si-ri (ngay cả từ “thủ đô” cũng là một ý niệm trong những thời kỳ về sau) nhưng Ni-ni-ve đang trên đà phát triển trở nên thành phố quan trọng nhất của A-si-ri, là nơi các quan chức đến viếng thăm phải bỏ ra đủ ba ngày mới đúng phép tắc ngoại giao. Bản NIV chuyển ngữ câu 3b (Ni-ni-ve là một thành phố lớn, đi thăm thành phải mất ba ngày trời) là chính xác trong khi đó những bản dịch quan trọng khác trong Anh ngữ làm tối nghĩa hoặc chuyển ngữ sai ý của nguyên ngữ Hi Bá Lai (thí dụ bản RSV chuyển ngữ là “...một thành rất lớn, đi qua thành mất ba ngày trời” bản NRSV “... một thành rất lớn, đi suốt qua thành mất ba ngày trời” hoặc bản NEB “một thành mênh mông, đi ngang qua thành mất ba ngày trời”). Ở đây ý chính yếu không phải là chuyện thành Ni-ni-ve có một chu vi tầm cỡ nào đó, mà là chuyện một người ngoại quốc đến viếng thăm thành thì cần đến ba ngày cho phải phép. Trong ngày thứ nhất, vị quốc khách tới nơi (đại sứ, hoàng gia...) ổn định chỗ lưu trú, tìm đến vị quan chức mà mình cần gặp để trình uỷ nhiệm thư. Qua ngày thứ hai vị quốc khách sẽ được vị quan chức đó tiếp đón và giải quyết vấn đề yêu cầu. Qua ngày thứ ba, cuộc tiễn đưa được tổ chức, trong buổi này quan chức chủ nhà cũng trao lại cho vị quốc khách văn thơ hồi đáp.
(Gion 3:4) Ông Giô-na mới đến thành trong ngày đầu tiên, mới chỉ tiếp xúc với các quan chức trong vai trò một đại sứ. Đối với người xưa, tiên tri là người giữ chức vụ tương đương với đại sứ vì họ đại diện cho thần. Do đó họ được hưởng quyền bất khả xâm phạm của ngoại giao đoàn và qui chế của triều đình. Thí dụ như trong IVua 22:1-54 hoặc trường hợp tiên tri Ê-sai quan hệ chặt chẽ với các vua của Giu-đa. Đức Chúa Trời cảm thúc ông Giô-na truyền rao một sứ điệp cảnh báo trong thời gian bốn mươi ngày, như vậy ngầm ý là nếu ăn năn sám hối có cơ may thoát khỏi sự hình phạt. “Bốn mươi” là một con số đôi khi được dùng trong Cựu Ước nhằm chỉ về một số lượng không xác định, tương đương với con số “tá, chục” trong tiếng Việt vậy. Dân Ni-ni-ve nhận ra lối cảnh báo phổ thông với thời hạn không xác định như vậy. Họ biết rằng nếu không cho cơ hội ăn năn sám hối thì trong nội dung cảnh báo đã không có nêu thời hạn xác định hoặc vô định như vậy.
(Gion 3:5-9) Làn sóng ăn năn sám hối nổ ra ngay trong ngày thứ nhất, dù là ngày viếng thăm thứ hai chưa bắt đầu, nhà vua (có lẽ Ashurdan III, hoặc hiện diện trong thành hoặc nhận được tin báo qua sứ giả) đã đánh giá cao thái độ chung của dân chúng và đã quốc sách hoá có lẽ bằng cách ra một chiếu chỉ (7-9) trong ngày thứ hai hoặc thứ ba. Tư liệu của đế quốc A-si-ri còn tồn tại đến ngày nay cho thấy những chiếu chỉ tương tự kêu gọi dân chúng khắp nước kiêng ăn và mặc bao gai (một loại vải gai thô nhám nhằm tự hành xác để biểu lộ ý nguyện từ bỏ chính mình) ngay cả gia súc cũng vậy.
Từ vua của Ni-ni-ve (6) là một cách nói về vua cai trị trên một thành thuộc đế quốc chớ không phải chỉ là vua của Ni-ni-ve mà thôi (so sánh IVua 21:1 câu này ghi A-háp là “vua của Sa-ma-ri” nhưng ở chỗ khác thì ghi A-háp là “vua của Y-sơ-ra-ên”).
Điều gì đã thúc đẩy một bộ phận đông đảo người A-si-ri tích cực hưởng ứng lời giảng dạy của một vị tiên tri vô danh đến từ ngoại quốc, đến nỗi họ ăn năn sám hối? Xem những bài viết về điềm gỡ của người A-si-ri, chúng ta biết có bốn trường hợp có sức thuyết phục vua và dân chúng kiêng ăn và khóc lóc: đất nước bị quân thù xâm lăng, nhật thực hoàn toàn, nạn đói nạn dịch và trận lụt lớn. Chúng ta biết rằng các dân tộc thù địch của A-si-ri, thí dụ như dân Urartu đã chiến thắng A-si-ri mấy lần trong thời trị vì của vua Ashurdan III, và một trận động đất dữ dội diễn ra dưới triều một trong các vị vua Ashurdan nhưng không chắc chắn là vào thời vua Ashurdan III. Hơn nữa, ngày 15/06/763 T.C. năm thứ mười đời vua Ashurdan III một vụ nhật thực toàn phần xảy ra tại A-si-ri! nhưng Đức Chúa Trời tối cao nhắm đến một mục đích bao trùm trên tất cả những diễn biến này và mạnh hơn hết là họ cần ăn năn cho nên không lạ gì khi dân chúng sẵn tâm tánh mê tín dị đoan lại đang bị bấn loạn trước những mối đe doạ vội vàng chộp ngay cơ hội mà họ tin là sẽ tháo gỡ những nan đề của họ. Họ tin rằng một vị thần của người ngoại quốc đã cảnh báo họ qua những biến cố đó, và giờ đây một vị tiên tri của thần đó lại đến cảnh báo cho họ biết là họ phải ăn năn! Lời lẽ trong sắc lệnh tỏ ý rằng có khả năng, chớ không phải chắc chắn là họ được giải thoát khi ăn năn. Đức Chúa Trời có chấp nhận sự kiêng ăn khóc lóc của người Ni-ni-ve là thành tâm đáng được tha thứ hay không. Như chúng ta sẽ thấy ông Giô-na không trông mong điều đó còn người Ni-ni-ve hi vọng là biện pháp đó sẽ cứu họ.
(Gion 3:10) Người Ni-ni-ve thực sự ăn năn dù chỉ là chóng vánh. Lời lẽ trong câu này không hàm ý họ ăn năn vĩnh viễn hoặc họ trở lại thờ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Họ hành động theo lề thói tín ngưỡng của họ, căn cứ vào vốn hiểu biết nghèo nàn của họ nên bởi lòng thương xót Đức Chúa Trời nhận hành động ăn năn của họ. Về sau Ngài khiến cho Ni-ni-ve bị huỷ phá (năm 612 T.C., đúng theo lời tiên tri của ông Ha-ba-cúc và các vị tiên tri khác). Còn bây giờ Ngài tha chết cho họ, một .điều trái hẳn lòng mong muốn của ông Giô-na.
6. ÔNG GIÔ-NA SINH VÔ ƠN ĐỐI VỚI ÂN SỦNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG VIỆC NGÀI CỨU NGƯỜI NI-NI-VE KHỎI CHẾT (Gion 4:1-4)
Ông Giô-na căm ghét kẻ thù đến độ ông tỏ ý bất bình đối với chính bản tánh của Đức Chúa Trời! Ông bày tỏ sự bất mãn của mình qua lời cầu nguyện. Chung quy ông có ý nói rằng: “Đấy chính là chuyện tôi e là sẽ diễn ra vì đúng là Ngài, chỉ có Ngài mới hành động như vậy”. Ông xưng nhận về bản tánh của Đức Chúa Trời (ân sủng và thương xót...) bằng những từ thông dụng được Kinh Thánh Cựu Ước dùng (Xu 34:6 Thi 86:15). Ông cầu chết (3) trong tinh thần một người thối chí nản lòng khi thấy những điều quan trọng đối với ông lại diễn ra trái với điều ông hằng mong muốn. Đối với ông như vậy là đời sống không còn mục đích gì nữa vì cả cuộc sống của ông được gói gọn trong nỗi mong mỏi cho kẻ thù của dân tộc bị sụp đổ. Đáp lời ông Đức Chúa Trời nêu một câu hỏi Ngươi nổi giận có nên không?. Câu này cũng nhằm mưu ích cho độc giả. Lẽ nào chúng ta hoặc bất cứ một người nào giữa vòng chúng ta , lại bất bình khi Đức Chúa Trời thương xót một người khác, kể cả kẻ thù của chúng ta?
7. CŨNG CỐ BÀI HỌC VỚI THỊ TRỢ KHI ÔNG GIÔ-NA CỨ TIẾP TỤC TRÔNG MONG CHO THÀNH NI-NI-VE BỊ HỦY DIỆT (Gion 4:5-11)
Những sự việc trong Gion 4:5-11 xảy ra trong khoảng thời gian “bốn mươi” ngày, là khoảng thời gian sau khi ông viếng thăm Ni-ni-ve được một ngày và hết hạn bốn mươi ngày rồi mà Ni-ni-ve vẫn sống. Như vậy, nên chuyển ngữ câu 5 như sau: “Ông Giô-na đi ra ngoài thành và...”. Như vậy sách kết thúc với một bộ phận của câu chuyện đặc biệt được chọn để minh hoạ cho thái độ kém cỏi của ông Giô-na thay vì báo cho độc giả biết việc thành Ni-ni-ve có bị huỷ diệt hay không, chuyện này thật ra ai cũng rõ rồi. Thái độ không đúng của ông Giô-na, và ý nội hàm về những thái độ sai trái tương tự là bài học chính trong sách này.
(Gion 4:5-8) Có lẽ ông Giô-na đi ra khỏi thành vào ngày thứ ba của cuộc viếng thăm, đúng theo nghi thức ngoại giao. Rồi trên bãi đất trần trụi trống trải ở phía đông thành ông dựng lên một nơi ẩn náu. Có lẽ ông hi vọng sẽ thấy cảnh lửa và mưa đá rơi trên Ni-ni-ve. Vì phần lớn vùng Mê-sô-bô-ta-mi là đất trống trải không có cây cối nên có lẽ ông dựng trại bằng đá chồng lên nhau, dĩ nhiên là trại không có mái che. Tại đây, một lần nữa Đức Chúa Trời lại vận dụng quyền hạn của Ngài trên thiên nhiên để ảnh hưởng trên ông Giô-na. Ngài khiến cho một dây dưa rậm lá (bản diễn ý: cây leo) mọc sát bên cái trại của ông Giô-na và cây leo lên phủ lên trại tạo bóng mát như thể một cái mái vậy. Sau đó Đức Chúa Trời khiến cho cây chết vì sâu đục, rồi Ngài lại dùng thiên nhiên để ảnh hưởng trên ông Giô-na. Lần này Ngài dùng một ngọn gió nóng trong vùng Trung Đông và tia nóng hừng hực của mặt trời. Ông Giô-na dang nắng giữa trời trưa như vậy, dĩ nhiên ông không chịu nổi và thấy rằng cái chết sẽ giải thoát cho ông. Cây leo chết đi, ông đau đớn lắm. Ông nhớ tiếc cây này quá đỗi!
(Gion 4:9-11) Ông Giô-na (và cả độc giả) cần học tập về giá trị của sự sống của con người. Trong khi bị cái nắng hầm hập hành hạ, ông Giô-na tức tối vì cây dây leo của ông đã chết. Ông Giô-na không khờ khạo đến độ không nhận ra được rằng có bàn tay Đức Chúa Trời trong những vụ này. Dầu vậy, ông vẫn phản đối với cơn tức giận và cầu chết. Mới đây, ông thành tâm cảm tạ Chúa vì Ngài đã cứu ông khỏi chết, thế mà giờ đây ông cầu chết! Mà ông lại cầu chết vì cớ mất một dây leo ngắn ngày chớ không phải mất của cải quý hơn! Nếu ông Giô-na quan tâm sâu xa đến cây dây leo như thế và mong ước mãnh liệt là nó đừng chết, thì Đức Chúa Trời chẳng quan tâm đến con người hoặc thú vật nhiều hơn sao? Vì cớ nền văn hoá nào cũng coi thú vật trọng hơn cây cỏ, và con người trọng hơn thú vật, nên điểm mà Đức Chúa Trời muốn cho ông Giô-na chú ý là rất rõ ràng. Ông Giô-na ước mong cho cây dây leo chớ không phải mong cho con người được sống khỏi chết. Thang giá trị của ông như vậy là sai lầm rồi.
Ở đây có ngầm hỏi các độc giả một câu: “Chúng ta có giống như ông Giô-na không? Thang giá trị của chúng ta có bị méo mó không? Phải chăng chúng ta căm ghét kẻ thù đến nỗi ao ước, hoặc cầu xin tai ương xảy đến cho họ, trong khi chúng ta đón nhận ân sủng và sự tha thứ? Chúa Giê-xu dạy rằng người theo Ngài phải yêu thương kẻ thù nghịch của mình (Mat 5:44). Thật là một lời giáo huấn khó nuốt, nhưng không thể không tuân thủ.