A-MỐT

MỤC LỤC

A-MỐT

1. TỰA (Am 1:1)

Lần theo tranh sách, chúng ta được biết lời của tiên tri A-mốt thật ra là lời của Đức Chúa Trời (thí dụ Am 1:3,6  3:1,11  5:1,4  9:11-15).  Nhưng rõ ràng ông A-mốt vẫn giữ được cá tính của mình dù trở nên công cụ chuyển đạt lời của Đức Chúa Trời.  Đây là phép lạ của sự hà hơi.  Chăn chiên là một từ chỉ được dùng ở chỗ khác với ý là “người nuôi chiên” (IIVua 3:4).  Đức Chúa Trời chọn người theo ý của Ngài và biến con người hết sức bình thường thành công cụ cho những mục đích đặc biệt của Ngài.  Chính là nhờ sự vận hành của Đức Chúa Trời chớ không phải do con người huấn luyện hoặc do tự ý mình chọn - mà ông A-mốt trở thành một mẫu người như chúng ta thấy.  Tê-cô-a, khoảng 19km (12 dặm) về phía nam Giê-ru-sa-lem.  Thấy thường được dùng, như ở đây, để mô tả một khả năng “nhận biết” thuộc linh mà các tiên tri nhận được (Es 1:1  Ha 1:1).  Không nhất thiết là nhìn thấy bằng mắt, mà là khả năng thấy điều đúng, điều thật.  Từ này bao gồm khải thị và hà hơi, vì ngụ ý về việc nhìn thấy sự thật một cách khách quan và khả năng nhận biết (thấy) sự thật đó một cách chủ quan.  Đức Chúa Trời vừa ban cho sự thật vừa ban cho khả năng tiếp thu, hiểu thấu sự thật và trình bày lại (Thánh Kinh Tự Điển (NBD) “nói tiên tri, các vị tiên tri).  Ô-xia... Giô-tham... trận động đất, xin xem phần dẫn nhập.

2. SƯ TỬ GẦM THÉT:SỰ PHÁN XÉT TOÀN THẾ GIỚI VÀ CƠ SỞ PHÁN XÉT (Am 1:2-3:8)

1. Tiếng gầm của sư tử: tiếng phán của Đức Chúa Trời (Am 1:2)

Tương tự như các nhà truyền đạo ngoài trời khác, ông A-mốt tụ họp thính giả lại và chuyển đạt cho họ những thông tin gây phấn khởi nơi lòng người - sự hình phạt sắp rơi trên kẻ thù đáng ghét của họ.  Tuy nhiên, ông khéo léo thu hút sự chú ý của họ từ các chuyện đối với dân ngoại đạo (thí dụ Đa-mách Am 1:3) đến dân “anh em bà con” (thí dụ Ê-đôm 1:11 so sánh Sa 36:1) rồi sang qua dân “chị em ruột thịt” tức là Giu-đa (Am 2:4) để rồi cuối cùng đến phần lên án chính mình họ (2:6).  Dù tất cả các bản án (phóng hoả, bản diễn ý) đều có biện pháp hình phạt giống nhau nhưng lý do kết án thì khác nhau.  Các dân tộc láng giềng bị xét xử về “những tội ác chống lại nhân loại” (1:3,6,9,11,13  2:1), về những việc mà lẽ ra lương tâm họ phải cản trở họ, còn Giu-đa (2:4) và Y-sơ-ra-ên (2:11-12) bị xét xử về tội từ bỏ lẽ thật đã khải thị cho họ.  Tội ác căn bản của dân sự Đức Chúa Trời là từ bỏ lời của Ngài.  Vâng theo sự khải thị của Đức Chúa Trời là đức tánh căn bản họ cần có.

Tiếng gầm của con sư tử to lớn thông báo sự phán xét sắp đến (1:3-3:2), nhấn mạnh ba tính cách tổng quát.  (i) Cận kề.  Gầm thét là “tiếng gầm phóng” tới nhằm làm cho con mồi kinh hãi chết điếng chịu khuất phục tại chỗ (Cac 14:5).  Cả hai động từ gầm thét và rống đều diễn tả hành động được thực hiện nhiều lần tức là qua một loạt bản án kế tiếp sau đó chúng ta nghe tiếng gầm tiếng rống liên tục vang lên.  (ii) Bao quát.  Toàn bộ đất nước, từ những đồng cỏ xanh tươi ở miền đồng bằng của giới chăn chiên đến các đỉnh cao trên núi Cạt-mên đều trần trụi.  (iii) Liên quan đến Đức Chúa Trời.  Các lời lẽ Đức Giê-hô-va... từ Si-ôn... từ Giê-ru-sa-lem đều được nhấn mạnh để bày tỏ về Đấng Thánh đang ngự trong nơi ở của Ngài trên đất này.  Tiếng gầm thét báo hiệu cơn giận của Ngài.  Dầu vậy, ngay cả khi nổi cơn thạnh nộ, danh của Ngài vẫn là Đức Giê-hô-va, nơi ngự của Ngài vẫn là ngôi đền mà Ngài chọn, là nơi các của lễ chuộc tội được dâng lên nên nảy sinh một câu hỏi: phải chăng tiếng gầm thét chỉ bộc lộ cơn thạnh nộ.  Đức Chúa Trời luôn luôn có lòng thương xót Dù nổi giận, Ngài vẫn nhớ thương xót (Ha 3:2).  Khởi từ phần cuối của sách A-mốt (Am 7:1tt, xem phần dẫn nhập) lòng thương xót chiếm ưu thế, nhưng từ đây đến lúc đó tiếng gầm thét vẫn vang dội.

2. Chống nghịch dân ngoại đạo (Am 1:3-2:3)

(Am 1:3-14) Lý do của án phạt  Mọi lời chép trong Kinh Thánh Cựu Ước là lời phán của Đức Chúa Trời cho con người hiện nay (Ro 15:4).  Chúng ta phải lắng nghe tiếng gầm thét nối tiếp nhau vang lên trong phần này và tìm hiểu xem điều gì khiến Đức Chúa Trời nổi giận.  Trước hết Ngài buộc tội những dân tộc ngoại đạo chung quanh (Am 1:3-10), rồi đến những dân tộc ngoại đạo có liên hệ với nhau (1:11-2:3) và cuối cùng là chính dân của Đức Chúa Trời (2:4-16).  Theo 1:3-2:3 chúng ta biết rằng ông A-mốt chủ trương là luật pháp được viết trong lương tâm con nguời (vì những dân tộc này không có sự khải thị đặc biệt nào của Đức Chúa Trời xem Ro 2:14-16).  Luật pháp đó được biểu hiện qua mối liên hệ giữa con người với nhau.  Hai lời buộc tội đầu (3tt, 6tt) đi đôi với nhau vì cùng nói về một những hành vi thiếu tình nghĩa anh em (9, 11) còn hai lời buộc tội thứ ba (Am 1:13tt  2:1tt) đi đôi với nhau vì nói về hai vấn đề trái ngược: tiêu diệt tương lai (1:13) và làm ô uế, ô nhục quá khứ (2:1) và việc không tôn trọng phụ nữ mang thai lẫn xác người chết mà lẽ ra do bản năng ai ai cũng biết.

(Am 1:3-5) Đa-mách  Ha-xa-ên, vua Sy-ri (842-806 T.C.) đeo đuổi một chính sách bành trướng lãnh thổ, đẩy biên cương vương quốc của mình vào lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên bằng những phương cách tàn ác và quỷ quyệt (IIVua 8:12).  Nhưng năm 732 T.C. Đa-mách rơi vào tay A-si-ri.  Đức Chúa Trời không chấp nhận sự khinh thường của bất cứ ai.  3  Thành ngữ chữ số, ba...bốn được dùng ở đây và trong suốt loạt sứ điệp này (so sánh Thi 62:11  Ch 30:15...) có ý căn bản là ba lần vi phạm cũng đủ cho Đức Chúa Trời hình phạt rồi, nên vi phạm đến lần thứ tư rõ ràng như giọt nước làm tràn ly nước đầy.  Thành ngữ này nhằm mô tả Đức Chúa Trời kiên nhẫn chờ quá mức cho phép, mong mỏi người ta ăn năn và dành cơ hội cùng thời gian cho họ ăn năn (Sa 15:16  IIPhi 3:8tt), Ngài chẳng bao giờ hành động khi không có đủ bằng chứng (Sa 18:21) nhưng đối với Ngài “tội lỗi thứ tư” là không thể chấp nhận được, nên khi con người phạm đến tội thứ tư rồi thì Ngài không rút lại cơn thạnh nộ của mình nữa (nghĩa đen “xoay lưng lại”, so sánh Dan 23:20  Es 14:27).

Trong trường hợp này “tội lỗi thứ tư” là tàn nhẫn vô nhân đạo trong chiến tranh: Đồ đập lúa bằng sắt (một giàn bằng gỗ nặng, mặt dưới gắn đầy răng nhọn bằng sắt) nhằm đập cho hạt lúa rơi ra trước khi giê lúa trước gió.  Nhưng ở đây họ dùng công cụ đó để đập lên thân thể người ta, xem con người như là đồ vật, như là hoa màu đã thu hoạch để làm lợi cho mình. 4  Bên-ha-đát (IIVua 8:7tt 13:3) triều đại của Ha-xa-ên.  Sự báo oán giáng trên con người, trên gia đình của người gây ra tội ác. 4-5  Sự báo oán giáng trên những vật sở hữu như lâu đài (nghĩa là sự của cải và sự sang trọng), cổng (nghĩa đen “thanh chắn” tức là sự an toàn mà họ tự tạo) và lãnh thổ (A-ven...Ê-đen có lẽ là phía đông bắc Đa-mách).  Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên người chủ động gây ra tội ác, lan đến người trong gia đình, đến đất nước và chung cuộc là tất cả đều tan hoang tiêu điều.  Dân A-ram xuất hiện từ Ki-rơ (Am 9:7), một địa phương chưa định vị được rồi biền về phương trời người ta cũng chưa biết tới, với Tiếc-lác-Phi-lê-se của A-si-ri (IIVua 16:9) là công cụ của Đức Chúa Trời.

(Am 1:6-8) Ga-xa  Bị nêu danh đại diện cho Phi-li-tin, nhận sự buộc tội của Đức Chúa Trời.  Ga-xa rơi vào tay A-si-ri năm 734 T.C. (các thành Phi-li-tin khác lần lượt thất thủ trong vài chục năm kế tiếp: Ách-đốt, 711 T.C. Ách-ca-lôn và Éc-rôn 701 T.C.).  Cư dân những thành này cũng phạm cùng loạt tội như người ở Đa-mách.  Họ đối xử với con người như thể hàng hoá, với Ê-đôm làm môi giới.  Họ bị ám ảnh với mối lợi đến độ không xét đến yếu tố nào khác - bất kể những lời van xin của mọi lứa tuổi, của mọi phái, của người con van xin cho cha mẹ, của cha mẹ van xin cho người con.  Cái gì bán được thì cứ bán, chỉ có thế lực trên thương trường mới đáng kể, con người không đáng kể.   Còn sứ điệp nào đích đáng với thế hệ hiện tại của chúng ta hơn là sứ điệp này.  Tiên tri A-mốt rao ra thật đúng lúc.  “Chúa Giê-hô-va” chỉ được dùng ở đây trong loạt án phạt này, coi như ngụ ý rằng không có điều gì khiến Đức Chúa Trời toàn năng phải ra tay hình phạt bằng việc sử dụng con người như vật dụng.

(Am 1:9-10) Ty-  Người ta khám phá rằng người Ty-rơ, dù nổi danh trong lãnh vực thương mại lại tham gia kinh doanh nô lệ.  Nhưng lời lên án không giống như trong câu 6-8, dù rằng loại tội này nghiêm trọng không kém tội xé bỏ giao ước.  Đã long trọng cam kết điều gì thì phải tuân thủ, vì sự bất trung với giao ước là một “tội thứ tư”.  Giao ước anh em (IVua 5:1,12  9:13 ghi về mối giao hảo thân thiện, giao ước và tình anh em).  Ông A-mốt nhìn lui vào dĩ vãng hơn 250 năm.  Tuy vậy, thời gian trôi qua không giải phóng ai khỏi bổn phận giữ lời cam kết của mình.  Ty-rơ trở nên chư hầu của A-si-ri, quy phục Nê-bu-cát-nết-sa (585-573 T.C.) và rơi vào tay Alexander (332 T.C.).

(Am 1:11-12) Ê-đôm  “Tội lỗi thứ tư” của Ê-đôm là tinh thần thù địch dai dẳng không ngừng đeo đuổi (tức là tìm mọi cơ hội để tác oai tác quái) những hành vi chọc tức các nước lân bang để khiến cho họ phản công mà chẳng bao giờ cần tuyên chiến.  Về mặt lịch sử, sự cắng đắng giữa Ê-sau và Gia-cốp bắt đầu từ thời hai ông tổ vốn là anh em sinh đôi (Sa 27:41).  Trong Dan 20:14tt thái độ thù nghịch trở nên công khai và trở nên đường lối chính trị bình thường trong tương lai của hai nước.  Vua Sau-lơ buộc lòng phải tuyên chiến với Ê-đôm (ISa 14:47), còn Đa-vít đánh chiếm và thôn tính Ê-đôm.  Ông là vị vua duy nhất đã thực hiện được việc này (IISa 8:14).  Vua Sa-lô-môn phải đối diện với cuộc nổi dậy của Ê-đôm (IVua 11:14-25) và đến một thế kỷ về sau họ cũng nổi dậy chống vua Giô-ram (IIVua 8:20).  Năm mươi năm sau, vua A-ma-xia lại chiến thắng Ê-đôm (14:7,10).  Nỗi căm hờn triền miên này có cơ sở nhưng đối với Đức Chúa Trời vẫn là không chính đáng.  Nỗi căm hờn này trái với bản chất tự nhiên (anh em), chối bỏ cảm xúc của lòng thương xót (cảm thấy vô cùng thương hại, xót xa cho đối tượng mình yêu thương, thí dụ IVua 3:26), và lúc nào cũng sôi sục ở mức cao (nuôi...không thôi).  Dù bắt nguồn từ nguyên nhân nào, dù có lý cớ xem ra chính đáng đến đâu, cơn giận này cũng không được chấp nhận.  Người ta ôm ấp nuôi dưỡng sâu kín trong nội tâm nhưng Đức Chúa Trời nhìn thấy rõ ràng từ nơi ngự cao sang của Ngài.  12  Thê-man tức là Ê-đôm (Ap 1:9), Bết-ra là thủ phủ của Ê-đôm.

(Am 1:13-14) Am-môn  Không có tư liệu nào ghi chép cuộc chiến giữa người Am-môn và người Ga-la-át, nhưng chắc chắn thiên đàng có ghi lại.  Động lực của họ là chiếm cứ đất đai (mở rộng bờ cõi) và họ sẵn sàng chận đứng mức gia tăng dân số của kẻ thù để có thể bành trướng lãnh thổ (mổ bụng phụ nữ mang thai).  Một lần nữa, người ta quý trọng vật chất hơn mạng người:  Đây là căn nguyên liên kết “các tội thứ tư” trong bản liệt kê của ông A-mốt lại với nhau.  Lẽ ra, phụ nữ mang thai và thai nhi đáng được ưu ái chăm sóc hơn ai hết.  Nhưng họ đã đối xử với thành phần này cách tàn nhẫn vô nhân đạo.  Không thể viện bất cứ một lý do nào dù là lợi ích của đất nước (dù là “sự an ninh của đất nước” đi nữa) để biện minh cho những hành vi tồi tệ như vậy trước cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời tự động bùng nổ.  So sánh chi tiết trong câu 14 với những chi tiết tương ứng trong câu 5,7,8,10,12.  Lửa tiêu biểu cho sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (Xu 3:2,5  19:18).  Gió lốc...bão táp hoặc “ngày của gió vòi rồng” nhằm bày tỏ rằng “những biểu hiện đầy năng lực của thiên nhiên” có thể là chính là những trường hợp Đức Chúa Trời đích thân can thiệp (Thi 18:9-14).

(Am 2:1-16)

(Am 2:1-3) -áp Một dân ngoại đạo và bạo tàn đối với xác chết - tất cả đều nằm trong mối quan tâm của Đức Chúa Trời thánh khiết.  Mặc dù người ta phạm tội ác chống lại nhân loại ở bất cứ nơi nào, vì bất cứ lý do nào thì Đức Chúa Trời vẫn là kẻ thù cứng rắn của người phạm tội ác đó.  IIVua 3:26 manh nha nói về mối cừu thù đặc biệt giữa Mô-áp và Ê-đôm.  Có lẽ cũng chính mối cừu thù có tính cách dân tộc này đã đổ thêm dầu cho những vụ lăng nhục trắng trợn được mô tả ở đây biểu thị một tinh thần trả thù.  Những điều hai phe người sống không giải quyết được với nhau thì theo vua xuống mồ.  Còn gì phơi bày rõ ràng nỗi căm thù vô nghĩa và bất hợp lý hơn là hành động quật mồ nhà vua khả kính, lôi xác chết ra hạ nhục đủ kiểu một cách vô ích?  Tác dụng của hận thù là như thế đó:  đầu độc tấm lòng đương sự và chuốc lấy cơn giận của Đức Chúa Trời.  2  Lửa tương ứng với lửa hoả táng được mô tả trong câu 1 biểu thị luật cân phân giữa tội ác và mức hình phạt là yếu tố cơ bản trong luật pháp Đức Chúa Trời và được dùng làm chuẩn trong toà án của con người (Xu 21:23  Le 24:19tt  Phu 19:21).

(Am 2:4-16)  Chống nghịch tuyển dân 4-5 Giu-đa  Bảng điểm danh thông báo về án phạt giờ đây tiến vàomột khúc quanh đầy ý nghĩa.  Giu-đa, một bộ phận lớn trong tuyển dân của Đức Chúa Trời bị gọi đến vành móng ngựa, bị Đức Chúa Trời xét xử và lên án chẳng khác gì các nước lân bang ngoại đạo với mẫu câu gấp ba...gấp bốn.  Nhưng tội thứ tư của Giu-đa là tội gì?  Họ đã từ bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời.  (i) Luật pháp có nghĩa là “giáo huấn” (thí dụ Ch 3:1), tức là những điều cha mẹ ưu ái dạy cho người con yêu dấu của mình.  Người dân ở Giu-đa đã khinh bỏ những lời dạy bảo ân cần đầy tình cha con của Đức Chúa Trời.  (ii) Giới mạng là một điều được khắc vào đá vĩnh viễn tồn tại:  họ đã thay đổi điều không thể thay đổi.  (iii) Họ đã thay thế lẽ thật bằng “sự giả mạo, gian trá” (IITi 4:4) chớ không phải bằng các thần giả, tà thần.  (iv) Tổ tiên của họ hoặc thế hệ tiền bối:  tội lỗi của họ có rễ ăn sâu, vì Kinh Thánh không bao giờ viện vào yếu tố thừa hưởng từ bậc tiền bối về mặt đạo đức để làm cớ giảm án.  Thế hệ đương đại chịu trách nhiệm về số tội lỗi chồng chất (Thi 51:3-5  Mat 23:31-36).  Tà thần... thần thu hẹp quá mức lời cáo buộc.  Lời lẽ của ông A-mốt có ý mạnh mẽ hơn chớ nếu nói về các tà thần như thế thì ông có thể chỉ cần ngụ ý nhưng lời lẽ của ông ở đây rất mạnh:  “Những sự dối trá của họ đã dẫn họ đi lầm lạc, theo như cách của tổ phụ họ”.  Ngoài lẽ thật được khải thị ra, chỉ có sự lầm lạc của con người. 5  Lửa... thiêu đốt, xem IIVua 24-25.

Chú ý.  Sứ điệp trong Am 2:6-3:2 có cấu trúc đối xứng thường thấy trong sứ điệp của các tiên tri:

(a1)   2:6a, b Xác định lời đe doạ

(b1)   2:6c-8  Vạch trần tội lỗi

(c)    2:9-12  Lòng nhân từ của Đức Chúa Trời

(b2)   2:13-16  Công bố sự hình phạt

(a2)   3:1-2  Tuyên rao lại lời đe doạ và xác chứng là đúng

Trọng yếu là những việc làm đầy lòng nhân từ của Đức Chúa Trời khi Ngài khiến cho Y-sơ-ra-ên trở nên một dân đặc biệt.  Thế nhưng họ đã không đáp ứng xứng đáng nhất là đối với xứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ (9), đối với sự giải cứu khỏi Ai Cập, đối với những sự chăm sóc của Đức Chúa Trời dành cho họ trong sa mạc (10), đối với những quy định (người Na-xi-rê) mà Đức Chúa Trời đã khải thị và đối với lời phán của Ngài (các tiên tri).

(Am 2:6-8)  Tội lỗi của Y--ra-ên  Ông A-mốt duyệt qua các tội lỗi của Y-sơ-ra-ên về mặt xã hội (6-7) và về mặt tín ngưỡng (7-8).  Trước tiên đối với người công bình họ áp dụng luật rừng, đối với người nghèo họ xử sự cách nhẫn tâm, tàn bạo, đối với người bị áp bức họ tỏ ra tham lam nhũng nhiễu. 6 Công bình tức là người vô tội, vô can khi bị đem ra xét xử.  Giới quan toà sẵn sàng nhận hối lộ (bạc), sẵn sàng bán bản án với cái giá rẻ mạt - một đôi dép - hoặc người ta có thể đổi trắng thành đen chỉ vì chuyện nhỏ nhặt không đáng như giày dép chẳng hạn - lòng tham của người cùng thời với ông A-mốt như thế đấy!  Kẻ nghèo hàm ý những người không có thế lực để kháng cự hoặc những người buộc lòng phải quy phục theo ý muốn và thế lực có quyền trên họ đó là thành phần xã hội vô phương ngóc đầu lên.

7  Đạp lên đầu (bản Diễn ý) chuyển ý từ một bản văn bị biến dạng đôi chút, đúng theo nghĩa đen là “tham muốn bụi đất” (bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ).  Họ tham lam, lòng tham đối với đất đai ở nơi họ mạnh đến nỗi họ căm tức người nghèo (là người không có tiền cũng không có uy tín gì) về bùn đất mà người nghèo trét lên mặt làm dấu hiệu về nỗi buồn khổ tột bực của mình (Gios 7:6)!  Chà đạp (bản diễn ý) chỉ về lớp người dưới đáy cuộc sống.

7-8  Kể từ đây, ông A-mốt bắt đầu nói về những vụ từ khước sự khải thị của Đức Chúa Trời.  Ngài đã khải thị danh thánh của Ngài, đã tiết lộ với họ về bản tánh bí hiểm sâu kín của Ngài, nhưng họ công khai khinh thường điều luật mà Ngài nghiêm cấm đối với tội tà dâm (Xu 20:14) và dâm dật núp bóng tôn giáo (Phu 23:17tt).  Người Ca-na-an tin tưởng con người phải dùng những hành động liên quan đến sự nhân giống của mình để nhắc nhở và kích thích thần Ba-anh làm nhiệm vụ của mình là khiến cho con người, thú vật sinh sôi nẩy nở đông đảo, đất đai phì nhiêu.  Trong thời của tiên tri A-mốt dân Y-sơ-ra-ên thờ Đức Chúa Trời thánh như thể họ thờ thần Ba-anh của người Ca-na-an.  Nhưng Ngài muốn rằng họ thờ phượng Ngài theo như Ngài quy định (Mat 15:9), chớ không phải theo những hình thức kích động trong tôn giáo.  Cùng một người con gái, nghĩa đen “chỉ là một cô gái”.  Vấn đề trọng yếu bị lên án ở đây không phải là chuyện cả cha lẫn con ăn nằm với cùng một người nữ tức là khía cạnh nghiêm trọng của tình trạng vô đạo đức, mà là chuyện toàn bộ tập thể phái nam “cha và con như nhau” đều tham gia vào những cuộc truy hoan trụy lạc trong tôn giáo Ba-anh.  8  Tôn giáo của họ đã khinh miệt ân điển của Đức Chúa Trời, ngay tại chỗ chuộc tội bên cạnh bàn thờ (Le 17:11), lo chiều theo và làm thoả lòng dục của mình, biến nhà của Đức Chúa Trời, là nơi chủ yếu dành cho sự thông công với Đức Chúa Trời, thành chỗ truy hoan đồi truỵ.  Nằm cùng, hành vi dâm dục.  Áo xống... của tin, Xu 22:26tt chép rằng khi đêm đến chủ nợ phải giao trả cho người đem cầm áo quần cầm làm của tin.  Kẻ bị phạt, họ kiếm được thức ăn vật uống để truy hoan nhờ áp dụng những mánh bất hợp pháp đã được mô tả trong câu 6.

(Am 2:9-12) Đặc ân của Y--ra-ên  Cứ mỗi lần họ phạm tội, ân điển của Đức Chúa Trời lại mở cho họ một lối khác.  Đức Chúa Trời đã cho họ một xứ (9) để sinh sống.  Tại đó họ phát triển thành một xã hội đặc biệt khác thiên hạ, xây dựng trên luật pháp của Ngài (đối chiếu câu 6-7).  Khi đem họ ra khỏi Ai Cập (10) Ngài đã bày tỏ cho họ danh của Ngài (Xu 3:14tt  6:6-7  20:2) là danh mà họ đã xúc phạm.  Rồi để cứu họ khỏi một nếp sống tội lỗi và một lối thờ phượng không vừa lòng Đức Chúa Trời (8) Ngài đã ban cho họ các tiên tri để truyền đạt sự khải thị (11).  Nhưng họ đã đi ngược lại hết mọi nỗ lực bởi ân điển của Ngài.  9  Đại danh từ Ta ở dạng nhấn mạnh, có ý nói là “còn Ta, chính Ta là Đấng...”.  A-mô-rít là tên riêng chỉ về cư dân Ca-na-an trước thời dân Y-sơ-ra-ên vào chiếm xứ.  Dù rằng thế lực của họ có vẻ không một lực lượng nào của con người có thể chinh phục được (Dan 13:28), quyền năng của Đức Chúa Trời đã tiêu diệt họ hoàn toàn (trái... rễ). 10  Xem bản sơ lược ở trên: lẽ thật trọng tâm của toàn bộ bài giảng tương tự như hành động chủ chốt của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước - sự xuất hành - cùng lúc bao gồm sự giải phóng, sự cứu chuộc và sự định cư (Xu 6:6-8).  11  Các tiên tri ở giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên tiếp tục giãi bày sự khải thị đã thiết lập qua Môi-se.  Người Na-xi-rê (Dan 6:1tt) tiêu biểu cho đời sống biệt riêng cho Đức Chúa Trời mà Ngài mong đợi tìm thấy trong dân sự (Le 19:2). 12  Dân chúng chẳng hề muốn nhìn thấy một nếp sống gương mẫu nào, cũng không hề muốn nghe những lời dạy bảo nào từ Chúa.

(Am 2:13-16) Sự hình phạt chắc chắn từ Đức Chúa Trời Tiên tri A-mốt rao ra những việc làm của Đức Chúa Trời mà cho dù với tài năng bẩm sinh, với những trang bị hiện đại nhất, với lòng dũng cảm vượt bực con người vẫn không tài nào ứng phó nổi.  13  Nước Y-sơ-ra-ên trong thời cai trị của vua Giê-rô-bô-am được phồn vinh (xem Dẫn Nhập), nhưng còn những phương diện khác trong vụ được muà.  Cỗ xe nặng ký chất đầy hoa lợi đang đè nặng trên mặt đất bất động và vô phương phản kháng bên dưới.  Cũng vậy, nước Y-sơ-ra-ên đã chất cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời lên cao, cơn thạnh nộ này đẩy Y-sơ-ra-ên vào chỗ huỷ diệt.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai có thể hiểu câu này là: “như cỗ xe được chất đầy với chủ ý ép các bó lúa xuống” (một phương cách đạp lúa) dầu vậy hình ảnh diễn tả vẫn là một.

(Am 3:1-2) nói với toàn bộ đại gia đình mà Ta đã đem lên... , nên hai câu này là phần kết của 2:4-16 chớ không phải riêng của 2:6-16.  Sau lời kêu gọi hãy lắng nghe, đến phần mô tả những việc làm của Đức Chúa Trời và cuộc xuất hành giải phóng là việc khiến họ trở nên dân sự của Ngài.  Câu 2 mở đầu với vị trí độc đáo mà họ chiếm giữ và kết thúc với hậu quả không thể tránh: sự hình phạt tội lỗi là một bộ phận trong cơ chế của dân sự Đức Chúa Trời.  Vì vậy, có một trình tự đương nhiên như sau:  Nhận được nhiều thì bị yêu cầu nhiều (Lu 12:48).  Đây là cốt lõi trong sứ điệp của ông A-mốt: có quyền lợi thì vinh hạnh lắm nhưng đó không phải là một nơi ẩn náu mà là trách nhiệm và là một kho báu mà chúng ta phải chịu trách nhiệm.

3. Tiếng gầm thét của sư tử:  Sứ điệp tiên tri (Am 3:3-8)

(Am 3:3-6)   tử lại gầm thét:  Sứ điệp được xác chứng  Ông A-mốt kết thúc loạt bài tiên tri đầu tiên của mình (xem phần dẫn nhập) với một phần nhận định về nguyên nhân và hậu quả.  Ông xây dựng hai cao điểm thứ nhất là tai hoạ xảy đến không nằm ngoài sự can thiệp của Đức Chúa Trời (6).  Thứ hai là không một vị tiên tri thật nào nói tiên tri mà không có sự khải thị của Đức Chúa Trời (7-8).  Tóm lại nếu không có sự thúc giục của Đức Chúa Trời thì tiên tri A-mốt không giảng những sứ điệp nảy lửa đó cho nhân dân, nhưng Đức Chúa Trời đã truyền dạy ông và ông không thể nào làm khác được. 3  Đi chung mô tả một mối tương giao mật thiết bình thuờng mà chỉ có thể phát xuất từ tình trạng Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên “đồng tâm hợp ý với nhau”.  Giao ước ràng buộc Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời nhưng mối thông công có tồn tại được không một khi xuất hiện mối bất đồng?  Luật nhân quả sẽ nhập cuộc và chia cách Y-sơ-ra-ên với Ngài. 4  Hai hình ảnh minh hoạ về hành vi của thú ăn thịt:  Con sư tử gầm lên trong động tác vồ mồi vì nhìn thấy con mồi (Am 1:2  Cac 14:5), sư tử gầm gừ (thích thú) trong hang vì săn được mồi để ăn. 5  Hai hình ảnh minh hoạ về hành vi của con mồi:  Con chim lò mò đi vào bẫy vì có người gài mồi để nhử cái bẫy sập xuống vì chim mổ mồi, vì có một cái gì đó đã nhử chim. 6  Ứng dụng: con mồi nghe tiếng gầm thị oai của sư tử nên run  rẩy.  Chính Đức Chúa Trời là Đấng đứng đằng sau mọi tai hoạ.  Với những lập luận đó, ông A-mốt nhằm thúc giục nhân dân lý giải những tai hoạ đã và sẽ xảy đến.  Họ có công nhận quan điểm của Kinh Thánh đối với việc Đức Chúa Trời là Đấng điều động và chi phối lịch sử không?  Trong mọi biến cố đều có nguyên nhân cũng vậy, Đức Chúa Trời là nguyên nhân điều động lịch sử.  Nếu thế thì quyết định và hành động hợp lý của họ là lo xây dựng một mối liên hệ đúng đắn với Ngài và duy trì mối thông công mật thiết với Ngài. 

Am 3:7-8  Sự hiểu biết đúng đắn về công tác của một vị tiên tri khẳng định cho niềm tin là Đức Chúa Trời bày tỏ cho những chương trình của Ngài.  Bày tỏ chương trình ý định hoặc “đứng trong sự bàn luận” (Gie 23:18).  Kinh nghiệm chính của tiên tri là được đến gần Đức Chúa Trời.  Sự kiện này lý giải việc họ có thể nói lời Đức Chúa Trời mà vẫn hoàn toàn là chính mình họ vì càng gần Đức Chúa Trời, một người sẽ càng trở nên con người.  Chính các tiên tri trong thời Cựu Ước cũng chủ trương rằng Đức Chúa Trời phải báo cho họ biết trước việc Ngài sắp làm (so sánh sự ngạc nhiên của tiên tri Ê-li-sê khi một vụ việc xảy ra mà Đức Chúa Trời không báo trước cho ông biết IIVua 4:17).  Nếu vậy thì trong sứ điệp của ông A-mốt, sư tử đã gầm thét... Đức Chúa Trời Tối cao đã phán.

3. MỘT KẺ THÙ TRONG XỨ: CƠN THẠNH NỘ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Am 3:9-6:14)

Hai câu giữ vị trí ngoặc đơn xác định chủ đề của phần này.  Nghĩa đen câu Am 3:11 là “một kẻ thù ở khắp nơi trong xứ”, và câu 6:14 Ta sẽ dấy lên một nước... từ Ha-mát... đến A-ra-ba.  Còn các câu nằm trong hai ngoặc đơn này quy cuộc tấn công của kẻ thù cho nếp sống buông thả và vô tâm của giới cầm quyền (4:1-3  6:1-7) và trầm trọng hơn nữa là tình trạng lụn bại trong sinh hoạt tôn giáo (4:4-5:27) gồm những lỗi lầm của mọi thời kỳ trong lãnh vực yêu thương người lân cận, bắt nguồn từ tình trạng không kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

1. Đất nước tan nát (Am 3:9-15)

Với lối nói và với những hình ảnh đầy sinh động ông A-mốt rao truyền sự hình phạt của Đức Chúa Trời (13).  Ông kêu gọi các dân ngoại đạo quan sát những việc đang diễn ra tại Sa-ma-ri (9) và rồi chính mình họ hãy rao ra sự hình phạt của Đức Chúa Trời (13) cứ như thể họ hội đủ tự cách về mặt đạo đức để xét đoán dân sự của Đức Chúa Trời!  Bằng cớ là sự rối loạn lớn lao và bạo ngược (9) tâm tánh và hành vi lụn bại (10) tình trạng tín ngưỡng như thế (14) và một xã hội phong lưu kiểu đó (15) đáng lãnh đủ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời lắm.  Đức Chúa Trời dùng nước thù địch lân bang làm công cụ để đánh phá xã hội đó (11) và chính mình Ngài cũng can thiệp vào (13-15).  Khúc Kinh Thánh này được xây dựng theo cấu trúc như sau:

(a1)  c.9  Kêu gọi các dân tộc quan sát

(b1)  c.10  Tố cáo về tâm tánh và hành vi

(b2)  c.11  Hình phạt bằng biện pháp lật đổ

(b3)  c.12  Hình ảnh minh hoạ: Chẳng còn sót lại một cái gì:  cũng chẳng còn ai sống sót

(a2)  c.13-15  Kêu gọi các dân tộc xác nhận

9  Tội của Y-sơ-ra-ên lộ rành rành ra đó đến nỗi ngay cả dân ngoại đạo bị Y-sơ-ra-ên khinh miệt nhất là dân Phi-li-tin, kẻ thù muôn thuở ở Ách-đốt (Cac 14:3  ISa 17:36), cùng dân Ai Cập đều có thể nhận biết dân Sa-ma-ri đáng chịu sự hình phạt của Đức Chúa Trời.  Nhà cửa nguy nga hoặc “lâu đài” kêu gọi giới cầm quyền đóng vai người xét xử giới cầm quyền (10,15) tức là được chính đồng bọn xét xử cách công minh.  Rối loạn tức có nghĩa là tình trạng bất ổn, xáo trộn trong xã hội.  Bạo ngược là bóc lột và bức bách.  10  Không biết làm sự ngay thẳng (bỏ như thế nào “làm đều phải” như thế là quá khả năng của họ), chuyên tâm làm điều sai khiến cho khả năng nhận thức đạo đức trở nên đần độn đóng băng.  Mối quan tâm chính của họ là những thứ họ đã tích lũy trong các lâu đài nguy nga.  Họ không biết rằng mối lợi bất nghĩa chẳng khác gì thùng chất nổ hiểm nguy: thực tế là họ đang tích lũy cho mình “bạo lực” và “huỷ diệt” (nghĩa đen là của hung dữ và cướp giựt).  Hiện nay họ đong cho người ta một lường nào thì rốt cuộc họ sẽ nhận lại chính lường đó.

12  So sánh Xu 22:10-13.  Nếu người chăn có thể mang về xác của một con chiên dù là đã tơi tả nát bấy thì ông ta không bị lên án là đã bỏ bê chiên: ông ta đã hết sức phấn đấu để cứu chiên nhưng không thành công.  Dầu vậy, những gì ông ta vớt vát được cũng chỉ là bằng chứng của sự mất mát hoàn toàn!  Đối với Sa-ma-ri cũng vậy: những gì còn sót lại chỉ là bằng chứng về sự sụp đổ hoàn toàn, như xương cẳng và tai là chứng tích về con vật bị thú rừng bắt và ăn thịt , thì giường và nệm làm chứng về một xã hội phè phỡn, xa hoa trụy lạc, là những chứng tích tiêu biểu.

14  Đang nói về công cụ trong lịch sử được dùng để lật đổ Sa-ma-ri (11), ông A-mốt chuyển một cách êm thắm qua phần nói về Đức Chúa Trời chính là Đấng chủ động trong vụ huỷ diệt này.  Với những hành động như vậy, Đức Chúa Trời là Đấng đứng đằng sau toàn bộ lịch sử (so sánh Am 9:7).  Tội lỗi (“những sự phản loạn”) là cố ý vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời.  Những tội ác có tính cách xã hội được mô tả trong câu 9-10 là những tội lỗi chống nghịch Đức Chúa Trời.  Sự hình phạt của Ngài giáng xuống trước hết là trên tà đạo rồi lan vào xã hội sai phạm (14-15).  Tôn giáo chân chính là cội rễ của xã hội chân chính ra sao thì tà đạo là cội rễ của xã hội thối nát như vậy.  Sừng.  Trong ngoại giáo, dù là Y-sơ-ra-ên không theo lệ tục này (IVua 1:51), nắm lấy sừng của bàn thờ là có nơi ẩn náu an toàn trong ngày phán xét, tà đạo không thể cung ứng cho người ta một nơi ẩn náu an toàn nào cả, bàn thờ của tà đạo không có sừng gì cả!  15 Thành phần sung túc, có “nhà ở hai nơi”, một nhà nghỉ đông và một nhà nghỉ hè với cuộc sống phô trương xa xỉ (ngà), bị phán xét nặng nhất.  Tương tự như những chỗ khác trong Kinh Thánh, ông A-mốt không trách cứ hoặc chống đối tự thân của cải.  Vấn đề nằm ở chỗ người ta đã gầy dựng của cải đó bằng cách nào (Gie 17:11) rồi sử dụng của cải như thế nào, và đặc biệt là theo nhận định của ông A-mốt, người ta đã sử dụng quyền lực mà của cải đem đến cho mình như thế nào.  Nhưng, cũng tương tự như tà đạo của họ, đến ngày thăm phạt, mớ của cải mà họ vơ vét được nhờ bóc lột áp bức người khác sẽ không binh vực họ được.

2. Phái nữ giời trong giới lãnh đạo (Am 4:1-3)

Từ chỗ lên án một cách tổng quát (Am 3:9-15), ông A-mốt chuyển vào những vấn đề chi tiết.  1  Các bà biếng nhác ở Sa-ma-ri lo áp bức người nghèo (là thành phần eo hẹp về mặt tài chánh và dễ bị hại trong cuộc sống), lo chế ngự chồng của mình để đạt được ý nguyện.  Họ chẳng có giá trị gì, chẳng qua chỉ là những con thú cho thịt ngon lành nhất trong bầy gia súc đông đúc ở Ba-san (Phu 32:14  Thi 22:12), vì họ sống một cuộc đời y như loài thú , chăm chỉ vỗ béo chờ ngày mổ thịt thôi. 2  Với Am 3:9 ông nói về những sai phạm liên quan đến xã hội.  Trong 3:14 ông nói về những tội chống nghịch Đức Chúa Trời, còn ở đây ông nói về những hành vi báng bổ đối với sự thánh khiết của Ngài.  Tội ác gì thì cũng là tội ác và đã tội lỗi thì cũng gọi là tội lỗi, vì Đức Chúa Trời Thánh là Đấng Thánh và sự thánh khiết của Ngài bùng nổ để đối phó với tất cả những việc sỉ nhục Ngài.  Người Y-sơ-ra-ên bị trói buộc trong sự phóng túng của mình nên trong thực tế họ bị tù tội vì cớ tội ác và sai phạm (2-3).  Móc... lưỡi câu, tác giả lặp lại ý tưởng này nhằm nhấn mạnh rằng họ không có lối thoát.  Trong thực tế người ta móc vào môi tù nhân một cái móc như móc câu và cột dây dẫn đi. 3  Nơi sứt mẻ do kẻ thù tạo ra như đã mô tả trong Am 3:11.  Ha-môn là một địa danh chưa xác định được chưa có ý kiến định vị thoả đáng nào, cũng chưa có ý kiến chỉnh sửa nào khả dĩ chấp nhận được.

3. Tín ngưỡng không có sự ăn năn (Am 4:4-13)

Giờ đây ông A-mốt mổ xẻ trọng tâm của vấn đề.  Về lâu về dài vấn đề nghiêm trọng không nằm trong chính những việc họ đã xúc phạm đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (4:2) mà là họ không chịu ăn năn khi Ngài cho họ cơ hội.  Cốt lõi của khúc Kinh Thánh này (6-11) là trong mọi hoàn cảnh đổi thay của cuộc sống Đức Chúa Trời là nguyên nhân và mục đích của mọi biện pháp sửa trị là đem dân trở về với Ngài.  Mệnh lệnh “Hãy đi” lúc đầu nặng mùi mỉa mai (4), nhằm vạch trần một hình thức tôn giáo vô ích (4-5) được cân bằng lại ở phần cuối qua lời kêu gọi họ hãy sẵn sàng gặp Đức Chúa Trời (trong một tôn giáo hữu ích) trong câu 12-13.  Lọt vào giữa hai mệnh lệnh này là bảy việc làm của Đức Chúa Trời nhằm đem dân trở về với Ngài (6-11).  Đối với trường hợp của dân Y-sơ-ra-ên, mục tiêu cụ thể trong mọi hoạt động của Đức Chúa Trời là làm cho họ ăn năn, còn trong mọi kinh nghiệm của cuộc sống Đức Chúa Trời đều áp dụng nguyên tắc là trực tiếp vận hành nhằm kéo chúng ta đến gần Ngài.

(Am 3:4-5)  -tên (Sa 28:10-22) và Ghinh-ganh (Gios 4:19) là những nơi kỷ niệm về bước đầu của dân sự trong cuộc đời sống với Chúa, nhưng họ đã sử dụng những đền miếu thì chẳng còn là bước đầu nữa mà chỉ là những bước xác chứng rằng họ đang đi trong tội lỗi.  (i) Đó là  tôn giáo bề ngoài.  Hành vi tín ngưỡng bề ngoài là đủ.  Mỗi sáng và “đến sáng ngày thứ ba” (lề NIV) có thể nhằm chỉ về việc giữ đúng ngày giờ:  phải dâng của lễ vào ngày thứ nhất và dâng một phần mười vào ngày thứ ba.  Tuy nhiên, cũng có thể chi tiết này là chứng cớ về những hành vi lặp đi lặp lại mà không theo luật pháp của Đức Chúa Trời:  Không phải chỉ dâng của lễ mỗi năm một lần (ISa 1:3) nhưng mỗi ngày một lần.  Không phải chỉ ba năm mới dâng một phần mười (Phu 14:28) mà là mỗi ba ngày - vì nếu việc làm đem lại mọi sự thì càng tái diễn việc làm nhiều lần nỗi vui mừng càng tăng!  (ii) Căn cơ của những việc làm đó là thoả ý mình và tự tôn vinh:  làm điều các ngươi ưa thích dù việc đó có trái với luật pháp của Đức Chúa Trời (Le 2:11, thiêu bánh có men là điều Đức Chúa Trời cấm).  Ngay cả những hành vi tự phát để tỏ lòng sùng kính của cá nhân (dâng của lễ lạc hiến) cũng trở thành hình thức tự tôn vinh (rao... làm cho thiên hạ biết).  Nhưng đức tin chân chính “phải phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời.  Ý muốn của Đức Chúa Trời là chuẩn mực chính xác” (Calvin, Institutes of the Christian Religion, SCM (1961), trang 49) (Mac 7:6).  Các tôn giáo nào nằm ngoài ý muốn đã được khải thị của Đức Chúa Trời chung qui đều là những hình thức chống nghịch Đức Chúa Trời (4)

(Am 3:6-11)  Bảy việc làm của Đức Chúa Trời:  nạn đói (6), hạn hán (mưa ở vùng này không mưa ở vùng khác) (7-8), gió nóng (9), cào cào (9), nạn dịch (10), thất trận (10) và tai hoạ trong thiên nhiên (11).  Những sự cố mà người ta thường cho là bình thường, ngẫu nhiên với những nguyên nhân trong cõi thiên nhiên hoặc do sự ngu dại của con người, tất cả đều là những việc làm của chính Đức Chúa Trời nhằm khơi dậy nơi dân sự của Ngài những phản ứng mà Ngài hằng mong mỏi.  Ngài muốn thấy họ gần gũi với Ngài biểu thị qua những hành động tuỳ theo cảnh ngộ mà họ đang trải qua ăn năn nếu dính dáng đến tội lỗi chạy đến với Ngài để tìm sự an ủi...  Không có mối liên hệ đó thì không có tín ngưỡng.  Trong thời của ông A-mốt, mặc dù dân sự tỏ ra rất sùng đạo, nhưng Đức Chúa Trời vẫn nỗ lực làm cho họ phải ăn năn và hằng mong đợi họ ăn năn.

(Am 3:12-13)  Phải chăng câu 12 là một sứ điệp hy vọng (còn đủ thời gian chuẩn bị để gặp Ngài trong bình an)?  Hoặc đây là một lời cảnh cáo nghiêm trọng (Đức Chúa Trời đang tiến lại gần với một biện pháp hình phạt bí ẩn nào đó vì cơ hội cuối của họ đã qua rồi)?  Có thể câu 13 góp phần cho chúng ta đưa ra một câu trả lời ở thể xác định đối với hai trường hợp đã nêu ở trên, vì Đức Chúa Trời nắm toàn quyền cai trị trong toàn bộ thế giới của Ngài - từ những sự vật nhìn thấy được (núi non), và không nhìn thấy (gió), tâm trí của con người (nghĩa đen, “báo cho con người biết điều ở trong thâm tâm của họ”).  Ngài làm chủ trên mọi biến chuyển, đổi hừng đông thành bóng tối (tức là đem đến sự hình phạt mà có thể câu 12 đã ngụ ý, biến niềm hy vọng của mọi người ra tăm tối), hoặc theo một hình thức chuyển ngữ thoả đáng hơn, biến “sự tối tăm thành ra hừng đông” (tức là đem lại niềm hy vọng cho những nơi dường như chẳng còn chút hy vọng nào).  Ngoài ra, Ngài tể trị trên địa cầu (đi trên những chỗ cao), nên Ngài có thể làm mọi điều theo ý muốn của mình vì Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng.  Tương tự như ông Môi-se (Phu 30:19tt), ông A-mốt đặt trước mắt dân sự sự sống và sự chết: họ phải chọn đã đến lúc họ phải quyết định.  Ý tưởng “gặp Đức Chúa Trời” (12) khiến chúng ta quay trở về với Xu 19:17 tại đó cả ân điển lẫn luật pháp được bày tỏ trong một lần khải thị.  Phần dành cho đồng bào của ông A-mốt thời đó cũng như mãi mãi dành cho dân của Đức Chúa Trời ngày nay là sống trong nơi được tuyển chọn (Phu 27:4-6).  Đây là điều ông A-mốt đặt trước mặt họ trong câu 12.  Cứ như thể ông nói với họ là họ có thể định đoạt tình ý của Đức Chúa Trời khi Ngài đến với họ:  Khi họ ăn năn Đức Chúa Trời ân sủng tối cao sẽ đến để đổi sự tối tăm của họ thành ra hừng đông còn tin tưởng mà không ăn năn sẽ khiến cho họ lãnh đầy đủ mọi điều khủng khiếp trong luật pháp của Đức Chúa Trời Tối cao, và ánh sáng sẽ tắt ngấm trong bóng tối của sự hình phạt.

4. Tôn giáo thiếu cải chánh (Am 5:1-27)

Khúc Kinh Thánh này xây dựng chung quanh ba lời kêu gọi: (i) chấn chỉnh phần thuộc linh, Hãy tìm kiếm Ta... Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va (4-6) (ii) chấn chỉnh cá nhân và xã hội, Hãy tìm điều lành... Hãy lập sự công bình... (14tt) (iii) chấn chỉnh tôn giáo, Hãy làm cho mọi sự chánh trực chảy xuống như nước...  Các ngươi há chẳng từng dâng hy sinh và của lễ chay cho Ta...? (24tt).  Những những lời kêu gọi này nằm gọn giữa những lời xác định về tai hoạ (1-3,26-27) và chen lẫn với những lời thẩm định về hiện tình mọi việc (7,10-13,16-20).  Từ vậy nên (16) vạch cho chúng ta phương hướng tiếp thu ý tưởng của tác giả:  Làm sao lời kêu gọi (14-15) lại dẫn đến hậu quả (Vậy nên, 16), lại là lời tiên tri về sự buồn khổ không nguôi như vậy?  Chỉ có thể lý giải được khi chúng ta hiểu rằng ở đây ông A-mốt đang liên tưởng đến những lần họ từ khước không hưởng ứng theo lời kêu gọi.  Vì vậy, chương này ghi lại việc họ đã đánh mất cơ hội và giờ đây họ không làm sao tránh được hậu quả.  Một lần nữa, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu.

(Am 5:1-3) Khóc than tang chếsự chết hậu quả  Dù mấy câu này mô tả về cái chết trong tương lai (3) nhưng chuyện này rất chắc chắn đến nỗi tác giả sáng tác luôn bài ai ca để người ta có thể sử dụng liền (2).  2 Ngã xuống vì đã chết.  Thiếu nữ tắt thở rồi tự thân không có khả năng hồi tỉnh, hồi phục (không dậy nữa), cũng không có nguồn trợ lực cứu giúp nào từ bên ngoài (đã bị ném bỏ... không ai đỡ dậy).  3  Nguyên nhân trực tiếp đưa đến cái chết trong bất lực và tuyệt vọng này là sự thất trận, đất nước mất đến 90% quân số.  Nhưng nguyên nhân sâu xa là gì?  Phần còn lại của chương này xác định rằng tội lỗi dẫn đến cái chết như thế đó.

(Am 5:4-13) Lẽ ra Đức Giê--va thể cho họ sự sống nhưng họ đã chọn con đường dẫn đến sự chết Lẽ ra ở đầu câu 4 nên cứ dùng từ “vì” như trong nguyên ngữ.  Câu 1-3 truy nguyên tận gốc rễ của nguyên nhân .  Dân Y-sơ-ra-ên đã từng nghe kêu gọi tìm kiếm Đức Giê-hô-va để được sống (4,6), đã từng nghe cảnh báo về con đường dẫn đến sự chết (5,11), đã từng nghe nhắc nhở rằng Đức Giê-hô-va có thể ban cho ánh sáng, nhưng Ngài cũng đem đến bóng tối tăm nữa (8).  Họ đã đứng trong vị trí phải chọn lựa và họ đã chọn sai.

4-5  Đức Chúa Trời mời mọc trong tình yêu thương và cảnh báo trong thành tín.  Ngài dùng chính bản thân Ngài để đáp ứng nhu cầu của họ.  Hãy tìm kiếm Ta là lời mời họ gần gũi với Ngài, thông công với Ngài và tiếp nhận cuộc sống mới mẻ.  Tuy nhiên, mặt khác, với thời gian và truyền thống Bê-tên và Ghinh-ganh đã được sùng bái (so sánh Am 4:4).  Ghinh-ganh vốn là ngưỡng cửa cho cuộc tiến công vào đất hứa (Gios 4:20), sẽ trở nên cửa ngõ cho cuộc lưu đày trong khi đó, Bê-tên “nhà của Đức Chúa Trời” (Sa 28:17,19) sẽ trở nên một nơi đổ nát, không có giá trị gì cả, vô dụng như một pho tượng (“A-ven” lề NIV).

6-7  Đức Chúa Trời mời mọc trong tình yêu thương, Đức Chúa Trời cũng cáo buộc với lòng trung kiên.  Một lần nữa, chính mình Ngài là điều dân sự đang cần (Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va thì các ngươi sẽ sống), còn ngoài Ngài ra thì không có sự sống.  Bê-tên có thể tự hào về truyền thống và lòng ngưỡng mộ của dân sự, nhưng Bê-tên bất lực trước ngọn lửa (tiêu biểu cho sự thánh khiết, đầy năng lực của Đức Chúa Trời).  Ngọn lửa đó sẽ bùng lên chống lại những người bóp méo lẽ công bình và lăng mạ sự công nghĩa.  Khi hai từ này đi đôi với nhau (Es 5:16) thì từ “công nghĩa” gói ghém những nguyên tắc tự tại trong sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, còn “công bình” là từ ứng dụng những nguyên tắc đó vào thực tế của cá nhân và xã hội.

8-9  Lẽ ra bản NIV không nên dùng hai dấu ngoặc đơn ở đây.  Tác giả cố ý tạo một sự thay đổi đột ngột ở hai câu này.  Với giọng tức tối ông A-mốt chuyển trọng tâm chú ý từ dân sự là những người đã gây ra điều đắng cay trên địa cầu (7) qua chính mình Đấng đem lại những sự biến đổi lớn lao.  Một mặt, sự đồi trụy của con người không thể thắng hơn Đức Chúa Trời:  Ngài có quyền khiến lửa mà Ngài dùng để đe doạ (6) cháy bùng ra tiêu huỷ tất cả (9).  Mặt khác, nếu họ tìm kiếm Ngài theo như lời mời gọi thì thay vì chết chóc họ sẽ nhận được sự sống mà Ngài đã hứa (6), Ngài có thể làm điều đó dễ dàng như thể khi Ngài biến bóng đêm thành ánh sáng rạng đông (8).

Sao Rua và sao Cày là những chùm sao báo hiệu thời tiết.  Sao Rua mọc rồi lặn báo cho người đi biển biết mùa hải hành và cho dân du mục biết biến chuyển của thời tiết.  Tối tăm... ban mai... ban ngày... đêm thẳm, là những biến chuyển bình thường nối tiếp nhau trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ.  Câu 8 và 7 dùng cùng một động từ đổi, hành động của họ (7) có biến đổi được điều gì không? So với những gì mà họ thực hiện thì sự biến đổi mà Đức Chúa Trời đã thực hiện có kích cỡ lớn lao biết bao!  Nước biển... đổ, Đức Giê-hô-va không bị giới hạn trong những luật lệ chung của Ngài đã đề ra, tức là giữ nước ở tại vị trí thông thường của nước (Thi 104:8-9).  Ngài có thể và có quyền gây ra những biến chuyển bất thường trong việc Ngài truyền cho nước lụt tràn ngập mặt đất.  Giới cầm quyền trong thời của ông A-mốt đã đem lại nhiều thay đổi (7) và đã dập tắt mọi sự chống đối (13) nhưng Đấng cầm quyền điều động và kiểm soát những biến chuyển về thời tiết bình thường hàng ngày hoặc thỉnh thoảng đột xuất càng có quyền hành lật đổ mọi điều con người đã củng cố, tăng cường, tăng lực để đối phó với mọi khả năng tấn công (9).  Thật là một khải tuợng đầy ý nghĩa cho một thời kỳ như thời kỳ mà ông A-mốt đang sống, khi sự vô tín tràn lan khắp xứ, khi mọi giá trị đều bị đảo lộn (7) và khi người tin kính cảm thấy mình bất lực (13)!

10-13 Một lời báo cáo gọn gàng và cân đối

(a1)  c.10  Ghét người nói lên sự thật

(b1)  c.11  Áp bức người nghèo

(c)    c.11  Hình phạt bằng cách truất quyền sở hữu

(b2)  c.12  Áp bức người nghèo (từ khác được sử dụng)

(a2)   c.13  Không còn ai lên tiếng chống đối được nữa

10  Vị quan toà công bình chánh trực (kẻ trách móc) và người làm chứng chân thật (kẻ nói ngay thẳng) đều bị thù ghét như nhau. 11  Kẻ nghèo (Am 2:7  4:1), ít tiền ít của, vô phương tự vệ trong xã hội.  Hiếp đáp, “sách nhiễu”.  Ông A-mốt không xác định tập đoàn đầy quyền thế nào đang chủ trương mọi việc này: người địa chủ ức hiếp người ta với giá thuê đất cắt cổ vẫn tìm được cách đòi hỏi người ta đóng góp về những mục khác?  Người cho vay?  Đức Giê-hô-va không bận tâm về việc ai chủ trương làm chuyện đó mà Ngài bận tâm về nạn nhân - người bị ức hiếp.  Vậy nên cho thấy Đức Chúa Trời đang hành động.  Đức Chúa Trời điều hành thế giới này trên nguyên tắc đạo đức, do đó những người trục lợi cách bất công sẽ không được hưởng thụ lâu dài.  Thiên nhiên vốn đã được phú cho khả năng phản kháng điều ác (Es 5:8-10,14-17).  Theo như phần sơ lược đã trình bày ở trên, đây là cốt lõi của khúc Kinh Thánh này.  Loài người chủ trương xây dựng các công trình bền vững để tồn tại (lâu dài bằng đá) trồng cây để thu hoạch (vườn nho ngon ngọt), nhưng thực tế không diễn ra theo ý họ.

12  Tội ác... tội lỗi, “phản loạn” (chống lại Đức Chúa Trời)... “trật mục tiêu” (không đạt chuẩn yêu cầu).  Những hành vi xấu có tính cách xã hội là tội lỗi trong phần thuộc linh.  Do đó, cải tổ đơn thuần là không đủ: phải trở về với Đức Chúa Trời.  Người công bình, bên có lẽ phải, có chính nghĩa trong một vụ xét xử tại toà án.  Hối lộ, sử dụng tiền bạc của cải để giành cho được lời phán quyết thuận lợi cho mình.  Trong câu này, nguyên ngữ dùng một từ khác với từ trong câu 11 để nói về thành phần nạn nhân này lẽ ra phải chuyển ngữ là “người thứ yếu, không quan trọng”.  Bẻ cong lẽ thẳng lẽ ra phải chuyển ngữ là “quay lưng, gạt qua một bên”.  Quan toà từ chối không chịu xét xử sự thưa kiện của thành phần thứ yếu, không quan trọng trong xã hội.  13  Thái độ “ghét”trong câu 10 dễ dàng đẩy họ vào thời kỳ hỗn loạn vì dân chúng tụ họp thành đám thành đoàn phá phách giết hại, cướp bóc, gieo kinh hoàng khắp nơi đến nỗi người ta không còn tự do nói lên chính kiến nữa.

(Am 5:14-20) Chấn chỉnh đạo đứcNhận thức về Ngày của Đức Giê--va  Lời đe doạ trong thể phủ định mất quyền sở hữu (11) giờ đây trở thành lời đe doạ trong thế xác định về một ngày sắp tới đầy nước mắt (16tt) và bóng tối (18).  Ngày của “Đức Giê-hô-va” dường như là niềm trông đợi chung của dân sự, với sự võ đoán là ngày đó sẽ đem lại “ánh sáng” tức là sẽ đem lại cho dân của Đức Chúa Trời những kinh nghiệm vui sướng.  Do đó, họ trông mong “ngày”  đó với niềm tin tưởng đầy hy vọng.  (i) Ông A-mốt dùng những từ ngữ về niềm hy vọng với ý mỉa mai châm chọc để rao ra tai hoạ (thí dụ vượt qua, đi qua trong câu 17 là tư ngữ thuộc về lễ Vượt Qua, Xu 12:12).  Dân sự đã quên bản tánh của Đức Chúa Trời.  Đêm lễ vượt qua có thể đã là một đêm hình phạt đối với những người không chuẩn bị sẵn sàng.  (ii) Phước hạnh thuộc linh tuỳ thuộc vào điều kiện đạo đức (14-15).  Đức Chúa Trời sẽ ưu ái hiện diện đối với người có mục tiêu (tìm kiếm) và có tấm lòng (ghét tội lỗi, ưa điều lành) phù hợp với Ngài và họ cũng là những người áp dụng những giá trị mà bản thân họ hằng trân trọng và ưa thích cho xã hội chung quanh họ (lập sự công bình).  (iii) Có lẽ (15), bày tỏ rằng Đức Chúa Trời chống lại lối ăn nói ngạo mạn hàm hồ.  Từ này không có ý nghi ngờ về lòng thương xót của Đức Chúa Trời, nhưng nhằm khiển trách một định kiến vì cớ võ đoán thì tôi cho là phải nói như vậy.

14-15 (i) Tìm kiếm Đức Chúa Trời đi cùng với lánh xa tội ác.  (ii) Hành vi thánh khiết (tìm điều lành) phải đi kèm với cảm xúc thánh khiết (ghét điều ác, ưa thích điều lành).  (iii) Không nên đợi đến khi có cảm xúc thánh khiết rồi mới hành động thánh khiết: Tìm kiếm điều lành đi trước cảm xúc ưa thích điều lành.  Nếu chờ cảm xúc thì có khả năng chúng ta chờ đợi một cách vô vọng.  Cần học tập đặt bổn phận lên trên khuynh hướng và cần học tập khám phá những hành vi yêu thương sẽ nhanh chóng khiến cho tấm lòng cảm thấy yêu thương.  (iv) Danh hiệu cao trọng Giê-hô-va Đức Chúa Trời Toàn Năng được lặp lại nhiều lần nhằm chứng tỏ giá trị trong những nỗ lực của chúng ta để sống đạo đức.  Đức Chúa Trời mà chúng ta tìm kiếm là như thế đó.  Ngài toàn quyền sử dụng chúng ta, tuỳ ý Ngài ra lệnh.  (15)  Giô-sép được tác giả dùng để chỉ một cách chung chung về vương quốc miền bắc vì phần đông dân trong nước này là hậu duệ của các con trai của Giô-sép (Sa 48:1-22).

16-17  Xem phần bình giải dẫn nhập của chương 5 về ý tác giả khi dùng từ vậy nên.  Chúa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chú ý là để nhấn mạnh sứ điệp về tai hoạ tác giả bồi thêm danh xưng Chúa cho danh xưng thường dùng là Giê-hô-va Đức Chúa Trời Toàn năng:  Chúa (danh xưng ở thể đơn giản hơn) có nghĩa là “Chúa tể” CHÚA (danh xưng ở thể cầu kỳ hơn) có nghĩa là “Giê-hô-va” (Gia-vê), là Đức Chúa Trời đã giải cứu dân của Ngài và huỷ diệt kẻ thù của họ trong thời xuất hành.  Toàn Năng có nghĩa là “của vạn quân”, là Đấng tự thân Ngài có mọi quyền năng thế lực.  Sự than khóc diễn ra cách công khai (trong mọi nơi phố chợ... trong mọi đường phố) cách não ruột và không ngoại trừ một ai cả, kể từ giới chuyên khóc mướn cho đến nông dân.  Những nơi xưa nay diễn ra cảnh vui vẻ, như vườn nho chẳng hạn, sẽ trở nên nơi buồn khổ tất cả chỉ vì “Đức Chúa Trời đi qua”.  Chẳng cần một hành động bất thường nào cả, chỉ cần sự hiện diện thánh của Ngài là ai nấy đều phải khóc than.

18-20  Đáp lại sự lạc quan của dân chúng tác giả nhấn mạnh sự tối tăm trong ngày của Đức Giê-hô-va.  Tương tự như khi chúng ta trông đợi ngày Cứu Chúa Giê-xu trở lại, Hội thánh trong thời Cựu Ước cũng trông đợi ngày của Đức Giê-hô-va, là ngày đích thân Ngài hiện đến.  Khi chúng ta đọc Kinh Thánh Cựu Ước chúng ta khám phá ra rằng những điều mô tả trước (như trong khúc Kinh Thánh này) về “ngày của Chúa” (27) là ngày can thiệp của Đức Chúa Trời trong thời kỳ chuyển tiếp chứ không phải là ngày cuối cùng.  Hình ảnh minh hoạ trong câu 19 (nên dùng từ “và” thay vì từ ví như thứ hai) cho thấy số phận không thể nào tránh thoát.  Xem lại câu 4-20 thì bóng tối tăm của “ngày” đó dành cho ai?  Dành cho thành phần xưng mình thuộc về Chúa nhưng không “tìm kiếm Ngài” (4), không làm vừa ý Ngài trong cách đối xử với người nghèo và người cô thế bất lực (7tt), không làm điều lành và không tránh điều dữ (14), cũng không ưa thích những điều Ngài ưa thích (15).  Họ là những người hữu danh vô thực, miệng nói lý thuyết mà thực tế chẳng có làm gì cả, sùng đạo mà không có dấu chứng gì về sự thay đổi trong phần đạo đức và thuộc linh nên họ đang tiến về một hướng sai lạc, đi xa khỏi Đức Chúa Trời.

(Am 5:21-27) Cải tổ tôn giáo, trở về vơi những giá trị ngày trước  Đức Chúa Trời không chấp nhận lối hành đạo đương thời (21-22).  Mới đọc qua chúng ta ngỡ rằng câu 23-24 đề ra một giải pháp “hoặc việc này/ hoặc việc kia” - tức là nhấn mạnh ý Đức Chúa Trời không đòi hỏi họ tôn thờ Ngài bằng các “buổi nhóm họp” mà bằng “sự phục vụ”.  Tuy nhiên, câu 25 giúp chúng ta hiểu đúng ý của tác giả, tức là ông kêu gọi họ quay về với những yếu tố cốt lõi đã đề ra từ thuở đầu (xem Dẫn nhập về Xã hội).  Câu 26 hàm ý rằng họ đã không hưởng ứng đúng theo lời kêu gọi trong câu 24 nếu cứ tiếp tục hành đạo theo lối họ tự tạo, tự chọn thì hậu quả sẽ là lưu đày (27).

21-24  Tín ngưỡng mà không có đạo đức chỉ làm cho Đức Chúa Trời gớm ghét (Es 1:11-15tt  Gie 7:9-11). 24  Chánh trực ... công bình tức là thực hành và nguyên tắc (so sánh câu 7).  25  Nhưng ông A-mốt không cổ võ cho đạo đức phi tôn giáo, sự phục vụ phi thờ phượng.  Câu hỏi của ông nhấn mạnh ý tưởng “chẳng lẽ hồi ở trong sa mạc các ngươi dâng lên cho ta (chỉ) có của lễ mà thôi?”.  Thoạt tiên tôn giáo ở Si-nai là một sự đáp ứng của dân sự về mặt luân lý đạo đức đối với Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu (Xu 19:4-5  20:2 tt).  Kết quả hợp lý là những của lễ được bổ túc về sau.  Khi dân sự quyết tâm vâng phục Đức Chúa Trời thì họ được núp dưới “bóng che chắn của huyết vô tội đã đổ ra” (24:7-8).  Đối với họ, cũng như đối với chúng ta những điều đó được truyền dạy hầu cho họ không phạm tội (IGi  2:1) nhưng khi họ không làm sao tránh khỏi phạm tội, họ có cách chuộc tội (2:2).  Đây là điều ông A-mốt nhắc lại trong câu hỏi của mình.  Họ đã tách nghi thức dâng của lễ ra riêng, và đã cho sự vâng phục ra ngoài lề, trong khi chính là lòng quyết tâm vâng phục khiến cho của lễ có ý nghĩa và trở nên cần thiết.  Xem thêm bình giải Am 7:7-8. 

26  Họ tuỳ nghi tuỳ thích (4:4-5) nên mở đường cho một tôn giáo do họ tự tạo.  Rồi vì không được lời của Đức Chúa Trời chỉ đạo kiểm soát nên chẳng phải họ không tin gì cả mà họ tin bất cứ điều gì.  Khám thờ ... đế đôn tượng (Hi Bá Lai “sikkut ... kiyyun”) là hai từ ngữ Mê-sô-bô-ta-mi là Sakkuth và Kaiwanu, tên của sao Thổ, một ngôi sao thần được dân chúng thờ trong cương vị là vua và thần (xem Hubbard, trang 185).  Tánh ưa thích lễ nghi ở nơi họ thường lộ ra qua những kỳ rước cộ. 27  Cuộc rước cộ kết thúc trong chốn lưu đày.  Ông A-mốt không xác định địa điểm chính xác của cuộc lưu đày, ông chỉ nói cách mơ hồ là bên kia Đa mách.  Họ ra đi vào chốn đày ải không phải vì là nạn nhân của kẻ chiến thắng hoặc vì rủi ro, nhưng vì Ta sẽ làm cho các ngươi bị đi lưu đày.  Đức Chúa Trời tối cao khiến cho hậu quả của sự bướng bỉnh và điên dại của họ đổ trên đầu họ.

5. Phái nam trong giới lãnh đạo (Am 6:1-7)

Phần mô tả về nam giới lãnh đạo (trong Am 6:1) cân bằng với phần mô tả về nữ giới lãnh đạo trong 4:1-3, với ngụ ý là mọi người không trừ một ai.  Ở đây người ta thấy sự kiêu ngạo của giới lãnh đạo không thiếu mặt nào.  Các bà chẳng khác gì “bò cái”, lo thoả mãn chính mình cách vô ý thức.  Còn các ông thì kiêu ngạo với đầy đủ ý thức: họ từng xem mình là yếu nhân trong “một nước đứng đầu mọi nước” (1) và dùng cho bản thân mình loại dầu thơm hạng nhất (6, dùng cùng một từ như từ đứng đầu.  Rồi đây, họ sẽ là những người đầu tiên (cùng một từ nhưng khác dạng) bị lưu đày (7).  Một trật tự rất phải lẽ!  Tự mãn, say sưa, vô tâm về mặt xã hội, lưu đày!  Những người chiếm vị trí trọng tâm trong tâm trí mọi người khác xem ra dễ tự thấy mình là quan trọng tâm trí họ chứa đầy tư tưởng này đến nỗi không còn chỗ quan tâm chú ý đến người khác nữa.  Đây là cái bẫy đặc thù cám dỗ giới “chóp bu”.

1  Si-ôn, thông thường các vị tiên tri thi hành chức vụ tại một trong hai vương quốc (tiên tri A-mốt hành chức ở vương quốc phía bắc) nhưng họ luôn luôn để mắt quan tâm đến cả hai vương quốc.  Thí dụ ông Ê-sai (Es 28:1-4) và ông Mi-chê (Mi 1:5) đều làm tiên tri tại vương quốc phía nam, nhưng họ cũng quan tâm đến vương quốc phía bắc (Os 5:13  6:11).  Uy tín của ông đối với dân ở phía bắc chắc sẽ vững vàng hơn khi ông tỏ ra vô tư trong vấn đề này:  đã là kiêu ngạo thì phải gọi là kiêu ngạo dù sự kiêu ngạo lộ diện ở đâu đi nữa. 2  Trong mấy câu hỏi này không có động từ.  Động từ ở thì hiện tại có lẽ thích hợp.  Nhiều người đã đề nghị một số hướng giải nghĩa câu này.  (i) Ông A-mốt mời gọi thính giả so sánh để thấy là họ thịnh vượng biết bao.  Và như vậy nếu họ không biết ơn Đức Chúa Trời thì sự hình phạt đến trên họ là chắc chắn biết bao!  Tuy nhiên, toàn bộ khúc Kinh Thánh này hàm ý là họ không cần bằng chứng gì nữa vì họ nhận biết rõ ràng ưu thế của mình rồi.  (ii)  Gát... là những trường hợp cụ thể về một nền thịnh vượng bị sụp đổ và là một gương cảnh báo về tai hoạ có thể xảy đến cho Sa-ma-ri.  Tuy nhiên, không có gì bảo đảm là trong thời của ông A-mốt các thành đó đã bị tàn phá tiêu huỷ.  (iii) Ở đây ông A-mốt trích dẫn một lối phô trương trong tờ thông tin của giới cầm quyền về ưu thế của họ so với những địa phương xa xôi kém cỏi hơn, lối giải thích này có phần hợp lý, đúng là cách thức làm việc của giới cầm quyền và ăn khớp với lối tự tin mà câu 1 đã mô tả.  Ý này cũng dẫn vào câu 3 là câu nói về chủ trương dấu diếm mối hiểm nguy đã xuất hiện ở chân trời mà chính họ dư biết rồi.

3  Hồi đó Sa-ma-ri đang hưởng sự phồn thịnh “xưa nay chưa từng có”, giới cầm quyền biết rằng ưu thế đó chẳng thể kéo dài mãi nhưng họ đẩy xa ngày xấu đó với cuộc vui chơi chè chén trong khi “còn nước còn tát”.  Thời gian kế tiếp những năm sự thịnh vượng bùng nổ dưới thời cai trị của vua Giê-rô-bô-am (xem dẫn nhập) đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn.  Trong số sáu vị vua cuối cùng của vương quốc, chỉ có một vua có thể truyền ngôi cho con mình mấy vị vua kia đều bị ám sát khi đang tại ngôi (IIVua 15:1-38  17:1-41).  Ngôi bạo ngược là một cụm từ mô tả thời kỳ này rất ư thoả đáng. 4  Nhưng, cho dù ngày mai họ phải chết đi nữa, sao họ lại không lo hưởng lạc thú trên đời ngày hôm nay cơ chứ?  (Es 22:12-13). 5  Đám người kém cỏi tìm cách biện minh cho lối sống phù phiếm của mình bằng cách so sánh chính mình với mẫu người lãnh đạo vĩ đại.  Vua Đa-vít vốn là một nhạc sĩ lẫn thi sĩ cơ mà! 6  Chén lớn (Xu 38:3  Dan 7:13), loại chén cỡ rất lớn theo lối nói hiện thời chúng ta sẽ nói là “họ uống rượu bằng thùng phuy”.  Không lo đến tai nạn, “không làm cho họ ói mửa”.  Cuộc chè chén có thể khiến họ đau bụng nôn mửa (Es 28:7-8) nhưng tai nạn, tình trạng suy thoái, sụp đổ của Giô-sép (xem bình giải Am 5:6) không làm cho họ “đau đớn gì”.

6. Vương quốc tan nát (Am 6:8-14)

Lời lên án trong phần kết khớp với Am 3:9-15 tái khẳng định về việc Ngài tấn công sự kiêu ngạo (8), thái độ vô tâm đối với tình trạng đạo đức (12) và nạn tự lừa dối (13) rồi mô tả kỹ về kết cuộc kinh khủng mà những điều đó đưa tới (9tt,11,14).  Khúc Kinh Thánh này có phần sườn cân đối như sau:

(a1)   c.8 Đức Chúa Trời gớm ghiếc

(b1)   c.8-10 Lật đổ vương quốc: Sự mất mát hoàn toàn được minh hoạ

(a2)   c.11 Sự hình phạt của Đức Chúa Trời

(b2)   c.12-13 Các giá trị bị đảo lộn: minh hoạ về sự phi lý.

(a3)   c.14 Đức Chúa Trời điều động lịch sử nhắm về các mục tiêu đạo đức.

Am 6:8  Chỉ chính mình mà thề, “chỉ linh hồn mình” tức là Đức Chúa Trời thề với cả “tấm lòng và linh hồn”.  Từ Gớm ghiếc hình thành bằng cách thực hiện một sự thay đổi nhỏ trong văn bản Hi Bá Lai (từ gốc có nghĩa là “Tôi muốn”).  Nếu thực hiện thêm một thay đổi nhỏ hơn nữa thì ta có từ “Ta thật sự thù ghét”. 

(Am 6:9-10)  Trong tình cảnh thành bị vây hãm, nạn đói và nạn dịch mặc tình hoành hành, nên xe chở xác chết trở thành quen thuộc.  Người sống sót duy nhất trong một gia đình xác nhận rằng chẳng còn ai nữa, nhưng khi người đối thoại chưa kịp ứng đáp (biểu lộ một thái độ ngán ngẩm hoặc cảm thương) bằng một câu có nhắc đến Đức Chúa Trời, thì đã nghe bảo là đừng mở miệng nói gì hết: cảm giác bị tách biệt khỏi Đức Chúa Trời quá lớn Ngài đã rời khỏi dân sự.  11  Chính là do lệnh của chính Đức Chúa Trời mà việc ra nông nổi này:  Câu 11 cho biết nội dung sắc lệnh của Đức Chúa Trời.  Câu 12-13 cho biết tại sao Ngài ra sắc lệnh. Câu 14 giải thích Ngài sẽ cho thi hành sắc lệnh này như thế nào.  Lớn... nhỏ một câu nói gộp tất cả mọi kích cỡ nằm giữa hai thái cực này, có nghĩa là “tất cả mọi nhà, mỗi một nhà, bất cứ nhà nào”.

12  Các hình ảnh này minh hoạ cho một thực tế trái ngược , nói lên cốt lõi của cuộc sống của dân tộc: Công lý được thực thi nhằm chữa trị xã hội (Phu 19:16-20) chớ không phải nhằm đầu độc xã hội, và (theo lối nói hiện nay của chúng ta) những chuyện nói về sự công bình trong cuộc sống công cộng đã biến thành những chuyện hài rơi nước mắt (cay đắng).  Chính tình trạng tệ hại của xã hội đã khiến Đức Chúa Trời phán xét chớ không phải chỉ vì tội lỗi của từng cá nhân riêng lẻ.  Không duy trì được những nguyên tắc chính đáng (công minh chánh trực) và thi hành phù hợp (sự công bằng) tức là đang đẩy xã hội và dân tộc đến chỗ diệt vong.  Đức Chúa Trời công bình yêu sự công bình (Thi 11:7). 13  Lô-đê-ba và Ca-na-im là hai địa danh ở vùng tả ngạn sông Giô-đanh (Sa 14:5 IISa 9:4).  Có lẽ hai nơi này đã chứng kiến những cuộc chiến thắng của vua Giê-rô-bô-am, rồi nhờ đó mà vua đã khôi phục lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên cho đến tận bờ cõi đã đạt được trong thời vua Sa-lô-môn (IIVua 14:25).  Tuy nhiên, ánh hào quang của dân Y-sơ-ra-ên chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, vì theo câu 14, chính những ranh giới mới đó lại đánh dấu cho sự thành công của quân thù, từ Lô-Ha-mát ở vùng cực bắc đến thung lũng A-ra-ba bên Biển Chết.  Đức Chúa Trời thù nghịch những người hãnh diện về hư vinh của những thành quả quân sự:  Ngài có sẵn công cụ trong tay để hành động rồi.

4. GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI: SỰ HÌNH PHẠT VÀ HY VỌNG (Am 7:1-9:15)

Sự hình phạt rồi ra chẳng xảy đến (Am 7:1-6) và niềm hy vọng sẽ tồn tại (9:11-15) như hai ngoặc đơn đóng khung phần cuối của sách A-mốt.  Trong phạm vi hai ngoặc đơn này, một sự hình phạt trong mức độ kinh sợ (8:1-9:6) sẽ xảy ra nhưng chỉ liên quan đến một số thành phần (7:8tt 9:7-10) chớ không huỷ diệt toàn dân, toàn quốc.  Danh hiệu Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân được dùng đến 9 lần trong chương 1-6 giờ đây được dùng đến 11 lần trong chương 7-9.  Khi Đức Chúa Trời giữ trọn lời hứa đầy ân sủng của Ngài là lúc Ngài tỏ ra tối cao và vinh hiển hơn cả.

1. Sự tàn phá sẽ không diễn ra (Am 7:1-6)

Cầu thay là một phần trong nhiệm vụ của tiên tri (Sa 20:7  Gie 7:16).  Ông A-mốt không cầu xin Đức Chúa Trời đừng hình phạt nhưng ông xin Ngài đừng áp dụng biện pháp hình phạt mà ông được thấy.  (i) Câu 1-3 nạn cào cào được ấn định vào một thời gian khiến cho không một ai còn có thể sống sót.  (ii) Câu 4-6 nạn hoả hoạn, một loại lửa có khả năng đốt cháy cả biển lẫn đất đai.  Ông A-mốt nài xin Đức Chúa Trời đừng tận diệt Gia-cốp, và Ngài đã nhậm lời ông.  Sự việc được lặp lại nhấn mạnh tính cách chắc chắn (Sa 41:32), từ một thiên tai (nạn cào cào) đến một biện pháp hình phạt bằng phương tiện siêu nhiên (lửa) có ý nội hàm là tất cả mọi tai hoạ đều sẽ xảy đến.  Ý niệm về một cuộc huỷ diệt hoàn toàn được gói ghém trong cách biểu thị này (xem dẫn nhập của Am 6:1-7).  Tuy nhiên, viễn cảnh huỷ diệt toàn bộ dân của Đức Chúa Trời đã bị dẹp bỏ.  Niềm hy vọng lại dâng cao.

1  Ngài làm nên, tức là bàn tay của Đức Chúa Trời đang vận hành đằng sau biện pháp hình phạt này.  Sau các kỳ cắt cỏ của vua..., có lẽ là kỳ thu thuế của hoàng gia.  Cỏ mọc lại, nông dân sống dựa vào số nông phẩm còn lại này.  Mất trắng phần này thì cầm chắc chết đói thôi.  3  Ăn năn, đổi ý, nhưng có thể nào Đức Chúa Trời “tối cao” thay đổi ý mình?  Theo ISa 15:29 thì Ngài không nói dối, không ăn năn (đổi ý), nhưng theo 15:35 thì “Đức Giê-hô-va ăn năn vì đã lập Sau-lơ lên làm vua” (không như bản NIV).  Câu Kinh Thánh thứ nhất khẳng định sự thật “tuyệt đối” về Đức Chúa Trời câu Kinh Thánh thứ hai xác định rằng Đức Chúa Trời có xét đến những sự thay đổi nơi con người và sự hưởng ứng của họ, dù không thể thay đổi ý muốn của Ngài.  Như vậy, từ vị trí của mình chúng ta thấy Đức Chúa Trời đổi hướng làm việc và Kinh Thánh diễn tả bằng từ “ăn năn”:  Dù ý của Đức Chúa Trời là bất di bất dịch, nhưng không phải là vô cảm Trong khi Ngài quản trị thế giới một cách hoàn hảo Ngài cũng quan tâm xét đến những sự yếu đuối kém cỏi và ngu dại của chúng ta nữa.  4  Thiêu nuốt vực lớn... ăn nuốt đất, cùng một động từ được dùng hai lần (nghĩa đen thiêu huỷ).  Một thứ lửa với tánh chất như vậy đương nhiên chỉ về phương diện thánh khiết trong sự phán xét của Đức Chúa Trời thánh, chỉ có lửa của Đức Chúa Trời mới có thể thiêu huỷ toàn bộ công trình sáng tạo của Ngài (IIPhi 3:10,12).

2. Sự hình phạt có chọn lọc (Am 7:7-9)

Ông A-mốt không dâng lên một lời cầu xin nào đối với khải tượng thứ ba.  Đức Giê-hô-va xuất hiện trong vai một người chủ xây dựng để xem xét bức tường đã hoàn tất.  Nguyên ngữ Hi Bá Lai không xác định là bức tường có đứng thẳng như dây giọi hay không (7) nhưng chỉ xác định là người ta có sử dụng dây giọi trong khi xây bức tường này.  Nói cách khác, dù đến cuối cùng mới thấy bức tượng được kiểm tra bằng dây giọi, nhưng từ đầu đến cuối công trình này vẫn được thực hiện theo chuẩn mực của dây giọi.  Dân sự của Đức Chúa Trời được “xây dựng” theo chuẩn mực của luật pháp lẫn ân sủng: vì cớ họ là dân được Ngài giải cứu nên họ phải  tuân theo luật pháp của Ngài  (Xu 20:2tt).  Dầu vậy, vì họ là dân được giải cứu nên họ ở “trong huyết” (24:8) và họ nhận được toàn bộ luật tế lễ.  Cho nên nếu họ có sơ sót trong trách nhiệm vâng phục, họ vẫn được sống trong sự hiện diện của Đấng Thánh.  Đời sống đích thực của dân sự của Đức Chúa Trời là giữ thế quân bình cho hai yếu tố này (Am 5:25) và nhờ đó một mặt họ khác hạng người vị luật pháp (vâng phục luật pháp là được tất cả) và mặt khác họ khác hạng người vị nghi thức (dâng của lễ là được tất cả).  Chính vì vậy mà ông A-mốt không dâng lên lời cầu xin nào nữa cả:  dây giọi, chuẩn mực kết đôi giữa luật pháp và ân sủng là cốt lõi của dân được chuộc không thể nào thoát khỏi phần kiểm tra này trừ phi họ không còn là một dân được chuộc nữa.

8  Đi qua, trong đêm vượt qua họ ẩn náu trong nhà có phết huyết (Xu 12:7), ăn thịt chiên con, mặc trang phục du hành (12:11), họ được sống sót bởi ân sủng, được sống sót để đi con đường của Chúa.  Nhưng dân sự trong thời của ông A-mốt không sống đúng theo chuẩn mực kết đôi khi họ được hình thành cho nên họ không thể nhận được phước hạnh của sự “vượt qua”.  9  Tiếp theo Đức Chúa Trời xác định thành phần nào sẽ bị tiêu diệt và sự xét xử bằng dây giọi đương nhiên là có phân biệt người đáng bị hình phạt, người không.  Trong đám người giả luôn luôn có người chân chính, trong đám người tín đồ bề ngoài, luôn luôn có một nhóm người tin Chúa thật, luôn luôn có một Hội Thánh trong hội thánh.  Dây giọi sẽ chỉ tỏ những thành phần thật này ra và họ sẽ thoát khỏi sự hình phạt (so sánh Am 9:8-10), nhưng dây giọi sẽ phá tan hoang các nơi cao... các đền miếu là những tụ điểm của sự lừa phỉnh, dối trá, đồi bại cùng nhà Giê-rô-bô-am là triều đại “đã làm điều xấu xa gian ác đối với Đức Chúa Trời... rồi lại gây cớ cho Y-sơ-ra-ên phạm tội” (IIVua 14:24).  Nơi cao là những trung tâm của tà đạo Ba-anh do con người lập ra , tại đó họ thờ Đức Chúa Trời qua những nghi lễ của đạo Ba-anh như thể Đức Chúa Trời là một vị thần của dân Ca-na-an.  Ở đây, tác giả dùng tên riêng Y-sác đồng nghĩa với tên riêng Y-sơ-ra-ên.  Y-sác có liên quan đến đến Bê-e-sê-ba (Sa 26:33  28:10).  Có lẽ trong thời của ông A-mốt người ta đang tìm cách hợp thức hoá các nghi thức thờ phượng tại Bê-e-sê-ba (Am 5:5) bằng cách viện ra vị tổ Y-sác.

3. Không thể tránh né lời của Đức Chúa Trời (Am 7:10-17)

Trọng tâm của khúc Kinh Thánh này là thầy tế lễ A-ma-xia tìm cách tẩy sứ điệp của ông A-mốt ra khỏi vương quốc (12), nhưng cả ông lẫn vương quốc không làm sao thoát khỏi lời của Đức Chúa Trời (17):  Người nói: “Chớ nói tiên tri...  Cho nên Đức Giê-hô-va phán như vầy...” (16-17).  Không thể trốn tránh lời của Đức Chúa Trời được.  Trình tự các chi tiết trong bản văn (10-12) cho thấy là ông A-ma-xia không thuyết phục vua A-ma-xia xử lý việc này nhưng tự ông ra tay .  Ông có uy quyền và thế lực vì đang làm thầy tế lễ tại Bê-tên, nên ông A-mốt khó lòng đương đầu với quyền hành của thầy tế lễ.  Nhưng ông A-mốt đã đối phó bằng cách xác định sự kiện ông được kêu gọi làm tiên tri:  tức là xác định uy quyền của Đức Chúa Trời trên quyền hành của con người khi họ đem quyền đó ra để thách thức Ngài Cong 5:29). 10  Bê-tên, trong các bài giảng của ông A-mốt Bê-tên được trình bày qua một hình ảnh không mấy thuận lợi sáng sủa (Am 4:4  5:5).  Cho nên, ông A-ma-xia động lòng thì nào có gì lạ!  Nghịch cùng (âm mưu nghịch) giới cầm quyền thường đem lá bài “an ninh quốc gia” ra hù doạ để đạt được ý của mình.  Ông A-mốt đành phải gánh chịu sự xuyên tạc này!  Đất, vén màn cho chúng ta thoáng thấy tầm ảnh hưởng rộng rãi của ông A-mốt.

12  Tiên kiến không có ý châm chọc hoặc lăng mạ (Es 29:10) nhưng khi ông A-ma-xia khuyên ông A-mốt nên trở về Giu-đa và mưu sinh tại đó, tức là ông ta cho rằng ông A-mốt đang làm tiên tri vì đồng lương, nên về Giu-đa nói tiên tri chống lại Y-sơ-ra-ên thì thu nhập của ông sẽ cao đấy.  14  (xem dẫn nhập bài tiên tri) Bản NIV có lý khi dùng động từ ở thì quá khứ trong những câu của ông A-mốt cực lực bác bỏ ý của ông A-ma-xia cho rằng ông A-mốt tiên tri để kiếm tiền.  Về mặt này, ông A-mốt đã có một nguồn tài chánh ổn định từ bầy thú nuôi và từ vườn cây.  Chức vụ tiên tri đối với ông (i) không phải là do vấn đề có khả năng hoặc ưa thích (ta không phải là đấng tiên tri).  (ii) Cũng không phải được một vị tiên tri cho theo học nghề hoặc bị hào quang của chức vụ tiên tri thu hút.  Con trai của tiên tri (so sánh IIVua 2:3,5  6:1  9:1), “trường” của “các con trai của tiên tri” thu hút các vị được kêu gọi làm tiên tri để thụ huấn và cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nhưng ông A-mốt thì không.  (iii) Tự ý mình ông không định làm tiên tri: ông đã ổn định làm một người chăn bầy súc vật và làm nông.  15  (iv) Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn ông (Đức Giê-hô-va đã bắt lấy ta) và nhờ đó (v) ông bước vào mối thông công với Đức Chúa Trời (Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng) Rồi trong mối thông công đó (vi) Ngài cử ông làm tiên tri cho Y-sơ-ra-ên.

Tất cả các vị tiên tri nào có ghi lại biến cố Đức Chúa Trời kêu gọi mình thì họ đều cùng nhất trí với ông A-mốt về những điểm chính yếu:  Đức Chúa Trời chủ động (Es 6:1 Gie 1:5  Exe 1:1-28), sự thông công với Đức Chúa Trời (Es 6:6-8  Gie 1:6-16  Exe 2:1tt) và Đức Chúa Trời giao phó nhiệm vụ (Es 6:9  Gie 1:5b,10,17-19  Exe 2:3tt). 16-17  Ông A-mốt không phải đơn thuần là một người giảng đạo như ông A-ma-xia gán cho ông, lời ông giảng là lời của Chúa (xem dẫn nhập Bài tiên tri và lời bình giải 1:1) nên chớ nên coi thường gạt bỏ, bằng không thì lời lẽ đem đến sự cứu rỗi lại đem đến sự phán xét (17).  Trong trường hợp của ông A-ma-xia biện pháp hình phạt đem lại đau buồn và nhục nhã (vợ ngươi sẽ buông dâm), tang tóc cay đắng (sẽ ngã bởi gươm), còn bản thân ông không còn giá trị gì cả - Một thầy tế lễ (10) trong một đất ô uế (17).  Kết cuộc của ông A-ma-xia là một trường hợp điển hình về những người theo đạo mà không chịu ăn năn khi có lời kêu gọi cảnh báo của Đức Chúa Trời.

4. “Trong ngày đó” (Am 8:1-14)

Phần này là trọng tâm trong loạt bài tiên tri thứ ba (xem sơ lược nội dung).  Phần này mở đầu với một khải tượng đầy hình ảnh tượng trưng (1-2) được triển khai thành bốn sứ điệp bắt đầu với từ Trong ngày đó (3,9,13) và Những ngày sẽ đến (11).

(Am 8:1-2) Trái cây chínKết cuộc  Nhờ những chuyển biến tốt bên trong mà hoa màu đến kỳ đáng được thu hoạch.  Cũng vậy, sự phán xét của Đức Chúa Trời đến với dân sự khi họ đạt mức chín mùi, đáng phải xét xử. 2  Thời gian đã chín mùi hoặc đúng ra là “sự cuối cùng đã đến”.  Ông A-mốt trả lời với Chúa rằng ông thấy trái cây chín (Hi Bá Lai “qayis”), tiếp lời ông Đức Chúa Trời nói rằng “Sự cuối cùng” (Hi Bá Lai, qçs) đã đến.

(Am 8:3-8) Sứ điệp thứ nhấtGiải nghĩa sự cuối cùng 3  Tôn giáo của họ không giải cứu họ được:  Các bài ca trong tôn giáo đó sẽ hoà lẫn trong tiếng kêu khóc than vãn chung của dân sự.  Với bốn nét tàn bạo sắc bén ông A-mốt vẽ ra cảnh khủng khiếp tột độ trong ngày cuối cùng:  “Nhiều xác chết... mọi nơi... quăng ra... im lặng!”  Nhưng vì sao cảnh tượng ghê khiếp như vậy lại diễn ra?  4  Lý do tổng quát được nêu ra là: vì cớ người ta đã áp bức người không có cách nào tự bảo vệ hoặc không có cách nào tự ngóc đầu lên nổi.  Xem bình giải Am 2:6b về người nghèo nàn và Am 2:7c về người khốn cùng (bản NIV người bị áp bức).  Làm hao mòn (“khao khát”) hàm ý tham lam có chủ ý. 5-6  liệt kê chi tiết những hành vi trong câu 4:  Thắng lợi của động lực trục lợi (i) trên mọi nề nếp tin kính sùng đạo (5)  tánh chi li đúng ngày giờ  (Am 4:4) khiến họ chi li giữ lễ Trăng Mới là ngày mồng một trong tháng (Dan 28:11) và ngày Sa-bát  nhưng trong tâm hồn họ chỉ tính chuyện làm tiền  (ii) trên tánh chân thật trong khi buôn bán (5), giao cho khách hàng ít hàng hoá hơn (cân dối giả) nhưng đòi nhiều tiền hơn (nặng siếc lơ, giá cao) bằng cách cân thiếu, đo lường thiếu (iii) trên lòng nhân đạo - có lẽ bạc (6) là số tiền cho người nghèo vay (như trong Am 2:7a), còn dép là món hàng người nghèo mua trả góp.  Thâm tâm chủ tiệm hoặc chủ nợ tính rằng sẽ bắt người nghèo làm nô lệ khi họ không trả được nợ (IIVua 4:1).  Bán lép lừng tức là bán những hàng hoá không có giá trị và đáng bỏ đi mà thôi.  7-8  Hậu quả của tình trạng thao túng thương trường này là xã hội tan rã và tai hoạ được mô tả dưới dạng động đất lan tràn khắp nơi, bất ngờ và đầy kịch tính như thể những trận lụt của sông Ni-lơ (8).  7  Sự vinh hiển, ở đây dùng từ này với ý châm biếm.  Thông thường một lời thề cần dựa vào một cơ sở bền bỉ, không thay đổi.  Không có gì chóng vánh cho bằng sự vinh quang của một quốc gia, một dân tộc!  Đức Giê-hô-va không bao giờ quên một dân tộc đã cho phép lực lượng kinh tế nắm quyền thao túng quyết định.

(Am 8:9-10)  Sứ điệp thứ haiBóng tối khép dần, nỗi buồn đắng cay  Trong thực tế bóng tối này liên quan đến một vụ nhật thực đi kèm với một vụ động đất được ghi nhận vào tháng sáu năm 763 T.C., nhưng đây chỉ là những  sự kiện bên lề ý nghĩa đích thực: bóng tối vốn được dùng làm một trong những biện pháp hình phạt Ai Cập (Xu 10:21tt) giờ đây lại được dùng để biểu thị cơn giận của Đức Chúa Trời đối với dân sự phản loạn của chính mình Ngài.  Đã có lần người Ai Cập thương tiếc con trai đầu lòng của họ (12:30), giờ đây đến phiên Y-sơ-ra-ên khóc than đau xót không kém (10).  Bao gai hàm ý về sự khóc lóc với Đức Chúa Trời.  Nhưng đến lúc này thì ngay cả ăn năn thống hối cũng trở thành quá trễ rồi.

(Am 8:11-12)  Sứ điệp thứ baNạn đói thuộc linh  Ngày hoạn nạn phơi bày tình trạng  yếu hoặc mạnh của nội tâm.  Một cuộc sống được cung phụng toàn bằng “đường mật” của thế gian này sẽ sớm trơ trụi tới xương khi mọi loại “đường mật” biến mất.  Lúc đó người ta lâm vào cảnh đói khát lời của Đức Chúa Trời.  Nhưng tình hình thưởng phạt công bình của Đức Chúa Trời xem ra rất nghiêm trọng.  Lời của Ngài đã từng bị coi thường nay khiếm diện, vắng bóng.  Không còn chỗ cho sự ăn năn thống hối (10), cũng vậy họ không tìm được lời Đức Chúa Trời ở chỗ nào cả (12).  Không có lời được khải thị của Ngài thì con người ngược xuôi tìm kiếm, đi từ biển này qua biển khác, từ Biển Chết ở phía nam đến Địa Trung Hải ở phía tây, rồi đến phía bắc qua phía đông, quanh quẩn lòng vòng khắp nơi.  Nhưng họ sẽ không tìm được lời của Đức Giê-hô-va, vì trước tiên họ đã thờ ơ đối với lời của Ngài quá lâu rồi, nhưng thứ hai vì theo thâm tâm của người Y-sơ-ra-ên ở vương quốc phía bắc thì họ sẵn sàng đi bất cứ nơi nào ngoại trừ trở về Giê-ru-sa-lem là nơi Đức Chúa Trời vẫn chọn làm nơi ngự của Ngài (Am 1:2).  Dù lâm cảnh tuyệt vọng, người ta vẫn kiêu hãnh như thường!

(Am 8:13-14)  Sứ điệp thư Sự sụp đổ chung cuộc  Giới trẻ, niềm hy vọng của tương lai buộc phải trả nợ cho những tội lỗi mà cha ông đã phạm trong quá khứ.  Khi người ta không tin lời của Đức Chúa Trời họ sẽ tin bất cứ điều gì, và hình thức thờ phượng này sẽ níu kéo giới trẻ, thoạt đầu nắm tay họ để rồi bấu lấy cổ của họ cho đến chừng họ ngã xuống và không thể nào trở dậy được nữa.  14  Tội lỗi (xem lề NIV), IIVua 17:30 ghi về sự thờ hình tượng A-si-ma, tên riêng này dùng ở thể danh từ  ở đây có nghĩa là “can tội” và dĩ nhiên ông A-mốt nắm vững hai ý này:  “Cuộc thờ phượng A-si-ma chìm đắm trong tội lỗi” vì các hình thức thờ phượng không thể nào xử lý được “tội lỗi”, chỉ có huyết mà Đức Chúa Trời đã bị phải đổ ra mới có thể xử lý tội lỗi, trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước:  Thần của Bê-e-sê-ba (đường của Bê-e-sê-ba hoặc đường tới Bê-e-sê-ba), có lẽ chuyến hành hương đến Bê-e-sê-ba được tính là công quả thuộc linh cho người hành hương.

5. Sự hình phạt không thể tránh thoát (Am 9:1-6)

(Xem sơ lược nội dung).  Đích thân Đức Chúa Trời đứng điều khiển vụ phá huỷ đền miếu:  Từ trên mái nhà xuống nền nhà, mọi thứ, tất cả mọi người (1) chẳng ai có thể thoát được (1), trong cõi siêu nhiên (2), trong thế giới vật chất thọ tạo (3) hoặc khắp nơi trên địa cầu này (4).  Quyền cai trị trên toàn cõi vũ trụ này thuộc về Đức Chúa Trời (5-6):  Ngài có khả năng thực hiện điều Ngài đã đe doạ.  2  Các vực sâu của mồ mả (“đến âm phủ”), là nơi ở của người quá cố.  3  Con rắn là một quái vật ở dưới biển trong huyền thoại của ngoại giáo đương thời, xuất hiện trong tư thế lồng lộn chống nghịch Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo và chống lại mục đích của Ngài dành cho một thế giới ổn định.  Ông A-mốt vận dụng câu chuyện này qua hai ngã: (i) Trí tưởng tượng để tạo cơ sở cho lý luận, ông A-mốt giả sử là có thể leo lên đến tận trời (2) và như vậy là ông cũng giả sử có một con quái vật như thế, đợi sẵn để cắn xé và chận đường thoát.  Ngoài ra, quan trọng hơn ông A-mốt vận dụng câu chuyện này (ii) trong lãnh vực thần đạo: con thú mà người ngoại giáo cho là bất khả khắc phục của Đấng Tạo Hoá lại hoàn toàn nằm dưới quyền điều khiển của Đức Chúa Trời (Ta sẽ sai rắn) để thực hiện mục đích của Ngài!  Ông A-mốt buộc huyền thoại phục vụ lẽ thật:  Khả năng vô sở bất tại và vô sở bất năng của Đức Chúa Trời Đấng độc nhất vô nhị.

Quyền năng của Đức Chúa Trời được thi thố có hiệu quả ba chiều:  Chiều ngang (5):  Toàn bộ thế giới nằm trong tầm tay của Ngài.  Khi Ngài rờ đến thế giới không kháng cự chi cả chỉ tan chảy ra mà thôi tất cả dân cư trên địa cầu đều than khóc, vì đất không còn ổn định nữa, nhưng trồi lên hạ xuống như sông Ni-lơ.  (ii) Chiều thẳng đứng (6):  Các từng trời dù cao vời vợi vô phương với tới, vẫn chỉ là cái cầu thang của Ngài mà thôi (sát ý hơn là lâu đài, dù không dám quả quyết), tại đó Ngài di chuyển tự do hoàn toàn với quyền hạn tối thượng của Ngài hoặc theo một quan điểm khác, các từng trời là “phòng ngự” có trần hình vòm cung của Ngài, giương vòm trên địa cầu và “neo vững” địa cầu (có thể liên hệ với từ được chuyển ngữ là nền).  (iii) Về mặt năng lực: “những năng lực” như năng lực của nước biển (6) đều phải tuân theo sự điều động của Ngài.

6. Sự phán xét có phân biệt (Am 9:7-10)

(So sánh mấy câu tương ứng trong Am 7:7-9 và xem Sơ lược Nội dung).  Cuộc phán xét bằng dây giọi sẽ diễn ra như vầy:  Trước mặt Đức Chúa Trời không có địa vị nào được xem là ưu đãi cả (7).  Trong phương diện đạo đức không ai tự dưng được miễn trừ khỏi tầm quan sát xét xử của Đức Chúa Trời (8).  Ở đâu có tội lỗi ở đó có xét xử và hình phạt.  Dầu vậy việc này được thực hiện có phân biệt nên nhà Gia-cốp sẽ không bị tận diệt nhưng sẽ bị tỉa sửa (8-10) rồi bất khiết sẽ bị gom lại loại trừ ra.  Có thể trình bày các câu Kinh Thánh này theo trật tự dưới đây:

(a1)   c.7  Sự tự thị tự mãn không có cơ sở

(b1)   c.8a-d  Không sao tránh né khỏi sự hình phạt tội lỗi

(b2)   c.8c-9  Bản chất hình phạt có phân biệt

(a2)   c.10  Số phận của người tự thị tự mãn

7  Mới đọc qua chúng ta thấy như thể đây là một lời xác quyết của ông A-mốt về niềm tin nơi độc thần:  Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất và mọi cử động, cùng mọi vụ di trú của loài người cũng đều là việc làm của Ngài.  Y-sơ-ra-ên đến từ Ai Cập, dân Phi-li-tin đến từ Cáp-tô, dân A-ram đến từ Ki-rơ và (hẳn là ông A-mốt bằng lòng cho chúng ta nói thêm) mọi vụ di cư của các dân tộc, dù bị bó buộc hoặc tự phát tự nguyện, đã diễn ra từ thời trước hoặc sẽ xảy ra sau này đều là theo lệnh truyền của Đức Chúa Trời cả.  thật vậy, Ngài là Đức Chúa Trời của lịch sử.  Nói như vậy là rất chí lý nhưng đây chưa phải là cốt lõi của câu Kinh Thánh này.  Có lẽ tất cả thính giả của ông A-mốt đều nhất trí với mọi điều ông giảng nãy giờ, nhưng hẳn là họ kinh ngạc lắm khi ông xác định rằng: đối với Ta người Y-sơ-ra-ên cũng như người Cúc!  Chẳng phải là ông A-mốt chối bỏ vị trí đặc biệt của người Y-sơ-ra-ên.  Ông đã xáx định trong 3:2 và cũng xác định trong câu 8-10.  Nhưng điều ông muốn dạy họ là:  dân Y-sơ-ra-ên liên hệ đặc quyền của họ - đặc quyền làm dân sự của Đức Chúa Trời - với một mốc thời gian và một sự kiện trong quá khứ.  Đó là cuộc xuất hành nhưng nếu thuần tuý xét về mốc thời gian và sự kiện trong dòng lịch sử thì cuộc xuất hành của họ không có gì khác cuộc di trú của dân Phi-li-tin và dân A-ram.

Một bài ca nổi tiếng thời 1950, nay vẫn còn phổ biến trong mùa Giáng sinh có một câu như sau:  “Nhờ có ngày Giáng sinh con người sẽ sống mãi mãi” làm như mốc thời gian đó và biến cố xảy ra trong quá khứ đó là chìa khoá mở vào cõi sống đời đời.  Tất nhiên, không có ngày Chúa giáng sinh thì không thể nào có sự cứu rỗi, nhưng mốc thời gian không có năng quyền giải cứu ai cả.  Mọi chuyện tuỳ thuộc vào những việc diễn ra sau đó, nhất là đặc biệt tuỳ thuộc vào cá nhân từng người có hưởng ứng tiếp nhận Đấng Cứu chuộc đã giáng sanh hay không, và đời sống sau đó của đương sự có thể hiện những sự thay đổi trong lãnh vực đạo đức để chứng thực cho sự hưởng ứng tiếp nhận Chúa hay không.  Cũng vậy, cuộc xuất hành của dân Y-sơ-ra-ên cũng không có gì đặc biệt, tương tự như cuộc di trú của dân Cúc vậy thôi, trừ phi họ hưởng ứng ân sủng cứu rỗi của Đức Chúa Trời bằng cách quyết tâm gắn bó với đời sống thánh khiết trong tinh thần vâng phục.  Đức Chúa Trời không xét đến những mốc thời gian trong quá khứ nhưng Ngài xét xem hiện tại đương sự có sống thánh khiết và ghê tởm tội lỗi để chứng thực cho mốc thời gian đó hay không.

Dân Cúc chiếm cứ vùng lãnh thổ từ Ạt-van ở phía nam đến Cạc-tum, là vùng xa xăm nhất của thế giới thời Cựu Ước.  Dân Phi-li-tin đến từ Cáp-tô (Cơ-rết) di cư từ vùng Ê-ghê và định cư dọc vùng duyên hải Pa-lét-tin.  Về Ki-rơ xin xem chương 1:5. 8  Chắc chắn (“Hãy xem”, hoặc “Hãy xem xét vấn đề về phương diện này”), điều mà Đức Chúa Trời xem thấy không phải là một mốc thời gian trong lịch sử mà là phẩm chất đạo đức nơi những người xưng mình là dân của Ngài và hễ ở đâu chỉ tự mãn ỷ lại vào thời gian trong quá khứ mà hiện tại hoàn toàn không quan tâm tránh xa tội lỗi và đeo đuổi sự thánh khiết thì ở đó chỉ có thể đón chờ sự hình phạt đáng sợ (He 10:26tt). 8-9  Dầu vậy, là từ diễn tả một ý rất mạnh.  Kemel (nghĩa đen, cục đá) chỉ được dùng ở một chỗ khác trong Kinh Thánh là IISa 17:13.  Bản NIV gợi y rằng có lẽ “cục đá” chuyển tải ý “hạt lúa chắt”.  Nhưng duy nhất chỉ có bản NIV chủ trương như vậy.  Dù sao, chuyển ngữ theo hướng này sẽ mâu thuẫn với việc sàng sảy.  Khi sảy thì phần rơm rác, trấu... vô dụng bay đi hoặc rơi rớt trên cái mẹt, cái sàng chỉ còn lại hạt lúa hạt gạo.  Ở đây ông A-mốt dùng hình ảnh này để minh hoạ việc sàng sảy đất để loại bỏ đá.  Vì trung thành với ý nghĩa của khải tượng về sợi dây giọi (Am 7:7-9) nên ông tiếp tục chủ trương tính cách phân loại, phân biệt người đáng bị hình phạt, người không bị hình phạt khi Đức Chúa Trời phán xử.  Những ai không thuộc về dân sự của Đức Chúa Trời sẽ không tiếp tục tồn tại với dân của Ngài đồng thời mảnh đất này cũng bị sàng sảy để loại bỏ đá, không miễn trừ chỗ nào cả.

10  Nhưng “những cục đá” đó là ai mà phải loại bỏ?  Không riêng gì những kẻ tội lỗi trong dân ta mà luôn cả một thành phần đặc biệt bị xem là có tội: những người tỏ ra tự thị tự mãn khi đối diện với sự phán xét của Đức Chúa Trời, những người cho rằng chấp nhận phạm tội là điều cuộc sống cho phép bất kể sự hình phạt của Đức Chúa Trời trong tương lai.  Hoạn nạn sẽ không gần chúng ta, cũng không bắt kịp chúng ta tức là trong quá khứ chúng ta không bị hoạn nạn, trong tương lai cũng không phải đối diện với hoạn nạn, cứ như thể họ tự hào rằng:  “Trong quá khứ chúng ta không có gì đáng bị hình phạt, trong tương lai cũng vậy thôi”.  Đây không phải là lối nói của những người (đạt yêu cầu trong cuộc kiểm tra bằng dây giọi trong Am 7:7-9) xây dựng cuộc đời của mình trên cơ sở ân sủng với hàng rào thẳng tắp là luật pháp, mà là giọng điệu của những người tự thị tự mãn, không e dè gì cả trong một thế giới giả tạo.  Nói như vậy không có nghĩa là sự cứu rỗi có vẻ bấp bênh khó thực hiện đối với chúng ta cũng như đối với ông A-mốt.  Trái lại điều này nhắc nhở chúng ta rằng nơi nền của nhà Đức Chúa Trời có dấu ấn kép:  “Chúa biết người thuộc về Ngài” (IITi 2:19) (như vậy sự cứu rỗi của chúng ta được bảo đảm bởi ý muốn bất di bất dịch của Đức Chúa Trời là Đấng đã chọn chúng ta cho Ngài) và “Những ai xưng nhận danh của Chúa hãy tránh khỏi tội lỗi” (IIPhi 1:5-11) (Sự quyết tâm về mặt đạo đức là bằng cớ cho địa vị được chọn).

7. Niềm hy vọng trong tương lai (Am 9:11-15)

Đến lúc ông A-mốt kết thúc những bài giảng trong đợt ba (xem Sơ lược Nội dung).  Bài mở đầu trong đợt này mô tả việc Đức Chúa Trời rút lại ý định huỷ diệt toàn bộ dân sự (Am 7:1-6) và giờ đây kết thúc với bài giảng xác định những lời hứa sáng sủa cho tương lai.  Những lời hứa này thuộc ba lãnh vực:  Đất nước (11-12), hoa lợi trong thiên nhiên (13) và dân sự, cá nhân con người (14-15).

(Am 9:11-12)  Những lời hứa về đất nước  Thật ra, khi các chi phái Y-sơ-ra-ên ở phía bắc tách ra, lập vương quốc riêng thì trại của Đa-vít phần nào đã sập (IVua 12:1-33).  Có lẽ ông A-mốt liên tưởng đến biến cố đó và nói tiên tri về tương lai thống nhất dân tộc là dân của Đức Chúa Trời dưới quyền cai trị của Đa-vít “tương lai” (Exe 4:23  Os 3:4-5  Lu 1:32).  Hoặc giả như ông thừa biết rằng Giê-ru-sa-lem sẽ bị diệt vong (Am 2:5) nên có lẽ ông hình dung cho tới chung cuộc của những mảnh vụn của cái trại Đa-vít như thể biến cố đã xảy ra.  Hoặc giả, vì cớ từ đã đổ có thể chuyển ngữ là “đổ” hoặc “sắp đổ” nên có lẽ ông muốn nói đến sự phân hoá mà ông đã thấy trước và chung cuộc là sự sụp đổ của Giu-đa.  Dầu sao, khải tượng này được thành tựu trong thời kỳ của Đấng Mê-si.  Hào quang định liệu cho đất nước này từ thuở đầu sẽ được phục hồi (so sánh Es 1:26-27) và đế quốc bao gồm toàn thế giới đã từng hứa ban cho Đa-vít sẽ được hình thành (Thi 2:7tt  72:8-11  110:5-7  Es 9:7  11:4-10).

12  Ê-đôm bị lên án (Am 1:11) về thái độ thù địch dai dẳng đối với Y-sơ-ra-ên, chi tiết này phù hợp với những điều Kinh Thánh chép về mối quan hệ giữa Ê-đôm và dân sự của Đức Chúa Trời kể từ Sa 27:41 đến Dan 20:14 trở đi.  Vì vậy, dẫn đến việc sử dụng từ “Ê-đôm”để biểu thị thái độ thù địch của thế gian đối với Đức Chúa Trời và đối với dân của Ngài trong thời cuối cùng của lịch sử.  Hơn nữa, duy nhất chỉ một mình vua Đa-vít đã chinh phục được Ê-đôm và áp đặt quyền cai trị của mình (IISa 8:14) nên Ê-đôm tiêu biểu cho sự thất bại của tất cả lực lượng chống nghịch sự xuất hiện của “Đa-vít, Đấng Mê-si” và quyền cai trị của Ngài trên toàn thế gian (Es 34:1-17  63:1-6  Exe 35:1-10).  Ông A-mốt nêu Ê-đôm ra cũng nhằm khẳng định rằng khi quyền cai trị của “Đa-vít, Đấng Mê-si” trở thành hiện thực thì mọi lực lượng địch thù sẽ chấm dứt và thế giới sẽ thống nhất trong tinh thần mới.

Được xưng bởi danh Ta, ‘qua họ Danh ta được công bố ra’.  Cụm từ này chuyển tải ý niệm về quyền cai trị của vua (IISa 12:28) lẫn ý niệm về sự hiệp một trong hôn nhân (Es 4:1).  Chắc chắn vị vua xuất hiện trong tương lai sẽ khẳng định quyền cai trị tối cao của Ngài và các dân ngoại bang sẽ công nhận điều đó, rồi họ trở nên một phần tử trong tập thể “cô dâu” của Đấng Cứu Thế chớ không phải là thành phần tôi tớ hoặc công dân thứ yếu đâu.  Ông Gia-cơ có lý khi nhận định rằng (Cong 15:15) lời tiên tri này được thành tựu qua công cuộc truyền giáo và rao giảng Tin lành.  Công cuộc phổ biến Phúc Âm của Cứu Chúa Giê-xu cho phép dân ngoại bang bị cách biệt xưa kia được trở về với Đức Chúa Trời, vì ngay cả trong phạm vi Kinh Thánh Cựu Ước vương quốc của Đấng Mê-si là một vương quốc đem lại sự hoà bình (Es 9:7) chớ không phải gây ra chiến tranh.  Đương nhiên vì Đấng Mê-si được ví với một ông vua nên trong bức tranh minh hoạ này Ngài hành động theo phong cách một vị vua và bành trướng vương quốc bằng vũ lực (Es 11:1-16  14:1-32).  Tuy nhiên, đây chỉ là một hình ảnh ví von mà thôi, còn dân của Đức Chúa Trời sử dụng gươm hai lưỡi tức là những lẽ thật về Đức Chúa Trời của mình để chinh phục mọi người (Thi 149:6-8).

(Am 9:13)  Những lời hứa về hoa lợi trong thiên nhiên  Ông A-mốt mường tượng trước ngành nông nghiệp thịnh vượng đến độ đang mùa thu hoạch mà nông dân đã chuẩn bị cho mùa kế tiếp , nho đang thu hoạch chờ ép làm rượu mà người ta đã lo gieo giống.  Đầu mối cho phép hiểu tình hình này là như sau:  Khi loài người phạm tội thế giới vật chất thọ tạo chịu hậu quả nặng nề.  Thay vì cung ứng cho A-đam và vợ của ông dư dật lương thực thì vườn Ê-đen tỏ ra miễn cưỡng hạn chế trong việc đơm hoa kết quả, con người phải vất vả lao động để ép buộc đất đai sản xuất lương thực cho mình (Sa 3:17-19).  Trong thời kỳ cai trị của Đấng Mê-si, sức lao động được đền đáp dồi dào quá sức tưởng tượng như thể đất đai không còn bị rủa sả nữa.  Ông A-đam được phép ăn trái cây của tất cả các loại cây trong vườn Ê-đen ngoại trừ một cây (2:16-17) tức là có hàm ý rằng ông là vua ở Ê-đen (1:28), là người kế thừa và là chủ của mọi sản vật phong phú.  Nhưng khi tội lỗi xen vào thiên nhiên như bị vắt cạn nguồn hoa lợi dồi dào, chỉ còn cung ứng nhỏ giọt sau khi con người lao động cực nhọc.  Tuy nhiên, sau khi vị vua hợp pháp trở về Ê-đen (Es 11:6-9) tất cả mọi năng lực của sự sống bị hạn chế trong khi tội lỗi hoành hành và sự chết ngự trị, sẽ liên tục bừng lên như thể tự thân thiên nhiên muốn vội vã đem dâng nộp cống cho vị vua có quyền cai trị cách hợp pháp.

(Am 9:14-15)  Những lời hứa dành cho từng người dân  Đem phu tù của Ta trở về, chuyển ngữ như thế có lẽ ngụ ý đây là một lời tiên báo về cuộc hồi hương từ Ba-by-lôn.  Để tránh sự hiểu lầm này, có thể chuyển ngữ là “đem trở về từ cảnh bị đoạ đày” (với ý bao quát như Thi 126:1-6, tức là dân của Đức Chúa Trời được thoát khỏi mọi tình cảnh đang giới hạn, ràng buộc, áp bức họ).  Tuy nhiên, “khôi phục tài sản” (lề bản NIV) là chuyện khả thi và phù hợp với văn cảnh của sách A-mốt.  Đức Chúa Trời sẽ gom dân của Ngài (Mac 13:27  Kh 14:14-16) và đúng như khi dùng hình ảnh vương tước để ví von thì phương cách bành trướng vương quốc là vũ lực nên ở đây mô tả việc dân được gom về chiếm cứ đất đai và tái thiết nhà cửa qua ba cảnh:  (i) Khôi phục: những gì đã mất mát, hư hỏng hoặc điêu tàn thì chỉnh đốn lại, khôi phục lại, không bỏ sót một thứ gì mà tội lỗi đã làm hư hoại.  (ii) Thụ hưởng cách vui thú và toại nguyện: vất vả trồng cây mà không được ăn trái tiêu biểu cho sự thất vọng và thất bại mà tội lỗi đưa vào cuộc sống (Phu 28:30  So 1:13).  (iii) Sự an ninh đời đời.  Lời cuối của ông A-mốt đóng ấn của Đức Chúa Trời vào những lời hứa này:  Giê-hô-va là Đức Chúa Trời các ngươi phán vậy. Đức Chúa Trời của thời xuất hành với bản thể bất di bất dịch (Xu 3:15) là Đấng giải cứu dân của Ngài.  Các ngươi (đúng ra là một đại danh số ít) nói về dân sự của Đức Chúa Trời trong tư cách một tập thể và tư cách từng cá nhân.  Câu này có nghĩa là không phải “do các ngươi chọn lựa” nhưng “là Đấng đã tự ý cam kết, ràng buộc chính mình Ngài với các ngươi” (Phu 7:7tt  Exe 20:5tt  Gi 15:16  Eph 1:4,11).  Phán nghĩa đen (ở thì quá khứ hoàn thành) “đã phán”.  Tất cả những lời hứa về Đấng Mê-si - vị vua hợp pháp - về thiên nhiên mới mẻ, về dân sự hoàn hảo, đều được xác quyết với cùng một câu bảo đảm:  “Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã quyết tâm định ý làm thành những việc này.”

Lên đầu trang