ITI-MÔ-THÊ
1. PHAO-LÔ VÀ TI-MÔ-THÊ (ITi 1:1-20)
1. Lời chào thăm (ITi 1:1-20)
Cũng như trong các bức thư khác của ông, Phao-lô bắt đầu bằng một lời đề cập về chức sứ đồ của mình. Ông thiết lập uy quyền của mình bằng cách đề cập việc ông đã được Đức Chúa Trời đặc biệt kêu gọi. Phao-lô đã không tự bổ nhiệm mình, cho nên ông đã không viết về uy quyền riêng của mình. Ông tự biết mình là một sứ đồ của Đức Chúa Giê-xu Christ, sử dụng một hình thức diễn tả nhấn mạnh rằng Chúa Giê-xu chính là Đấng Cứu Thế, nghĩa là Đấng Mết-si-a. Ông cũng diễn tả thật mạnh mẽ phần của Đức Chúa Trời qua cụm từ, vâng mạng Đức Chúa Trời, chứng tỏ Phao-lô là một người thừa hành. Hãy chú ý đến cách Phao-lô đã đề cập Đức Chúa Trời là Cứu Chúa, vốn cũng là một tư tưởng xuất hiện trong các bức thư riêng tư này. Việc mô tả Ti-mô-thê là con thật của ta trong đức tin cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa hai nhân vật và cũng gợi ý rằng ấy là nhờ Phao-lô mà Ti-mô-thê đã trở thành Cơ Đốc nhân. Việc liên kết ân điển với sự bình an trong phần mở đầu các bức thư của Phao-lô là bình thường nhưng ở đây ông kể đến sự thương xót nữa (cũng như trong IITi-mô-thê). Phao-lô đề cập đến Đức Chúa Trời là Cha (vốn là điều rất quen thuộc trong các bức thư khác của ông) và Chúa Giê-xu là Chúa, là âm vang của lời lẽ trong một bài tín điều Cơ Đốc đầu tiên (Ro 10:9).
2. Phúc Âm và những điều giả mạo nó (ITi 1:3-11)
(ITi 1:3-7) Trước hết, Phao-lô nhắc nhở Ti-mô-thê về cơ hội lúc ông để Ti-mô-thê lại Ê-phê-sô với một nhiệm vụ đặc biệt liên quan đến việc truyền dạy nhiều người khác đừng dạy tà giáo. Nhiều tà giáo đã lưu hành vào giai đoạn ban đầu trong sinh hoạt của Hội Thánh, và đây là một lời nhắc nhở rằng vào mọi thời đại, chân lý đều bị những điều giả mạo thách thức. Phao-lô đã nói rất nhiều điều về tà thuyết trong bức thư này và bức thư gởi cho Tít. Trong khi các tà thuyết này vốn là đặc thù cho thời kỳ đó, chúng vẫn mang một số nguyên tắc phù hợp cho bối cảnh hiện tại trong vấn đề đối phó với một vài loại tà giáo. Cho dù các phù ngôn và gia phổ vô cùng (4) có nghĩa gì đi chăng nữa, rõ ràng là Phao-lô đã xem chúng chính là những điều chống lại với nội dung nghiêm túc của Phúc Âm. Dựa vào chi tiết trong Tit 1:14 khi Phao-lô đề cập “truyện huyễn của người Giu-đa”, rất có thể là ông đang nghĩ đến các thần thoại trong sử ký, như trong sách của Jubilees của người Do Thái. Xin lưu ý nét tương phản giữa những sự cãi lẫy với công việc của Đức Chúa Trời. Tà giáo chẳng đem đến lợi lộc chi cả vì nó vốn trái ngược với đức tin chân chính. Phao-lô lưu ý đến một vài đặc điểm của số người đang tuyên truyền tà tuyết này: họ vốn thiếu ý thức và không đủ tư cách làm giáo sư (6-7). Điểm đáng chú ý hơn là lời truyền dạy không phù hợp của họ. Đặt vào trung tâm của khúc sách này (5), chúng ta thấy là lời phát biểu của Phao-lô về tính chất nhiệm vụ của Ti-mô-thê (để tạo tình yêu thương) và lời khuyên của ông về vấn đề nuôi dưỡng nó (sự thuần khiết, một lương tâm tốt và đức tin). Trắc nghiệm về một cuộc thảo luận lành mạnh không phải là chúng tathích thú với một cuộc đấu khẩu, mà là đề cao sự hiểu biết, tình yêu thương lẫn nhau, sự chân thành, cởi mở, và hiển nhiên, cuộc trò chuyện cũng cần được đặt trên cơ sở đức tin.
(ITi 1:8-11) Trong câu 7, Phao-lô đề cập các giáo sư này muốn làm thầy dạy luật, và điều này khiến ông phải thảo luận về tính chất và chủ đích của luật pháp. Ở đây (cũng như trong Ro 7:12), Phao-lô thừa nhận rằng luật pháp là tốt, tuy ở chỗ khác ông vạch rõ rằng nó không thể dẫn đến sự cứu rỗi. Chức năng chủ yếu của luật pháp là kết án những kẻ trái luật pháp (9-11). Mặt tiêu cực của luật pháp nổi bật hơn hết. Những loại người vi phạm khác nhau được đề cập đều là những kẻ mà luật pháp có thể thi hành đối với họ, vì họ đã phạm một số tội đặc thù. Phao-lô nêu ra một số thí dụ cực đoan, nhưng ít ra cũng chẳng có ai phủ nhận được luận điểm của ông rằng tất cả những vi phạm này là trái nghịch với đạo lành.
Tuy luật pháp đã bị Phúc Âm thay thế, Phao-lô không phủ nhận là nó vẫn còn tiếp tục hoạt động. Ông đưa ra một định nghĩa tích cực về đạo lành là phù hợp với đạo Tin Lành vinh hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước (11). Câu này có nghĩa hoặc là trong Phúc Âm gồm có một chủ đề về sự vinh hiển, hoặc nó được hổ trợ bởi một Đức Chúa Trời vinh hiển. Sự nhấn mạnh ở đây dường như nhằm vào Đức Chúa Trời hơn là vào Phúc Âm, nhưng nguồn gốc của Phúc Âm vốn từ Đức Chúa Trời là điều không thể chối cãi gì được. Nó hoàn toàn phù hợp với quan điểm về Phúc Âm của Phao-lô trong các bức thư khác của ông.
3. Từng trải cá nhân của Phao-lô về Chúa Cứu Thế (ITi 1:12-17)
Phao-lô muốn Ti-mô-thê biết ông đánh giá cao việc ông đã được kêu gọi để phục vụ Chúa Cứu Thế như thế nào. Điều này chắc sẽ là một khích lệ đối với Ti-mô-thê. Các bức thư của Phao-lô đầy dẫy những lời ông buột miệng thốt ra nhằm ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời. Lời tạ ơn này hoàn toàn mang tính tự phát. Đây là một nhận thức về lòng thương xót của Đức Chúa Trời tương phản với bối cảnh của quá khứ. Từng là một kẻ lộng ngôn và hung dữ, Phao-lô vui mừng vì Đức Chúa Trời đã chọn ông để hầu việc Ngài (12-13). Sách Công Vụ Các Sứ Đồ cung cấp phần bình giải cho sự việc ở đây, vì nó mô tả cuộc bắt bớ các Cơ Đốc nhân một cách tàn bạo của Phao-lô xảy ra trước sự quy đạo đầy kịch tính của ông (Cong 8:1-9:43). Ông chẳng bao giờ quên phép lạ về việc Đức Chúa Trời đã chọn ông. Từ được dùng để chỉ kẻ giúp việc ở đây rất bao quát và phủ trùm nhiều phương diện công tác của vị sứ đồ. Ký ức về những gì ông đã làm do ngu muội và chưa tin (vô tín) đã làm nâng cao ý thức của ông về lòng thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời. Điều khiến ông kinh ngạc là sự dư dật của lòng thương xót đó. Nó nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời không hề giữ lại quá khứ của chúng ta để chống lại chúng ta một khi chúng ta đã ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ.
Một số người thấy khó hiểu việc Phao-lô lại đến lời chắc chắn ở đây (15), vì ông không dùng nhóm từ này ngoài các giám mục thư. Tuy nhiên, ở đây cũng không có gì khác với lời dạy của ông ở chỗ khác. Sự kiện Đức Chúa Giê-xu Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội là trung tâm của Phúc Âm. Nhưng khi Phao-lô tự đề cập chính ông là kẻ làm đầu (16) các tội nhân thì liệu ông có đang nói quá hay không? Thiết tưởng chẳng cần chi phải nghĩ như thế, căn cứ vào lời đề cập trước đây về việc ông từng bắt bớ bách hại Hội Thánh rất dữ dội. Việc ông tán thưởng lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời càng được đào sâu hơn bởi chính từng trải của ông với tư cách kẻ bắt bớ bách hại những người thuộc về Đức Chúa Trời. Những ai ý thức được nhiều nhất việc trước đây họ từng chống lại Đức Chúa Trời thường là những người lớn tiếng nhất nói ra sự hiểu biết của họ về sự nhịn nhục vô hạn của Ngài. Những người như thế trở thành những người phô trương những gì Đức Chúa Trời có thể làm. Vị sứ đồ vẫn không thể nhận thức đầy đủ trọn vẹn lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời đối với ông cũng sẽ đưa nhiều người khác nữa đến đức tin nơi Chúa Cứu Thế, nhưng ông muốn trình bày một cái nhìn thoáng qua về vấn đề ấy. Lời chắc chắn vẫn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy như một câu tóm tắt ngắn gọn về mũi nhọn chủ yếu của Phúc Âm.
Bài tán ca đột ngột trong câu 17 rất đáng lưu ý: vì nó có nhiều nét đặc trưng đầy ý nghĩa. Chỉ có ở đây Phao-lô mới gọi Đức Chúa Trời là Vua muôn đời (nguyên văn “Vua của các thời đại”). Nhóm từ này có thể nảy sinh từ ý niệm của người Do Thái về hai thời đại – thời hiện tại và thời hầu đến. Các tính từ khác đã được sử dụng là không hề hư nát và không thấy được khiến người ta chú ý đến tính chất được tôn cao của Đức Chúa Trời, còn phần mô tả có một mà thôi chỉ tính độc nhất vô nhị của Ngài.
4. Một uỷ thác và một lời cảnh cáo Ti-mô-thê (ITi 1:18-20)
Bây giờ Phao-lô có một lời nói riêng với Ti-mô-thê, được mô tả là sự răn bảo. Từ được dùng mang ý nghĩa về tính cấp bách và nằm trong một văn cảnh của một ẩn dụ mang tính quân sự. Nhưng các lời tiên tri đã chỉ về Ti-mô-thê là gì? Chắc hẳn câu này ám chỉ những lời tiên đoán liên hệ đến Ti-mô-thê trước khi ông được gọi vào chức vụ, có lẽ đã được nói cho ông lúc ông được sai phái. Rõ ràng là chức vụ của Ti-mô-thê đã được sự hậu thuẫn của các Cơ Đốc nhân khác ngoài chính Phao-lô. Lối ẩn dụ đánh trận tốt lành cũng giống như trong nhiều bức thư khác (Eph 6:10-18) và cũng có một âm vang khác trong IITi 4:7. Phao-lô vốn biết rằng đời sống Cơ Đốc nhân là một trận chiến thuộc linh. Về đức tin và lương tâm tốt (19), tham khảo câu 5.
Sự thay đổi từ hình ảnh một trận đánh sang hình ảnh một nạn đắm tàu (19-20) rất gây ấn tượng. Trường hợp của hai người được đề cập ở đây thật đáng buồn, vì nguyên nhân gây cho tàu chìm là do dứt khoát chối bỏ đức tin. Nhưng Phao-lô ngụ ý gì khi bảo rằng ông đã phó họ cho quỉ Sa-tan? Phải nhìn nhận rằng đây là một điều khó hiểu, nhưng giải pháp tốt nhất dường như là nên xem Hội Thánh là lãnh địa của Đức Chúa Trời và thế gian vô tín là lãnh địa của Sa-tan. Những ai không chịu tin là đánh mất mọi quyền lợi được ở lại trong cộng đồng Cơ Đốc. Nhưng Phao-lô vẫn mở ngỏ cửa cho họ nếu họ học biết đừng phạm thượng nữa. Một số người xem cách nói bóng gió này có nghĩa là sự giáng tai hoạ thuộc thể như những trường hợp tương tự trong Cong 5:1-11 và ICo 11:30. Nhưng tốt hơn là nên nghĩ đến sự sửa trị về đạo đức hay thuộc linh cho trường hợp ở đây. Phao-lô nói đến vấn đề tương tự này 15:1-58. Kỷ luật của Hội Thánh ngày nay chẳng có chút gì giống nhau. Một số các cấp lãnh đạo Hội Thánh có lẽ quá độc đoán trong khi những vị khác dường như chẳng thi hành kỷ luật gì cả. Phao-lô nhấn mạnh đến trách nhiệm của Hội Thánh đối với các thành viên lầm lạc của mình, cũng là đối với ích lợi chung cho cả toàn thể Hội Thánh.
2. SỰ THỜ PHƯỢNG VÀ VỊ TRÍ CỦA PHỤ NỮ (ITi 2:1-15)
chapter=1. Sự thờ phượng công cộng (ITi 2:1-8)
Ở đây Phao-lô quan tâm đến vấn đề phải có cách thờ phượng công cộng phải lẽ, nhất là vấn đề cầu nguyện trước công chúng. Ông dùng một số từ ngữ để định nghĩa việc cầu nguyện (1) nhưng không có gì khác nhau nhiều giữa các từ đó. Có hai nhận xét nổi bật là việc đưa vào lời cảm tạ và phạm vi rộng lớn của vấn đề này ở đây. Phao-lô không những muốn kể đến mọi người, mà còn lưu ý đặc biệt đến những người đang cầm quyền nữa (2). Điều có ý nghĩa ở đây là Phao-lô không phân biệt các nhà cầm quyền công bằng với các nhà cầm quyền bất công. Ông nhận thấy nhiệm vụ của một Cơ Đốc nhân là phải cầu nguyện cho những người mà hành động của họ có ảnh hưởng đến tất cả các công dân. Nhưng chủ đích của việc cầu nguyện là để cho các Cơ Đốc nhân có thể lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn (2). Tuy nhiên, có nhiều trường hợp mà môi trường chẳng có gì là êm ả nhưng lại là nơi sự nhơn đức vẫn phát triển mạnh mẽ bất chấp môi trường xung quanh.
Nhưng có một lời cảm thán bất ngờ trong câu 3-7, trong đó Phao-lô đưa ra một nhận định thần học. Thoạt nhìn thì mối liên hệ giữa việc cầu nguyện cho mọi người và việc Đức Chúa Trời muốn cho mọi người đều được cứu rỗi dường như không được rõ ràng, ngoại trừ từ ngữ mọi người trong câu 1 có vẻ như có liên hệ đến từ mọi người trong câu 4.. Nhưng phải chăng nhận định này hậu thuẫn cho thuyết phổ quát ? Ta có thể lý luận rằng hễ điều gì Đức Chúa Trời muốn thì chắc chắn phải ứng nghiệm. Nhưng quan trọng là nên nhớ rằng cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều đề cập “ý muốn” hay “ý chỉ” Đức Chúa Trời theo nhiều cách rất khác nhau, do văn cảnh quyết định. Nhiều khi “ý chỉ” của Đức Chúa Trời không thể phân biệt được với phán quyết của Ngài: điều Ngài muốn xảy ra, thì nó xảy ra. Ở những lần khác, “ý chỉ” Đức Chúa Trời là lệnh truyền của Ngài (ITe 4:3). Có nhiều lần khác nữa, nó chỉ về lập trường của Ngài. Đức Chúa Trời Đấng phán rằng “Ta không vui về sự chết của ai cả đâu, vậy các ngươi hãy xây lại mà được sống!” (Exe 18:32) cũng chính là Đấng mà có lời chép rằng Ngài muốn cho tất cả mọi người đều được cứu và hiểu biết chân lý.
Lẽ dĩ nhiên là có thể sắp xếp những nhận định này theo một loại mâu thuẫn nhau. Thật vậy, chúng vốn là một phần bức tranh nhất quán của Thánh Kinh, trong đó Đức Chúa Trời được bày tỏ là Đấng tối cao đồng thời cũng là Đấng có bản thể. Đặt quyền tể trị của Đức Chúa Trời tương phản với mối tương giao riêng tư của Ngài đối với chúng ta, vốn là những kẻ mang hình tượng của Ngài, tức là phá huỷ chân dung của Đức Chúa Trời theo Thánh Kinh. Trong văn cảnh của ITi 2:1-13 Phao-lô muốn nhấn mạnh đến lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời đối với tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, địa vị hay hoàn cảnh. Có lẽ Phao-lô đang muốn đánh đổ cái xu hướng theo chủ nghĩa tinh tuý cố tìm cách hạn chế không phải lẽ lòng nhân từ của Đức Chúa Trời. Cho dù Phao-lô hay các trước giả Tân Ước khác có nói gì đi chăng nữa về vấn đề tuyển chọn, chắc chắn rằng sự truyền giảng ban đầu của Cơ Đốc giáo vẫn là Đức Chúa Trời muốn cho tất cả mọi người đều đạt đến chỗ hiểu biết chân lý.
Một nhận định thứ hai có tính thần học là câu tiếp ngay sau đó (5-6). Phần đầu nhấn mạnh sự hợp nhất của Đức Chúa Trời sao cho được sự hậu thuẫn của cả người Do Thái lẫn các Cơ Đốc nhân. Nhưng nhận định thứ hai đặc biệt mang tính Cơ Đốc giáo khi lôi kéo sự chú ý vào công tác trung gian độc nhất vô nhị của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ý niệm về Đấng Trung Bảo không nổi bật trong Phao-lô, nhưng nó lại đi đầu trong bức thư gởi cho người Hê-bơ-rơ. Ở đây, nó được kết chặt với ý niệm Chúa Giê-xu đã tự hiến thân làm giá chuộc (6), nhắc lại những lời của Chúa Giê-xu trong Mac 10:45. “Giá chuộc” là cách nói ví von được rút ra từ chợ buôn nô lệ nơi mà một nô lệ có thể được tự do nếu có ai đó trả một giá chuộc. Đúng kỳ ở đây có lẽ ám chỉ thời điểm khi kỳ hạn được trọn trong Ga 4:4. Lúc Chúa Giê-xu đến để đem sự cứu rỗi cho nhân loại, đó là bước ngoặc của lịch sử thế giới.
Đề cập của Phao-lô về việc ông được kêu gọi làm thầy giảng (7) nhắc lại ý thức thường trực của ông về nhiệm mạng đặc biệt mà ông đã nhận được. Sự đề cập thêm về địa vị của ông với cương vị giáo sư cho dân ngoại chỉ niềm tin mạnh mẽ của cá nhân ông vào vai trò đặc biệt của ông trong các kế hoạch của Đức Chúa Trời.
Trong câu kết thúc (8) Phao-lô quay trở lại với chủ đề cầu nguyện trước công chúng, lưu ý về ba điều kiện quan trọng. Một là, việc giơ tay thánh sạch lên trời gợi ý một sự tiếp cận đầy tin tưởng, sự thánh khiết thật chỉ đạt được nhờ đức công chính của Chúa Cứu Thế mà thôi. Hai là, lời cầu nguyện chân thành không thể có song song với sự giận dữ. Ba là cầu nguyện và cãi cọ không thể đi đôi với nhau. Thái độ của chúng ta đối với tha nhân có ảnh hưởng đến việc chúng ta đến gần Đức Chúa Trời.
2. Lời khuyên cho các nữ Cơ Đốc nhân (ITi 2:9-15)
Vì phân đoạn này tiếp ngay sau đoạn về vấn đề thờ phượng công cộng, có người gợi ý rằng phần thảo luận về phụ nữ cũng phải được nhìn nhận trong cùng một bối cảnh đó. Tuy nhiên, dường như Phao-lô đang nghĩ đến cách ăn ở ứng xử của phụ nữ trong một văn cảnh rộng lớn hơn, nhưng cũng không nên bỏ qua mối liên hệ với đoạn sách đi trước.
Trước hết Phao-lô xét đến vấn đề trang phục và đồ trang sức (9-10). Dường như một số phụ nữ đã lôi kéo quá nhiều sự chú ý vào chính họ do cách ăn mặc của họ. Nếu những phụ nữ nhớ đến sự tự do lớn hơn mà họ có được vốn là một kết quả của Phúc Âm, thì chắc hẳn chẳng cần đến sự khuyên bảo về cách ăn mặc của họ. Phao-lô chỉ khuyến khích sự khiêm tốn, đứng đắn và phù hợp - tất cả đều chống lại sự phô trương – với những lời khuyên về các chi tiết thực tiễn như: kiểu tóc, nữ trang và y phục. Phao-lô không chống lại điều gì trong số đó cả, nhưng chủ trương của ông là hướng đến một giá trị lớn hơn của một đời sống tin kính. Nói khác đi, việc lành phải bắt mắt hơn dáng vẻ bên ngoài.
Vấn đề thứ hai Phao-lô đề cập đến (11-15) đã làm nảy sinh nhiều tranh luận, vì một số người cho rằng ông chống phụ nữ. Nhưng một sự hiểu biết cặn kẽ những gì ông dạy thì không ủng hộ cho điều này. Nếu chúng ta giả sử rằng các phụ nữ vừa mới được giải phóng bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế, mà lại bắt đầu cầm quyền trên chồng và có nguy cơ đưa Hội Thánh vào sự tái lâm, thì lời khuyên của Phao-lô dễ hiểu hơn. Trước hết, phụ nữ phải học tập yên lặng và vâng phục mọi đàng (11). Phải chăng Phao-lô đã từng bị các phụ nữ vô kỷ luật ngắt lời trong buổi thờ phưtợng công cộng? Việc cấm phụ nữ dạy dỗ đàn ông (12) dường như cũng trong cùng một văn cảnh ấy, tuy ở đây Phao-lô căn cứ nhiều hơn vào những gì phải lẽ và viện dẫn câu chuyện về công trình sáng tạo của Sáng Thế Ký.
Hai sự kiện được đưa ra: quyền ưu tiên của A-đam và nhược điểm của E-va khi bị lừa gạt. Sự kiện thứ nhất (13) chỉ về hành động sáng tạo của Đức Chúa Trời khi tạo dựng người nam trước người nữ, dù ở đây Phao-lô không đề cập sự kiện Ê-va vốn được định làm người giúp đỡ cho người nam và không hề bị xem là thấp kém hơn người nam. Theo Sáng Thế ký thì chính bà Ê-va đã bị cám dỗ trước và sa ngã (14), nhưng A-đam không thể được miễn trừ mọi trách nhiệm. Thật vậy, trong Ro 5:1-21, Phao-lô đã mạnh mẽ quy cho A-đam cái tội đã đưa tội lỗi vào trong thế gian. Thế nhưng ở đây, ông lại thấy một ý nghĩa nào đó về phần Ê-va trong sự sa ngã và ngụ ý rằng toàn thể phụ nữ bằng cách nào đó đã thừa hưởng điều bất lợi ấy.
Tuy nhiên, chính câu 15 mới gây nên nhiều khó khăn nhất. Phao-lô chuyển tư tưởng của ông từ Ê-va sang phụ nữ nói chung. Nhưng ông ngụ ý gì khi nói rằng phụ nữ sẽ nhơn đẻ con mà được cứu rỗi? Nếu chẳng có ngụ ý gì nhiều hơn việc bà Ê-va đã dự phần vào sự sa ngã, thì việc sinh con của phụ nữ sẽ chẳng bị ảnh hưởng bất lợi gì và điều này rất phù hợp với phần ký thuật trong Sáng Thế ký. Nhưng việc thêm vào câu nếu phụ nữ bền đỗ trong đức tin đã gây bối rối vì không thể cho rằng các nữ Cơ Đốc nhân đã được hứa ban cho một sự an toàn nào nhiều hơn các phụ nữ khác cả. Một khả năng khác nữa là việc sinh con này đề cập việc sinh con đặc biệt được nhìn thấy qua sự ra đời của Chúa Cứu Thế, là trường hợp mà Phao-lô muốn nói là do Chúa Cứu Thế mà sự cứu rỗi đã đến được với phụ nữ. Chỗ khó khăn ở đây là địa vị của phụ nữ chẳng có gì khác với đàn ông khi bàn về cơ sở sự cứu rỗi của họ, tuy có lẽ Phao-lô chỉ đề cập phụ nữ ở đây vì ông đang phản ánh về phần của bà Ê-va trong sự sa ngã.
Việc liên kết đức tin, sự yêu thương và nên thánh rất đáng lưu ý, vì nó cung cấp một tóm tắt ngắn gọn về đời sống Cơ Đốc. Chắc chắn là các đức tính này không hề dành riêng cho phụ nữ. Việc áp dụng các chân lý của Thánh Kinh này cho sinh hoạt trong Hội Thánh ngày nay đã gây nhiều tranh cãi. Nếu chúng ta bảo rằng Phao-lô bị ảnh hưởng do ở trong một điều kiện văn hoá nhất định, nên nếu phải viết lại phân đoạn này trong bối cảnh ngày nay, thì ông sẽ chỉ nhấn mạnh đến sự bình đẳng giữa hai giới tính. Nói như vậy tức là chúng ta cho rằng sự mặc khải của Đức Chúa Trời phải chịu lệ thuộc việc tập tục tạm thời thay đổi từ năm này sang năm khác. Và ai có thể nói Phao-lô sẽ viết gì nếu ông đang sống tại đây ngày hôm nay? Mặt khác, nếu chúng ta nhấn mạnh đến việc ứng dụng thật chính xác từng nét đặc trưng của tập tục hồi thế kỷ thứ nhất, chúng ta sẽ gặp nguy cơ là trở nên không phù hợp, thậm chí là lố bịch với sinh hoạt hiện đại. Nhiệm vụ của chúng ta là phải cẩn thận biện biệt các nguyên lý cơ bản bất biến của Thánh Kinh để ứng dụng chúng thật nhạy bén cho tình hình hiện tại, với tâm niệm rằng rốt cuộc rồi thì thà trông có vẻ như lố bịch, còn hơn là không vâng theo các chủ đích yêu thương của Đức Chúa Trời.
3. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÁC CHỨC SẮC CỦA HỘI THÁNH (ITi 3:1-13)
1. Phẩm cách của các giám mục (ITi 3:1-7)
Không nên đồng nhất hoá danh từ overseer với bishop (giám mục), tuy các giám mục về sau này đảm nhiệm vai trò giám sát (oversight). Ý niệm về một chức vụ đầy uy quyền như được thấy trong vai trò của giám mục trong suốt lịch sử Cơ Đốc giáo, không phải là tư tưởng của Tân Ước kinh. Phao-lô đang viết về những người mà công việc của họ là giám sát, nhưng không có uy quyền độc lập. Không có điều gì gợi ý rằng chỉ có một giám mục cho mỗi Hội Thánh, và chắc chắn cũng không gợi ý rằng một người quản lý, như đã xảy ra trong trường hợp của các giám mục, sẽ giám sát nhiều Hội Thánh. Nhưng tại sao Phao-lô lại viện dẫn một lời đáng tin (lời đó là phải lắm) ở đây ? (1). Đó là vì mọi người có vẻ như đều biết câu nói này, nên ông dùng nó ở đây để nhấn mạnh tầm quan trọng của chức vụ quản lý vốn là một nhiệm vụ cao cả theo ý Phao-lô vì lợi ích của những người đang đánh giá thấp nó. Một chức vụ như thế cần có mẫu người đứng đắn phù hợp với nó. Nên nhớ rằng các Cơ Đốc nhân đầu tiên đều xuất thân từ nhiều bối cảnh khác nhau, và điều này giải thích cho đặc tính có vẻ sơ đẳng của một số đòi hỏi, nhất là các đòi hỏi tiêu cực trong câu 3. Có những điều kiện về đời sống riêng tư của các ứng viên dự kiến. Họ phải tiết độ, tài trí (tự chủ), xứng đáng (khả kính) (2). Họ phải không chỗ trách được. Tất cả các đức tính trên đều được trông mong nơi bất kỳ một Cơ Đốc nhân nghiêm túc nào, đặc biệt là nơi các lãnh đạo Cơ Đốc. Đó là vì người nào mà các đức hạnh đạo đức và thuộc linh không được người đồng thời khen ngợi thì sẽ chẳng tạo được nhiều ảnh hưởng với cương vị những người thi hành chức vụ Cơ Đốc, mà nếu họ có gây được nhiều ảnh hưởng thì có lẽ cũng chỉ dẫn đến hậu quả phá hoại mà thôi.
Thêm vào đó, sinh hoạt trong gia đình của người thi hành chức vụ cũng quan trọng không kém – người ấy phải là chồng chỉ một vợ mà thôi (2) và phải giữ con cái mình cho vâng phục (4). Đòi hỏi đầu tiên loại ra những kẻ đa thê, nhưng tốt hơn hết là nên lý giải câu này như một điều kiện mà người thi hành chức vụ phải nêu gương tốt trong các mối liên hệ vợ chồng. Ở đây, Phao-lô không đề cập vấn đề về những người đã có nhiều vợ trước khi trở thành Cơ Đốc nhân. Tuy nhiên, phải nhận thức rằng các địa vị có trách nhiệm trong Hội Thánh Cơ Đốc đòi hỏi những người có gương tốt cho những người khác có thể noi theo.
Đòi hỏi thứ hai về vấn đề quản trị gia đình riêng đặc biệt đáng chú ý vì dường như Phao-lô thấy gia đình, về phương diện nào đó, là tiêu biểu cho Hội Thánh (5). Những gia đình vô kỷ luật không thể cung cấp loại kinh nghiệm huấn luyện tốt để cai trị Hội Thánh. Đây là một nguyên tắc thường bị bỏ qua khi chọn người thi hành chức vụ dự kiến.
Nhiều đòi hỏi khác nữa được đề cập trong câu 6-7. Một người mới tin đạo bị loại trừ vì thiếu những kinh nghiệm đức tin. Đáng lưu ý rằng ở bảng liệt kê tương tự trong thư Tít, đòi hỏi này bị bỏ sót, có lẽ vì Hội Thánh ấy vừa mới được thành lập nên rất khó áp dụng điều kiện đó. Khi có thể được, thì rõ ràng là không nên giao quá nhiều trách nhiệm cho các Cơ Đốc nhân mới, mà phải chờ cho đến khi họ được vững vàng. Phao-lô đặc biệt đề cập cái nguy cơ tự kiêu. Án phạt (giống như) của ma quỉ có lẽ là cách đúng nhất để hiểu những từ này mà theo nghĩa đen có nghĩa là “sự đoán phạt của ma quỉ”, vốn cũng có thể là sự phán xét do ma quỉ đưa ra. Bản dịch NIV cần được trình bày khi xét về điểm nhấn mạnh về thói kiêu ngạo. Một người mới ăn năn quy đạo trong một địa vị cao trọng có thể bị cám dỗ để sa vào thói tự kiêu như ma quỉ vậy.
Một đòi hỏi khác nữa là phải được người ngoại làm chứng tốt cho. Phao-lô biết nguy cơ của việc bổ nhiệm các chức sắc không được người đồng thời kính trọng. Nhiều tổn thất đã xảy ra vì những người có đời sống bất bình thường, bị những người không tin Chúa chú ý và chê bai. Nhưng bẫy ma quỉ có nghĩa gì? Dường như tốt nhất là nên hiểu đó là lưới bẫy do ma quỉ giăng ra đối với những người không sống đúng theo nhiệm mạng Cơ Đốc của họ, chớ không phải là lưới bẫy mà bản thân ma quỉ đã sa vào, nghĩa là thói kiêu ngạo.
2. Phẩm cách của các chấp sự (ITi 3:8-13)
Phao-lô đề cập đến các chấp sự chung với các giám mục trong Phi 1:1 và rõ ràng là hai chức vụ này có liên quan chặt chẽ với nhau. Thật vậy, bảng liệt kê các đức tính cần thiết được kể ra đây cũng giống với các đức tính đối với giám mục. Một lần nữa, giá trị sự kính trọng của người khác có tầm quan trọng tối hậu, cũng như lòng chân thành và các tiêu chuẩn đạo đức khác. Vì ứng viên cho hai chức vụ đều phải là những người không nghiện rượu, gợi ý rằng uống nhiều rượu là một vấn đề của người Ê-phê-sô. Quan trọng hơn, là các chấp sự phải có đức tin tốt lành (9), vốn là một điểm thường bị bỏ qua trong những cuộc bổ nhiệm các chức vụ Cơ Đốc nhỏ hơn. Phao-lô đề cập điều này vì đối với ông, lập trường thần học là điều chủ yếu. Trắc nghiệm đề cập trong câu 10 có lẽ là do cả hội chúng Cơ Đốc thực hiện để chắc chắn rằng các đức hạnh cần thiết là hiển nhiên.
Câu 11 có vẻ như là một sự chuyển tiếp, và một số người gợi ý rằng nó chỉ về một ban nữ chấp sự. Tuy một ban như thế không phải là không thể có, đề cập chủ yếu có lẽ là về các bà vợ của các chấp sự (theo như bản NIV). Những người này phải có tâm trí nghiêm túc, lời nói thận trọng kẻo làm giảm uy tín công tác của chồng họ. Những đòi hỏi còn lại đối với các chấp sự rất giống trong phân đoạn viết về các giám mục. Còn cụm từ bực cao trọng (13) nghĩa là địa vị dưới mắt cộng đồng Cơ Đốc giáo, hay trước mắt người ngoại, hoặc trước mặt Đức Chúa Trời? Trong ba ý nghĩa này thì nghĩa thứ hai có vẻ hợp lý nhất, không phải theo nghĩa là để họ sẽ được thăng cấp trong tương lai, mà là để tạo ảnh hưởng tốt với những người chung quanh. Điều này phù hợp nhất với việc đề cập đến sự vững vàng về đức tin của họ.
3. Nhà của Đức Chúa Trời (ITi 3:14-16)
Đến đây, Phao-lô bỏ ngang phần giáo huấn trực tiếp của ông để mô tả tính chất của Hội Thánh, nhờ đó khiến cho những lời dạy dỗ của ông trở nên toàn diện hơn. Rất có thể rằng Phao-lô đã cho Ti-mô-thê biết ý chính của những lời chỉ giáo này trước rồi, nhưng rồi ông lại viết ra để làm hậu thuẫn cho Ti-mô-thê lúc ông vắng mặt. Cách dùng lối ẩn dụ nhà để mô tả Hội Thánh lặp lại ý tưởng trong câu 5 và giải thích tại sao Phao-lô lại quan tâm đến việc một chức sắc phải khéo cai trị gia đình mình. Đến lúc này, ông mở rộng minh hoạ trên bằng cách đưa vào hai hình ảnh ẩn dụ cùng lúc – trụ và nền (15).
Ở đây, Phao-lô không có ý nhấn mạnh đến Hội Thánh hơn lẽ thật (chân lý). Nếu muốn nói là công việc của Hội Thánh phải làm chứng cho chân lý cũng như chống lại các giáo sư giả, thì từ ngữ được dịch ra là nền phải được hiểu theo nghĩa là “đồn lũy” được dựng lên nhằm bảo vệ chân lý.
Phần dẫn nhập ở đây dường như là một bài thánh ca thật bất ngờ. Nhưng nó tóm tắt những gì Phao-lô mô tả là sự mầu nhiệm của sự tin kính (16). Ông dùng danh từ sự mầu nhiệm theo nghĩa là một điều bí mật mà nay đã được bày tỏ ra, nhưng lại không liên kết khái niệm này với sự tin kính ở một chỗ nào khác. Theo cách Phao-lô nhấn mạnh đến sự phục vụ, chắc hẳn ông phải có trong đầu những khía cạnh thực tế của sự thánh khiết. Phao-lô cũng cho rằng tính trọng đại của sự mầu nhiệm sẽ trở nên hiển nhiên.
Có một vài nghi vấn về phần mở đầu của bài thánh ca vì có một số bản văn chép là “Đức Chúa Trời” thay cho Đấng. Điểm chính của bài thánh ca rõ ràng là có liên quan với Chúa Cứu Thế, tuy Ngài không được đề cập đến. Có thể Ngài đã được đề cập trong một phần đầu nay đã bị thất lạc của bài thánh ca. Dòng đầu tiên chỉ về sự nhập thể. Cũng có tranh cãi nào đó về ý nghĩa của dòng thứ hai (thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình). Câu này có thể ngụ ý chỉ tâm thần con người của Chúa Giê-xu (trong trường hợp này thì câu này phải được dịch ra là “trong tâm linh”) và lời tuyên bố sẽ chỉ về việc Ngài được Đức Chúa Trời xưng công bình khi Ngài phục sinh. Điều này sẽ tạo một sự song đối rất chỉnh với dòng thứ nhất. Có lẽ câu này không nói về Đức Thánh Linh như tác nhân trong sự xưng công bình.
Dòng thứ ba cũng khó hiểu. Cũng có thể hiểu rằng câu này đề cập đến việc tôn vinh Chúa Giê-xu, tuy tư tưởng này chỉ xuất hiện ở dòng thứ sáu. Nó cũng có thể đề cập Chúa Cứu Thế khải hoàn tự bày tỏ mình ra cho các thiên sứ sa ngã nhìn thấy nhưng ý này không phù hợp lắm với văn cảnh. Cũng có thể có sự song đối giữa dòng thứ 3 và thứ 6, trong trường hợp mà cách lý giải trước được ưa chuộng hơn. Chắc chắn, dòng 4 và 5 đi chung với nhau, cả việc truyền giảng cho dân ngoại lẫn việc thiên hạ tin (cậy) đều ngụ ý về chức vụ sứ đồ đã được minh hoạ trong sách Công Vụ. Đã có gợi ý rằng dòng 5 có thể được hiểu là “khắp thế giới” nhưng ý này ít hợp lý hơn. Dòng kết thúc được cất lên trong sự vinh hiển có thể đề cập đến sự thăng thiên, nhưng nếu như thế thì thật là lạ lùng sau khi đề cập việc truyền giảng. Có lẽ ý muốn nói là tất cả mọi việc phải được kết thúc với sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế là Đấng đã được truyền giảng.
4. NHỮNG ĐE DỌA GẦN KỀ (ITi 4:1-16)
1. Tính chất những đe doạ (ITi 4:1-5)
Ở đây có một lời tiên báo khác nữa về các giáo sư giả sẽ đến trong đời sau rốt (nghĩa là sau thời của vị sứ đồ). Chúng ta ghi nhận trước hết, là chính Đức Thánh Linh đã tiết lộ về số người ấy (1). Đấng ấy nhắc lại lời truyền dạy của Chúa Giê-xu (Mac 13:22). Bản thân Phao-lô từng được Đức Thánh Linh hướng dẫn để đề phòng các giáo sư giả (IITe 2:1-12). Ở đây có mối liên kết với bài thánh ca vừa được trích dẫn ở chỗ tà giáo sẽ thách thức bản chất của nó. Phao-lô liên kết lời truyền dạy đối lập với các thần lừa dối và quỉ dữ, và nêu ra rõ ràng nét tương phản giữa Đức Thánh Linh được đề cập trong ITi 3:16 và 4:1 với hoạt động của Sa-tan được mô tả tiếp ngay sau đó.
Tà giáo được đề cập đến ở đây gồm ba phương diện (2-3). Một là, nó từ các tác nhân đạo đức giả đến. Họ tuyên truyền sự dối trá thay vì chân lý, tuy gợi ý ở đây là họ tưởng họ đang truyền bá chân lý. Lương tâm của họ đã chai lì đến độ họ không còn phân biệt được giữa thật và giả. Nét đặc trưng thứ hai là việc cấm cưới gả, và thứ ba là nhấn mạnh đến việc kiêng cữ thức ăn nào đó. Những nét đặc trưng này vốn phổ biến giữa các nhóm người chú trọng vào giá trị của việc kiêng cữ và xem đó như một cách thức dẫn đến sự cứu rỗi. Lời đáp của Phao-lô cho vấn đề này là một lời quở trách nặng nề đốí với những kẻ khước từ điều Đức Chúa Trời muốn. Hôn nhân là một sắc lệnh của Đức Chúa Trời, còn thức ăn là do Đấng Tạo Hoá cung cấp. Các tín hữu phải tiếp nhận tất cả với lòng cảm tạ (4). Điều này phù hợp với đòi hỏi của Do Thái giáo là phải có lời cầu nguyện chúc tạ trước khi ăn. Bất cứ sự dạy dỗ nào có một quan điểm hẹp hòi về Đức Chúa Trời đều phải bị loại bỏ. Nếu lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện trong câu 5 đề cập việc cầu nguyện tạ ơn trước khi dùng bữa, thì sự đề cập về lời Chúa sẽ là đề cập về việc sử dụng Kinh Thánh trong sự tạ ơn. Nhưng có lẽ đây là sự ám chỉ về lời sáng tạo của Đức Chúa Trời trong Sa 1:1-31.
2. Cách Ti-mô-thê phải đối phó với các đe dọa (ITi 4:6-16)
Điều Phao-lô khuyên Ti-mô-thê thích hợp cho toàn thể các tôi tớ Chúa đã được kêu gọi để đối phó với tà giáo, tuy lời khuyên ở đây vốn có giá trị đặc biệt nhằm đối phó với những sai lầm tương tự mà Phao-lô đang kể ra ở đây. Ti-mô-thê phải chỉ cho các anh em Cơ Đốc những gì Phao-lô vừa nói về mối đe doạ sắp đến (6). Muốn thực hiện có kết quả việc này, Ti-mô-thê phải biết tận dụng kiến thức về chân lý của mình ( tham khảo thêm IITi 3:15 là chỗ đề cập sự huấn luyện đầu tiên của ông). Bên cạnh điều này là giá trị của sự dạy dỗ mà ông đã nhận được từ vị sứ đồ. Phao-lô cho rằng Ti-mô-thê sẽ biết cách đối phó với các giáo sư giả. Ông nghĩ cần phải cảnh cáo Ti-mô-thê chớ nên phung phí thì giờ vào các thần thoại và chuyện cổ tích không có cơ sở về chân lý (7). Rõ ràng là Ti-mô-thê cần có sự khôn ngoan để phân biệt giữa những gì ông cần vạch rõ với những gì cần phải tránh xa. Phao-lô so sánh việc rèn luyện phần thân thể với phần tâm linh như một lời bình giải về việc rèn luyện trong sự tin kính (8). Dù phải thừa nhận giá trị của việc trước (phải chăng Ti-mô-thê có xu hướng bỏ qua hay quá chăm chỉ làm việc ấy?), chúng ta cũng phải đồng ý rằng sự tin kính còn có giá trị trổi hơn, vì nó có giá trị hiện tại lẫn cho tương lai.
Một vấn đề đã nảy sinh với lời nói chắc chắn (đáng tin cậy) trong câu 9 vì chúng ta không biết chắc là nó liên quan với câu 8 hay câu 10. Câu 10 hàm chứa một lời phát biểu cógiá trị thần học nhiều hơn nên rất có thể đã trở thành một câu châm ngôn. Mặt khác, có người lại bảo rằng nửa phần sau của câu 8 có tính chất của một câu châm ngôn mà câu 10 chỉ là phần triển khai nó. Hai động từ khó nhọc và đánh trận đều có nghĩa mạnh và gợi ý rằng sự tin kính đáng được nhận sự nỗ lực tối đa để theo đuổi. Khi Phao-lô nói rằng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa của mọi người, rồi sau đó lại nói “mà nhất là của các tín đồ”, thì dường như ông dùng chữ Cứu Chúa theo cả hai nghĩa là Đấng Bảo Tồn và Đấng Cứu Rỗi thuộc linh. Trong ITi 2:3-4 Phao-lô nhấn mạnh phạm vi phổ quát của sự cứu rỗi, nhưng ở đây, ông chú trọng vào nhu cầu đức tin để nhận biết. Chủ đề về niềm hy vọng vào Đức Chúa Trời là một chủ đề thường gặp trong các văn phẩm của Phao-lô. Ở đây, nền tảng của niềm hy vọng đó là Đức Chúa Trời hằng sống, là một bảo đảm chắc chắn vì trong Ngài không thể có chút thay đổi nào.
Phần còn lại của đoạn sách này vốn được ngỏ ý trực tiếp nói với Ti-mô-thê đã không kể đến nhân cách của ông thì cần chú ý đến uy quyền dạy dỗ của ông (11). Rõ ràng là vị sứ đồ đang lo lắng phải làm thế nào để lời truyền dạy của Ti-mô-thê cũng có được uy quyền như chính lời truyền dạy của ông vậy. Phao-lô cũng thừa nhận rằng có thể có một vấn đề nảy sinh do sự non trẻ của Ti-mô-thê (12). Nhưng tuổi trẻ không nhất thiết là trở ngại, miễn sao cách cư xử tạo được sự tin cậy. Ở đây Phao-lô đưa ra lời chỉ dẫn gồm năm phương diện. Lời nói là quan trọng, nhưng phải được kết hợp với nết làm (đời sống), đó là một sự kết hợp của lời nói đúng với việc làm đúng. Bên cạnh những biểu hiện bên ngoài đó, các đức tính bên trong như yêu thương, đức tin và sự tinh sạch, và tất cả họp lại sẽ tạo thành tấm gương tốt về một đời sống Cơ Đốc được chấp nhận.
Câu 13 giới thiệu ba hoạt động công khai. Đọc sách có lẽ là việc đọc Thánh Kinh trước công chúng nhằm dạy dỗ những người nghe, vì chỉ có một số rất ít người là có khả năng tự đọc. Tập quán này liên quan đến nghi lễ của nhà hội, là nơi mà việc đọc Kinh Thánh trước công chúng đóng một vai trò quan trọng của sự thờ phượng theo Do Thái giáo. Từ được dịch là khuyên bảo đại diện cho từ Hi Lạp chỉ về “sự kêu gọi”, còn từ chỉ về dạy dỗ có thể liên quan đến việc rao truyền giáo lý Cơ Đốc. Cả ba hoạt động này rất thích hợp cho vị mục sư Cơ Đốc.
Tiếp sau ba lời dặn bảo tích cực này là một lời căn dặn với hình thức phủ định : Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con (14). Ân tứ (charisma) có liên hệ với điều mà Đức Thánh Linh đã ban cho Ti-mô-thê khi biệt riêng ông ra cho công tác phục vụ. Nếu điều này xảy ra trong lễ đặt tay, thì phương diện quan trọng nhất của nó là chính ân tứ. Có lẽ ở đây có sự gợi ý rằng Ti-mô-thê vẫn chưa tận dụng hoàn toàn các ân tứ thuộc linh của ông, nhưng vì từ ngữ ở đây thuộc số ít, nên tốt hơn hết là nên giả định rằng ân tứ của ông về chức vụ là điều đặc biệt được nghĩ đến ở đây. Việc đặt tay trên Sau-lơ và Ba-na-ba lúc hai ông bắt đầu công tác truyền giáo gian khổ của mình (Cong 13:1-3) cung cấp thông tin về ngữ cảnh cho câu nói ở đây, vì nó cũng được liên kết với lời tiên tri và Đức Thánh Linh. Ti-mô-thê được nhắc nhở lại về cơ hội lúc ông được biệt riêng ra cho chức vụ và được khuyến giục hãy vì đó mà can đảm lên (IITi 1:6).
Trong hai câu 15-16, Phao-lô đã gợi ý các phương pháp theo đó Ti-mô-thê có thể phát triển ân tứ được đề cập ở câu 14. Ở đây Phao-lô nhấn mạnh đến sự tận tâm. Từ ngữ được dịch là “chuyên lo” có thể có nghĩa là suy gẫm, nhưng nghĩa thông dụng hơn là “thực hành”, thu hút sự chú ý về giá trị của sự bền đỗ, một hình thức khác lặp lại ý niệm về công việc rèn luyện thể thao đã được ám chỉ trong câu 6. Người thi hành chức vụ Cơ Đốc không thể tránh xuất hiện trước công chúng, và sự tiến bộ hay việc làm nào khác của ông ta cũng sẽ được chứng kiến. Phao-lô mong cho Ti-mô-thê có tiến bộ thật sự.
Việc giữ gìn và sự bền đỗ trong câu 16 một lần nữa nhấn mạnh cùng một luận điểm. Không phải là Phao-lô khuyến giục phải tự xét mình, nhưng là phải thường xuyên cảnh giác, cả trong đời sống lẫn về giáo lý vì cả hai điều này đi cùng với nhau. Nếu biết giáo lý đúng mà không có một đời sống tin kính thì điều đó cũng vô giá trị. Trái lại, một đời sống tin kính mà không có giáo lý đúng là điều không thể có. Phao-lô ý thức rõ ràng cái nguy cơ của việc thờ ơ đối với sự cứu rỗi của chính mình (ICo 9:27). Nếu vị mục sư không cẩn thận để biết sự bền đỗ thì ông ta không thể tạo được ảnh hưởng đến nhiều người.
5. NHỮNG LỜI CHỈ GIÁO VỀ CÁC GIAI CẤP KHÁC NHAU (ITi 5:1-25)
1. Các nhóm tuổi (ITi 5:1-2)
Ở đây, có một nguyên tắc chung được đưa ra áp dụng cho nhiều hạng tuổi khác nhau. Ti-mô-thê phải đối xử với mọi người như các thành viên của gia đình mình vậy. Nguyên tắc này loại trừ ý niệm về kẻ cao người thấp và đề ra một phương pháp tiếp cận tự nhiên hơn. Động từ quở nặng ở đây là một từ rõ ràng hàm ý khiển trách, và điều này cần phải tránh đối với người cao tuổi. Phao-lô thêm một lời cảnh cáo dành cho các thiếu nữ, với việc gìn giữ sự thanh sạch trong những mối quan hệ là điều cần thiết.
2. Những lời chỉ giáo liên quan đến các quả phụ (ITi 5:3-16)
(ITi 5:3-8) Các quả phụ nghèo thiếu. Trước hết, Phao-lô quan tâm đến các quả phụ thiếu phương tiện mưu sinh. Vào cái thời chưa có tổ chức an sinh, thì việc xoá đói giảm nghèo quả thật là một nan đề, và Phao-lô thừa nhận rằng các Cơ Đốc nhân phải có trách nhiệm trong vấn đề này. Nhưng nếu một quả phụ được gia đình trợ cấp, thì rõ ràng là sai lầm nếu Hội Thánh còn can thiệp vào. Quả thật, hành động giúp đỡ gia đình làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Trách nhiệm xã hội được xem là một đòi hỏi của tôn giáo. Lời dạy ở đây phù hợp với điều răn thứ năm, đòi hỏi phải hiếu kính cha mẹ. Trong câu 5, Phao-lô mô tả một quả phụ nghèo thiếu thuộc loại có tinh thần mộ đạo đặc biệt, sẵn sàng nương cậy Đức Chúa Trời. Rõ ràng là phần mô tả ở đây có ý đặt tương phản thật sống động với phần mô tả người quả phụ ưa sự vui chơi ở câu 6.
Phao-lô vốn biết rằng có những goá phụ sống vì lạc thú. Chắc chắn là ông không muốn Hội Thánh trợ cấp cho những người có cách sống như thế, nhất là nếu trong các lời lẽ ở đây có hàm ý nào về thói dâm ô. Ý niệm về sống cũng như chết nghe như nghịch lý, nhưng ở đây là nói về cái chết thuộc linh. Ti-mô-thê phải đưa ra những chỉ dạy rõ ràng về các vấn đề này để giúp các phụ nữ như thế khỏi bị chê trách. Trong vấn đề thiết yếu rất thực tế này, Phao-lô chẳng những quan tâm đến từng cá nhân, mà còn quan tâm đến ảnh hưởng của gương xấu trên toàn thể các tín hữu (7-8). Các Cơ Đốc nhân không trợ cấp cho gia đình mình bị xem là đã gây hậu quả nghiêm trọng phủ nhận đức tin và nêu gương xấu cho người không tin Chúa. Bằng nhiều lời lẽ nặng nề nhất, Phao-lô đã nói lên tầm quan trọng của các trách nhiệm xã hội trong các gia đình Cơ Đốc.
(ITi 5:9-10) Các goá phụ trong công tác Cơ Đốc. Điều không được rõ ràng là phải chăng đã có một ban goá phụ riêng biệt thực hiện những nhiệm vụ cụ thể, nhưng tuyên bố ở đây về việc ghi tên vào sổ các quả phụ trên sáu mươi tuổi, có lẽ gợi ý như thế. Giới hạn tuổi tác này có phần gây khó hiểu, vì chắc chắn là Phao-lô không có ngụ ý rằng những quả phụ dưới tuổi ấy thì không được nhận sự trợ cấp của Hội Thánh. Việc ghi tên vào danh sách này chắc được dành cho loại công tác Cơ Đốc cụ thể nào đó. Nó phản ảnh phần ảnh hưởng quan trọng về xã hội của phụ nữ Cơ Đốc trong Hội Thánh đầu tiên.
(ITi 5:11-16) Các quả phụ trẻ hơn. Các quả phụ trẻ hơn đặt ra một vấn đề khác, vì khả năng tái giá của họ. Việc này loại họ khỏi danh sách chính thức được đề cập ở câu 9. Ở đây không có gợi ý nào rằng một quả phụ trẻ bị nghèo thiếu thì không đủ tư cách để được trợ giúp. Dường như Phao-lô đang nghĩ đến những người dâng mình cho công tác Cơ Đốc (như dâng mình cho Đấng Christ –gợi ý câu 11). nhưng sẽ bị đặt vào tình trạng khó xử nếu muốn lấy chồng. Đây là cách để hiểu lời thề ước ban đầu của họ trong câu 12, đó là lời hứa của họ đối với loại công tác Cơ Đốc nào đó. Nếu họ bội lời thề ước ấy để đi lấy chồng thì họ phải bị quở trách (xét đoán). Hai nguy cơ của việc ở dưng và thày lay thóc mách có lẽ có liên hệ với chương trình thăm viếng của họ (13). Nói khác đi, họ không thể được tín nhiệm với những việc riêng tư, dù tại sao chỉ có các quả phụ trẻ mới đặc biệt được nêu ra để cảnh cáo về vấn đề này thì không được rõ.
Lời khuyên tích cực các quả phụ trẻ hơn nên lấy chồng và tận hiến cho các trách nhiệm gia đình (14) có vẻ như mâu thuẫn với việc Phao-lô vốn thích tình trạng sống độc thân hơn (ICo 7:8-9), nhưng phải nhớ rằng các quả phụ này vốn đã bị liệt vào số người “không thể tự chủ được”. Một lần nữa, mối quan tâm chủ yếu của Phao-lô là tránh không để cho Hội Thánh bị trách cứ. Đề cập về kẻ thù nghịch (14) và quỉ Sa-tan (15) rõ ràng ám chỉ các hậu quả có thể có do các quả phụ trẻ hơn hành động thiếu khôn ngoan. Sa-tan bao giờ cũng sẵn sàng nắm lấy cơ hội để gièm pha công việc của Đức Chúa Trời.
Ở đây, một lần nữa, Phao-lô nhấn mạnh điều ông đã nói trong hai câu 4 và 8 về các bà con thân thuộc phải giúp đỡ cho các quả phụ chớ đừng giao gánh nặng ấy cho Hội Thánh (14-16). Trách nhiệm giúp đỡ các quả phụ trong gia đình không nhất thiết chỉ dành cho phụ nữ (như có lẽ câu 16 đã ngụ ý). Một số các nhà chép sách xưa kia đã nhận ra chỗ khó hiểu này nên đã sửa bản văn để kể nam giới vào.
3. Các trưởng lão (ITi 5:17-20)
Đây là lần đầu tiên về các trưởng lão được đề cập trong bức thư này, nhưng theo văn cảnh thì rõ ràng họ là các chức sắc của Hội Thánh chớ không phải chỉ là những người cao tuổi mà thôi. Từ ngữ này với ý nghĩa khá rộng bao gồm luôn cả các giám mục và chấp sự nữa, như đã được đề cập trong ITi 1:3. Thuật ngữ “Kính trọng bội phần” (17) hơi khó hiểu. Dường như một loại phần thưởng nào đó được nghĩ đến, và bội phần có thể tượng trưng cho sự cung cấp rời rộng. Mặt khác, việc dùng từ “kính trọng” có thể gợi ý rằng Phao-lô đang nghĩ đến điều gì đó hơn cả phần thưởng, và cả sự kính trọng lẫn lương bổng cũng đều được kể đến. Những trích dẫn này (18; một câu từ Phu 25:4 và câu tương tự kia trong Lu 10:7) được dùng để hỗ trợ cho ý niệm về việc ban thưởng cho một công tác đã hoàn thành, một nguyên tắc không phải lúc nào cũng được áp dụng trong lịch sử của Hội Thánh Cơ Đốc giáo. Việc liên kết một câu trích dẫn Cựu Ước kinh với một lời phán dạy của Chúa Giê-xu rất có ý nghĩa, vì nó phản ảnh sự kính trọng mà sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu nhận được.
Thế nhưng Phao-lô nhận ra rằng điều cần phải làm không chỉ dừng ở việc trợ cấp tài chính. Một chuẩn mực đạo đức thích đáng cũng phải được duy trì. Nhưng phải cẩn thận đối với bất cứ lời tố cáo nào (19-20). Hai hoặc ba người làm chứng là nhằm bảo đảm chống lại loại lời cáo gian của một cá nhân. Lời khuyên này là theo tập quán thông thường của dân Do Thái. Một khi có chứng cứ hiển nhiên, thì một việc làm sai trái phải được đưa ra trước công chúng, nghĩa là trước cả Hội Thánh. Một lần nữa, Phao-lô bày tỏ mối quan tâm của ông đến tiếng tốt của Hội Thánh. Kỷ luật không chỉ là vì lợi ích của cá nhân, mà còn nhằm cảnh cáo nhiều người khác nữa.
4. Lời khuyên riêng cho Ti-mô-thê (ITi 5:21-25)
Lời răn bảo trong câu 21 được đưa ra một cách mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Tại sao lại phải nghiêm trọng đến thế ? Có lẽ vì Ti-mô-thê vốn không mạnh mẽ đủ để làm mọi việc mà không tây vị hay thiên vị. Có lẽ ông vốn quá yếu đuối để có thể chấp nhận lời khuyên trong hai câu 19-20. Căn cứ vào một lời răn bảo cũng mạnh mẽ tương tự trong IITi 4:1 (nhưng không có đề cập đến các thiên sứ) chúng ta có thể tự hỏi tại sao các thiên sứ lại được đề cập ở đây. Có lẽ đó là một lời ngụ ý chỉ về niềm tin rằng các thiên sứ vẫn theo dõi công việc của loài người (Mat 4:6, trích dẫn Thi 91:11-12 Mat 18:10).
Lời cảnh cáo chống lại việc vội vàng đặt tay (22) có thể đề cập việc tấn phong các trưởng lão hay phục hồi địa vị cho những người đã bị sửa trị. Phần thứ hai của câu này gợi ý rằng những người đặt tay trên những kẻ bất xứng phải cùng chịu trách nhiệm về sự không xứng đáng của kẻ ấy. Lời khuyên dành riêng cho Ti-mô-thê phải giữ mình thanh sạch nhấn mạnh thêm cho sự việc này, vì sự trong sạch được đòi hỏi đối với những người đặt tay cũng như những người được đặt tay.
Lời khuyên về sự thanh sạch được tiếp theo ngay bằng lời khuyên về vấn đề uống rượu (23) và điều này gợi ý rằng Phao-lô có thể sợ là Ti-mô-thê bị tiêm nhiễm thói khắc khổ của các giáo sư giả. Tuy nhiên, cũng có thể chẳng có mối liên hệ gì giữa câu này với câu đi trước cả. Việc đề cập đến “uống nước”, có lẽ vì các căn bệnh của Ti-mô-thê vốn do nước lã bị nhiễm trùng gây ra, hoặc có lẽ vì ông đang bị căng thẳng. Chúng ta không biết ro. Phao-lô không khuyên phải chống lại việc uống bất cứ loại nước nào, và gợi ý nên uống thêm ít rượu. Rõ ràng sức khoẻ Ti-mô-thê vốn chẳng được tốt lắm.
Dường như hai câu 24-25 là tiếp theo câu 22. Phao-lô đề cập hai phương diện khác nhau của tội lỗi. Một số tội lỗi rất dễ nhận ra, và chẳng có ai ngạc nhiên vì sự trừng phạt theo sau những tội này. Nhiều tội khác được mô tả là về sau rồi mới bị bày tỏ ra. Các tội này có thể không được nhận biết rõ ràng ngay tức khắc, nhưng sẽ bị bày tỏ ra về sau. Sự phán xét ở đây có lẽ là sự phán xét của Đức Chúa Trời chớ không phải là phán xét của Ti-mô-thê và của những người khác. Loạt các việc lành tương phản với tội lỗi được dùng để nêu bật sự cần thiết phải thận trọng khi đánh giá việc lành lẫn tội lỗi.
6. NHỮNG LỜI CHỈ GIÁO KHÁC (ITi 6:1-21)
1. Về nô lệ và chủ (ITi 6:1-2)
Trong lịch sử của Hội Thánh đầu tiên, trong các cộng đồng có nhiều nô lệ Cơ Đốc và một số là chủ nô Cơ Đốc, cho nên các mối liên hệ đúng đắn cần phải được duy trì, để cả nô lệ lẫn chủ nô đều bình đẳng trong mối thông công Cơ Đốc. Mặt khác, một số nô lệ Cơ Đốc vẫn tiếp tục phục vụ các chủ nô không phải là Cơ Đốc nhân, và số người này bị đòi hỏi phải tôn trọng các ông chủ ấy về mọi phương diện. Như vẫn thường thấy trong bức thư này, mối quan tâm này là để duy trì sự tôn trọng cho danh Đức Chúa Trời lẫn cho giáo lý Cơ Đốc. Vào những thời kỳ đầu tiên ấy, bất kỳ một hành động hay thái độ nào gây cho người khác nghĩ sai về lập trường của Hội Thánh, đều phải tránh xa.
Có lẽ vấn đề lại càng khó hơn cho các nô lệ Cơ Đốc với các chủ nô Cơ Đốc khi phải tìm ra sự cân bằng đúng đắn, vì họ cũng là anh chị em của nhau trong tình thân Cơ Đốc. Nhưng Phao-lô gợi ý rằng trong những trường hợp như thế, người làm nô lệ phải phục vụ tốt hơn vì người anh em kia trong Chúa sẽ được lợi ích nhờ sự phục vụ đó. Mặt khác, có thể bản thân người làm nô lệ cũng được lợi ích nữa. Điều này không phải để phủ nhận rằng hệ thống chủ nô này đáng lý ra phải bị chống đối, nhưng trong thời đó thì việc lật đổ nó ngay tức khắc là điều phi thực tế.
2. Về các giáo sư giả (ITi 6:3-5)
Phao-lô không thể từ bỏ chủ đề về những kẻ dẫn người khác đi sai lạc, nên ở đây, ông đã quay trở lại với nó. Ông khẳng định rằng có một lằn ranh rõ ràng phân chia cái sai với cái đúng. Đây là một việc làm lành mạnh vào bất cứ thời đại nào khi sự hiểu biết về giáo lý Cơ Đốc bị bôi bẩn. Phao-lô không nhường chỗ cho sự thoả hiệp. Phần mô tả của ông về các giáo sư giả rất cụ thể họ kiêu ngạo, thiếu hiểu biết, có mối bận tâm không lành mạnh về những cuộc cãi lẫy, và hết sức gian ác trong lời nói và thái độ (4). Ông không thể không đả phá họ tàn tệ hơn thế. Điều ông nói minh hoạ cho một nguyên tắc phổ quát là các giáo sư thiếu hiểu biết đầy đủ hay không có phẩm chất đạo đức đều không thể nào duy trì được giáo lý lành mạnh. Hơn nữa, nơi đâu sự tin kính bị xem như một phương tiện để thu lợi về tài chính, thì nó sẽ chẳng bao giờ dẫn đến chân lý cả. Nhưng cầu lợi tự nó vốn đã là một vấn đề rồi, cho nên Phao-lô đã đề cập đến nó ngay sau chủ đề vừa trình bày.
3. Về tiền bạc (ITi 6:6-10)
Yếu tố quan trọng trong câu 6 là sự thoả lòng. Sự tin kính tự nó đem đến sự thoả lòng lớn. Phúc Âm của Chúa Cứu Thế cung cấp một nền tảng thật đầy đủ cho sự thoả lòng. Điều này chuyển ý niệm về lợi lộc thành chữ nghĩa thuộc linh và cung cấp một phần dẫn nhập thích hợp cho cuộc thảo luận về tiền bạc. Câu đề cập việc ăn mặc (8) là âm vang của lời phán của Chúa Giê-xu trong Mat 6:25-34 trong một khúc sách đề cập đến sự lo âu, là phản đề của sự thoả lòng. Của cải vật chất khi được nhìn thấy trong ánh sáng thật của nó, chỉ là vô nghĩa dù vào thời điểm nào- khi con người ta mới được sinh ra hay khi phải từ giã cõi đời này (7). Ở đây có một điểm tương tự với Giop 1:21.
Sự tìm kiếm của cải mang theo nó cám dỗ, cạm bẫy và nhiều tham muốn tai hại (9). Nhìn từ góc cạnh của sự chết, thì cả tiến trình làm giàu chỉ là dại dột. Hậu quả của nó là tàn hại và diệt vong (nghĩa là sự mất mát không thể lấy lại), chứng minh cho tính cách phù du của việc theo đuổi của cải vì chính nó. Khi Phao-lô mô tả lòng tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác (10), thì điều quan trọng là phải biết phân biệt giữa bản thân tiền bạc với lòng tham tiền. Nếu được xem như một phương tiện, thì tiền bạc, tự nó chẳng có gì sai quấy cả, nhưng một khi nó trở thành đối tượng của sự tham muốn tột cùng, thì nó dẫn đến điều ác. Không có gợi ý nào cho rằng lòng tham tiền là nguyên nhân duy nhất, hay thậm chí là nguyên nhân chính của điều ác. Mối bận tâm của Phao-lô ở đây là vạch rõ rằng những rắc rối thuộc linh thường có liên quan đến việc vơ vét tiền bạc. Đó là ý ông muốn nói khi viết về sự bội đạo. Tuy nhiên, Phao-lô muốn chúng ta nhìn thấy rằng ở bất cứ nơi đâu khi điều ác xuất hiện, thì tiền bạc dễ dàng len lỏi vào đó. Dâm ô biến thành nghề mãi dâm, vấn đề lạm dụng ma tuý để trở thành nghiện ngập phần lớn cũng là do sức mạnh của đồng tiền, tham quyền cố vị cũng khó tránh được các sợi dây ràng buộc của việc muốn được trở nên ngày càng giàu hơn, và vân vân. Nhưng thật ý nghĩa khi Phao-lô nói đến những kẻ theo đuổi nó tự chuốc lấy đau buồn. Các hậu quả được nhìn thấy là do chính mình tạo ra là hậu quả không tránh được của điều tham điều trái lẽ.
4. Về vấn đề tìm kiếm điều phải lẽ (ITi 6:11-16)
Đây là lời răn bảo nghiêm túc của Phao-lô cho chính Ti-mô-thê. Nó có cả hai mặt tiêu và tích cực (11). Việc tránh mọi sự đó tuy trước hết là đề cập sự đeo đuổi của cải, nhưng có lẽ cũng gồm luôn cả lời khuyên trước đó về những điều phải xa lánh nữa. Mặt tích cực được diễn tả bằng các từ ngữ thuộc linh. Có sáu danh từ trong câu 11 tóm tắt tính cách của Cơ Đốc nhân mà Ti-mô-thê phải nêu gương. Phao-lô còn thêm vào đó một sự kêu gọi tích cực khác nữa – đời sống Cơ Đốc nhân phải gồm luôn việc đánh trận nữa (12). Khi Phao-lô khuyến giục Ti-mô-thê bắt lấy sự sống đời đời, là sự mà con đã được gọi đến, ông đang nghĩ về việc hưởng sự sống đời đời lúc cuối cùng nhiều hơn là về việc nhận được nó lần đầu tiên.
Có lẽ đáng bất ngờ là khi Phao-lô đề cập đến Bôn-xơ Phi-lát (13), nhưng biến cố lịch sử về vụ xét xử Chúa Giê-xu tạo cơ hội tốt nhất cho loại lời chứng (xưng nhận) tốt lành mà Phao-lô muốn thấy có nơi Ti-mô-thê. Sự kiện ông đưa ra một lời khuyên chứng tỏ ông xem vấn đề về cách cư xử của Ti-mô-thê nghiêm trọng như thế nào. Còn điều răn ở đây gợi nhiều ý. Một số người thấy nó chỉ một loại lời răn dạy trong phép báp-tem hay một lễ tấn phong nào đó, nhưng ý này không phù hợp với văn cảnh. Có lẽ nó ám chỉ lời khuyên trong hai câu 11-12 hoặc toàn bộ lời Phao-lô khuyên Ti-mô-thê trong bức thư này. Việc đề cập đến sự hiện ra của Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta (14) ở đây tạo một khung cảnh tương lai cho câu phát biểu đi trước. Ý niệm về không vết tích và không chỗ trách được khi có sự hiện đến ấy, có lẽ cũng giống như những chỗ khác trong các bức thư của Phao-lô (ICo 1:8 Phi 2:15-16 ITe 3:13 5:23).
Việc xen vào đây một bài tán ca (15-16) là phong cách viết điển hình của Phao-lô. Nhưng ở đây có mấy nét đặc trưng bất thường. Việc dùng từ ngữ hạnh phước không thấy có ở chỗ nào khác trong các bức thư của Phao-lô ngoại trừ các Thư Tín Mục Vụ. Thật vậy, cả bài tán ca có dáng vẻ của một bài thánh ca Cơ Đốc giáo mà Phao-lô trích dẫn. Phần mô tả Đức Chúa Trời là Đấng Chủ Tể duy nhất rất bất ngờ vì từ ngữ Đấng Chủ Tể thường ám chỉ một quan trưởng hơn là một vị vua, nhưng ở đây thì rõ ràng là nó mang ý nghĩa độc nhất vô nhị như từ ngữ có một chứng minh. Vị Vua của mọi vua, Chúa của mọi chúa xuất hiện trong Kh 17:14 và 19:16 nên có lẽ nó vốn là một thành ngữ rất quen thuộc của Cơ Đốc giáo mà mọi người đều biết. Có nhiều chỗ giống như thế trong Cựu Ước kinh (Phu 10:17 Thi 136:3). Cách dùng từ ngữ không hề chết (immortal) chỉ về Đức Chúa Trời đã xuất hiện trong ITi 1:17. Phải chăng Phao-lô ngụ ý bảo rằng không người nào khác có sự bất tử? Dường như ông muốn nói rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời mới vốn là bất tử, mà tất cả những gì là bất tử bất diệt đều do đó mà ra. Ý niệm về Đức Chúa Trời đang sống trong nơi sự sáng không thể đến gần được có lẽ là từ Thi 104:2 mà ra, nhưng cũng có thể Phao-lô nghĩ đến phần mô tả sống động về vinh quang của Đức Chúa Trời trong Exe 33:17-23 vì Môi-se được cho biết là ông đã không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời. Việc kết hợp danh vọng và quyền năng trong một bài tán ca cũng được tìm thấy trong Kh 5:13.
5. Lại bàn về của cải (ITi 6:17-19)
Đoạn sách trước quan tâm đến những người muốn trở nên giàu có, còn đoạn này lại chú trọng vào những người đã giàu có rồi. Phao-lô chỉ ra hai nguy: cơ thói kiêu ngạo và lòng trông cậy vào của cải. Quá dễ để người có nhiều tài sản vật chất tưởng tượng rằng tiền bạc có thể bảo đảm mọi thứ, và niềm hi vọng thật sự vào Đức Chúa Trời bị loại bỏ. Ở đây không hề có gợi ý rằng chính của cải vốn xấu xa hay người ta không nên hưởng thụ những gì Đức Chúa Trời ban cho. Nhưng sự nhận thức rằng mọi sự đều đến từ Đức Chúa Trời sẽ giải quyết được các nguy cơ ấy. Đòi hỏi tích cực đối với những người giàu có thật rõ ràng họ cần phải có lòng thiện hảo và hào hiệp vốn là hai đức tính thường đi kèm với nhau.
Nhận định trong câu 19 nhắc lại lời dạy của Chúa Giê-xu trong Mat 6:20. Ở đây có một sự phối hợp hai cách ví von về việc dồn chứa và cái nền tốt. Nhưng nét tương phản giữa đời sống bận rộn với của cải vật chất và đời sống thật sự, sẽ tiếp tục trong đời hầu đến thì thật rõ ràng.
6. Lời kết thúc cho Ti-mô-thê (ITi 6:20-21)
Ti-mô-thê đã được phó thác phải giữ gìn những gì đã được giao cho ông. Rõ ràng là Phao-lô cảm thấy thật quan trọng để ông phải nhấn mạnh điều đó. Một lần nữa, ông cảnh cáo chống lại việc dính dấp với tà giáo. Mấy chữ nguỵ xưng là tri thức có lẽ là âm vang của lời rêu rao của các giáo sư giả về “tri thức” đặc biệt theo cách của những người Trí huệ phái (Gnostics) sau này. Mấy chữ cãi lẽ bằng tri thức vốn được Marcion là kẻ theo tà giáo sau này dùng để mô tả giáo thuyết của ông ta. Nhưng chẳng có gì để nghi ngờ là ngay trong niên đại đầu tiên cũng đã có cách dùng chữ tương tự như thế rồi, và chắc chắn là tà giáo đã được đề cập bóng gió trong Thư Cô-lô-se cho thấy lời truyền dạy tương tự cũng đã phổ biến ngay trong thời của Phao-lô. Sự việc Phao-lô mô tả tà giáo như làviệc lìa đức tin chứng tỏ đó là nẻo đường mòn sai trật. Cần lưu ý rằng lời chào cuối thư nguyền xin ân điển ở cùng các anh em ở dạng số nhiều, có thể gợi ý rằng còn nhiều người nữa ngoài Ti-mô-thê đã được kể đến. Tuy nhiên, việc dùng hình thức số nhiều cho một cá nhân duy nhất cũng là điều không phải là không phổ biến.