2 SA-MU-ÊN

MỤC LỤC

IISA-MU-ÊN

1. NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI TRỊ VÌ CỦA ĐA-VÍT (IISa 1:1-8:18)

1. Đa-vít và Ích-bô-sết (IISa 1:1-4:12)

Sự qua đời của Sau-lơ mở đường cho Đa-vít bước lên ngai vua Y-sơ-ra-ên.  Trong I Sa-mu-ên, rõ ràng tác giả đã vạch ra con đường tiến tới kết cuộc này.  Tuy nhiên, vẫn còn hai chướng ngại quan trọng trên con đường của Đa-vít: theo quan điểm loài người, chưa chắc Đa-vít sẽ làm vua trên toàn thể dân Y-sơ-ra-ên.  Trở ngại thứ nhất là một trong các con trai của Sau-lơ là Ích-bê-sết không tử trận ở Ghinh-bô-a và hầu hết các chi phái đều công nhận ông làm vua (IISa 2:9).  Đa-vít lên làm vua tại Giu-đa, thế là nội chiến bùng nổ.  Một trở ngại khác là dân Phi-li-tin quyết tâm làm cho Y-sơ-ra-ên suy yếu và phải phục tùng họ.  Tuy nhiên, dân Phi-li-tin phạm một sai lầm chiến thuật.  Họ không áp dụng biện pháp nào ngăn cản Đa-vít làm vua trên Giu-đa, chắc vì hi vọng sẽ có nội chiến giữa người Y-sơ-ra-ên với nhau, và nội chiến sẽ làm dân Y-sơ-ra-ên chia rẽ, suy yếu.  Dường như họ cũng không tiến đánh Ích-bô-sết vì cùng một lý do ấy.  Nhờ vậy, Đa-vít không buộc phải đối phó với hai kẻ thù cùng một lúc, trái lại, ông có thể lần lượt đánh đổ từng trở ngại một.  Tác giả tin chắc Đức Chúa Trời tể trị trên quyết định của dân Phi-li-tin, cũng như Ngài tể trị trên các biến cố đưa Đa-vít lên cai trị toàn cõi Y-sơ-ra-ên.

(IISa 1:1-16). Sứ giả người A-ma-léc Ngay phần đầu bài tường thuật, Đa-vít vẫn còn ở tại Xiếc-lác (ISa 30:26) chờ tin tức về cuộc xâm chiếm miền bắc Y-sơ-ra-ên của quân Phi-li-tin.  Nực cười thay khi sứ giả đem tin tức từ Ghinh-bô-a lại là người A-ma-léc, một giống dân thù địch lâu đời của Y-sơ-ra-ên.  Cả Sau-lơ và Đa-vít đều đã phải chiến đấu chống lại dân này.  Nhưng người A-ma-léc này là khách nhập cư kiều ngụ tại Y-sơ-ra-ên (13).

Độc giả không ngạc nhiên khi nghe tin Sau-lơ và Giô-na-than qua đời, nhưng cái chết mà người A-ma-léc này mô tả là chuyện bất ngờ.  Rất có thể sau khi ngã trên lưỡi gươm của mình (31:4), Sau-lơ còn sống được một lúc, cho đến khi người A-ma-léc đến giết ông (10) theo lời Sau-lơ yêu cầu.  Nhưng có thể người A-ma-léc nói dối.  Nói chung, chắc hẳn là ông đi lục soát các xác chết chớ không phải tình cờ có mặt nơi chiến địa khốc liệt này (6).

Không rõ Đa-vít có hoàn toàn tin vào ông hay không.  Nhưng vì không có người nào khác làm chứng nên Đa-vít đành thừa nhận những chứng cớ của người đàn ông này (16) và cũng nhận mão miện cùng băng tay của vua Sau-lơ do ông đem từ Ghinh-bô-a về.  Căn cứ vào những bằng chứng đó, Đa-vít giết ông ta.  Đa-vít hành động như vậy hoàn toàn phù hợp với thái độ của ông mô tả trong 24:6 và 26:9 đối với con người của Sau-lơ.  Vua là Đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, người A-ma-léc là kiều dân tại Y-sơ-ra-ên có bổn phận phải vâng phục tuân theo luật lệ của Y-sơ-ra-ên.  Ấy thế mà ông dám giết vua Y-sơ-ra-ên.  Khi xử tử người A-ma-léc vì tội sát nhân, Đa-vít thực đã hành sự như thể ông là vị vua và quan tòa.

Sự việc này còn có một khía cạnh chính trị nữa.  Qua quyết định đó, Đa-vít chứng tỏ ông không thù oán gì Sau-lơ: ông bảo vệ quyền lợi của vị vua quá cố cho đến cuối cùng.

(IISa 1:17-27). Đa-vít than khóc Bài ai ca trong IISa 1:19-27 không chỉ là một bài thơ nhằm bộc lộ cảm xúc riêng tư của Đa-vít, nhưng là bài thơ của dân tộc, mô tả sự mất mát lớn lao của Y-sơ-ra-ên bằng những lời lẽ khó quên.  Bài than khóc này đã được phát hành (từ hiện đại tương đương) và được chép vào sách, phổ biến khắp đất nước (18).  Có nhiều tác giả Cựu Ước sử dụng sách Gia-sa làm tư liệu (Gios 10:13).  Không hiểu vì sao bài thơ này lại có tựa đề ‘Bài ai ca của cây cung’.

Sách I Sa-mu-ên lập lại cách rõ ràng Đức Chúa Trời phế bỏ Sau-lơ nhưng bài thơ này chiêm ngưỡng Sau-lơ theo quan điểm loài người và nhắc chúng ta nhớ đến công của ông đối với Y-sơ-ra-ên trong nhiều năm: lãnh đạo, đoàn kết dân tộc, đánh đuổi dân Phi-li-tin, đem thịnh vượng cho Y-sơ-ra-ên (c.24).  Bài thơ xếp Giô-na-than chung với Sau-lơ vì tình bạn sâu xa của Đa-vít đối với ông và vì những thắng lợi quân sự của ông (ISa 14:1-22).

Tuy cần chú giải những ngôn từ hình bóng trong bài thơ nhưng mọi người đều đã hiểu.  Trong câu 20, Đa-vít mong rằng tin Sau-lơ chết không loan đến quân địch: Gát và Ách-ca-lôn là hai đô thành quan trọng của dân Phi-li-tin.  Trong câu 21, ông rủa sả đồi Ghinh-bô-a, nơi Sau-lơ và Giô-na-than tử trận.  Trong câu cuối của bài ai ca, Đa-vít gọi Sau-lơ và Giô-na-than là ‘các chiến sĩ’ (bản NIV dịch là anh hùng) và ‘vũ khí chiến sư’ nhắc độc giả nhớ rằng họ chết trong khung cảnh cuộc đại bại của Y-sơ-ra-ên.  Bài thơ không có chút hi vọng gì nơi tương lai, nhưng chính Đa-vít được chỉ định làm người đem lại hi vọng và chiến thắng cho một dân tộc thất bại.

(IISa 2:1-7). Đa-vít làm vua Giu-đa Sau-lơ chết có nghĩa là Đa-vít được tự do rời khỏi lãnh thổ Phi-li-tin để trở về xứ Giu-đa của mình.  Hai yếu tố có khả năng cản trở ông hồi hương.  Nếu Sau-lơ để lại người kế vị có thế lực và cũng chống  nghịch Đa-vít không kém, thì khó lòng cho Đa-vít trở về.  Nếu dân Phi-li-tin phản đối không cho ông ra đi, thì chuyến trở về của ông khó thành.  Vì thế, chẳng lạ gì khi Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va nói cách khác, ông yêu cầu A-bia-tha cầu xin sự dẫn dắt thiêng liêng (ISa 23:9-12).

Tác giả và độc giả đều không ngạc nhiên khi Đa-vít được tôn làm vua (dù chỉ cai trị một chi phái Giu-đa).  Ngay từ ISa-mu-ên 16, ý của Đức Chúa Trời đã được khải thị rõ ràng.  Tuy nhiên, theo quan điểm thuần túy chính trị thì quyết định của người Giu-đa quả là bất ngờ.  Cái chết của Sau-lơ và chiến thắng lẫy lừng của dân Phi-li-tin chắc đã gây nên cuộc hỗn loạn chính trị khắp đất nước Y-sơ-ra-ên, và chắc chắn trong thời gian đầu, các trưởng lão không dám chắc hành xử thế nào mới là khôn ngoan.  Đa-vít hội được ít nhất ba tiêu chuẩn: ông nổi tiếng là chiến sĩ giỏi, có bề dày lịch sử hoạt động công ích cho dân Giu-đa và ông có cách liên kết hoặc dàn xếp với dân Phi-li-tin.  Hơn nữa, dĩ nhiên chính ông cũng là người Giu-đa.

Sứ điệp Đa-vít gửi cho dân thành Gia-be Ga-la-át có ý nghĩa đặc biệt.  Thành này liên hệ chặt chẽ với Sau-lơ (11:1-15  31:11-13) và nằm bên kia Giô-đanh, trong cùng khu vực với Ma-ha-na-im (8-9) là thành mà đối thủ của Đa-vít là vua Ích-bô-sết chọn làm thủ đô.  Vì thế, chúng ta ngỡ rằng chính Ích-bô-sết chớ không phải Đa-vít, gởi lời cảm ơn và khích lệ dân Gia-be Ga-la-át mới phải lẽ.  Thật ra, Đa-vít bày tỏ cho dân Y-sơ-ra-ên ngoài chi phái Giu-đa biết ông tin rằng ông là người kế vị Sau-lơ, nắm quyền hành trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên.  Sứ điệp của ông không đả động gì đến sự hiện hữu của Ích-bô-sết.

Thủ đô của Đa-vít là Hếp-rôn, trong miền nam địa phận Giu-đa.  Về sau, Giê-ru-sa-lem là thủ đô, nhưng vào thời gian này, Giê-ru-sa-lem chưa thuộc quyền kiểm soát của người Y-sơ-ra-ên.  Thực tế, trên một phương diện, Giê-ru-sa-lem là trái độn gây nên sự phân cách giữa Giu-đa với các chi phái miền bắc.  Nếu quả thế, thì sự kiện này giải thích phần nào vì sao Giu-đa tự quyết định chọn riêng cho mình một vua.

(IISa 2:8-32). Nội chiến. Rõ ràng Áp-ne (được đề cập lần đầu trong 14:50) thoát chết ở chiến trường nơi Sau-lơ tử trận.  Ông đứng ra giải quyết các vấn đề ở miền bắc Y-sơ-ra-ên.  Dù chính ông là người bà con gần với Sau-lơ, ông không tự tôn mình làm vua, nhưng cố gắng vận động dân Y-sơ-ra-ên ủng hộ Ích-bô-sết, con trai còn sống sót của Sau-lơ.  Như vậy, Ích-bô-sết lên ngôi cai trị.  Trên nguyên tắc, ông làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên (9), nhưng trên thực tế ông chỉ cai trị một vùng giới hạn.  Chắc vào thời gian này, dân Phi-li-tin mới là chủ nhân thực sự miền Trung Y-sơ-ra-ên, nhất là lãnh thổ Ép-ra-im và Bên-gia-min.  Vùng kiểm soát chính của Ích-bô-sết là phía đông sông Giô-đanh (Ga-la-át) và thủ đô Ma-ha-na-im (xem bản đồ trang 341).  Dầu vậy, Ép-ra-im, Bên-gia-min và các chi phái khác (9) đã công nhận ông làm vua bất chấp thực trạng.

Không có lý do cụ thể nào khiến Đa-vít tấn công Ích-bô-sết.  Có thể là chính Ích-bô-sết quyết định tấn công Đa-vít với mục đích buộc Giu-đa về dưới trướng của ông.  Quân của Ích-bô-sết kéo đến Ga-ba-ôn, sát biên giới phía bắc của Giu-đa, còn Đa-vít kéo quân ra cản đường tiến của họ.  Như cách thực hiện trong 17:1-38, cả hai phe đều đưa những tay vô địch ra đấu tay đôi nhằm giải quyết gọn và nhanh chóng để tránh cuộc đổ máu không cần thiết.  Có lẽ cả hai bên đều tin Đức Giê-hô-va sẽ bày tỏ ý muốn của Ngài bằng cách ban chiến thắng cho mười hai người này hoặc mười hai người kia.  Tuy nhiên, lại xảy ra một trận chiến thực sự diễn ra tiếp liền đó (17) câu 30-31 cho biết đôi chút về tầm cỡ của trận chiến đó. 

Mục đích chính ẩn tàng sau phần tường thuật này là giới thiệu Giô-áp cho độc giả.  Giô-áp là tướng chỉ huy của Đa-vít trong suốt thời gian Đa-vít cai trị, và theo câu 28-30 rõ ràng ông nắm quyền chỉ huy.  Câu chuyện giải thích làm thế nào mà Áp-ne, tướng chỉ huy Y-sơ-ra-ên, lại giết một người em trai của Giô-áp.  Bản thân Áp-ne không muốn giết A-sa-ên, vì trên hết ông muốn tránh mối thù truyền kiếp.  Sau khi A-sa-ên chết, Giô-áp muốn xử sự ôn hoà.  Do đó, ông thỏa thuận ngưng chiến, nhưng trong chương này, ông vẫn giấu kỹ cảm nghĩ riêng tư.  Đến chương IISa 3:27, ông sẽ bộc lộ ra hết.

(IISa 3:1-5). Gia đình Đa-vít Tác giả không mô tả thêm về cuộc nội chiến nữa, dù chắc là dần dà Đa-vít giành được ưu thế (1).  Thay vào đó, ông trình bày về các bà vợ và các con trai của Đa-vít, có thể với ngụ ý Đa-vít sống an ninh và yên ổn trong Giu-đa, trái với sự nghiệp sắp tiêu tan của Ích-bô-sết.  Theo chúng ta biết, Ích-bô-sết không có gia đình.  Tuy nhiên, những chi tiết này có giá trị chính là dựng bối cảnh cho các biến cố về sau.  Sau này, các con trai của Đa-vít là những nhân vật quan trọng.  Am-môn và Áp-sa-lôm là nhân vật chính trong chương 13-18, A-đô-ni-gia thử chiếm ngôi vua khi Đa-vít về già (IVua 1:1-33).  Sa-lô-môn chưa được nhắc đến: sau này, ông mới được sinh ra tại Giê-ru-sa-lem (IISa 12:24).

Cuộc hôn nhân của Đa-vít với A-hi-nô-am và A-bi-ga-in đã được nhắc đến trước đây (ISa 25:42-43).  Cuộc hôn nhân mới đây của ông với Ma-a-ca là để liên minh với vua Ghê-su-rơ, một nước nhỏ miền bắc Giô-đanh.

(IISa 3:6-21). Áp-ne thay đổi thái độ Từ câu 6, chúng ta thấy rõ Áp-ne là người có tham vọng.  Trong vương quốc của Ích-bô-sết, ông có mọi thế lực.  Nhưng bây giờ, đúng như Áp-ne nhận thấy, thế lực nằm trong tay Đa-vít.  Chúng ta có thể ngờ rằng ông cố tình dàn chuyện để cãi lộn với Ích-bô-sết hầu có lý do chính đáng bỏ ông.  Nơi đây, không ghi ông thực sự có quan hệ tình ái với một nàng hầu cũ của Sau-lơ, nhưng ông cũng không phủ nhận lời cáo buộc.  Quan hệ loại này có nghĩa là xưng mình có quyền lên ngôi vua của Sau-lơ (IISa 16:21-22) cho nên không có gì lạ khi Ích-bô-sết phản đối, và kết quả là một cuộc cãi cọ bùng nổ.

Giờ đây, Áp-ne cảm thấy mình có quyền tự do sai sứ giả đến với Đa-vít.  Ông gợi ý sẽ giúp Đa-vít làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên.  Với câu hỏi “Xứ sẽ thuộc về ai?” (12), ông có ý báo cho Đa-vít biết ông là người có thế lực nhất trong các chi phái miền bắc, chớ không phải Ích-bô-sết.  Điều này hoàn toàn đúng.  Nhưng nếu cả Áp-ne lẫn Ích-bô-sết sống thêm vài năm nữa, chắc chắn Áp-ne sẽ phải chiến đấu chống lại Ích-bô-sết.  Trong hiệp ước, điều kiện Áp-ne đưa ra  có lẽ là cấp bậc cao trong quân đội của Đa-vít phải được dành cho ông (12).  Còn Đa-vít quyết tâm đòi Áp-ne phải trả Mi-canh là người vợ đầu tiên của ông lại cho ông vì nhiều động cơ (13-14).  Đem vợ ông gả cho người khác là một hành động gian ác và bất công (ISa 25:44), nên Đa-vít nhất quyết đòi phải sửa lại hành động bất công ấy.  Mất Mi-canh cũng là một sự sỉ nhục cho ông trước công chúng và chuyện này phải được điều chỉnh lại.  Có thể còn một động cơ chính trị nữa.  Đó là: khi kết hôn với con gái của Sau-lơ, ông sẽ có địa vị trong Y-sơ-ra-ên và có quyền hợp pháp kế vị ngôi vua.  Cuối cùng, ngay từ đầu hôn nhân của Đa-vít với Mi-canh là cuộc hôn nhân vì tình yêu (18:20) nên tình cảm đối với nàng cũng có thể là nguyên nhân khiến ông đòi nàng lại.  Đa-vít có lẽ phải, nhưng chúng ta vẫn cảm thương cho Pha-ti-ên.

Áp-ne thực hiện phần giao kèo của mình.  Khi trở lại báo cáo với Đa-vít, ông đã có thể hứa rằng toàn cõi Y-sơ-ra-ên sẽ công nhận Đa-vít làm vua (21).  Dĩ nhiên, đây là mối quan tâm của Đa-vít và chúng ta chắc rằng ông tỏ ý vui mừng với Áp-ne.  Về phần Áp-ne, chắc cũng hài lòng về diễn biến của tình thế, cho nên không thấy có lý do gì đáng ngại nữa.  Vì thế, ông đi bình yên với ‘sự bảo đảm an toàn’ (REB).

(IISa 3:22-39). Áp-ne bị sát hại Có lẽ Giô-áp cho rằng Áp-ne là tên gián điệp, không đáng tin cậy, như lời ông nói với Đa-vít (25).  Nhưng rất có thể đây chỉ là cái cớ: câu 30 nói rõ lý do vì sao ông ám sát Áp-ne cách đê hèn như vậy.

Vụ sát hại Áp-ne làm cho Đa-vít cực kỳ bối rối.  Thủ phạm lại là một viên chức cao cấp, mọi người nghi ngờ ông và tung tin rằng ông ra lệnh giết Áp-ne.  Tại vương quốc Ích-bô-sết, chắc ai nấy đều cho rằng Đa-vít có chủ tâm giết tất cả họ hàng của Sau-lơ để củng cố địa vị của mình.  Đa-vít chỉ còn một cách biện minh duy nhất là bằng mọi cách ông bày tỏ cho công chúng biết ông vô can trong vụ sát nhân này.  Vì thế, ông tỏ lòng tôn trọng và than khóc Áp-ne trước công chúng.  Câu 37 chép ông đã có thể thuyết phục dân chúng ở xứ Giu-đa lẫn miền bắc Y-sơ-ra-ên tin rằng ông vô can.

Tác giả viết đầy đủ về cái chết của Áp-ne cho thấy rằng sau này, có một số kẻ thù của Đa-vít vẫn còn kết tội ông nhẫn tâm thù nghịch Sau-lơ và họ hàng của Sau-lơ.  Đúng là Đa-vít không có biện pháp hình phạt kẻ sát nhân câu 39 cho biết lý do này.  Đa-vít không có ý nói ông là người nhu nhược, nhưng ông có ý nói Giô-áp và em trai là A-bi-sai (con trai Xê-ru-gia) rất có thế lực trong nước nên ông không thể đem họ ra xử.  Đa-vít cưu mang sự căm giận Giô-áp về hành động này suốt nhiều năm (IVua 2:5-6).

(IISa 4:1-12). Ích--sết bị sát hại: Vụ ám sát Áp-ne có thể gây chia rẽ vĩnh viễn giữa Giu-đa và miền bắc Y-sơ-ra-ên, khiến Đa-vít không thể làm vua toàn cõi Y-sơ-ra-ên.  Tuy nhiên, tình thế lại đảo ngược: cái chết của Áp-ne làm suy sụp vị vua nhu nhược, và vương quốc Y-sơ-ra-ên đã yếu nay lại yếu hơn.  Khi vị vua nhu nhược bị ám sát, vương quốc tất nhiên phải sụp đổ.

Không có lời giải thích nào về lý do khiến Rê-cáp và Ba-a-na ám sát Ích-bô-sết.  Trước đây, Sau-lơ có tiến đánh Ga-ba-ôn (IISa 21:2), có lẽ Bê-ê-rốt là quê của Rê-cáp và Ba-a-na đã bị tàn phá chung với Ga-ba-ôn (theo Gios 9:17, hai thành này liên minh với nhau).  Dù kẻ sát nhân có cưu mang mối căm hờn xưa cũ đối với Sau-lơ và gia đình ông hay không, họ vẫn tin chắc sẽ được Đa-vít ban thưởng vì đã giết được địch thủ của ông.  Nhưng một lần nữa, Đa-vít phải biện minh cho chính mình khỏi mang tiếng là đã ra lệnh giết Ích-bô-sết.  Ông biện minh cho mình bằng cách xử tử kẻ sát nhân và nói tốt về Ích-bô-sết.

Như vậy, triều đại của Ích-bô-sết kết thúc.  Chắc hẳn, ông không có con trai.  Người bà con gần duy nhất của ông là người cháu, con của Giô-na-than tên là Mê-phi-bô-sết bị tàn tật (4).  Hiển nhiên, chẳng một ai hình dung chuyện Mê-phi-bô-sết làm vua (chuyện Mê-phi-bô-sết sẽ tiếp tục trong chương 9).  Thật ra, các vụ ám sát đã dọn đường cho Đa-vít làm vua Y-sơ-ra-ên tác giả biết rằng Đức Chúa Trời tể trị ngay cả việc làm của kẻ gian ác tuy nhiên, cũng dễ hiểu vì sao một số người Y-sơ-ra-ên tin rằng chính Đa-vít điều động mọi chuyện thuê người giết đối thủ rồi lại thanh toán họ.

2. Đa-vít toàn quyền cai trị (IISa 5:1-25)

Chương này ghi chép ngắn gọn ba thành tích quan trọng nhất của Đa-vít.  Thứ nhất, ông thống nhất dân tộc và các chi phái Y-sơ-ra-ên công nhận ông làm vua.  Thứ hai, ông chinh phục Giê-ru-sa-lem, một trong các thành bên trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên nhưng không thuộc quyền kiểm soát của Y-sơ-ra-ên.  Các thành này chia cắt đất nước, tách rời chi phái này khỏi chi phái khác.  Dân Ca-na-an cũng thường xuyên là mối nguy hiểm cho Y-sơ-ra-ên, vì họ thường liên kết với dân Phi-li-tin chống  lại Y-sơ-ra-ên.  Vì thế, Đa-vít phải loại trừ mối nguy hiểm, và hoàn toàn kiểm soát các thành ‘ngoại bang’ này.  Thành tích thứ ba là loại trừ dứt điểm mối đe doạ của dân Phi-li-tin.  Ông đánh phá kẻ thù lâu đời của Y-sơ-ra-ên đến độ họ không bao giờ còn gây vấn đề cho Y-sơ-ra-ên nữa.  Chương 8 liệt kê những thành tích khác của Đa-vít.

(IISa 5:1-5).  Vua Y--ra-ên. Phân đoạn này bày tỏ Đa-vít không chinh phục các chi phái miền bắc, cũng không áp đặt quyền cai trị của ông trái với ý muốn của họ.  Chính họ chủ động tôn ông làm vua - các đại diện của họ đi về miền nam đến Hếp-rôn mời ông làm vua của họ.  Rõ ràng khi Ích-bô-sết qua đời thì chính quyền miền bắc phải sụp đổ, và khi đương đầu với dân Phi-li-tin xâm lược, các đại diện chi phái miền bắc cảm thấy cần phải có một chính quyền nhiều thế lực, cai trị có hiệu quả.  Về nguyên tắc, họ có thể chọn một người trong họ, nhưng câu 1-2 vạch ra ba lý do thúc đẩy họ phải đến với Đa-vít.

Câu 5 tóm tắt thời gian cai trị của Đa-vít và cho biết khoảng thời gian đánh chiếm Giê-ru-sa-lem (mô tả trong c.6-9).  Thời trị vì của Ích-bô-sết kéo dài chỉ hai năm (IISa 2:10) nhưng Đa-vít tiếp tục cai trị tại Hếp-rôn thêm năm năm nữa.  Có thể các trưởng lão Y-sơ-ra-ên công nhận ông làm vua ngay khi Ích-bô-sết qua đời, nhưng phải đến một thời gian sau, ông mới đánh chiếm Giê-ru-sa-lem.

(IISa 5:6-16).  Chiếm Giê-ru-sa-lem. Giê-ru-sa-lem là một thành cổ.  Trước đây, cả hai chi phái Giu-đa lẫn Bên-gia-min đều đã nỗ lực đánh chiếm (Cac 1:8,21) nhưng thành này vẫn dưới quyền kiểm soát của dân Ca-na-an gọi là dân Giê-bu-sít.  Thành này rất kiên cố, nên dân Giê-bu-sít tin rằng quân đội của Đa-vít không thể chiếm được.  Ý nghĩa của các từ và cụm từ trong c.6-8 không rõ ràng nhưng có thể dân Giê-bu-sít tỏ ý khinh bỉ: ngay cả một đơn vị gồm những người mù và què cũng có thể đánh tan được quân của Đa-vít! Nhưng thay vì trực tiếp tấn công vào các bức tường kiên cố, binh lính của Đa-vít phát hiện một đường hầm dẫn nước, nhờ đó họ đột nhập vào thành cách bất ngờ.  Nguồn cung cấp nước chính của Giê-ru-sa-lem là một con suối ngoài tường thành các nhà khảo cổ đã khám phá một số đường hầm và ống dẫn.

Sau khi chiếm được Giê-ru-sa-lem, Đa-vít biến Giê-ru-sa-lem thành thủ đô.  Thành này quan trọng hơn Hếp-rôn, vì nằm trong địa phận Bên-gia-min, nên dân Y-sơ-ra-ên miền bắc cảm thấy Đa-vít là vua thực sự trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên.  Tại đây, Đa-vít xây cung điện và thiết lập hậu cung của nhà vua.  Xin chú ý tên Sa-lô-môn trong câu 15.

(IISa 5:17-25). Đánh bại dân Phi-li-tin Dân Phi-li-tin để cho Đa-vít cai trị xứ Giu-đa mà không can thiệp.  Vì một dân tộc Y-sơ-ra-ên chia rẽ sẽ tăng cường sức mạnh cho Phi-li-tin.  Một khi các chi phái Y-sơ-ra-ên ủng hộ Đa-vít thì Phi-li-tin trở thành kẻ thù của ông (17).  Có lẽ trận tấn công đầu tiên của họ xảy ra trước khi Đa-vít đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, và họ nhằm vào thành trì A-đu-lam, bản doanh quân sự trước đây của Đa-vít (ISa 22:1-4).  Cả hai trận tấn công của Phi-li-tin đều xảy ra tại Trũng Rê-pha-im (18,22) về phía nam Giê-ru-sa-lem và tình hình này khiến Đa-vít lưu tâm đến vấn đề kiểm soát toàn bộ khu vực.

Tác giả mô tả hai chiến thắng của Đa-vít rất vắn tắt, nhưng đủ chi tiết chứng minh rằng ông luôn cầu hỏi Đức Giê-hô-va trước khi ra trận.  Đức Chúa Trời chưa bao giờ làm ngơ lời cầu xin của vị vua Ngài chọn lựa trái ngược rõ rệt với Sau-lơ (so sánh  28:6).

Sự kiện Hi-ram, vua ngoại bang, sai sứ giả đến Đa-vít, chứng tỏ quyền lực và giá trị của bản thân Đa-vít và dân tộc ông cai trị đang tăng mạnh.  Suốt thế kỷ X T.C., Y-sơ-ra-ên là quốc gia mạnh nhất trong toàn thể khu vực.  Tác giả công nhận Đa-vít có tài năng và đạt nhiều thành tích, nhưng chung cuộc ông ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời Toàn Năng (10).  Đức Chúa Trời không chủ ý dùng những thắng lợi đó để tôn vinh Đa-vít nhưng để làm mưu ích cho Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên (12).  Không còn nghi ngờ gì nữa, Đa-vít đã đem hoà bình, thịnh vượng và nhiều ích lợi cụ thể cho Y-sơ-ra-ên.

Tác giả không phê bình chỉ trích hậu cung của Đa-vít.  Trên một phương diện thì tầm cỡ chính trị của Đa-vít được mọi người ở vùng Cận đông xưa chấp nhận, nhưng các chương sau cho biết các con trai ông đã gây ra biết bao tranh giành rắc rối.  Phu 17:17 đưa ra lời cảnh cáo về tình trạng có nhiều vợ, đúng với Đa-vít cũng như với Sa-lô-môn.

Chú giải.  7  Trong Kinh Thánh, Si-ôn thường đồng nghĩa với Giê-ru-sa-lem.  Có lẽ từ đầu, đây là tên của một pháo đài trong thành.  Giờ đây, Giê-ru-sa-lem được gọi là Thành Đa-vít.  Trong thời Tân Ước, người ta vẫn dùng tên này (Lu 2:11).

3. Đa-vít, hòm giao ước và nhà của Đức Chúa Trời (IISa 6:1-7:29)

Sau-lơ chẳng bao giờ quan tâm đến hòm giao ước, và ông đã xúc phạm đến các tiên tri và thầy tế lễ.  Ngược lại, Đa-vít làm việc gần gũi với các tiên tri và thầy tế lễ, tỏ lòng quí trọng hòm giao ước.  Hòm giao ước được thỉnh về Giê-ru-sa-lem vĩnh viễn (chương 6).  Chương 7 mô tả một số chương trình của Đức Chúa Trời trong tương lai, có liên hệ đến nơi đặt hòm giao ước và có liên hệ đến Đa-vít.

(IISa 6:1-19). Thỉnh hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem Chương này tóm tắt câu chuyện về hòm giao ước (ISa 4:4-7:2).  Hòm giao ước ở tại Ba-la trong nhiều năm, thành cũng có tên là Ki-ri-át Giê-ra-im (7:2  Gio 15:9).  Khi thỉnh hòm về Giê-ru-sa-lem, Đa-vít biến Giê-ru-sa-lem thành nơi thờ phượng quan trọng trong vương quốc.  Giê-ru-sa-lem vừa là thủ đô tôn giáo, vừa là thủ đô chính trị của ông.  Việc thỉnh hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem cũng có giá trị chính trị, vì dưới con mắt của toàn thể dân Y-sơ-ra-ên, Giê-ru-sa-lem thêm phần quan trọng, và điều này hỗ trợ cho việc thống nhất đất nước.  Tuy nhiên,  tác giả nhấn mạnh đến khía cạnh tín ngưỡng trong hành động của Đa-vít.  Vua hết sức cẩn thận tỏ lòng tôn kính hòm giao ước.  Cái chết của U-xa (6-8) mãi mãi nhắc họ nhớ rằng hòm giao ước biểu tượng cho quyền năng của Đức Chúa Trời.  (Dân Y-sơ-ra-ên tại Bết-sê-mết bị hành hại vì bất cẩn đụng đến hòm, ISa 6:19).  Đa-vít hiểu rằng ông không có quyền tự do dùng hòm giao ước theo ý thích của mình ông lại càng không thể điều khiển Đức Chúa Trời mà cái hòm này biểu tượng.  Dù đây là một sự cố đau buồn lúc đó, nhưng có lẽ được ghi chép để an ủi các thế hệ sau sự kiện này nhắc họ nhớ rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mạnh mẽ hơn các quốc gia ngoại bang xâm lăng áp bức.  Sự cố này cũng dạy họ rằng tôn trọng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là yếu tố chính đem lại phúc lợi cho cộng đồng.

Vì thế, họ đặt hòm giao ước tại Giê-ru-sa-lem, nhưng trong một cái trại (17).  Mãi cho đến triều đại Sa-lô-môn, đền thờ mới được xây dựng (IVua 6:1-37).

(IISa 6:20-23). Nàng Mi-canh son se Câu chuyện về Mi-canh xuất hiện bất ngờ, và thật đáng kinh ngạc là vì sao nàng lại có thái độ thù địch đối với các việc làm của Đa-vít.  Dù nói gì đi nữa, bà vẫn thấy rõ rằng dân chúng không khinh bỉ Đa-vít, nhưng họ cũng vui với ông trong dịp lễ hội này.  Trong hoàn cảnh như vậy, Đa-vít trả đũa lại được xem là thích đáng với hoàn cảnh.  Có lẽ tác giả muốn chúng ta hiểu cuộc cãi lộn này làm cho hai người chia rẽ mãi mãi.  Dù sao đi nữa thì nàng không bao giờ sanh sản được. 

Câu 23 là điểm quan trọng.  Nhiều chương về sau trình bày các con trai của Đa-vít và tham vọng làm vua của họ.  Nếu Mi-canh có con trai, đứa con ấy có quyền lên ngôi vua với tư cách là cháu của Sau-lơ và là con của Đa-vít.  Cậu con trai đó chẳng bao giờ ra đời, và tác giả muốn chúng ta hiểu rằng Đức Chúa Trời cũng tể trị trong cả vấn đề này.

(IISa 7:1-17).  Na-than nói tiên tri Chương này tiếp tục kể hết chuyện về Đa-vít và đền thờ Giê-ru-sa-lem.  Chương ghi lại sự việc trong những năm về sau như câu 1 ngụ ý.

Đây là đoạn quan trọng nhất trong hai sách Sa-mu-ên, và cũng là một trong các đoạn chủ chốt trong toàn thể Cựu Ước.  Đoạn này viết về tương lai của đền thờ Giê-ru-sa-lem và tương lai của ngai vàng trong giòng họ Đa-vít - hai cơ chế này rất cần thiết cho dân Y-sơ-ra-ên suốt nhiều thế kỷ sau thời trị vì của Đa-vít.  Qua tiên tri Na-than, Đức Chúa Trời hứa chắc với Đa-vít về hai cơ chế này.  Lời hứa trang trọng của Đức Chúa Trời trở thành ‘giao ước đời đời’ với Đa-vít (IISa 23:5).

Tác giả khéo léo liên kết hai chủ đề này với nhau bằng chữ ‘nhà’.  Từ này trong tiếng Hi-bá-lai không chỉ có nghĩa là căn nhà bình thường, còn có nghĩa là đền thờ, và nghĩa thứ ba là triều đại (giống như trong tiếng Anh, gia đình của vua đang tại chức trong nước Anh được gọi là ‘nhà Windsor’).  Chương này bắt đầu với kế hoạch Đa-vít xây đền thờ cho Đức Giê-hô-va, tức là xây nhà cho Đức Chúa Trời (5), kế tiếp là câu 11 giới thiệu việc Đức Chúa Trời xây nhà cho Đa-vít - không phải xây cung điện cho ông, nhưng xây dựng triều đại Đa-vít, nghĩa là con cháu của ông sẽ kế vị ông làm vua tại Giê-ru-sa-lem.

Các lời hứa của Đức Chúa Trời về hai việc này gói ghém trong câu 13: con trai Đa-vít sẽ xây đền thơ và triều đại sẽ tồn tại mãi mãi.  Lời hứa này có những điểm rất sáng lạn, nhưng chương này cũng có một số điểm tối tăm.  Trước hết,  Đức Chúa Trời bác bỏ dự định xây dựng đền thờ của Đa-vít.  Thứ hai, Đức Chúa Trời không hài lòng về đền thờ.  (Câu 5-7 ngụ ý hai điểm này.) Thứ ba, câu 14 cho biết con cháu của Đa-vít, một số người sẽ trở thành những vị vua không tốt và họ sẽ bị trừng phạt.  Những điểm sáng lạn và tối tăm này giúp tác giả mô tả và giải thích các diễn biến xảy ra từ thời đại Đa-vít (đầu thế kỷ X T.C.) cho đến năm 587 T.C.  Trong giai đoạn này, chính Sa-lô-môn xây đền thờ, chớ không phải Đa-vít.  Nhiều vua kế vị nhu nhược và tội lỗi, nhưng triều đại được duy trì suốt bốn thế kỷ.

Năm 587 T.C., người Ba-by-lôn phá hủy đền thờ, và vương quốc Giu-đa chấm dứt.  Dòng họ Đa-vít vẫn tồn tại nhưng không bao giờ chiếm lại ngai vua.  Với những cảnh tượng đổi thay, chao đảo như vậy, chương này gói ghém sứ điệp gì? Sứ điệp đầu tiên đối với chúng ta là Đức Chúa Trời không lệ thuộc vào đền thờ, do đó, dân của Ngài không cần đền thờ.  Ê-tiên nhấn mạnh lại bài học này trong thời Tân Ước (Cong 7:44-50).  Thứ hai, lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho con cháu Đa-vít là lời hứa đời đời.  Đây là nền tảng cho họ mong đợi Đấng Mê-si, ‘Con Trai vĩ đại hơn của Đa-vít vĩ đại’.  Lời hứa này đem lại sự bảo đảm cho dân sự của Đức Chúa Trời sống vào các thế kỷ cuối của thời đại Cựu Ước và được ứng nghiệm trong sự giáng sanh của Chúa Giê-xu theo như toàn bộ Tân Ước và Hội Thánh Cơ-đốc làm chứng.

Khi Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm những lời hứa này, Ngài sẽ làm cho danh của Đa-vít nên cao trọng (9).  Đa-vít dứt khoát là vị vua lớn nhất Y-sơ-ra-ên và trong mọi thời đại, ông nổi tiếng là người vĩ đại nhất trong lịch sử.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời ban sự cao trọng cho ông không phải vì lợi ích của ông hoặc vinh quang của ông, nhưng vì lợi ích của quốc gia mà ông cai trị.  Vì vậy, câu 10 cho biết Đức Chúa Trời dự kiến và phán hứa cho Y-sơ-ra-ên qua Đa-vít.  Những lời hứa này đã thành sự thật suốt thời trị vì của Đa-vít và Đức Chúa Trời vẫn duy trì chương trình Ngài dành cho dân Ngài cho đến cuối cùng, dù trong thời gian sau này, Y-sơ-ra-ên và Giu-đa thường phạm tội với Đức Chúa Trời nên bị điêu đứng về mặt chính trị.  Những chương trình này tùy thuộc vào việc Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài về Đấng Mê-si.  Ngài sẽ sai Đấng Mê-si, Con Đa-vít đến, Đấng này sẽ đem đến cho dân Đức Chúa Trời sự an ninh, hoà bình mà họ luôn mong mỏi.

(IISa 7:18-29).  Lời cầu nguyện của Đa-vít Để đáp lại điều Đức Chúa Trời hứa với mình qua Na-than, Đa-vít cầu nguyện tỏ lòng tạ ơn.  Ông cầu nguyện trong lều tạm vừa mới dựng (18), và không thấy nói gì thêm về đền thờ dự kiến.  Đa-vít chỉ nhắc đến một nhà duy nhất, đó là triều đại tương lai của ông (19,25).  Ông tỏ lòng biết ơn cả về nội dung lời hứa lẫn sự kiện Ngài bày tỏ lời hứa này cho ông.  Như ông nói, hiếm ít người được biết trước tương lai của dòng họ mình (19). 

Lời cầu nguyện của Đa-vít cũng nhấn mạnh đến việc Đức Chúa Trời ban phước cho Y-sơ-ra-ên.  Câu 23-24 nhắc về lòng nhân từ Đức Chúa Trời đã dành cho Y-sơ-ra-ên trong quá khứ.  Một khi dòng dõi Đa-vít được duy trì, có nghĩa Đức Chúa Trời tiếp tục ban phước cho dân tộc Ngài đã chọn riêng cho Ngài mãi mãi.  Lời cầu nguyện tạ ơn của Đa-vít đem lại niềm an ủi và tin tưởng cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ đau khổ sau này.

4. Càng thêm chiến thắng (IISa 8:1-8)

Có nhiều thắng lợi chép trong chương này lại xảy ra trước các biến cố của chương 7.  Khi viết về các thắng lợi đó trong chương này, tác giả muốn chứng minh Đức Chúa Trời khởi sự làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài ban cho Đa-vít trong chương 7.

Tác giả ghi chép vắn tắt về trận thất bại mới đây của dân Phi-li-tin (1).  Cụm từ Metheg Ammah (bản Việt dịch là kinh đô) ở đây không rõ nghĩa, có lẽ đây không phải là địa danh nhiều nhà chú giải dịch là ‘quyền tối cao’.  Một câu tương tự trong Sử Ký ám chỉ đến thành Gát nổi tiếng (ISu 18:1).  Dân Phi-li-tin ở biên giới phía tây nam của nước Y-sơ-ra-ên.

Trong thời gian đầu, dân Mô-áp tỏ ra thân thiện với Đa-vít (ISa 22:3-4) nên nay chúng ta không biết nguyên nhân gì gây ra chiến tranh giữa họ với Đa-vít.  Cách đối xử tàn bạo của ông đối với họ cho biết họ phạm tội phản bội nghiêm trọng (2).  Dân Mô-áp ở biên giới phía đông nam của nước Y-sơ-ra-ên.

Câu 3-10 mô tả chiến dịch tiến đánh nhiều vương quốc thuộc dân A-ram ở về phía bắc của nước Y-sơ-ra-ên.  Cuối cùng, Đa-vít bắt các quốc gia nhỏ hơn phải nộp triều cống và quyền kiểm soát của ông mở rộng cho đến tận miền bắc sông Ơ-phơ-rát (xem bản đồ trang 341).  Câu 12-14 trở lại miền nam và cho chúng ta biết Đa-vít chiến thắng trên dân Am-môn và dân Ê-đôm cũng như dân Mô-áp.

Như vậy, Đa-vít luôn giành được thắng lợi quân sự ở bất cứ nơi nào cần đến giải pháp quân sự.  Ông cũng xây dựng guồng máy cai trị chặt chẽ trong nước Y-sơ-ra-ên (15).  Chương này kết thúc bằng bản liệt kê các viên chức cao cấp.  Lúc này, Giô-áp và A-bia-tha là những nhân vật quen thuộc với độc giả.  Bê-na-gia chỉ huy đội cận vệ, ông đóng vai trò quan trọng trong việc tôn Sa-lô-môn lên làm vua (ICác Vua 1).  Một số con trai Đa-vít làm cố vấn chắc là đúng vậy, nhưng từ này trong tiếng Hi-bá-lai nghĩa đen là ‘thầy tế lễ’.  Cho nên chắc họ có giữ chức tế lễ dưới một dạng nào đó, dù ở đây không nói đến một chi tiết nào.

Tên một nhân vật mới lạ quan trọng nhất trong bản liệt kê này là Xa-đốc.  Nhiều học giả cho rằng trước đây, ông có liên hệ với sự thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem, nhưng đây chỉ là phỏng đoán.  Dù xuất thân từ đâu đi nữa, ông trở nên thầy tế lễ thượng phẩm chính tại Giê-ru-sa-lem sau này, và gia đình ông vẫn giữ chức tế lễ thượng phẩm suốt nhiều thế kỷ.

2. VUA ĐA-VIT VÀ TRIỀU ĐÌNH (IISa 9:1-20:26)

Chương này mở đầu một phần mới trong sách Sa-mu-ên.  Chương 8 tóm lược thành tích của Đa-vít phần lớn nằm ngoài biên giới Y-sơ-ra-ên.  Chương 9 nói đến các vấn đề nội bộ, thực ra hầu như là các vấn đề trong gia đình.  ‘Gia đình’ là triều đình của vua và các vấn đề trong triều đình ảnh hưởng đến toàn thể vương quốc.

Các chương 9-20 thường được gọi là ‘phần tường thuật về cuộc tranh giành ngôi vua’, vì chủ đề chính trong các chương này quay quanh vấn đề người kế vị Đa-vít.  Ngay từ đầu, mỗi độc giả đều biết chính Sa-lô-môn mới là vua kế vị Đa-vít, và ngay đầu câu chuyện, chương IISa 12:24 cho biết chính Đức Chúa Trời đã chọn Sa-lô-môn từ khi mới ra đời.  Tuy nhiên, lúc đó vẫn chưa biết rõ ai là vua kế vị, có lẽ chính Đa-vít không ủng hộ Sa-lô-môn cho đến gần cuối đời mình.  Vì thế, các con trai khác của Đa-vít, nhất là Áp-sô-lôm theo đuổi tham vọng chiếm đoạt ngai vua.  Chương 9-20 và IVua 1:1-2:46 mô tả toàn thể các diễn biến.

Các chương này cho biết ngay trong thời trị vì của Đa-vít, Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm hai lời hứa mà Na-than đã nói với ông trong IISa 7:12-15.  Một mặt, Đức Chúa Trời luôn bày tỏ tình yêu thương đối với bản thân Đa-vít và người kế vị của ông (chưa biết là ai!).  Mặt khác, Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt hành động tội lỗi ‘bằng roi loài người’, nói cách khác, Ngài dùng con người để sửa phạt.  Nên trong các chương 9-20, chúng ta thấy tội lỗi của Đa-vít làm ông điêu đứng khốn khổ tuy nhiên, Đức Chúa Trời không bao giờ cắt đứt tình yêu thương của Ngài đối với ông.

1. Đa-vít và Mê-phi-bô-sết (IISa 9:1-13)

Mê-phi-bô-sết được nhắc đến trong 4:4, ông là một trong số ít người trong gia đình của Sau-lơ còn sống sót sau vụ ám sát Ích-bô-sết.  Ông sống ở Lô-Đê-ba, gần Ma-ha-na-in, thủ đô của Ích-bô-sết.  Nay, Đa-vít đem ông về Giê-ru-sa-lem.  Một số học giả cho rằng Đa-vít e ngại ông sẽ là hiểm hoạ cho ngai vàng nên mới đem Mê-phi-bô-sết về Giê-ru-sa-lem để canh chừng hoạt động của ông.  Nếu thật như vậy, tác giả không khơi gợi một dấu hiệu nào cả.  Đúng hơn, tác giả nhấn mạnh đến lòng nhân tư của Đa-vít và đến địa vị cao trọng mà Đa-vít ban cho Mê-phi-bô-sết.  Đa-vít làm trọn lời vua đã từng hứa với Giô-na-than, cha của Mê-phi-bô-sết (ISa 20:42).  Vua cư xử nhân từ không chỉ với Mê-phi-bô-sết thôi, mà còn cả với Mi-ca là con trai của Mê-phi-bô-sết  nữa(12).  Chương này hai lần nhắc cho độc giả nhớ rằng Mê-phi-bô-sết bị què, do đó tác giả nhấn mạnh ông là người bất lực.  Dù sau này, Xíp-ba có tố cáo ông (IISa 16:3) nhưng không chắc ông có khả năng làm đối thủ nguy hiểm của Đa-vít.

2. Chinh chiến với dân Am-môn và hậu quả của chiến tranh (IISa 10:1-12:31)

Chương 10 nếu tách riêng, là một chương viết về chuyện dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng dân Am-môn và tóm tắt các chiến thắng của Đa-vít đã khởi ghi từ chương 8.  Thật ra, chương này là cầu nối với các chương kia, vì chiến dịch quân sự đặc biệt này lưu lại hậu quả cho Giê-ru-sa-lem.  Một sĩ quan Y-sơ-ra-ên chiến đấu tại Giô-đanh là U-ri, có vợ là Bát-sê-ba bị Đa-vít quyến rũ khi ông ở ngoài chiến trường.  Sau đó, Đa-vít lợi dụng mặt trận để gây ra cái chết của U-ri.  Như vậy, chương 10-12 liên kết chủ đề chiến sự với những sự cố trong triều đình.

(IISa 10:1-19) Dân Am-môn gây chiến. Am-môn là một vương quốc nhỏ bên kia sông Giô-đanh, là quốc gia thù địch với Y-sơ-ra-ên trong thời trị vì của Sau-lơ Sau-lơ đã đánh bại vua Na-hách, nhưng đến bây giờ ông mới chết (ISa 11:1-15).  Trái lại, Đa-vít xưa nay hoà hoãn thân thiện với dân Am-môn.  Giờ đây, chắc các quan trưởng dân Am-môn (3) e rằng khi Đa-vít làm vua trên một nước Y-sơ-ra-ên thống nhất, ông sẽ thay đổi thái độ với họ.  Dù họ có lý do chính đáng để nghi ngại, nhưng họ tỏ ra dại dột khi sỉ nhục Đa-vít và khiêu chiến với ông.  Vương quốc Am-môn quá nhỏ bé không thể chiến thắng Y-sơ-ra-ên, do đó, họ liên minh với dân A-ram ở phía bắc.

Chương 8 ghi lại một số chiến thắng của Đa-vít trên dân A-ram, nhưng chương 10 không ghi rõ chiến thắng này xảy ra khi nào.  Vì chương này viết về thời kỳ trước khi Sa-lô-môn ra đời, nên trận chiến này chắc đã xảy ra vào thời kỳ đầu thời trị vì của Đa-vít.  Do đó, sự việc dân A-ram hoà hoãn với Đa-vít (19) có thể chỉ là giải pháp tạm thời.  Điểm quan trọng là họ không còn liên minh với dân Am-môn, trong khi dân Am-môn tiếp tục chiến đấu nhưng không hi vọng chiến thắng.  Kết thúc trận đánh được mô tả trong IISa 12:29-31.

(IISa 11:1-13).  Quan hệ của Đa-vít với Bát--ba U-ri Bình thường, các hoạt động quân sự tạm ngưng vào mùa đông.  Vì thế, đến mùa xuân Đa-vít mở lại các đợt tấn công vào dân Am-môn.  Câu 1 không ngụ ý là Đa-vít có bổn phận phải thân chinh với binh sĩ.  Một khi quân Y-sơ-ra-ên đã nắm chắc phần thắng như lúc đầu thì Đa-vít chẳng cần thân hành ra trận.  Đạo quân dân Am-môn bị tiêu diệt nhanh chóng và thủ đô của họ bị bao vây.  Lúc này, đội quân Y-sơ-ra-ên rất mạnh mẽ nên ngai vàng của Đa-vít được vững chãi.  Lắm lúc, sự an nhàn và yên ổn là lối dẫn vào sự thất bại trong phần thuộc linh và đạo đức.  Rất chí lý!

Đa-vít có toàn quyền ở lại Giê-ru-sa-lem, nhưng không có lý do nào để bào chữa cho những việc ông làm trong thời gian này.  Bát-sê-ba là phụ nữ có chồng, và Đa-vít biết điều này.  Phần ghi chú trong câu 4 nói về sự ô uế của bà có nghĩa là bà vừa có kinh xong, do đó, sự thụ thai này chắc chắn do Đa-vít phạm tội tà dâm với bà.  Có lẽ phải xét lại đức hạnh của bà Bát-sê-ba, thế nhưng tác giả đổ mọi tội cho Đa-vít: ông cậy quyền làm vua, lạm dụng quyền hành và địa vị của mình. 

Xem ra Đa-vít còn tồi bại hơn khi vua tìm cách dẫn dụ U-ri về nhà với hi vọng U-ri sẽ ngủ với vợ.  Nhưng mọi mưu tính đó đều thất bại (6-13).  Tác giả không tìm cách biện hộ cho Đa-vít.  Phần chuyện này xây dựng trên sự kiện các quan quân tướng sĩ có lời thề kiêng quan hệ tình dục từ đầu một chiến dịch quân sự cho đến cuối (so sánh ISa 21:4-5).  Có thể khi Đa-vít bảo U-ri rửa chân (8) tức là bảo U-ri thực hiện nghi thức tháo gỡ lời thề ấy.  Ai bảo gì thì bảo, U-ri vẫn coi mình như đang khẩn trương thi hành công tác và ông đã xử sự theo tiêu chuẩn cao nhất.

(IISa 11:14-27).  U-ri tử trận Đến lúc này, Đa-vít hi vọng có thể giấu nhẹm tội ngoại tình của mình, với hi vọng đứa con tương lai sẽ được coi như của U-ri.  Nhưng U-ri đã làm tiêu tan hi vọng đó, nên vua quyết định giết U-ri.  Lẽ tự nhiên, ông sợ hổ danh trước công luận và còn nghiêm trọng hơn nữa, trong Y-sơ-ra-ên án phạt cho tội ngoại tình là xử tử.  Tuy nhiên, với tư cách là quan tòa tối cao trong nước, khó lòng Đa-vít tuyên án tử hình cho chính mình.  Thế đấy, ngoại tình tùy hứng tùy thích sẽ chỉ gặt lấy một tình thế nghiêm trọng.  Chỉ có cách U-ri chết mới giải quyết được vấn đề: Đa-vít cưới người vợ góa, và như thế chẳng ai biết đứa con này là của ai (27).  Chắc Giô-áp đoán được sự thật, nhưng ông sẽ chẳng bao giờ phản bội Đa-vít.  Tuy nhiên, câu 27 cho biết Đức Chúa Trời đã biết toàn bộ sự thật.

Đa-vít không ngần ngại lập kế hoạch hại U-ri, nhưng ông không muốn mất thêm một binh sĩ nào.  Khi đọc chỉ thị của Đa-vít, Giô-áp điều chỉnh lại kế hoạch, kết quả là nhiều binh lính khác chết theo U-ri (17).  Ông thấy kế hoạch của Đa-vít quá lộ liễu, còn với kế hoạch của ông sẽ không ai biết U-ri là nạn nhân.  Sự việc này chứng tỏ Giô-áp trung thành với Đa-vít và cũng bộc lộ bản tính bạo tàn nơi ông.  Tuy nhiên, Đa-vít mới thật là tên sát nhân.

Câu 21 nói về Cac 9:50-53.  Cái chết của A-bi-mê-léc chứng tỏ cho quân Y-sơ-ra-ên rằng mạo hiểm đến gần tường thành đang bị bao vây sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

(IISa 12:1-14). Lời quở trách của Na-than Na-than là một tiên tri (IISa 7:2) phát ngôn cho Đức Chúa Trời trong triều đình xứng đáng là người kế vị Sa-mu-ên.  Ông có uy quyền và can đảm để làm người phê bình và đoán xét vua.  Trước khi trực tiếp buộc tội trong câu 9, ông kể câu chuyện ngụ ngôn tuyệt vời.  Kinh Thánh kể nhiều truyện ngụ ngôn khó hiểu, nhưng chuyện này thật là dễ hiểu.  Đa-vít tưởng lầm Na-than đang kể một chuyện có thật, nên ông tuyên án trước khi hiểu thấu đáo ý Na-than gói ghém trong câu chuyện đó.  Đa-vít dư biết hình phạt xứng đáng dành cho tên trộm chiên là bồi thường gấp bốn lần (Xu 22:1) nhưng ông đã đùng đùng bộc lộ sự bất bình và nói rằng tên trộm nhẫn tâm như vậy đáng phải chết.  Không ngờ ông tự tuyên án cho chính mình qua chuyện này.

Chuyện ngụ ngôn này không chỉ nhằm đẩy Đa-vít đến chỗ tự lên án chính mình, nhưng cũng nhằm mô tả sống động về tình trạng thực tế.  Nếu các vua tham lam, thì họ đã có sẵn uy quyền để chiếm đoạt mọi điều họ muốn, còn dân thường thì bất lực.  Na-than tiếp tục vạch cho Đa-vít thấy ông tham lam biết là chừng nào.  Ngoài các bà vợ của ông, ông còn lấy các nàng hầu của Sau-lơ (8) để biểu thị rằng tất cả quyền hành của một vị vua đã chuyển từ Sau-lơ qua hết cho ông rồi.

Câu 11-14 là bản án của Đức Chúa Trời.  Bản thân Đa-vít sẽ sống đến tuổi già, nhưng những cuộc đổ máu sẽ đem tai hoạ đến cho ông.  Các chương sau cho biết lời tiên tri này được ứng nghiệm như thế nào.  Áp-sa-lôm làm ứng nghiệm từng chữ lời tiên tri trong câu 11 (IISa 16:22).  Tuy nhiên, điều quan trọng chúng ta cần thấy là sự sửa phạt của Đức Chúa Trời đi đôi với sự tha thứ vì Đa-vít có ăn năn (13).  Sự ăn năn thành khẩn của Đa-vít hoàn toàn khác với chuyện Sau-lơ cố lừa dối Sa-mu-ên (ISa 13:1-23  15:1-34).  Tựa đề của Thi Thiên 51 liên hệ bài thơ sám hối và câu chuyện này lại với nhau.

(IISa 12:15-31).  Sa--môn chào đời Phần cuối trong lời tiên tri của Na-than tiên báo đứa con bất hợp pháp của vua sẽ chết.  Việc này được ứng nghiệm đầu tiên.  Nhưng Đa-vít không chấp nhận cái chết của con mình theo như đã định.  Đoạn này nhấn mạnh Đa-vít tha thiết quan tâm đến đứa bé và khiến chúng ta chú ý đến nỗi khắc khoải của ông trong suốt thời gian đứa bé đau ốm.  Sự sầu khổ dìm vua sâu trong xúc cảm đến độ xao lãng mọi sinh hoạt thường nhật, khiến cho những người phục vụ của vua ái ngại.  Nỗi buồn khổ chân thành của Đa-vít cũng như sự chăm sóc của ông đối với Bát-sê-ba chiếm được lòng thông cảm của độc giả.  Tuy nhiên, tác giả có ý cho biết bản án của Đức Chúa Trời có hiệu lực biết là dường nào: án phạt dành cho Đa-vít bắt đầu.

Các chương sau tiếp tục kể lại nỗi khổ của Đa-vít.  Tuy nhiên, có hai câu trong đoạn này (24-25) cho biết dù sửa phạt Đa-vít nhưng Ngài không bỏ rơi Y-sơ-ra-ên.  Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời Ngài hứa trong IISa 7:12-13 bằng cách cho Sa-lô-môn ra đời.  Qua Na-than, Đức Chúa Trời ban cho một sứ điệp: Đức Giê-hô-va yêu Sa-lô-môn.  Dấu hiệu này cho độc giả biết đây là người con trai được Đức Chúa Trời chọn làm vua kế vị.  Như vậy, kế hoạch cho tương lai đã được Đức Chúa Trời thiết lập.  (Sa-lô-môn không xuất hiện lại trong chuyện cho đến ICác Vua 1.)

Câu 26-31 kết thúc cuộc chiến thắng trên dân Am-môn.  Đích thân Đa-vít ra trận với đạo quân của ông trong trận này.  Một lần nữa, Giô-áp chứng tỏ lòng trung thành của ông đối với vua.

Chú giải.  30  Có thể chiếc vương miện nặng không phải của vua Am-môn, nhưng của thần Minh-côm, được tôn là thần chính trong nước Am-môn (xem phần chú giải ngoài lề bản NIV, REB và NRSV).

3. Đa-vít và những đứa con lớn nhất của ông (IISa 13:1-18:33)

Nhân vật chính trong chuyện là Áp-sa-lôm, con trai thứ ba của Đa-vít (IISa 3:2-3).  Con trai cả là Am-nôn bị Áp-sa-lôm giết và hình như đứa con thứ hai chết khi còn nhỏ vì không hề được nhắc đến tên lần thứ hai.  Dầu sao đi nữa thì sau khi giết Am-nôn, Áp-sa-lôm rộng đường tính chuyện lên ngôi vua.

(IISa 13:1-22).  Cưỡng hiếp Ta-ma Ta-ma là em cùng cha khác mẹ của Am-nôn.  Mẹ nàng là Ma-a-ca (3:2-3).  Theo luật pháp Le 18:11  Phu 27:22, anh em cùng cha khác mẹ không được lấy nhau.  Căn cứ vào lời đề nghị của Ta-ma (13), ta có thể hiểu rằng vua có quyền tạm gác điều luật này, nhưng dầu sao thì rõ ràng Am-nôn hiểu là ông không thể lấy Ta-ma (2).  Dục vọng, sự lừa dối và tánh hung bạo đã biến ông thành con người hết sức bẩn thỉu - dù là con trai lớn nhất của Đa-vít, rõ ràng ông không xứng đáng là người cai trị Y-sơ-ra-ên.  Tuy nhiên,  câu chuyện không có ý nhận định phê phán về đạo đức của Am-nôn, nhưng chứng tỏ cho chúng ta biết gia đình của Đa-vít đã đem ‘tai hoạ’ đến cho vua và làm ứng nghiệm lời tiên tri trong IISa 12:11.  Đa-vít rất giận (21) nhưng rõ ràng ông không phạt kẻ phạm tội.  Đây là lỗi lầm tai hại vì kẻ có lỗi không bị phạt nên có thể hiểu vì sao cơn giận của Áp-sa-lôm tăng đến độ biến thành căm thù.

(IISa 13:23-39).  Mưu sát Am-nôn Cho đến lúc này, chúng ta còn thông cảm với Áp-sa-lôm, nhưng qua đoạn này thì ông không khá hơn Am-nôn bao nhiêu.  Ông cũng tàn bạo và dối trá không kém.  Chắc hẳn, ông đã chờ đợi hai năm (23) mới hành động để Đa-vít khỏi nghi ngờ.  Chương này cho biết ngay cả các hoàng tử cũng không được tự do đi lại theo ý muốn, mà phải được vua cho phép mới ra khỏi cung.  Vì thế, ông phải tính kế hoạch cẩn thận, kể cả việc ông chạy trốn đến Ghê-su-rơ, quê hương của mẹ ông (37).

Tác giả kể lại tin đồn sai lạc cho rằng Áp-sa-lôm đã giết các anh em của ông có dụng ý cho chúng ta biết Đức Chúa Trời tể trị hoàn cảnh để bảo vệ Sa-lô-môn.  Vì nếu có thể, Áp-sa-lôm muốn giết hết anh em mình và nếu có chuyện đó, Sa-lô-môn cũng chết chung với họ.  Sau này, Áp-sa-lôm mới có tham vọng làm vua nhưng lúc này động cơ duy nhất của ông là trả thù Am-nôn. 

Câu 39 thêm vào một chi tiết thực tế rất người ba năm sau, nỗi buồn nhớ Am-nôn nơi Đa-vít đã nguôi ngoai, ông bắt đầu nghĩ khác về Áp-sa-lôm, là con trai lớn nhất còn sống của ông.  Tình cảm trong vua thay đổi mở đường cho chương 14.

(IISa 14:1-20).  Kế hoạch của Giô-áp Căn cứ vào câu 19, chúng ta có thể suy luận rằng Giô-áp cố thuyết phục Đa-vít tha thứ cho Áp-sa-lôm và đem ông về hoàng cung.  Nếu có thì ông đã thất bại.  Hẳn là Giô-áp băn khoăn muốn Đa-vít truyền ngôi cho thái tử cách êm đẹp, và rõ ràng ông thấy Áp-sa-lôm là người kế vị Đa-vít.  Ông thực lòng quan tâm đến đất nước, nhưng ông lại ủng hộ sai người đến hai lần (IVua 1:7).

Không thuyết phục được Đa-vít, ông quyết định đánh lừa Đa-vít bằng cách dùng một thiếu phụ khôn ngoan.  Theo cách của Na-than trong chương 13, bà làm bộ ra một vụ án và xin Đa-vít giải quyết với tư cách là một quan tòa tối cao.  Lý luận đạo đức của bà là phúc lợi của toàn thể gia đình quan trọng hơn sự trừng phạt thích đáng một cá nhân, và Đa-vít đồng ý với bà.  Căn cứ nguyên tắc này, bà áp dụng rằng phúc lợi của toàn thể dân tộc quan trọng hơn sự trừng phạt thái tử (13).  Vì thế, nên cho phép Áp-sa-lôm trở về nước. 

Giô-áp lo ngại trường hợp Đa-vít qua đời trong khi Áp-sa-lôm còn lưu vong khiến đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn chính trị.  Trong câu 14, bà có ý nói Đức Chúa Trời làm cho vua sống lâu để có thời gian đem Áp-sa-lôm trở về.

(IISa 14:21-23). Áp-sa-lôm trở về Giê-ru-sa-lem Dù bà Thê-cô-a ca tụng Đa-vít là người khôn ngoan (20) nhưng hành động của ông đối với Áp-sa-lôm lại không khôn ngoan.  Ông cho phép Áp-sa-lôm trở về Y-sơ-ra-ên, nhưng ông không chịu phục hồi địa vị của Áp-sa-lôm trong triều đình.  Nếu Áp-sa-lôm cứ sống lưu vong sẽ ít gây nguy hại cho Đa-vít, và nếu Đa-vít hoan nghênh ông trở về thì chắc hẳn ông không tìm cách ám hại Đa-vít.  Ngược lại, cách xử sự của Đa-vít làm cho ông rất tức giận, đồng thời tạo mọi thuận lợi cho ông toan tính xây dựng kế hoạch phản lại Đa-vít.  Đoạn này cho biết Áp-sa-lôm là người có dáng vẽ bên ngoài hấp dẫn nhưng bên trong đầy tánh ngạo mạn.

(IISa 15:1-12).  Áp-sa-lôm mưu phản Chắc chắn, Áp-sa-lôm là nhà lãnh đạo bẩm sinh có nhiều tài khéo và năng lực.  Phải chi có tâm tánh khác, ông đã có thể kế vị Đa-vít làm vua tuyệt vời.  Điều đáng chú ý là ông đã có thể thuyết phục nhiều người Y-sơ-ra-ên ủng hộ ông chống lại Đa-vít.  Câu 1-6 cho biết ông lừa phỉnh những người bất mãn với cán cân công lý và chắc ông đã lợi dụng mọi sự bất mãn về bất cứ chuyện gì.  Dầu sao, chúng ta cũng ngỡ rằng các lợi ích lớn lao mà Đa-vít đã đem lại cho dân tộc sẽ giữ đại đa số dân chúng trung thành với ông.  Như vậy, Áp-sa-lôm phải tỏ ra có tài lôi kéo nhiều người ủng hộ.  Thậm chí A-hi-tô-phe, ông của Bết-sê-ba cũng bỏ Đa-vít (12).  Áp-sa-lôm cũng tỏ ra khéo tổ chức đến nỗi phe mưu phản bành trướng rộng lớn mà chẳng có một lời đồn đãi nào đến tai triều đình.  Căn cứ vào nhiều dữ liệu khác, chúng ta suy luận rằng có nhiều người ở Giu-đa (Hếp-rôn nằm trong Giu-đa) và trong các chi phái miền bắc ủng hộ Áp-sa-lôm, còn ở Giê-ru-sa-lem thì ít.  Có thể vì sợ lộ nên Áp-sa-lôm không dám vận động nhiều tại Giê-ru-sa-lem. 

Chú giải.  6  Khi viết những người Y-sơ-ra-ên có lẽ tác giả muốn nói về các chi phái miền bắc chống lại Giu-đa, nhưng có thể ông ám chỉ cả hai miền nam, bắc chống lại người Giê-ru-sa-lem. 

(IISa 15:13-37).  Đa-vít chạy trốn Đa-vít đứng trước hai giải pháp: hoặc ông ở lại Giê-ru-sa-lem đối phó với cuộc vây hãm, hoặc ông lánh đến nơi an toàn.  Ông chọn cách thứ hai để cứu Giê-ru-sa-lem khỏi bị hư hại và ông có thì giờ tuyển mộ quân và xây dựng một đội quân chống  lại Áp-sa-lôm.  Vì thế, ông chạy về hướng đông, cuối cùng ông đến Ma-ha-na-im ở bên kia Giô-đanh, thủ đô của Ích-bô-sết ngày xưa (IISa 17:24).  Chương 15 và 16 đề cập chi tiết đến thái độ và quyết định của một số nhân vật quan trọng trong tình thế này.

Các quan chức (14) của Đa-vít không dám ở lại vì chắc chắn Áp-sa-lôm sẽ đuổi hoặc thậm chí giết họ.  Các cung phi của Đa-vít không có quyền chọn lựa đi hoặc ở, cả Đa-vít lẫn Áp-sa-lôm đều không cho họ quyền hạn gì cả (16  16:22).  Các tôi tớ của ông (18) là đạo quân riêng của ông và đội cận vệ người ngoại bang còn quân chính qui có lẽ ủng hộ Áp-sa-lôm (17:1).  Đội trưởng Y-tai bộc lộ lòng trung thành của đội quân với Đa-vít, và chính họ sau này đem chiến thắng về cho ông.

Đối với Đa-vít, hai thầy tế lễ thượng phẩm vẫn trung thành với ông đúng là dấu hiệu tốt (24-29).  Điều đáng lưu ý là Đa-vít cho hòm của Đức Chúa Trời trở về Giê-ru-sa-lem, ông sẵn sàng chấp nhận ý muốn Đức Chúa Trời đối với ông.  Khác với dân Y-sơ-ra-ên trong thời Hê-li (ISa 4:3-4), Đa-vít không tin rằng hòm giao ước sẽ đem chiến thắng về cho vua theo kiểu ma thuật đồng bóng.  Vua cũng có thể nhờ đến sự giúp đỡ của một số người trung thành tại Giê-ru-sa-lem, khi vua hỏi: Xa-đốc, ngươi không phải là tiên tri sao?, rất có thể ông muốn nói là ‘Ngươi không phải là người biết quan sát sao?’

Một người bạn trung thành khác được sai trở về Giê-ru-sa-lem là Hu-sai (30-37), chắc ông là một thành viên danh tiếng trong hội đồng hoàng gia.  Toàn thể câu chuyện cho biết A-hi-tô-phe là nhà cố vấn lỗi lạc (IISa 16:23) nên khi biết ông này ủng hộ Áp-sa-lôm, vua rất lo ngại.  Do đó, Đa-vít sai Hu-sai trở về.  Vua hi vọng Hu-sai có thể đối phó phá hoại các mưu tính mà A-hi-tô-phe đề ra cho Áp-sa-lôm.  Sự tính toán này hoá ra rất thành công (17:1-14).

(IISa 16:1-14).  Xíp-ba Si--i Cuộc đấu tranh giành quyền hành giữa cha và con là Đa-vít và Áp-sa-lôm.  Gia đình Sau-lơ ủng hộ ai trong hai người? Đa-vít sớm ngờ rằng họ đứng về phía Áp-sa-lôm.  Si-mê-i công khai chống  lại Đa-vít, tố cáo ông đã giết nhiều người trong gia đình Sau-lơ.  Ông qui tội cho Đa-vít về cái chết của Áp-ne và Ích-bô-sết (chương 3-4).  Đáp lại, Đa-vít chứng tỏ ông không cuồng nộ như Giô-áp, ông sẵn sàng tìm kiếm và chấp nhận theo ý Đức Chúa Trời (10-12).

Về phần Mê-phi-bô-sết, cháu của Sau-lơ, Xíp-ba thuyết phục Đa-vít tin rằng Mê-phi-bô-sết đã phản bội.  Không thấy ghi lại cảm nghĩ thật của Mê-phi-bô-sết và Đa-vít, nhưng lời tố cáo của Xíp-ba (3) có thể không đúng.  Khó lòng hình dung được chuyện Mê-phi-bô-sết đoạt được ngai vàng nhân cuộc tranh giành giữa Đa-vít và Áp-sa-lôm.  Về mặt khác, cũng dễ hiểu vì sao Xíp-ba lại bịa chuyện vu khống: Đa-vít hứa ban thưởng cho ông ngay tại chỗ. 

(IISa 16:15-23).  Hu-sai A-hi--phe Áp-sa-lôm tiến vào Giê-ru-sa-lem mà không phải đối phó với một kháng cự nào cả.  Chắc chắn, ông lo thành lập một hội đồng cố vấn, trong đó có Hu-sai và A-hi-tô-phe.  Như chúng ta biết trong IISa 15:34, Hu-sai chủ tâm phỉnh gạt Áp-sa-lôm và phá hỏng mưu đồ của A-hi-tô-phe.  Ngay lập tức, ông lừa được Áp-sa-lôm khi ngụ ý nói rằng ông tin Áp-sa-lôm là người Đức Giê-hô-va chọn lựa.  Thật ra, ông tin rằng Đa-vít vẫn là người được Đức Chúa Trời chọn.

Hu-sai không cản trở mưu lược thứ nhất của A-hi-tô-phe.  A-hi-tô-phe tính toán rất đúng một khi Áp-sa-lôm công khai chiếm dụng các cung phi của Đa-vít, thì sự việc đó sẽ chia rẽ Đa-vít và Áp-sa-lôm dứt khoát và vĩnh viễn.  Biết đâu chừng, nhiều người Y-sơ-ra-ên còn lưỡng lự chưa dám ủng hộ Áp-sa-lôm vì e rằng cuộc bất hoà giữa ông và cha ông sẽ sớm chấm dứt khi ấy những người có hành vi chống đối Đa-vít sẽ lâm nguy.  Cũng có thể Hu-sai thấy rằng chuyện Áp-sa-lôm chiếm dụng các cung phi của Đa-vít sẽ khiến Đa-vít được nhiều người ủng hộ cũng như Áp-sa-lôm được nhiều người ủng hộ vậy.  Thế nên ông không có ý kiến gì.

(IISa 17:1-14).  Hu-sai thành công Mưu lược kế tiếp của A-hi-tô-phe có liên quan đến phương diện quân sự của phe nổi loạn.  Kế hoạch của ông rất có lý, chiến thuật chớp nhoáng và bất ngờ sẽ đem lại chiến thắng nhưng rất ít tổn thất.  Một khi Đa-vít đã chết thì mọi phản ứng chống  lại Áp-sa-lôm hoá ra vô nghĩa.

Hu-sai hùng hồn trình bày mưu kế của ông (8-13).  Mưu lược của ông đặt cơ sở trên sự kiện lực lượng của Áp-sa-lôm đông hơn lực lượng của Đa-vít.  Yếu điểm của kế hoạch này là (Hu-sai dư biết) cuộc hành quân phải hoãn lại dài thời gian và như vậy, Đa-vít, Giô-áp có đủ thời gian chuẩn bị ra trận với tất cả kinh nghiệm quân sự của họ.  Thật ra, kế hoạch của Hu-sai tồi đến nỗi chẳng bao lâu sau, A-hi-tô-phe phải tự sát (23).  Tác giả công nhận Áp-sa-lôm và tôi tớ của ông đã bị Đức Chúa Trời cũng như Hu-sai dẫn dụ vào những quyết định sai (14).

(IISa 17:15-29).  Trước khi chiến trận bùng nổ Hu-sai vội vã sai người báo cho Đa-vít rõ từ khi Áp-sa-lôm chưa quyết định chọn chiến lược.  Phần tường thuật chi tiết từ câu 17-22 nhấn mạnh đến chuyện các liên lạc viên suýt nữa bị bắt đây là một trường hợp điển hình khác về sự kiện Đức Chúa Trời tể trị hoàn cảnh giúp họ trốn thoát để phá hỏng kế hoạch của Áp-sa-lôm.

Nhờ công của Hu-sai, Đa-vít đặt bản doanh trong một thành kiên cố là Ma-na-ha-im, trong khi đó Áp-sa-lôm và quân đội của ông vượt Giô-đanh (24) theo đúng kế hoạch.  Tổng tư lịnh của Áp-sa-lôm là A-ma-sa không có tài năng và kinh nghiệm bằng Giô-áp.  A-ma-sa có quan hệ bà con với Giô-áp (ông cũng có bà con với Đa-vít và Áp-sa-lôm).  Câu 27-29 cho biết ngay tại Ma-ha-na-im, thủ đô của Ích-bô-sết ngày xưa, Đa-vít cũng được nhiều bạn hữu có thế lực ủng hộ nên ông có thể tự tin đương đầu với cuộc chiến sắp tới.

(IISa 18:1-18).  Áp-sa-lôm tử trận Cuộc tổn thất trong ngày hôm đó rất lớn là chuyện không sao tránh khỏi (7).  Cuộc nổi loạn đã phải trả một giá đắt.  Binh lính của Đa-vít chứng tỏ có kinh nghiệm dày dặn, còn binh lính của Áp-sa-lôm không am tường địa thế, do đó, bị tổn thất nặng nề (8).  Nhưng chắc chắn, số quân tử trận của cả hai bên đều cao.

Tác giả quan tâm đến mạng sống của hai người là Đa-vít và Áp-sa-lôm.  Xem ra cả hai đều không hiểu ý đồ của A-hi-tô-phe trong IISa 17:3, nghĩa là một trong hai người phải chết mới giải quyết được vấn đề (hoặc Đa-vít chết, hoặc Áp-sa-lôm chết).  Thế nên, Đa-vít sẵn sàng liều mạng sống (còn Áp-sa-lôm không những liều mạng mà còn mất mạng nữa) nhưng binh lính của Đa-vít khôn ngoan hơn.  Họ quyết bảo toàn mạng sống của vua, không cho vua phiêu lưu vào nơi nguy hiểm.  Còn Giô-áp quyết giết cho bằng được Áp-sa-lôm và khi Áp-sa-lôm không còn nữa thì cuộc chiến cũng chấm dứt (15-16).  Giô-áp thấy vấn đề rõ hơn Đa-vít, vì Đa-vít không thể hình dung được quí tử của mình lại là thù địch của mình.

Câu 18 kết thúc câu chuyện về Áp-sa-lôm và vạch ra thêm một hành vi bộc lộ tánh ngạo mạn của ông.  Đài tưởng niệm duy nhất của ông là nấm mồ sâu trong rừng.  Câu này ngụ ý cả ba con trai của ông (14:27) đều đã chết. 

(IISa 18:19-33).  Báo tin Áp-sa-lôm tử trận Việc chọn sứ giả đi báo tin cho vua tùy thuộc vào nội dung của tin báo.  Tin vui hoặc tin buồn đây? A-hi-mát tin chắc đây là tin vui, còn Giô-áp biết Đa-vít quan tâm đến sự toàn mạng của Áp-sa-lôm hơn là kết quả chiến trận.  Vì thế, Giô-áp chọn một chiến sĩ ngoại quốc báo tin cho Đa-vít biết Áp-sa-lôm đã chết.  Đây là câu chuyện đau thương nhất trong Kinh Thánh, vì trong khi cố hiểu nội dung của hai lời báo tin khác nhau, ông vẫn hi vọng đó là tin tốt lành.

Lời than khóc ai oán cuối cùng của Đa-vít thật mỉa mai: phải chi ông cứ ở lại Giê-ru-sa-lem, thì ông đã chết thay cho Áp-sa-lôm! Nỗi buồn rầu thống thiết nhưng vô lý của Đa-vít chứng tỏ rằng bản án phạt của Đức Chúa Trời mà Na-than báo trước cho vua đã được Ngài thi hành rất đúng đắn (IISa 12:10).  Mục đích chính của tác giả xoáy mạnh vào điểm này.

4. Đa-vít trở về và Sê-ba phản nghịch (IISa 19:1-20:26)

Chiến tranh, nhất là các cuộc nội chiến, có thể đạt được mục tiêu nhưng lại nảy sinh nhiều vấn đề mới không sao tránh khỏi.  Đa-vít giành được chiến thắng, nhưng đất nước mất tinh thần đoàn kết, chương 19 và 20 cho biết một số hậu quả của sự chia rẽ.  Cuối cùng, Đa-vít thành công trong việc xây dựng lại tinh thần đoàn kết trong thời gian trị vì còn lại của ông, như vậy, lời Đức Chúa Trời hứa với ông đã được ứng nghiệm.  Ông giữ được ngai vàng nhưng ông không hạnh phúc trong những năm cuối đời mình.

(IISa 19:1-15).  Chuẩn bị rước Đa-vít trở về.  Phân đoạn này đề cập đến ba nhóm người khác nhau: quân đội Đa-vít, những người miền bắc ủng hộ Áp-sa-lôm, và các đại diện của chi phái Giu-đa.  Không khéo, Đa-vít có thể làm mất lòng những người này trong một phút sơ hở.  Ông phải bày tỏ lòng nhân từ và tha thứ đối với những người phản nghịch mà không làm những người vẫn trung thành lâu nay nổi giận.

Trước hết, ông suýt làm mất lòng quân lính chiến thắng, may mà Giô-áp lại cầm cương một lần nữa.  Đa-vít quyết định thăng chức cho A-ma-sa làm Tổng Tư lịnh quân đội (13) nhằm hai mục tiêu.  Thứ nhất, vua bày tỏ với phe phản nghịch lòng bao dung tha thứ của vua, vì A-ma-sa vốn là Tổng Tư lịnh của phe phản nghịch.  Thứ hai, vua muốn thay thế Giô-áp vì ông này đã giết Áp-sa-lôm.

Một lần nữa, các chi phái sẵn sàng nhận Đa-vít làm vua, nhưng chi phái Giu-đa lại do dự.  Chúng ta có thể suy đoán là cuộc nổi loạn của Áp-sa-lôm đã chia rẽ nội bộ chi phái Giu-đa.  Do đó, họ không rõ Đa-vít sẽ có thái độ như thế nào đối với họ với tư cách là một chi phái.  Tuy nhiên, xét tình thế của Đa-vít, sự ủng hộ của chi phái này mà trong đó ông là một thành viên, là yếu tố quan trọng và vua đã ưu tiên thu phục tình cảm của họ.  Kết quả là mâu thuẫn xảy ra giữa các chi phái miền nam với các chi phái miền bắc (xem câu 40-43).

(IISa 19:16-39).  Đa-vít trở về.  Mọi chuyện trong phần này diễn ra tại Sông Giô-đanh và nhìn chung, đoạn này giống đoạn phim quay ngược về những chuyện trong IISa 16:1-14.  Những người tỏ ý chống đối Đa-vít dưới những hình thức khác nhau trong khi vua trốn khỏi Giê-ru-sa-lem, giờ đây đến yết kiến vua khi vua trở về trong chiến thắng.  Đa-vít tha thứ cho những người thù nghịch như Si-mê-i (18-23) và ban thưởng cho những người trung thành như Bát-xi-lai (31-40).  Một lần nữa, Xíp-ba đến yết kiến Đa-vít trước chủ mình là Mê-phi-bô-sết, nhưng lần này Mê-phi-bô-sết ra mắt Đa-vít và tìm cách hoá giải những hậu quả của lời vu cáo của Xíp-ba (17-18,24-30).  Có lẽ Đa-vít không dám quả quyết ai là người nói sự thật, hoặc giả vua xét lòng trung thành của Xíp-ba đáng được thưởng.  Kết quả là Mê-phi-bô-sết mất một số tài sản, nhưng ông vẫn được sống và hẳn là vẫn có địa vị cao quí trong triều đình.

(IISa 19:40-43).  Cuộc nổi loạn miền bắc.  Các câu cuối của chương 19 mô tả tình hình căng thẳng giữa chi phái Giu-đa và các chi phái miền bắc.  Các chi phái miền bắc thiếu nhiệt tình đối với Đa-vít (40) mặc dù họ tuyên bố có công đối với vua nhiều hơn (43).  Cuộc xung đột giữa họ với chi phái Giu-đa dẫn đến cuộc nổi loạn khác, do Sê-ba lãnh đạo (20:1).  Thật ra, đây chỉ là vấn đề nhỏ, sau đó đã chấm dứt mà không có binh lính nào phải đổ máu cả, nhưng cuộc nổi loạn này đã có ảnh hưởng rộng rãi (20:2).

Tác giả quan tâm đến cá nhân Giô-áp và A-ma-sa là bà con của ông.  A-ma-sa chứng tỏ ông là tướng bất tài, và một lần nữa, chính tài năng và lòng trung thành của Giô-áp đã chiến thắng kẻ thù.  Câu chuyện cũng bày tỏ một lần nữa tính tàn nhẫn và hung bạo của Giô-áp.

(IISa 20:1-13) Xem  giải nghĩa 19:1-43

(IISa 20:14-26) Cuộc nổi loạn kết thúc Cuộc nổi loạn này nhỏ và yếu, vì Sê-ba không dám dàn trận chiến đấu.  Ông cứ lui binh rút về thành gần biên giới phía bắc Y-sơ-ra-ên là A-bên Bết Ma-ca, dù đến nước này, ông cũng không chiến đấu nhưng rút vào thành cố thủ chịu đựng cuộc bao vây.  Hoá ra, ông sai lầm khi chọn A-bên vì thành này có tiếng khôn ngoan và sống ôn hoà (18-19).  Dân thành nhanh chóng giết Sê-ba để chấm dứt mọi hoạt động thù địch.  Một lần nữa, chỉ cần một người chết là giải quyết được vấn đề.

Giô-áp chiến thắng trở về với vua tại Giê-ru-sa-lem, hoàn toàn yên tâm rằng ông sẽ tiếp tục làm Tổng Tư Lịnh quân đội Y-sơ-ra-ên, và chắc Đa-vít cũng đã phê chuẩn ông trở lại chức vụ này (23).  Các câu cuối của chương này liệt kê những quan tướng của Đa-vít trong giai đoạn cuối cùng của ông, bản liệt kê này có vài chi tiết không giống bản liệt kê trong IISa 8:16-18.  Cụm từ lao động cưỡng bức lần đầu tiên được nhắc đến, điều này chứng tỏ guồng máy hành chính của Đa-vít cần đến sức lao động cưỡng bức của một số người Y-sơ-ra-ên tự do để thực hiện các dự án và công trình của quốc gia.  Chi tiết đau lòng nhất là các con trai của Đa-vít không còn được nhắc đến.  Một vài người còn sống là A-đô-ni-gia và Sa-lô-môn.  Còn cả Am-nôn và Áp-sa-lôm đều chết thảm khốc.  Chuyện đời của các con trai Đa-vít tiếp tục trong IVua 1:1-53.

3. ĐA-VÍT CAI TRỊ: CÁC NAN ĐỀ VÀ TRỂN VỌNG TƯƠNG LAI (IISa 21:21:1-24:25)

Bốn chương cuối của sách II Sa-mu-ên thường được xem là phần phụ đính của sách.  Nội dung của bốn chương này khác hẳn, đã tạm ngưng câu chuyện tranh giành quyền nối ngôi.  Tuy nhiên, các chương này có chủ đề đồng nhất với nhau và cũng có chủ đích dứt khoát dù mới nhìn tưởng chừng như không có.  Các chương này đề cập đến một số nan đề khác của Đa-vít và cho biết Đức Chúa Trời làm thế nào dẫn dắt và chuẩn bị người ủng hộ cho ông trong mọi hoàn cảnh khó khăn.  Các chương này cũng cho biết làm thế nào những từng trải trong cuộc sống và từng trải về Đức Chúa Trời khiến ông trở thành ‘tác giả viết thi thiên ngọt ngào của Y-sơ-ra-ên’.  Cuối cùng, phân đoạn mở ra một số bối cảnh quan trọng trong tương lai

1. Đói và chiến tranh (IISa 21:1-22)

(IISa 21:1-14).  Cuộc hành hình của gia đình Sau-  Đa số rắc rối trong thời Đa-vít do chiến tranh, nhưng đôi khi xứ Y-sơ-ra-ên cũng bị hạn hán và đói kém, chương này kể lại trận đói kém hết sức nghiêm trọng, có lẽ xảy ra vào đầu thời kỳ cai trị của Đa-vít.  Khi ông cầu vấn Đức Chúa Trời (1) thì Ngài nhắc lại một chuyện không thấy ghi trong sách nào cả.  Đó là chuyện Sau-lơ tấn công dân Ga-ba-ôn.  Có lẽ Sau-lơ vịn vào lập luận ông chinh phạt tất cả dân ngoại bang có tiềm năng đe doạ an ninh của dân Y-sơ-ra-ên chớ không riêng gì dân Phi-li-tin.  Nhưng dân Ga-ba-ôn không phải là mối đe doạ, và xé bỏ giao ước dân Y-sơ-ra-ên đã lập với họ khi xưa là một trọng tội (Gios 9:1-27).  Sự vi phạm này chưa bao giờ được sửa sai.  Theo luật pháp hiện đại thì trừng phạt gia đình Sau-lơ về tội lỗi của Sau-lơ cũng sai lầm không kém, nhưng thời xưa, người ta giữ theo nguyên tắc là gia đình phải chịu trách nhiệm chung.  Mặc dù thế, chúng ta vẫn cảm nhận được ý hướng muốn báo thù nơi dân Ga-ba-ôn. 

Mục đích chính của tác giả khi kể chuyện này là Đa-vít không chịu trách nhiệm về cái chết của bảy người bị hành hình.  Chắc chắn, có một số người Y-sơ-ra-ên như Si-mê-i (16:5-8) tố cáo Đa-vít căm ghét gia đình Sau-lơ.  Vì thế, đoạn này nhắc cho độc giả nhớ về cách đối xử của Đa-vít đối với Mê-phi-bô-sết, và cho biết ông lo chôn cất chu đáo hài cốt của Sau-lơ, Giô-na-than và xác của mấy người con cháu vua mới bị hành quyết.

(IISa 21:15-22).  Các biến cố do chinh chiến với dân Phi-li-tin  Đoạn này cho biết một phần cuộc chiến giữa Đa-vít và dân Phi-li-tin.  Không rõ mục đích của đoạn này có nghĩa gì, cũng không rõ vì sao tác giả đặt đoạn này ở đây.  Trong vài phương diện nào đó, đoạn này làm nền cho chương 22, là một thi thiên mà chủ đề chính là quân thù và chiến trận.  Có lẽ tác giả đưa các câu này vào với lý do chính là chuẩn bị khung cảnh để mô tả Đa-vít là ngọn đuốc của Y-sơ-ra-ên không nên để cho tắt (17).  Dân sự coi vua là một yếu tố sống còn cho phúc lợi của Y-sơ-ra-ên, hình ảnh này khác với hình ảnh về một vị vua mà Sa-mu-ên mô tả trong I Sa 8:1-22.  Các chương trước mô tả Đa-vít bị Đức Chúa Trời trừng phạt.  Nhưng các chương kết này nhắc về mối liên hệ mật thiết giữa Đức Giê-hô-va và Đa-vít, là vị vua được Đức Gia-vê chọn lựa và xức dầu.

Chú giải.  19  Ên-cha-nan giết Gô-li-át.  Câu này quả là kỳ lạ, nhưng cả câu này lẫn câu tương tự trong ISu 20:5 (có những từ khác biệt) gây ra nhiều tranh luận về vấn đề văn bản.  Do đó, chắc câu này không mâu thuẫn với chuyện Đa-vít chiến thắng Gô-li-át trong ISa 17:1-58.  Có thể ‘Ên-cha-nan’ là tên riêng của Đa-vít và ‘Đa-vít’ là hiệu của nhà vua khi lên ngôi.

2. Hai thi thiên của Đa-vít (IISa 22:1-23:7)

(IISa 22:1-51). Bài hát ca ngợi  Tác giả cũng đưa bài ca này vào sách Thi Thiên, có vài điểm nhỏ khác với Thi 18:1-50.  Vị trí bài ca này trong thi thiên cho biết bài này được dùng làm bài ca tạ ơn bao quát.  Ở đây, tác giả sử dụng bài ca bày tỏ rằng Đa-vít nổi tiếng là một nhà soạn thi thiên, và nhất là để kể lại những kinh nghiệm của Đa-vít với Đức Chúa Trời.  Trong phần lớn thời gian trị vì, ông bận rộn chiến đấu chống đủ loại kẻ thù (1) nhưng cuối cùng ông giành được một thời kỳ hoà bình.Chắc chắn, ông là người có nhiều tài năng, nhưng trong thi thiên này, ông qui vinh hiển và thắng lợi cho Đức Chúa Trời.

Câu 1-7 mô tả vai trò của Đức Chúa Trời đối với ông.  Trên hết mọi sự, Ngài là Đấng giải cứu của ông.  Câu 8-20 dùng ngôn ngữ tượng hình sinh động để mô tả Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu xin của Đa-vít và nhấn mạnh quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời.  Câu 21-25 cho thấy điều kiện căn bản để Đức Chúa Trời can thiệp: với tư cách là vua, Đa-vít đã cổ xúy dân Y-sơ-ra-ên tuân giữ luật pháp của Đức Chúa Trời.  (Câu 24 không nhắc lại chuyện Đa-vít phạm tội sát hại U-ri thi thiên này chú trọng đến chính sách của vua, chứ không đặt vấn đề hành vi của cá nhân vua.)

Câu 26-37 trở lại chủ đề Đức Chúa Trời là thành tín Ngài thật sự giữ giao ước với Đa-vít (xem chương 7).  Câu 38-46 liệt kê những người thù nghịch của Đa-vít, nhất là các dân tộc ngoại bang mà ông chiến thắng nhờ sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời.  Câu 47-51 kết thúc thi thiên này với lời ca ngợi một lần nữa.  Câu cuối của chương hướng về tương lai: Đức Chúa Trời sẽ giữ giao ước với cả con cháu của Đa-vít nữa.  Xin xem phần chú giải, phần bình giai chi tiết hơn về Thi 18:1-50.

(IISa 23:1-7). Lời cuối cùng của Đa-vít.  Thi thiên thứ hai này viết về những chủ đề tương tự trong chương 22, nhưng nhấn mạnh nhiều về giao ước Đức Chúa Trời lập với Đa-vít, và ít viết về kẻ thù.  Cần phải xử lý cẩn thận đối với kẻ ác đó nhưng chắc chắn đời của kẻ ác sẽ bị kết liễu (7).

Thi thiên này xác nhận Thánh Linh truyền cảm hứng cho Đa-vít sáng tác các bài ca này.  Tuy nhiên,  trên hết Thi Thiên này mô tả sống động vương quyền của Đa-vít.  Vì ông cai trị trong sự công nghĩa và lòng kính sợ Đức Chúa Trời, nên đã đem lợi ích cho Y-sơ-ra-ên cách kỳ diệu (4).  Câu 5 đề cập đến sự cứu rỗi  của Đa-vít và ông đạt được mọi điều ao ước liên quan đến triều đại của ông câu này có ý nói dân Y-sơ-ra-ên đạt thắng lợi và thạnh vượng.

3. Các dũng sĩ của Đa-vít (IISa 23:8-39)

Hai Thi Thiên này công nhận Đa-vít thắng kẻ thù nhờ Đức Chúa Trời trợ giúp.  Bây giờ, tác giả làm chứng về những người giúp đỡ ông và liệt kê các chiến sĩ xuất sắc.  Trước nhất, câu 8-12 mô tả thành tích anh dũng của một nhóm chiến sĩ tinh nhuệ được gọi là Bộ Ba.  Câu 13-17 đề cập đến chiến công của ba chiến sĩ khác thuộc nhóm Ba Mươi.  Câu 18-23 kể tên hai người trong nhóm Ba Mươi, đó là A-bi-sai và Bê-na-gia, cả hai đều được nhắc đến trong

Nhờ vậy mới lý giải được con số ba mươi bảy người cả thảy (39). các chương trước.

Có cả A-sê-an (24) là người bị giết trong giai đoạn đầu của thời trị vì của Đa-vít (IISa 2:23) và U-ri (39), cái chết của ông này được tường thuật trong (11:17).  Như vậy, có những người được bổ sung vào nhóm Ba Mươi mỗi khi cần thiết để luôn giữ tròn con số ba mươi.

4. Kiểm tra dân số và nạn dịch (IISa 24:1-17)

Đối với độc giả thời nay, chương này xem ra khá kỳ lạ.  Dầu vậy, nếu đủ khôn ngoan, tất cả chúng ta đều công nhận việc làm của Đức Chúa Trời có lúc thật là khó hiểu, vượt quá phạm vi hiểu biết của chúng ta.  Ở đây, tác giả không giải thích vì sao Đức Giê-hô-va lại nổi giận với dân Y-sơ-ra-ên (1), cũng không giải thích vì sao kiểm tra dân số lại là tội lỗi.  Có bằng chứng cho biết ở miền Cận đông xưa, người ta tin rằng kiểm tra dân số là việc nguy hiểm và chắc chắn làm cho thần linh nổi giận.  Sự kiện rành rành là tiếp theo cuộc kiểm tra dân số là một trận dịch và tác giả tin là do bàn tay Đức Chúa Trời gây nên.  Trong ISu 21:1 có đề cập đến hoạt động của Satan, nhưng tác giả sách Sa-mu-ên quan tâm nhấn mạnh về quyền kiểm soát của Đức Chúa Trời trên các diễn biến của lịch sử.  Dù sao, sự can thiệp của Đức Chúa Trời được xác nhận bằng Lời của Đức Chúa Trời (11).  Thật ra, trận dịch là một hình thức phạt nhẹ nhất trong cả ba hình thức.

Câu 16 giới thiệu với chúng ta sân đập lúa của A-rau-na.  Các độc giả thuở ban đầu hẳn đã nhận ra nơi toạ lạc của đền thờ tương lai do Sa-lô-môn xây dựng tại Giê-ru-sa-lem.  Giữa lúc nạn dịch đang hoành hành thì Đức Chúa Trời hiện ra đúng tại địa điểm này.  Đức Chúa Trời biểu lộ cơn thạnh nộ và sức mạnh của Ngài, và bây giờ Ngài cũng bày tỏ lòng thương xót đối với dân Y-sơ-ra-ên.

5. Bàn thờ mới (IISa 24:18-25)

Đoạn cuối kết thúc sách Sa-mu-ên với tầm nhìn phấn khởi hướng về tương lai tốt đẹp.  Sân đập lúa của A-rau-na trở thành nơi thiêng liêng, trở thành nơi dâng con sinh, lễ vật và lời cầu nguyện (25) - đúng vậy, đây là đền thờ Sa-lô-môn trong thời phôi thai.  Đây là hình ảnh của hi vọng và thân ái (vì nạn dịch đã kết thúc).

Dù Đa-vít có tội (10) nhưng trong chương này, ông xuất hiện trong hào quang.  Ông thú nhận tội lỗi, cẩn thận cầu hỏi vị tiên tri của Đức Chúa Trời, và cầu thay cho dân sự (17) và trả tiền đầy đủ cho A-rau-na về những thứ ông đã mua nơi A-rau-na.  Trong các chương trước, Đa-vít chưa xứng làm một ông vua hoàn toàn và tại đây, chúng ta thấy ông vẫn là một tội nhân.  Dầu vậy, ông để lại tấm gương tốt cho vua kế vị noi theo, nhất là tấm gương quan tâm đến sự thờ phượng Đức Chúa Trời cách đứng đắn.  Sách Các Vua tiếp tục trình bày các mối quan tâm này và chép đầy đủ câu chuyện về Đa-vít.

Lên đầu trang