ISA-MU-ÊN
1. THỜI NIÊN THIẾU CỦA SA-MU-ÊN (ISa 1:1-7:17)
Tình hình lịch sử trong phần đầu của các sách Sa-mu-ên là tình hình trong thời kỳ sách Các Quan Xét chấm dứt. Sách ISa-mu-ên là cuốn sách tiếp theo sách Các Quan Xét. Các sách Sa-mu-ên có hai chủ đề chính: vai trò lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên là dân sự của Đức Chúa Trời và sự hiện diện của Ngài giữa vòng họ. Chủ đề thứ nhất được trình bày bằng đời sống và sự nghiệp của ba nhân vật lỗi lạc - Sa-mu-ên, Sau-lơ và Đa-vít. Chủ đề thứ hai được thực hiện bằng cách thường xuyên đề cập đến đền thờ và hòm giao ước. (Hai chủ đề này được trình bày phối hợp khi sách đề cập đến việc Đức Giê-hô-va ở ‘với’ người lãnh đạo này hoặc người lãnh đạo kia.)
Thời kỳ này kéo dài qua ba thế hệ đã chứng kiến hai sự thay đổi quan trọng của dân Y-sơ-ra-ên. Thứ nhất là thay đổi về thể chế hiến pháp. Guồng máy cai trị thay đổi tận gốc, vì sự lãnh đạo của các quan xét nhường chỗ cho nền quân chủ. Sự thay đổi này kéo theo nhiều thay đổi chi tiết trong khung quản trị, đặc biệt là chính sách tập trung quyền hành mà ngày nay chúng ta gọi là chế độ quan liêu. Sự thay đổi này cũng dẫn đến kết quả là một gia đình vươn lên nắm nhiều quyền hành và uy thế, tức là triều đại Đa-vít. Sự thay đổi quan trọng thứ hai là đền thờ tại Si-lô bị phá hủy. Một thời gian sau, Giê-ru-sa-lem thay thế cho Si-lô. Giê-ru-sa-lem không phải chỉ là trung tâm tôn giáo, mà còn là thủ đô của vương quốc Y-sơ-ra-ên. Điều lý thú đáng lưu ý là các biến cố trong sách Sa-mu-ên thứ nhất và thứ hai đều tạo ảnh hưởng cho việc chuyển quyền lãnh đạo trên dân Y-sơ-ra-ên từ chi phái Ép-ra-im qua chi phái Giu-đa. Hai chi phái này đông dân nhất và địa phận nhỏ hẹp của chi phái Bên-gia-min phân cách địa phận của hai chi phái này (xem bản đồ trang 230). Quyền lãnh đạo chuyển dần về các chi phái phía nam, từ Si-lô (Hê-li) chuyển qua cho chi phái Bên-gia-min trước (Sa-mu-ên và Sau-lơ), rồi chuyển lại cho chi phái Giu-đa (Đa-vít).
Sách Sa-mu-ên không phải chỉ ghi lại cách thức các biến cố này xảy ra nhưng cũng cho biết nguyên nhân lý cớ của những việc đó. Nội dung chuyện có nhiều nhân vật với nhiều động cơ khác nhau. Đối với các tác giả viết Kinh Thánh thì vấn đề quan trọng hơn chính là mục đích và việc làm của Đức Chúa Trời qua mối dây liên hệ với lịch sử của con người.
1. Sa-mu-ên và Hê-li (ISa 1:1-3:21)
Trong thời kỳ các quan xét, các chi phái Y-sơ-ra-ên thường hành động độc lập với nhau, và phải công nhận nhiều lãnh tụ khác nhau trong các miền đất nước (xem bản đồ trang 238). Các trưởng lão chi phái nắm vai trò quan trọng (ISa 8:4) và các gia đình thầy tế lễ trong các đền thờ chính như tại Si-lô hẳn đã có nhiều ảnh hưởng về mặt chính trị. (‘Các Quan Xét’ đúng nghĩa không phải lúc nào cũng, có khi vùng lên thì họ cũng không hẳn đã lãnh đạo toàn dân, toàn quốc.) Theo phần khai mở của câu chuyện, chúng ta có thể đoán ra vị lãnh đạo quan trọng nhất trong thời gian này là Hê-li. Ông đã cao tuổi và không chóng thì chầy, hai người con trai của ông sẽ lên thay thế (1:3). Nhưng trong thực tế, Sa-mu-ên thay thế Hê-li như đã trình bày trong các chương này. Trước hết, vấn đề làm sao lại đến Si-lô chương 1 sẽ trả lời cho chuyện này.
(ISa 1:1-8). Ên-ca-na và hai bà vợ Ba câu đầu vẽ ra bối cảnh cha mẹ của Sa-mu-ên trong chuyến hành hương hằng năm lên đền thờ ở Si-lô. Luật pháp cho phép cưới nhiều vợ (Phu 21:15-17) và cưới người vợ thứ hai có thể là dấu hiệu của sự khá giả. Bức tranh tổng quát này mô tả một gia đình kính sợ Đức Chúa Trời và đáng tôn trọng nhưng không hoàn toàn hạnh phúc. Sự son sẻ vẫn có thể gây sầu muộn về mặt tâm lý, và trong thời Cựu Ước thì càng khốn khổ hơn khi xã hội coi phụ nữ có chồng mà không sanh con là một sự sỉ nhục. Dù Ên-ca-na nỗ lực giúp đỡ và an ủi An-ne, nhưng thái độ xấc xược của Phi-nê-na, cô vợ kình địch khiến An-ne không chịu đựng nổi.
Ra-ma-tha-im là dạng viết đầy đủ của địa danh ‘Ra-ma’ (c.19). Theo ISu 6:22-38, họ Xu-phơ là một chi tộc Lê-vi, nhưng ở đây đặt nặng sự kiện Ên-ca-na cư trú trong địa phận của chi phái Ép-ra-im. Vì vậy, đương nhiên ông thờ phượng tại Si-lô. Các câu này làm sáng tỏ một số tập tục trong tôn giáo vào thời này. Mỗi năm một lần, toàn gia hành hương đến những đền, thí dụ như Si-lô để thờ phượng vào một dịp lễ hoặc một dịp đặc biệt của gia đình. Các gia đình đem gia súc đến dâng. Sau khi dâng của lễ xong, những người thờ phượng được nhận lại một phần thịt. Trong ISa 2:13-16 có ghi rõ chi tiết. Các phần thịt như vậy rất quí giá, nhưng trong trường hợp này, những phần thịt đó gây ra chuyện thiên vị, ghen tuông, cay đắng và buồn khổ.
(ISa 1:9-20). Lời cầu nguyện của An-ne và Sa-mu-ên ra đời Cơn tuyệt vọng thúc đẩy An-ne tha thiết cầu xin Đức Chúa Trời ban cho một con trai. Lời cầu nguyện càng thêm phần tha thiết khi bà nghiêm chỉnh hứa nguyện (c.11). Bà hứa sẽ biệt riêng con trai mà Đức Chúa Trời sẽ ban cho để phục vụ Ngài trọn đời. Dân Số Ký 6 mô tả người Y-sơ-ra-ên có thể dâng mình hầu việc Đức Chúa Trời trong một thời gian hạn định. Những người đó được gọi là người Na-xi-rê. Họ hứa nguyện không cắt tóc, một biểu tượng bên ngoài về sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời. Cũng vậy, bà An-ne hứa nguyện con mình sẽ là người Na-xi-rê trọn đời.
Hê-li, thầy tế lễ thượng phẩm tại Si-lô nhận thấy bà An-ne có lý, ông đồng ý ủng hộ và chúc phước cho bà (c.17). Sự hiểu lầm ban đầu của Hê-li (c.13-14) là dấu hiệu cho độc giả hiểu rằng Hê-li đang mất dần khả năng lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên.
Sự kiện tiếp theo là Sa-mu-ên ra đời. Câu 19-20 phối hợp hành động thiên thượng với hành động của con người. Một mặt, Sa-mu-ên ra đời là việc hoàn toàn tự nhiên, nhưng khiến cho bà An-ne hết son sẻ là hành động của Đức Chúa Trời. Chính An-ne biết chắc Đức Chúa Trời đã đáp lại lời cầu nguyện của bà. Theo nghĩa đen, tên Sa-mu-ên không có nghĩa là ‘cầu xin’ trong tiếng Hi-bá-lai, tên này phát âm nghe giống như một cụm từ có nghĩa ‘Đức Chúa Trời lắng nghe’. Nhiều tên gọi trong Cựu Ước được giải thích theo ý nghĩa của các từ khác có cùng một cách phát âm. Tên Sau-lơ nghĩa là ‘cầu xin’, như vậy, ngay từ đầu có lẽ tác giả muốn nói với chúng ta rằng Sa-mu-ên là người được Đức Chúa Trời phái đến trong khi Sau-lơ không được phái đến theo kiểu đó.
(ISa 1:21-28). Dâng hiến Sa-mu-ên Chương này kết thúc với phần bà An-ne làm trọn lời hứa nguyện dâng Sa-mu-ên cho Đức Chúa Trời với sự đồng tình hoàn toàn của chồng. Họ đem những lễ vật và sinh tế khác đến Si-lô (24), nhưng sự hi sinh lớn nhất của họ là để con lại đền thờ dù con còn bé lắm. Câu cuối của chương ghi chuyện bé Sa-mu-ên thờ phượng Đức Chúa Trời tại Si-lô, rồi cha mẹ để bé lại với Hê-li (ISa 2:11 cũng giống như vậy). Động từ thờ phượng ở đây không xác định, cho nên có thể hiểu hoặc là Hê-li hoặc là Ên-ca-na nhưng chủ từ là Sa-mu-ên thì có vẻ hợp lẽ tự nhiên nhất. Một bản văn bằng tiếng Hi-bá-lai được tìm thấy ở Qumran đặt An-ne làm chủ từ, ‘nàng thờ phượng’ cũng là ý rõ ràng: nàng dâng bé Sa-mu-ên cho Hê-li rồi thờ lạy Đức Chúa Trời, Đấng đã ban cho nàng điều nàng cầu xin. Tuy nhiên, vấn đề nhỏ trong bản văn không ảnh hưởng đến ý nghĩa chung.
Không nên đọc chuyện tích An-ne với hi vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ luôn chữa trị chứng vô sinh hoặc các chứng bệnh khác của thể xác, mặc dù chuyện này có nhấn mạnh đến giá trị của lời cầu nguyện có đức tin. Câu chuyện nhằm mục đích chính là bày tỏ rằng Đức Chúa Trời tể trị trên mọi việc: giả sử bà An-ne có con sớm hơn, thì bà sẽ không đem con để ở tại đền thờ Si-lô, để được trưởng dưỡng làm người của Đức Chúa Trời - trước sự ngưỡng mộ của công chúng, được huấn luyện sẵn để bước vào chức vụ.
(ISa 2:1-10). Bài ca của An-ne Nhiều nhà phê bình cho rằng bài ca của An-ne là một thi thiên được sáng tác sau này nhưng tác giả lại gán cho bà. Giọng điệu bài này gần gũi với một thi thiên hơn là một bài cầu nguyện của một cá nhân. Lý cớ chính của quan điểm này là câu 10 nhắc đến vua. Rõ ràng trong thời An-ne, Y-sơ-ra-ên không có vua, cũng không có dự kiến nào cho Sa-mu-ên con trai của bà làm vua. Bài thơ này là một bài cầu nguyện, sao lại có lời tiên tri về những chuyện tương lai xa xôi như kiểu một bài tiên tri viết theo thể văn vần. Cho nên, chắc chắn là lời cầu nguyện của An-ne lúc đầu đã được tán rộng thêm. Có lẽ tác giả muốn dùng trọn bài thơ này để phóng cái nhìn vào tương lai và để trình bày mục tiêu trên phương diện thần đạo của những diễn biến chép trong Sa-mu-ên nhất và nhì. Sự chào đời của Sa-mu-ên là bước thứ nhất trong chương trình của Đức Chúa Trời nhằm giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi kẻ thù của họ là dân Phi-li-tin (1). Từ một cảnh đời khiêm tốn thuở ban đầu với bao nỗi gian nan, Đa-vít nhận được năng lực thiên thượng khi ông được Đức Chúa Trời xức dầu làm vua trên dân Y-sơ-ra-ên (10). Theo mạch văn, từ thù địch (1) và son sẻ (5) nhắc chúng ta nhớ lại từng trải riêng tư của An-ne, nhưng bài thơ có phạm vi trải rộng hơn. Bài thơ nhằm bày tỏ rằng Đức Chúa Trời thường có khả năng đảo ngược những giá trị và những dự kiến của con người. Sống chết, giàu nghèo, tất cả đều nằm trong vòng kiểm soát của Ngài, kề luôn cả sự cường thịnh và lụn bại của các dân tộc, vì uy quyền và năng lực của Ngài vươn đến mọi biên cương trên địa cầu (10). Nhưng Đức Chúa Trời không lật đổ những người có quyền thế, cũng không làm vững mạnh kẻ yếu đuối một cách bất công hoặc với sự hằn học. Đức Chúa Trời liên kết chính Ngài với dân Y-sơ-ra-ên (một dân tộc nhỏ bé và yếu đuối) và tự tỏ mình là Đức Chúa Trời của họ. Vì vậy, từ đầu, bài thơ diễn tả đức tin nơi Đức Chúa Trời, mô tả Ngài là Hòn Đá (2) - một hình ảnh diễn tả sự an toàn và bền vững. Đối với chúng ta, hình ảnh rút ra từ ý cái sừng của con vật ngước hoặc vươn lên (1,10) thì không rõ nghĩa cho lắm dường như hình ảnh ấy là dấu chứng lộ liễu về sức mạnh và thắng lợi.
Chú giải. 10 Tất cả các vua của dân Y-sơ-ra-ên đều được xức bằng dầu trước khi lên ngôi cai trị (xem ISa 10:1 và 16:13 và phần chú giải các câu này).
(ISa 2:11-26). Đền thờ tại Si-lô Sa-mu-ên bắt đầu hầu việc Đức Chúa Trời từ khi còn ấu thơ. Chắc thoạt đầu, ông chỉ có thể phụ giúp ông Hê-li trong những việc đơn giản. Nhưng song song với sự trưởng thành (c.21), công tác của ông lan rộng đến nỗi gây ấn tượng thuận lợi nơi những người đến Si-lô (26). Câu 19-21 cho chúng ta gặp cha mẹ của Sa-mu-ên lần cuối rõ ràng là Đức Chúa Trời đã vĩnh viễn chữa chứng vô sinh cho bà và ban cho bà niềm vui được làm mẹ và hạnh phúc gia đình: bà dâng Sa-mu-ên cho Đức Chúa Trời, nhưng bà nhận được trở lại rất nhiều.
Tuy nhiên, lúc bấy giờ Sa-mu-ên chỉ phụng sự trước mặt Đức Chúa Trời (11). Chỉ có một câu cô đọng cho chúng ta biết rằng cả Đức Chúa Trời lẫn những người đến thờ phượng đều hài lòng về ông (c.26). Ngoài ra, chúng ta không biết thêm một chi tiết nào về sinh hoạt của ông. Giữa Sa-mu-ên và các con trai Hê-li là Hốp-ni và Phi-nê-a có sự tương phản rõ ràng (12). Họ là các thầy tế lễ cao cấp tại Si-lô (ISa 1:3), nhưng hành vi ích kỷ, hống hách, tham lam được mô tả đầy đủ chi tiết trong câu 13-16. Câu 23, họ làm cho dân chúng đến thờ phượng tức giận và toàn thể đền thờ phải mang tiếng xấu. Đoạn này đặt nặng mối quan tâm nhấn mạnh sự nổi giận của Đức Chúa Trời và Ngài quyết định chấm dứt tình trạng này (25). Bản thân Hê-li là người kỉnh kiền, nên khốn khổ vì hành vi của các con trai của mình, nhưng lời ông quở trách họ (25) chỉ như nước đổ đầu vịt.
(ISa 2:13-17). Chắc cách thức mô tả trong câu 13 là tập tục thông thường tại Si-lô, dù qui định trong Le 7:31-35 hơi khác. Trong mọi trường hợp, các thầy tế lễ được phép hưởng một phần thịt trong của lễ dâng lên. Tuy nhiên, hai người con trai của Hê-li thích thịt nướng đến độ họ giựt lấy những miếng thịt họ muốn, nếu cần thì họ sẽ dùng đến vũ lực, ngay cả khi mỡ chưa được thiêu làm của lễ dâng cho Đức Chúa Trời. Ngay cả người tầm thường trong dân chúng đến thờ phượng cũng biết rằng phải dâng cho Đức Chúa Trời phần của Ngài trước khi con người nhận phần của mình (16). Qua cách hành xử này, Hốp-ni và Phi-nê-a đẩy Đức Chúa Trời vào hàng thứ hai, xem thường chính Đức Chúa Trời và của lễ của Ngài (17).
(ISa 2:18-19). Ê-phót là chiếc áo của thầy tế lễ, có lẽ khoác bên ngoài áo dài do mẹ ông làm cho. Ngay cả đến vấn đề đơn giản là y phục, Sa-mu-ên cũng cẩn thận làm cho đúng, chứ không như các con trai Hê-li.
(ISa 2:25). Câu hỏi có tính cách chất vấn của Hê-li đặt cơ sở trên pháp luật và bày tỏ Đức Chúa Trời là quan án. Quan án có thể phân xử giữa hai người, nhưng nếu có người phạm đến chính quan án thì không thể tránh khỏi án phạt.
(ISa 2:27-36). Nói tiên tri về chức tế lễ Cụm từ người của Đức Chúa Trời là một danh hiệu khác đặt cho vị tiên tri. Ở đây, vị tiên tri vẽ ra một hình ảnh rất chi tiết về những chuyện sắp xảy đến cho chức tế lễ tại Y-sơ-ra-ên. Sự sụp đổ của gia đình Hê-li được báo trước: Hóp-ni và Phi-nê-a chết cùng ngày, còn những người khác trong gia đình Hê-li sẽ phải đi xin làm những công việc khiêm tốn trong việc tế lễ (36). Câu 31 báo trước cuộc thảm sát tại Nóp (xem chương 22). Câu 35 tiên báo một thầy tế lễ trung tín sẽ xuất hiện nhưng tầm nhìn vượt qua Sa-mu-ên nhắm đến chức vụ của Xa-đốc. Xa-đốc làm thầy tế lễ thượng phẩm trong thời trị vì của Đa-vít (IISa 8:17) và gia đình của ông (nhà của ông) giữ chức tế lễ thượng phẩm tại Giê-ru-sa-lem suốt thời kỳ quân chủ. Ở đây, Đa-vít và các vua trong dòng của ông lên ngôi cai trị thì gọi là người được Đức Chúa Trời xức dầu.
Các chi tiết trong câu 35 chẳng có ý nghĩa gì lắm đối với Hê-li, vì ông qua đời lâu năm trước khi Đa-vít lên làm vua hoặc Xa-đốc làm thầy tế lễ thượng phẩm. Tuy nhiên, câu này rất quan trọng đối với các độc giả khi đọc sách ISa-mu-ên, vì câu này cho chúng ta thấy rõ ràng việc Xa-đốc nhậm chức tế lễ là do ý muốn và chương trình của Đức Chúa Trời. Các tác giả viết Kinh Thánh luôn lưu tâm đến độc giả, và chắc chắn khi cần thiết, họ triển khai ngôn từ và lời lẽ nguyên thủy của các nhân vật lịch sử để giúp độc giả hiểu rõ. Do đó, có thể lời vị tiên tri nói với Hê-li ngắn hơn so với trong Kinh Thánh. Dù vậy, đừng bỏ qua một nguyên tắc quan trọng sau đây trong Cựu Ước: Đức Chúa Trời không chỉ tể trị trong dòng đời của Y-sơ-ra-ên, mà Ngài còn loan báo trước tất cả các biến cố và những sự thay đổi quan trọng. Đây là một vai trò quan trọng của các tiên tri. Một đặc điểm khác của vai trò tiên tri là nhắc cho thính giả nhớ lại các biến cố quan trọng trong quá khứ, nhất là các biến cố bày tỏ lòng nhân từ của Đức Chúa Trời. Chúng ta thấy đặc điểm có tính chất lịch sử này trong bài nói từ câu 27-28.
(ISa 3:1-21) Sự kêu gọi của Sa-mu-ên Khi đọc ISa 2:27-36 cách cẩn thận, có thể độc giả thấy lạ vì lời tiên tri về chức tế lễ không đả động đến tương lai của Sa-mu-ên. Lời tiên tri về một ‘thầy tế lễ trung tín’ trong 2:35 không ứng nghiệm qua Sa-mu-ên và dòng dõi của ông giữ chức đó không được ‘lâu bền’. Chương 3 cho chúng ta câu trả lời: vai trò của Sa-mu-ên trong tương lai phải là ông tổ của một dòng họ thầy tế lễ. Thay vào đó, ông sẽ là vị tiên tri lớn trong thế hệ của ông. Các thầy tế lễ không cần có sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cũng được làm nhiệm vụ, vì họ được sinh ra trong gia đình thầy tế lễ. Ngược lại, từng cá nhân các tiên tri phải được kêu gọi, phải trực tiếp có kinh nghiệm về Đức Chúa Trời. Chương 3 ghi chép sự kêu gọi dành cho tiên tri đến với Sa-mu-ên.
Lời của Đức Chúa Trời và khải tượng (1) là hai ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho các tiên tri. Có hai lý do cho chúng ta biết lúc Lời Đức Chúa Trời và khải tượng rất hiếm (nguyên văn là ‘quí’). Thứ nhất, câu này khiến chúng ta chú ý đến sự việc dân Y-sơ-ra-ên rất cần có một tiên tri dẫn dắt. Thứ hai, câu này giải thích trước vì sao cả Sa-mu-ên và Hê-li đều ngạc nhiên khi Đức Giê-hô-va lớn tiếng gọi Sa-mu-ên (4).
Câu 3 đề cập đến hai đặc điểm của đền thờ, đèn của Đức Giê-hô-va và hòm giao ước. Cả hai là biểu tượng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Le 24:1-4 chỉ dẫn cẩn thận cho các thầy tế lễ giữ cho ngọn đèn cháy luôn hằng đêm trong nơi thánh. Khi Sa-mu-ên nghe tiếng Đức Chúa Trời, đèn vẫn còn sáng, nghĩa là trời vẫn còn tối. Nếu Đức Chúa Trời phán thì chỉ tại chỗ này trong đền thờ, người ta mới hi vọng nghe được tiếng phán của Ngài đây là lý do Sa-mu-ên nằm ngủ gần hòm giao ước. Tiếng gọi vang lên ba lần, khẳng định cho cả Sa-mu-ên lẫn Hê-li biết rằng đây thực sự là sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời.
Sứ điệp của Đức Chúa Trời phán cho Sa-mu-ên trong câu 11-14 khẳng định lời tiên tri trong ISa 2:27-36. Dù không lập lại đầy đủ chi tiết về những chuyện sẽ xảy ra, nhưng nhấn mạnh tội lỗi của bản thân Hê-li. Hê-li không phải là thầy tế lễ xấu xa, đáng khinh như hai con trai mình, nhưng dù sao ông cũng là người chịu trách nhiệm về đền thờ và ông không thể kềm chế họ. Lẽ dĩ nhiên lúc đầu, Sa-mu-ên ngần ngại không kể cho Hê-li biết chuyện ông đã nghe (từ khải tượng đơn giản nghĩa là toàn bộ từng trải mang tính chất tiên tri). Khi nghe những lời nghiêm khắc của Đức Gia-vê, Hê-li không kêu ca gì. Câu trả lời của ông chứng tỏ ông cam chịu sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Như vậy, rõ ràng chính Hê-li đã chấp nhận nhiệm vụ tế lễ trong dân Y-sơ-ra-ên đến lúc phải đổi sang người khác. (Sau này, vua Sau-lơ cũng thừa nhận rằng Đức Chúa Trời chuyển quyền lãnh đạo và vương tước từ ông qua Đa-vít 24:20).
Câu 19-21 tóm tắt ngắn gọn về những năm kế tiếp là thời gian Sa-mu-ên lớn lên. Lúc này, Hê-li tiếp tục làm thầy tế lễ tại Si-lô và các con trai ác độc của ông cũng tiếp tục như thế nhưng Sa-mu-ên được mọi người chú ý. Đền thờ không quan trọng bằng người của Đức Chúa Trời, vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời rõ ràng ở với ông. Mọi điều Sa-mu-ên tiên báo đều thành sự thật (19). Lời tiên tri và khải tượng không còn hiếm hoi và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều nhận thấy như vậy. Đan là một thành phố quan trọng nhất phía bắc Y-sơ-ra-ên, còn Bê-e-sê-ba ở tận phía nam như vậy danh tiếng Sa-mu-ên đồn khắp xứ. Lời của Đức Chúa Trời đến với Sa-mu-ên rất thường xuyên rồi từ Sa-mu-ên, lời Ngài đến với toàn dân Y-sơ-ra-ên (4:1).
2. Chinh chiến với dân Phi-li-tin (ISa 4:1-7:17)
Đến đây, Sa-mu-ên không còn xuất hiện trong câu chuyện cho đến 7:3. Cách sắp xếp bất ngờ này là một kỹ thuật viết văn gây chấn động, vì tác giả đã đưa độc giả đến chỗ mong được xem những việc kỳ diệu của Sa-mu-ên. Sở dĩ sắp xếp như vậy vì có mục đích thần học. Ngoài việc trình bày cách Đức Chúa Trời thi hành sự đoán xét của Ngài trên Hê-li và gia quyến của ông. Các chương 4-6 còn vạch ra sự tương phản giữa lời Đức Chúa Trời (được khải thị qua các tiên tri như Sa-mu-ên) và hòm giao ước. Hòm giao ước là biểu tượng quan trọng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời, nhưng là biểu tượng câm. Người ta dễ hiểu sai về hòm giao ước nên có thể ăn cắp hoặc đem hòm giao ước đến một nơi hẻo lánh. Còn lời phán của Đức Chúa Trời như chúng ta đã biết, không bao giờ xa vắng, nhưng từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba đều biết. Tuy nhiên, trong ba chương này, hòm giao ước là trung tâm của sự chú ý. Hòm giao ước không chỉ tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà còn tượng trưng cho năng quyền của Ngài. Khi hòm giao ước rơi vào tay dân Phi-li-tin, Y-sơ-ra-ên học biết rằng Đức Chúa Trời có thể rút quyền năng của Ngài ra khỏi họ cả dân Phi-li-tin lẫn dân Y-sơ-ra-ên đều không có quyền điều động Đức Chúa Trời!
(ISa 4:1-11). Hai chiến thắng của dân Phi-li-tin Các diễn biến trong chương 1-3 xảy ra tại một khu vực nhỏ hẹp phía nam Ép-ra-im. Bấy giờ, chiến trường diễn ra ở phía tây, từ miền đồi núi xuống đến đồng bằng ven biển, là vùng dân Phi-li-tin đã chiếm đoạt trước đó một thế kỷ. Dân tộc này tuy ít người nhưng hùng mạnh. Họ đã đô hộ nhiều vùng trong nước Y-sơ-ra-ên vào thời Sam-sôn (Cac 13:1-16:31). Bây giờ, đạo quân tinh nhuệ của họ lại đe doạ xâm lấn một lần nữa. Vì dân Y-sơ-ra-ên không có quân đội thường trực nên trong lúc nguy kịch, họ phải kêu gọi dân từ đồng ruộng, từ nông trại ra ứng phó với cuộc chiến bỗng nhiên giáng trên họ. Vì vậy, dân Phi-li-tin giành được chiến thắng chớp nhoáng tại A-phéc (2) là điều chẳng có gì lạ. Nhưng các trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên sững sờ vì họ đang hi vọng tràn trề là Đức Chúa Trời sẽ đem chiến thắng cho dân Y-sơ-ra-ên. Đoạn này cho biết cả dân Y-sơ-ra-ên lẫn dân Phi-li-tin ít biết về Đức Chúa Trời là dường nào. Họ đều tin rằng hòm giao ước là một loại hình tượng, một vật thần bí sẽ cho dân Y-sơ-ra-ên năng lực vũ bão trên chiến trường. Vì dân Y-sơ-ra-ên thỉnh hòm giao ước ra chiến trường, có Hốp-ni và Phi-nê-a hộ vệ. Dân Phi-li-tin sợ quyền lực của hòm giao ước nhưng không tuyệt vọng, có thể họ đã tin tưởng vào các thần của họ. Kể cả thần Đa-gôn (ISa 5:2). Họ dũng cảm chiến đấu và giành thắng lợi còn to tát hơn nữa. Trong trận đánh này, nhiều người Y-sơ-ra-ên tử trận, có cả hai con trai của Hê-li. Lời tiên tri trong 2:34 được ứng nghiệm qua sự việc này. Hòm giao ước cũng bị tịch thu.
Chú giải. 4 Câu này mô tả hình dáng hòm giao ước đóng theo sự chỉ dẫn của Đức Gia-vê: xem Xu 25:17-22. 6 Từ Hê-bơ-rơ cùng nghĩa với ‘Y-sơ-ra-ên’.
(ISa 4:12-22) Hê-li qua đời: Trước khi theo dõi hòm giao ước vào lãnh thổ Phi-li-tin, tác giả kết thúc gọn gàng về cuộc đời Hê-li. Dù đã 98 tuổi, ông không chết vì già mà vì té xuống đất khi bất ngờ nghe tin dữ. Lời tiên tri trong chương 2 báo trước gia đình Hê-li sẽ mất quyền làm thầy tế lễ, nhưng cũng ngụ ý rằng dòng dõi ông vẫn tồn tại. Cho nên, câu cuối của chương 4 chép về sự ra đời của một người cháu nội của Hê-li. Không thấy nói gì về cuộc đời và sự nghiệp của người cháu này về sau, nhưng tên của ông cũng đủ gói ghém một chuyện buồn: Y-ca-bốt nghĩa là ‘không còn sự vinh hiển’. Trong lúc hấp hối, người mẹ của ông nghĩ về hòm giao ước bị mất. Và xem ra, bà cũng cho rằng Đức Chúa Trời đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên cùng với cái hòm. Bà nghĩ như thế là sai, nhưng cái tên bà đặt cho người con vừa lọt lòng nói lên sự kiện là tất cả danh dự và uy tín đã rời bỏ gia đình Hê-li.
Một số nhà giải kinh nêu vấn đề phải chăng dân Y-sơ-ra-ên đã trả giá quá đắt vì tội lỗi của chỉ hai người - Hốp-ni và Phi-nê-a đáng chết, nhưng còn hằng ngàn người Y-sơ-ra-ên khác tử trận trên chiến trường thì sao? Sách Các Quan Xét cho biết dân Y-sơ-ra-ên nhiều lần thất trận vì không trung tín với Đức Chúa Trời, còn ISa 7:3-4 cho biết trong thời Sa-mu-ên, dân Y-sơ-ra-ên lại phạm tội thờ hình tượng. Tuy nhiên, ISa-mu-ên 4 không cho biết lý do của tai họa lần này. Đức Giê-hô-va hành động theo như Ngài đã dự định, không cần phải giải thích cho dân Y-sơ-ra-ên hoặc cho độc giả biết. Mối quan tâm của tác giả là số phận của gia đình Hê-li. Mục đích chính nữa là tác giả cho biết Đức Chúa Trời kiểm soát các biến cố, nhưng độc giả dần dần mới hiểu được việc đó khi câu chuyện tiến triển trong hai chương kế tiếp.
(ISa 4:18). Câu này tỏ rõ Hê-li là nhân vật chính trị quan trọng nhất về mặt chính trị tại Y-sơ-ra-ên trong thế hệ của ông. Động từ dẫn dắt theo nghĩa đen có nghĩa là ‘xét xử’. Vậy là tác giả có ý đặt Hê-li chung với các nhân vật lỗi lạc được mô tả trong sách Các Quan Xét. Cái chết của Hê-li khiến dân Y-sơ-ra-ên rất cần một người lãnh đạo mới và là một người (trong vai trò các quan xét) cứu họ thoát khỏi sự xâm lăng của dân ngoại.
(ISa 5:1-12). Hòm giao ước trong dân Phi-li-tin Dân Phi-li-tin có tất cả năm thành chính, ba thành được chép trong chương 5 là: Ách-đốt (1), Gát (8) và Éc-rôn (10). Dân Phi-li-tin nhờ các thần của dân Ca-na-an, trong số đó có thần Đa-gôn (Sam-sôn đã phá đền thờ thần Đa-gôn ở Ga-xa, một thành quan trọng khác của dân Phi-li-tin xem Cac 16:30). Ở vùng Cận đông xưa, những kẻ chiến thắng có thói quen đặt hình tượng chiếm được trong đền thờ các thần của họ chắc họ tin rằng các thần của phe chiến thắng đã đánh bại và bắt các thần của kẻ thù. Cho nên dân Phi-li-tin nghĩ rằng thần Đa-gôn đã đánh bại và bắt thần Giê-hô-va. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc rõ ràng là đến pho tượng về chính mình Đa-gôn cũng không bảo vệ nổi. Sự sụp đổ pho tượng này gây cho dân địa phương thêm một chuyện mê tín kỳ lạ (5). Cuối cùng, câu 6 bày tỏ rõ cho độc giả chính Đức Giê-hô-va tích cực hành động trong các biến cố tại Ách-đốt. Dân Phi-li-tin ở tại đó không có sự khải thị từ Đức Chúa Trời nên họ phải tự suy ra. Nếu khi tượng thần đổ úp, họ chỉ hoang mang kinh ngạc thì bệnh tật trên chính cơ thể của họ nhanh chóng thuyết phục họ tin rằng Đức Giê-hô-va là Đấng năng quyền và Ngài đang hoạt động vì hòm giao ước ở trong đền thờ của họ. Vì vậy, họ gửi hòm giao ước đến Gát trước nhất, rồi đến Éc-rôn, và cả hai thành đều chịu một hậu quả tương tự.
(ISa 6:1-12). Sự giao trả hòm giao ước Đến lúc này, tất cả dân Phi-li-tin đều tin rằng hòm giao ước là tài sản của Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên (2) và họ cũng tin rằng đây là một vật rất nguy hiểm. Họ phải cẩn thận khi di chuyển hòm, kẻo e nhiều chuyện rắc rối tệ hơn nữa sẽ giáng trên họ. Vì vậy, đương nhiên là họ tìm đến những chuyên viên trong địa hạt tín ngưỡng, xin ý kiến về cách thức giao trả an toàn hòm giao ước cho dân Y-sơ-ra-ên. Các nhà cố vấn của họ phải trả lời hai câu hỏi riêng biệt. Gởi trả hòm về đúng nơi nào trong xứ Y-sơ-ra-ên? Và trả về bằng cách nào? Câu trả lời chi tiết của họ cho chúng ta một thoáng nhìn lý thú trong tư duy tín ngưỡng vào thời đó. Trước nhất, phải có của lễ chuộc tội, thú nhận họ có lỗi. Thứ hai, phải đền bù thiệt hại (bằng vàng). Thứ ba, phương tiện chuyên chở hòm không nên có người lái hoặc điều khiển để đi về hướng nhất định nào, nhưng để cho các thần điều khiển. (Hẳn các chuyên viên sợ quyền lực của Đức Gia-vê, nhưng chưa dám tin chắc chính Ngài đã gây tai hoạ nào cho dân Phi-li-tin.)
Chúng ta có thể đọc được tư tưởng của dân Phi-li-tin ở khía cạnh khác, ấy là họ chế tạo các hình mẫu của những thứ họ muốn xua đuổi (5). Các học giả gọi cách thực hành này là pháp thuật, đồng thời dân Phi-li-tin tin rằng khi các hình mẫu này được chở đi khỏi xứ thì tai nạn cũng ra đi! Các khối u là triệu chứng của bệnh dịch có lẽ do chuột gây ra. Thời xưa, không ai biết chuột là phương tiện gây ra bệnh dịch, và chắc là đám chuột đã phá hoại các kho chứa thực phẩm.
Câu 6 nhắc chúng ta nhớ trước đây, Đức Chúa Trời đã dùng bệnh dịch để buộc kẻ thù thời xưa của Y-sơ-ra-ên là vua dân Ai-cập phải buông dân Ngài ra (Xu 7:1-12:50). Chúng ta có thể thấy quyền năng của Đức Chúa Trời thể hiện qua các biến cố bên ngoài Y-sơ-ra-ên. Nhiều thế kỷ về sau, khi dân Y-sơ-ra-ên không tài nào chống cự nổi những kẻ thù khác (nhất là A-si-ri và Ba-by-lôn), thì các câu chuyện phô bày quyền năng của Đức Chúa Trời trở thành nguồn an ủi và khích lệ họ tin rằng Đức Chúa Trời có năng quyền giải cứu họ.
(ISa 6:13-21). Hòm giao ước trở về Y-sơ-ra-ên (ISa 6:13-7:1) Không cần người điều khiển, các con bò chở hòm đến Bết-sê-mết, một thành bên trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, sát biên giới Phi-li-tin. Kế hoạch của dân Phi-li-tin đã thành công – hoặc đúng hơn, chính Đức Giê-hô-va đã đem tài sản của Ngài trở về Y-sơ-ra-ên. Các câu 16-18 cho biết dân Phi-li-tin đối xử với hòm giao ước trang trọng là dường nào: dù hòm chưa bao giờ được đem đến hai thành phố liệt kê trong câu 17, nhưng tất cả năm vua đều đi theo hòm cho đến biên giới Y-sơ-ra-ên.
Các câu 13-15 cho chúng ta biết dân Y-sơ-ra-ên ở Bết-sê-mết rất vui mừng khi thấy hòm trở về, và cho chúng ta biết các việc làm đầu tiên của họ là đúng đắn và hợp lý. Thí dụ, những người sờ đến hòm thánh là những người Lê-vi, họ có trách nhiệm phải khiêng hòm (Phu 10:8). Vì vậy, câu 19 mô tả một sự kiện bất ngờ. Sự thiệt hại nặng nề mà dân Bết-sê-mết phải gánh chịu cho thấy, đối với dân Y-sơ-ra-ên, hòm giao ước nguy hiểm như đối với dân Phi-li-tin: mọi người phải tôn kính và tôn trọng Đức Chúa Trời. Lý do chính khi đề cập đến sự cố bất hạnh này để giải thích vì sao hòm giao ước không ngự tại Bết-sê-mết mà ngự tại thành gần đó là Ki-ri-át Giê-a-rim.
ISa 7:1 (xem giải nghĩa ISa 6:13-21)
3. Thành quả của Sa-mu-ên.(ISa 7:2-17)
Chuyện hòm giao ước được dời đi đây đó kết thúc ở câu 2. Nhiều năm sau, người ta thỉnh hòm giao ước từ nhà A-bi-na-đáp đến Giê-ru-sa-lem trong thời trị vì của Đa-vít (IISa 6:1-23). Thời gian hai mươi năm dường như không có ý nói về thời gian hòm lưu tại Ki-ri-át Giê-a-rim, mà nói đến tình trạng suy sụp của dân Y-sơ-ra-ên. Hòm giao ước xuất hiện trong xứ Phi-li-tin gây nhiều đau khổ cho dân Phi-li-tin, nhưng chúng ta nên nhớ rằng trong trận chiến ở chương 4, họ đã giáng trên dân Y-sơ-ra-ên một trận thảm bại nặng nề. Dân Phi-li-tin vẫn là kẻ chiến thắng, do đó có thể áp đặt quyền lực của họ trên dân Y-sơ-ra-ên trong các địa phận Bên-gia-min, miền nam Ép-ra-im và nhiều nơi khác. Câu 7 phản ánh tình hình này - cả sự xâm lược của người Phi-li-tin lẫn nỗi lo sợ của người Y-sơ-ra-ên.
Lần đầu tiên, câu 3 cho biết lý do về sự suy yếu của dân Y-sơ-ra-ên: sự thờ lạy hình tượng lan tràn khắp xứ. Các thần ngoại bang gồm thần Ba-anh và nữ thần Át-tạt-tê của dân Ca-na-an (4). Như vẫn thường xảy ra trong sách Các Quan Xét, dân Y-sơ-ra-ên ăn ở bất trung với Đức Giê-hô-va nên Ngài sửa phạt họ và cũng sách Các Quan Xét cho biết lòng ăn năn thật của Y-sơ-ra-ên có thể đảo ngược tình thế. Đức Chúa Trời luôn áp dụng phương thức là sửa phạt dân Y-sơ-ra-ên tội lỗi bằng cách cho phép người ngoại bang xâm lấn và tấn công, rồi Ngài giải cứu dân Y-sơ-ra-ên biết ăn năn bằng sự lãnh đạo của các ‘quan xét’. Chương 7 mô tả cùng một chu kỳ phạm tội, ăn năn và được giải cứu. Đương nhiên, người được Đức Chúa Trời chọn lựa làm người giải phóng là Sa-mu-ên, và theo đoạn văn này gọi ông là ‘quan xét’ rất hợp lý(6).
Trong các chương 1-3, lúc đầu Sa-mu-ên là thầy tế lễ tập sự, kế đó là vị tiên tri. Giờ đây trong ISa 7:6, chúng ta thấy ông giữ vai trò mới, làm ‘quan xét’ dân Y-sơ-ra-ên hoặc là một lãnh tu chính trị. Tác giả chủ tâm dùng từ này nhằm diễn đạt sự kiện ông được Đức Chúa Trời chọn giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Trên thực tế, không rõ ông làm gì trong vai trò lãnh tụ chính trị vào thời đó, vì dân Phi-li-tin vẫn còn thống trị. Dù sao đi nữa thì toàn thể dân Y-sơ-ra-ên đều thuận phục ông (4:1). Vì vậy, chỉ mình ông mới đủ tư cách triệu tập hội đồng quốc gia tại Mích-ba trong lãnh thổ Bên-gia-min (Si-lô đã bị dân Phi-li-tin hủy phá nên có lẽ đã bị phế bỏ). Cuộc triệu tập với mục đích tôn giáo nhưng có đông đảo người họp lại như thế, nhìn giống như một đạo quân - thực sự đã biến thành một đạo quân (10-11). Vì vậy, chẳng lạ gì khi dân Phi-li-tin cho rằng đây là một tiềm năng quân sự nguy hiểm cho nên họ đã tấn công. Dĩ nhiên, hội đồng Y-sơ-ra-ên không phải là binh lính được huấn luyện, và nếu không có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời thì họ đã bị dân Phi-li-tin tàn sát. Người xưa tin rằng sấm chớp là dấu hiệu thạnh nộ của trời, do đó chúng ta dễ hiểu vì sao dân Phi-li-tin lại hoảng sợ.
Họ dựng hòn đá kỷ niệm (12) để kỷ niệm chiến thắng và đặt tên là Ê-bên-ê-xe, nguyên văn là ‘hòn đá cứu giúp’. Dân Y-sơ-ra-ên thất trận ở một nơi khác gọi là Ê-bên-ê-xe (4:1) cách xa vài dặm về phía bắc, dường như Sa-mu-ên cố ý đặt lại tên này để ghi chiến thắng thứ nhất của dân Y-sơ-ra-ên trên dân Phi-li-tin. Thực ra, đây chỉ là chiến thắng nhỏ, nhưng nhờ bàn tay của Đức Chúa Trời (13), chiến thắng này đủ đuổi dân Phi-li-tin ra khỏi lãnh thổ Y-sơ-ra-ên trong một thời gian dài, và dân Phi-li-tin khởi suy vi từ đây. Những thắng lợi của dân Y-sơ-ra-ên trong giai đoạn này tức là suốt đời Sa-mu-ên đều đạt được dưới quyền chì huy quân sự của vua Sau-lơ (14:47) vì Sa-mu-ên chẳng hề làm một chiến sĩ. Tuy nhiên, Sau-lơ không được nhắc đến trong chương 7 vì nhiều lý do. Thứ nhất, vì 7:13-17 chỉ tóm tắt về các hoạt động của Sa-mu-ên. Thứ hai, Sau-lơ chưa xuất hiện trong chuyện vì nếu giới thiệu ông ở đây e làm mất tác dụng của các chương kế tiếp. Thứ ba, sứ điệp ngầm trong chương 7 báo trước các biến cố trong chương 8. Các trưởng lão đòi lập vua trong chương 8, bởi đó truất phế Sa-mu-ên và tước quyền lãnh đạo chính trị khỏi ông. Như vậy, chương 7 khẳng định dù không có tài nghệ quân sự của Sau-lơ, Sa-mu-ên hoàn toàn có khả năng đưa dân Y-sơ-ra-ên đến chiến thắng. Đức Chúa Trời mới là tác giả thật của các cuộc chiến thắng, và đã từ lâu Ngài kêu gọi Sa-mu-ên phát ngôn cho Ngài, dẫn dắt Y-sơ-ra-ên khi họ cần đến ông. Theo quan điểm của con người, Sa-mu-ên ở dưới quyền Sau-lơ khi Sau-lơ lên làm vua. Tuy nhiên, theo quan điểm của Đức Chúa Trời, xem ra vua phải ở dưới quyền người của Đức Chúa Trời.
Đoạn cuối cho biết Sa-mu-ên vẫn nắm một vai trò khác - theo ý nghĩa thông dụng thì ông làm quan tòa, một vai trò ông vẫn giữ sau khi Sau-lơ làm vua. Ông đặt trung tâm tại Ra-ma, quê tổ của ông (1:19), và các thành khác nằm trong cùng khu vực. Như vậy, các câu này cho biết tầm hoạt động rộng rãi của Sa-mu-ên, và các câu này cũng vạch sẵn khu vực xảy ra biến cố trong các chương sau, tại Ra-ma (8:4), Mích-ba (10:17) và Ghinh-ganh (11:14), Bê-tên cũng được đề cập sơ qua (10:3).
Chú giải. 14 Dân A-mô-rít, cũng được gọi là dân Ca-na-an, sống trong các thành, các làng bên trong Y-sơ-ra-ên. Đôi khi, họ hiệp với dân Phi-li-tin chống lại Y-sơ-ra-ên. Sa-mu-ên cố hoà hảo với họ bằng mọi cách.
2. SA-MU-ÊN VÀ SAU-LƠ (ISa 8:1-15:35)
Phần này mô tả đầy đủ hằng loạt biến cố đưa Sau-lơ lên làm vua Y-sơ-ra-ên. Nền quân chủ được lập có nghĩa là hoàn toàn thay đổi guồng máy cai trị và tổ chức tại Y-sơ-ra-ên. Một yêu sách quan trọng như vậy được trình bày đầy đủ trong các chương 8-12. Sau-lơ là vị vua đầu tiên, nên đương nhiên ông đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện. Nhưng tác giả không bao giờ để chúng ta quên Sa-mu-ên. Theo quan điểm của tác giả, Sa-mu-ên vẫn còn thực sự lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, ngay lúc ông đã chuyển giao các vấn đề chính trị, quân sự cho vị vua mới. Trong chương cuối, chương 15, Sa-mu-ên vẫn được Đức Chúa Trời ban cho uy quyền phế bỏ Sau-lơ khỏi ngôi vua.
1. Sau-lơ lên làm vua (ISa 8:1-12:25)
Có ba khía cạnh sau đây đáng cho chúng ta lưu tâm để khảo sát các chương này được dễ dàng: quan điểm của sử gia hiện đại, quan điểm của tác giả và quan điểm của người kể chuyện.
Đối với sử gia hiện đại, nền quân chủ tại đất nước Y-sơ-ra-ên ra đời là điều không thể tránh. Dân Phi-li-tin được trang bị và tổ chức chu đáo, và là mối đe doạ nghiêm trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên có lợi thế là đông dân hơn, nhưng lại bị chia rẽ. Các chi phái Y-sơ-ra-ên thường hoạt động độc lập với nhau và không chi phái nào có quân đội thường trực. Vì thế, giải pháp phải dứt khoát: nếu không tìm biện pháp hiệp nhất các chi phái và xây dựng một quân đội, dân tộc Y-sơ-ra-ên sẽ bị tiêu diệt. Thời xưa, chỉ có đế chế mới có thể thực hiện được mục tiêu này. Vậy nên, theo quan điểm của các sử gia thì việc các trưởng lão khẩn trương thỉnh cầu trong ISa 8:5 là chuyện tự nhiên. Chúng ta nên nhớ chiến thắng của dân Y-sơ-ra-ên trong chương 7 không thay đổi tình hình chung về sức mạnh và chủ nghĩa đế quốc của Phi-li-tin. Cho nên đối với các sử gia, thì yêu sách của các trưởng lão không có gì đáng ngạc nhiên cả.
Quan điểm của tác giả viết Kinh Thánh lại khác hoàn toàn. Theo quan điểm của tác giả, thì Y-sơ-ra-ên đã có một vị vua: như 8:7 chúng ta cho biết, vị vua đó không ai khác hơn là chính Đức Giê-hô-va. Vua là con người thì có thể yếu đuối và bất hoà, nhưng làm sao vị vua thiên thượng lại không thể đem hoà bình và thịnh vượng đến cho dân Ngài được? Nhiều lần trong quá khứ, Đức Chúa Trời chứng minh Ngài có thể đem chiến thắng cho dân Ngài, và qua bản thân Sa-mu-ên, Đức Chúa Trời đã ban cho họ một người lãnh đạo cần thiết. Như trong chương 4, dân Y-sơ-ra-ên có thất trận thật, nhưng thua trận lúc đó là tại lỗi của họ đã không trung thành với vua của họ là Đức Giê-hô-va. Vì thế, theo quan điểm Kinh Thánh và thần học, các trưởng lão yêu cầu phải có một người làm vua là phạm tội, tội phế bỏ vua là Đức Chúa Trời và tội nỗ lực tự mình giành chiến thắng mà không cần Ngài hướng dẫn và giúp đỡ.
Vì người kể chuyện và nhà thần học là một, nên về mặt cơ bản thì quan điểm thứ ba không khác với quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, điều quan trọng là không nên bỏ qua kỹ thuật viết văn sâu sắc của tác giả, cũng không nên bỏ qua cách ông hình thành bản tường thuật để làm cho quan điểm thần học của ông được rõ ràng và đạt hiệu quả. Đối với các sử gia như chúng ta thấy, việc các trưởng lão thỉnh cầu lập một vị vua không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, đối với các độc giả bình thường, sau khi người kể chuyện đã mô tả thắng lợi của Sa-mu-ên trong chương 7 thì lời yêu cầu lập một vị vua là hoàn toàn lạ lùng. Đối với người kể chuyện, thì sức mạnh của dân Phi-li-tin tương đối không quan trọng, do đó lúc này không cần để ý đến sức mạnh ấy sức mạnh thật nằm trong bàn tay Đức Chúa Trời, chứ không nằm trong tay dân Phi-li-tin. Vấn đề nghiêm trọng trên bình diện con người không phải là dân Y-sơ-ra-ên suy yếu về mặt quân sự mà vì họ thiếu hụt đức tin.
Dĩ nhiên, cũng có các quan điểm khác, nhất là quan điểm của các nhân vật khác trong những chuyện - như các trưởng lão, Sa-mu-ên và Sau-lơ. Địa vị của Sau-lơ chắc chắn không dễ chịu. Làm thế nào một người lên làm vua lại hi vọng được Đức Chúa Trời chấp nhận, một khi lập vua lên ngôi cùng nghĩa với phế bỏ vị vua là Đức Chúa Trời? Tuy nhiên, câu chuyện chép rằng Đức Chúa Trời chọn Sau-lơ làm vua! Trên một phương diện, có sự dung hoà trong các chương này. Dù quan điểm thần học nhấn mạnh Đức Giê-hô-va là vua của Y-sơ-ra-ên nhưng cũng hoàn toàn công nhận cần có người làm trung gian nắm quyền lãnh đạo hữu hình, nhưng phải nhận lệnh từ Đức Giê-hô-va. Sa-mu-ên đã là người trung gian và là nhà lãnh đạo như vậy. Cho nên, dù sự đòi hỏi của các trưởng lão là tội lỗi, Đức Chúa Trời vẫn ban cho, miễn là chính Ngài chọn người làm vua. Thực sự, Đức Chúa Trời chọn Sau-lơ trước nhất, kế đến là Đa-vít, và Ngài dùng họ đánh hạ dân Phi-li-tin là kẻ thù của họ. Dù vậy, về lâu về dài, ngôi vua rốt cuộc đã gây đau thương cho Y-sơ-ra-ên. Vấn đề nghiêm trọng là chức vị vua không chỉ ban quyền hành cho một người mà còn ban cho cả con cháu của vua nữa.
Nhiều người cho rằng các chương này rút ra từ nhiều tư liệu nên có nhiều phần khác nhau. Người ta thấy chương 8 và chương 12 cực lực phê bình chế độ quân chủ một cách chung chung. Mặt khác, các chương giữa viết về Sau-lơ rất tích cực. Chương 11 lại là một chuyện khác tách biệt. Các phần này xem ra đều có tính chất lịch sử như nhau, nhưng các học giả thường nêu nhiều thắc mắc và đặt vấn đề. Thí dụ, Sau-lơ được lập làm vua vào ba thời điểm khác nhau và tại ba địa điểm khác nhau (ISa 10:1 10:17-25 11:14-15) - trường hợp này không thể không xảy ra trong các hoàn cảnh độc đáo. Chúng ta nhận thấy toàn bộ cốt truyện là đáng tin cậy, còn các phần khác xem như nhằm trình bày các quan điểm khác nhau về chức vị vua, chứ không nhằm mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, cần tìm hiểu về toàn thể vấn đề phức tạp này trong một pho giải kinh toàn thư.
(ISa 8:1-9) Yêu sách lập một vua Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, đại diện địa phương cho các chi tộc, chi phái Y-sơ-ra-ên có lý do chính đáng khiến họ lo lắng. Họ thấy Sa-mu-ên ngày càng già mà không có ai kế vị tiếp tục chiến đấu chống lại dân Phi-li-tin. Lịch sử được lập lại. Tội lỗi của các con trai Hê-li đem lại thay đổi quan trọng trong Y-sơ-ra-ên và bây giờ tội lỗi của các con trai Sa-mu-ên là bước thứ nhất dẫn đến sự thay đổi còn to tát hơn. Trong cả hai trường hợp, dân chúng đều biết rõ tội lỗi của họ và dân chúng có quyền phản đối. Điểm khác biệt quan trọng duy nhất là các con trai Sa-mu-ên không ở dưới sự giám sát trực tiếp của ông, vì Bê-e-sê-ba ở tận miền nam, và Đức Chúa Trời cũng như dân chúng không trách ông về hành động của chúng. Mọi chuyện này thật là chua chát mỉa mai. Trước kia là Hê-li, bây giờ là Sa-mu-ên, mọi người đều thấy rõ rằng những bậc cao trọng đạo đức đều có khả năng có những đứa con xấu xa, không xứng đáng. Đã thế, các trưởng lão ứng phó bằng cách đòi lập một vua. Theo định nghĩa, vua là một người cai trị và con của vua đương nhiên kế vị ông! Tác giả viết Kinh Thánh chứng minh lập luận của các trưởng lão không thành thật. Mãi đến câu 20, chúng ta mới biết lý do thật.
Chắc chắn, yêu sách của các trưởng lão là phế bỏ Sa-mu-ên, và lẽ tự nhiên là ông không hài lòng, dù họ dành cho ông trọn quyền chọn người làm vua. Lời Đức Chúa Trời trong câu 7 không chỉ xác nhận họ đã phế bỏ Sa-mu-ên mà còn nhấn mạnh ông không phải là người duy nhất bị phế bỏ. Khi các trưởng lão phế bỏ Sa-mu-ên thì họ cũng đang phế bỏ uy quyền của Đức Chúa Trời, vì chính Ngài đã sai các lãnh tụ tài ba đến với Y-sơ-ra-ên, hết người này đến người khác, kể cả Sa-mu-ên. Như câu 8 cho biết, việc dân Y-sơ-ra-ên từ bỏ Đức Gia-vê để thờ các thần khác không có gì là mới mẻ cả, nhưng yêu sách của các trưởng lão đã đi xa hơn một bước, là từ khước không để Ngài lãnh đạo đường lối chính trị cho chính dân của Ngài.
Rất nhiều chỗ trong Kinh Thánh mô tả Đức Chúa Trời là vua của dân Y-sơ-ra-ên, chỗ đầu tiên từ sách Xu 15:18. Dễ dàng nhận ra đây là lối nhân cách hoá dễ hiểu, một hình ảnh gần gũi với con người. Có lẽ dân Y-sơ-ra-ên quen nhân cách hoá như vậy, nên họ không chú ý đến ý nghĩa hoặc ẩn ý của câu này. Nếu Đức Chúa Trời thật sự là vua thì Ngài có quyền đưa ra các quyết định chính trị cho Y-sơ-ra-ên, Ngài có quyền lập ra luật pháp và hiến pháp, Ngài quyết định chiến đấu hoặc liên minh, và làm mọi việc khác như khi con người làm vua trong các quốc gia khác. (Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời cần các sứ giả loan báo các quyết định và sắc lệnh của Ngài, và các tiên tri đặc biệt đảm nhận vai trò này.) Nếu một người lên làm vua mà không tuyệt đối tuân thủ các quyết định của Đức Giê-hô-va, chắc chắn vị vua ấy đang chiếm chỗ của Đức Chúa Trời trong vài phương diện nào đó. Vậy nên, yêu sách của các trưởng lão chẳng khác gì phản bội.
(ISa 8:10-22). Phế bỏ lời khuyên của Sa-mu-ên Trước khi quyết định thiết lập chế độ quân chủ, dân Y-sơ-ra-ên phải xem xét quân chủ đưa đến hệ quả ra sao đối với họ: vì thế ở đây, Sa-mu-ên mô tả cảnh ảm đạm về những hệ quả phụ của chế độ quân chủ. Tầm nhìn của các trưởng lão rất hạn hẹp họ chỉ trông mong có một tay lãnh đạo quân sự tài ba (20). Sa-mu-ên mô tả về sự cai trị của vua khiến họ lưu tâm đến việc cưỡng bách lao động, cưỡng bách tòng quân, sưu thuế nặng và cuối cùng là chế độ độc tài chuyên chế. Do đó, nếu Y-sơ-ra-ên chọn chế độ quân chủ như họ muốn, thì rồi đây họ phải trả một giá rất đắt cho những lợi ích có giới hạn về mặt quân sự. Họ tin rằng vua sẽ đem lại cho họ nhiều điều như an ninh, ổn định và thắng lợi Sa-mu-ên khuyến cáo cho họ biết các vua chắc chắn sẽ thu vào nhiều hơn là đem cho. (Xin lưu ý động từ thu vào (bắt) xuất hiện nhiều lần từ câu 11-17.)
Nhiều người cho rằng các chi tiết từ câu 11-17 rất đúng trong trường hợp vua Sa-lô-môn, và họ lập luận rằng lời mô tả này được viết lâu năm về sau thay vì vào thời Sa-mu-ên. Ngược lại với quan điểm này, có nhiều bằng chứng cho biết trước thời Sa-lô-môn rất lâu, mọi người đều biết rõ hành vi bạo ngược của các vị vua và không lý do gì mà Sa-mu-ên không trình bày quan điểm của ông. Cả hai lập luận đều có điểm hợp lý. Có thể Sa-mu-ên đã công kích toàn bộ ý kiến ủng hộ chế độ quân chủ, nhưng cũng có thể tác giả triển khai bài nói của Sa-mu-ên để nhắc các độc giả sau này nhớ rằng Sa-lô-môn đã chứng thực cho những lý luận của Sa-mu-ên là đúng sự thật.
Nếu dân Y-sơ-ra-ên chọn chế độ quân chủ, rồi họ sẽ hối hận - nhưng sẽ không thể thay đổi được nữa, vì lời khuyến cáo của Sa-mu-ên như lọt vào tai điếc (19). Đừng tưởng rằng Đức Chúa Trời chịu bó tay đối với quyết định của các trưởng lão. Trái lại, Ngài trọn quyền chọn và quyết định để mặc cho Y-sơ-ra-ên làm theo ý của họ trong vấn đề này (21). Câu 20 cho biết mặc dù các trưởng lão muốn Y-sơ-ra-ên chiến thắng các dân tộc khác, nhưng họ lại muốn khuôn rập theo kiểu của các dân tộc đó. Dù biết hay không, dân sự của Đức Chúa Trời luôn bị xã hội thúc ép làm theo đời này. Phao-lô từng cảnh cáo về mối nguy hiểm này (Ro 12:2).
(ISa 9:1-14). Sau-lơ đến Ra-ma Rất có thể từ đây, tác giả vận dụng một tư liệu khác để viết phần này. Trong phần nào, tác giả cũng tỏ ra tài tình trong lối văn gây ấn tượng sâu sắc nơi độc giả. Bất ngờ, chuyện chuyển từ Sa-mu-ên qua Sau-lơ, lần đầu tiên được nêu danh. Độc giả theo dõi chờ đợi xem Sa-mu-ên làm sao tìm ra đúng người để lập lên ngôi vua nhưng đương nhiên tất cả các độc giả đều biết Sau-lơ là vị vua đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên. Do đó, khi cho ông xuất hiện ở đây thì không ai ngạc nhiên cả. Câu chuyện trình bày tiếp tục về trường hợp Sa-mu-ên và Sau-lơ gặp nhau. Lưu ý là người kể chuyện tỏ ra khéo léo không nói đến tên thành Ra-ma và tên của vị tiên tri Sa-mu-ên. (Ra-ma là quê quán của Sa-mu-ên nhưng ông mới trở về đây sau một vòng đi xét xử ở những nơi khác ISa 7:16-17) Manh mối duy nhất trong câu chuyện là xứ Xu-phơ (5) và Ra-ma nằm trong xứ này (1:1).
Trên một khía cạnh khác, đây là câu chuyện về những kẻ gặp vận may. Gia đình Sau-lơ không đến nỗi nghèo hèn, còn vóc dáng của bản thân ông thì cao lớn đồ sộ (2) nhưng gia đình ông không thuộc giới quí tộc, và chi phái Bên-gia-min là chi phái nhỏ, không quan trọng trong Y-sơ-ra-ên (c.21), bị chi phái Ép-ra-im ở phía bắc và chi phái Giu-đa ở phía nam án ngữ. Có thể Sau-lơ không có tham vọng, cũng không màng đến ngôi báu. Có thể xem điểm chính của đoạn này là sự vô tình và thiếu tham vọng của Sau-lơ. Ông ra đi không phải tìm danh vọng hoặc quyền lực, nhưng chỉ mong tìm lại tài sản của cha ông. Ông không tìm kiếm ngôi vị vua nhưng chúng ta có thể nói Đức Chúa Trời đã tìm thấy ông và phong ông làm vua. Thậm chí, Sau-lơ không biết Sa-mu-ên là ai, và không nhận ra ông khi họ gặp nhau. Chúng ta có thể suy đoán rằng sau các biến cố của chương 8, một số người có tham vọng đã tìm gặp Sa-mu-ên, khiến ông chú ý đến tài năng của mình hoặc tìm cách chiếm cảm tình của ông, nhưng Sau-lơ không phải là hạng người như vậy.
Chú giải. 12 Các bàn thờ, chẳng hạn như bàn thờ do Sa-mu-ên lập tại Ra-ma (7:17) thường ở trên đồi cao (hoặc trên các ụ đất nhân tạo) và ‘những nơi cao’ như vậy được dùng làm nơi thờ phượng ngoài trời. Đoạn này xác định rõ ràng Sa-mu-ên không chỉ là vị tiên tri và quan xét, mà ô
(ISa 9:15-27). Sa-mu-ên tiếp đãi Sau-lơ Câu chuyện từ đầu đến giờ xác định rõ không một người nào xếp đặt cho Sa-mu-ên và Sau-lơ gặp nhau. Đức Chúa Trời tể trị trên mọi sự đi lại của Sau-lơ. Giờ đây, Ngài khải thị trực tiếp cho Sa-mu-ên biết rằng Sau-lơ là người Đức Chúa Trời chọn làm vua. Vì vậy, Sa-mu-ên nhận biết Sau-lơ khi hai người gặp nhau, và ông cũng biết cách thức tấn phong Sau-lơ lên làm vua. Tuy nhiên, Sau-lơ vẫn chưa biết chương trình của Đức Chúa Trời qua các diễn biến trong chương này: chỉ có Sa-mu-ên khiến ông dần dần nhận thức rằng Đức Chúa Trời có chương trình đặc biệt cho ông. Trong câu 20, Sa-mu-ên nhắc đến ao ước của Y-sơ-ra-ên độc giả hiểu ông có ý nói đến việc họ ao ước một vua, câu nói này đương nhiên làm Sau-lơ bối rối. Kế đó, hành động của Sa-mu-ên trong câu 24 cho Sau-lơ biết ông là vị khách danh dự nhưng Sa-mu-ên vẫn chưa tiết lộ hết sự thật. Cho đến cuối đoạn, phần này nói về ngai vàng và quyền lực đến mức đó. Thậm chí bấy giờ, Sau-lơ vẫn là một người khiêm tốn chưa ngờ đến vị thế ông đứng trong tương lai. Sau-lơ không giành quyền hành, và Sa-mu-ên cũng không phong chức cho một người bạn thân của ông lên làm vua Sau-lơ hoàn toàn là một người được Đức Chúa Trời chọn.
Từ ‘vua’ không xuất hiện trong chương này. Thay vào đó, cả hai câu 16 và 10:1 đều dùng từ nhà lãnh đạo (tiếng Hi-bá-lai là n~gýd). Nghĩa chính xác của từ này trong tiếng Hi-bá-lai vẫn còn chịu nhiều tranh luận có thể ý chính là ‘vị vua đã được đề cử chỉ định’ ngụ ý Sau-lơ chưa thực sự là vua cho đến khi có một lễ chính thức tại Mích-ba trong chương 10. Dù sao đi nữa, theo đoạn văn thì ý nghĩa của từ này không trái ngược với nghĩa của từ vua, vì động từ xức dầu, dùng chung với từ này ngầm chỉ về chức vị của vua. Nhiệm vụ lãnh đạo của Sau-lơ đã rõ ràng: công tác của ông là giải phóng Y-sơ-ra-ên ra khỏi dân Phi-li-tin và cai trị (nguyên văn là ‘kềm chế’, ‘kiểm soát’) dân Y-sơ-ra-ên. Bằng cách này, qua Sau-lơ, Đức Chúa Trời dáp ứng hai nhu cầu chính trị quan trọng nhất lúc bấy giờ. Nhu cầu thứ nhất là chiến thắng kẻ thù, bằng không chính kẻ thù sẽ tiêu diệt Y-sơ-ra-ên. Thứ hai là nhu cầu trong nội bộ dân Y-sơ-ra-ên cần một chính phủ hiệp nhất có thế lực.
Chú giải. 27 Sa-mu-ên sắp xếp để xức dầu cho Sau-lơ trong chỗ riêng tư ngay cả đầy tơ của Sau-lơ cũng không biết việc bí mật này. Lần đầu tiên Đa-vít được xức dầu cũng được thực hiện trong chỗ riêng tư (ISa 16:1-13). Trong cả hai trường hợp, họ chưa thực sự làm vua cho đến khi có một buổi lễ chính thức.
(ISa 10:1-8). Xức dầu Câu 1 mô tả sự xức dầu đơn giản. Vị đại diện của Đức Chúa Trời là Sa-mu-ên đổ dầu trên đầu của vị vua tương lai. Việc làm này tượng trưng rằng Đức Chúa Trời biệt riêng ông ra, tách ông ra khỏi mọi người vì Ngài chọn ông làm vua. Chúng ta không hiểu đầy đủ ý nghĩa của việc xức dầu trong Y-sơ-ra-ên. Có thể đây là biểu tượng về mối liên hệ trong giao ước nếu đúng thế thì việc này bày tỏ cho biết Đức Chúa Trời lập giao ước đặc biệt với bản thân vị vua, hứa giúp đỡ, ban cho vua sức mạnh và sự khôn ngoan. Có thể dầu tượng trưng quyền năng từ Đức Chúa Trời ban cho. Xức dầu là một nghi thức phổ thông ở vùng Cận đông thời xưa, mặc dù ngoài nước Y-sơ-ra-ên ra, các nước khác không xức dầu cho vua. Tại Ai-cập, không có sự xức dầu cho vua nhưng các vua chư hầu phải chịu xức dầu. Nếu dân Y-sơ-ra-ên cũng đồng một quan niệm thì sự xức dầu khiến cho Sau-lơ trở thành vua chư hầu dưới quyền Đại Đế Giê-hô-va.
Câu 1 cũng mô tả Y-sơ-ra-ên là cơ nghiệp của Đức Giê-hô-va, tức là tài sản muôn đời của Ngài bao gồm cả dân sự và đất đai. Đây là một lời công bố quan trọng cho tân vương vì chẳng có lý do nào mà ông được sở hữu Y-sơ-ra-ên cả, Đức Chúa Trời vẫn là sở hữu chủ.
Bởi đó, Sau-lơ phải phục dưới quyền Đức Chúa Trời dù sao, chế độ quân chủ là một thể chế mới tinh tại nước Y-sơ-ra-ên nên Sau-lơ vẫn còn nghi hoặc cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Cần có các dấu hiệu xác chứng ông thực sự là vua và các dấu hiệu chứng tỏ ông có khả năng gánh vác nhiệm vụ. Vì vậy, có ba lời hứa dành cho ông. (Câu 7 cho biết rõ những lời tiên báo của Sa-mu-ên được xem như là các dấu hiệu, và chắc chắn trong nguyên bản tiếng Hi-bá-lai cũng dùng từ dấu hiệu trong câu 1, xem phần chú giải ngoài lề bản NIV.) Dấu hiệu đầu tiên (2) khích lệ ông bỏ quá khứ lại phía sau, tương lai ông không còn là một nông phu nữa. Dấu hiệu thứ hai (3-4) bảo đảm với ông rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ công nhận ông làm vua. Các ổ bánh là một phần trong các của lễ đem đến đền thờ tại Bê-tên. Không có chuyện đem loại bánh đó biếu cho khách lạ qua đường. Nhưng người ta chỉ dâng cho người có địa vị cao trọng. Dấu hiệu thứ ba (5-6) bảo đảm rằng ông sẽ có ân tứ và tài năng cần thiết để lãnh đạo. Tất cả ‘các quan xét’ đến trước ông đều được trang bị bằng những ân tứ Thánh Linh của Đức Chúa Trời để lãnh đạo. Sau-lơ sẽ nhận biết rằng ông cũng được trang bị như họ. Vậy khi các dấu hiệu này được ứng nghiệm, Sau-lơ có thể đủ tự tin để hành động trong tư cách một vị vua, bởi vì rõ ràng Đức Chúa Trời ở với ông.
Ghi-bê-a là quê nhà của Sau-lơ (26), đoạn 11:4 gọi là ‘Ghi-bê-a của Sau-lơ’, gọi đầy đủ là Ghi-bê-a của Đức Chúa Trời, hoặc Ghi-bê-a Ê-lô-him. Ghi-bê-a biểu thị sự yếu đuối của dân Y-sơ-ra-ên vì dân Phi-li-tin có một tiền đồn ngay tại thành của Sau-lơ. Các nhóm tiên tri là nét đặc trưng trong thời kỳ đầy nguy biến về mặt thuộc linh lẫn chính trị (IIVua 2:1-24). Khác với các vị tiên tri vĩ nhân, hình như họ sống hợp quần thành cộng đồng. Khi nghe nhạc, họ biểu thị dáng vẽ và cử chỉ của người mê mẩn ngây ngất như xuất thần. Một bằng chứng cho biết tâm thần của Sau-lơ cũng dễ bị âm nhạc chi phối (ISa 16:14-23), và tại đây, Đức Chúa Trời vận dụng đặc tính sẵn có này nơi Sau-lơ.
Câu 8 là lời chỉ dẫn cuối cùng của Sa-mu-ên dành cho Sau-lơ trong một chi tiết dẫn trước cho chương 13 (13:4,8). Chắc Sa-mu-ên đã nói với Sau-lơ dài hơn, đầy đủ chi tiết hơn, chứ không phải chỉ có một câu vắn tắt này. Câu này làm cho độc giả tưởng rằng Sau-lơ được lệnh đi ngay đến Ghinh-ganh. Sự thật không phải như vậy. Vì cớ tất cả các biến cố diễn ra trước khi Sa-mu-ên hoặc Sau-lơ đi đến Ghinh-ganh. Căn cứ vào chương 13, chúng ta có thể suy luận rằng một khi Sau-lơ nhận nhiệm vụ làm vua, chắc Sa-mu-ên đã chỉ thị cho Sau-lơ triệu tập hội đồng dân Y-sơ-ra-ên tại Ghinh-ganh để thành lập quân đội chống lại dân Phi-li-tin. Nhưng điều đó còn nằm trong tương lai.
(ISa 10:9-16). Giữ bí mật Người kể chuyện cho chúng ta biết ngắn gọn là cả ba dấu hiệu đềuđược ứng nghiệm, rồi nhắm sẵn mục đích mới, ông chuyển thẳng vào dấu hiệu thứ ba. Câu chuyện nhấn mạnh sự kiện ngoài Sa-mu-ên và Sau-lơ, chẳng ai biết Sau-lơ được chọn làm vua. Đó là điều quan trọng. Tác giả nhấn mạnh sự kiện này bằng cách kể lại hai sự kiện. Sự kiện thứ nhất là khi dấu hiệu thứ ba ứng nghiệm, chính Sau-lơ nhận biết dấu hiệu, nhưng mọi người khác hiểu sai hoàn toàn. Họ chế nhạo từng trải của Sau-lơ đến nỗi lời chế nhạo này trở thành một tục ngư, về sau một chuyện khác củng cố thêm cho tục ngữ này (ISa 19:23-24). Nếu câu nói “Cha của họ là ai?” có ngụ ý ‘họ là những người tầm thường!’ thì hoá ra họ cũng chế nhạo nguyên đoàn tiên tri nữa. Như vậy, rõ ràng từng trải của Sau-lơ không tạo được uy tín nơi dân chúng tại quê nhà ở Ghi-bê-a. Cong 2:13 cũng ghi lại một sự kiện tương tự. Đó là chuyện những kẻ đứng ngoài xem chế nhạo những người được đầy dẫy Thánh Linh và ICo 2:14 nhận xét một cách tổng quát rằng “Người không có Thánh Linh không nhận những điều đến từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì người ấy coi điều đó là ngu dại và không thể hiểu nổi”.
Sự kiện thứ hai là cuộc trò chuyện giữa Sau-lơ với chú của ông, mà trước đây chưa hề nhắc tại đền thờ địa phương. Chắc cha của Sau-lơ biết lý do ông vắng mặt, nhưng chú của ông thì không. Khi nghe Sau-lơ nhắc đến Sa-mu-ên, chú tò mò hỏi thêm nhưng Sau-lơ cẩn thận không nói gì về ngôi vua. Vì vậy, ngay cả hàng xóm và bà con cũng chẳng ai biết ông là người được chỉ định làm vua.
(ISa 10:17-27). Lễ công cử tại Mích-ba Trong thời gian này, dường như Mích-ba đóng vai trò thủ đô và đây là lần thứ hai hội đồng quốc gia họp tại nơi này (ISa 7:15-16). Vì vậy, đây là địa điểm thích hợp để công cử Sau-lơ làm vua. Đoạn này nối trực tiếp với chương 8, vì về phần các đại diện Y-sơ-ra-ên không hay biết gì về các chuyện riêng tư chép trong 9:1-10:16. Lập tức Sa-mu-ên nhân danh Đức Gia-vê lập lại những lời ông đã từng quở trách họ. Dù Đức Giê-hô-va chọn Sau-lơ và trang bị cho ông làm vua nhưng yêu sách của dân Y-sơ-ra-ên về chế độ quân chủ vẫn là việc khinh miệt Đức Chúa Trời. Sa-mu-ên nhắc lại lần nữa cho họ nhớ rằng Đức Chúa Trời luôn giải cứu họ khỏi các kẻ thù hùng cường.
Có thể chúng ta tưởng rằng Sa-mu-ên lập tức công bố sự kiện Đức Giê-hô-va chọn Sau-lơ rồi kế đó tiến hành xức dầu công khai. Nhưng câu 20-24 ghi lại một nghi thức rất khác lạ. Đó là nghi thức bốc thăm, Sau-lơ được chỉ định ra qua cuộc bốc thăm như thể chưa hề có quyết định gì cả. Chúng ta hiểu biết quá ít về thể thức bốc thăm đặc biệt là chuyện bốc thăm trúng Sau-lơ trong khi ông vắng mặt. Dù sao, tác giả đã có thể nhấn mạnh điểm đáng lưu ý là giờ đây, Sau-lơ vẫn còn khiêm tốn e dè né tránh chớ không có tham vọng làm vua. Dù vậy, ông có vóc dáng oai phong nên hầu hết mọi người trong hội đồng công nhận ông ngay lập tức. Rồi họ tung hô tôn ông làm vua. Không phải Sa-mu-ên hoặc Đức Gia-vê áp đặt ông trên dân Y-sơ-ra-ên, nhưng nói chung toàn thể các đại diện Y-sơ-ra-ên đều công nhận ông. (Điều này ngụ ý rằng số người gây rắc rối chỉ là số ít thôi.) Vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên cần có một dân tộc hiệp nhất ủng hộ ông. Đó là điều quan trọng. Vì vậy, sự kiện dân chúng tự do và tự ý công nhận ông làm vua là thích đáng. Sự kiện này lý giải vấn đề giữ bí mật trước kia là cần thiết.
Câu 25 nói đến một tài liệu đặt tại đền thờ, chắc chắn là các thầy tế lễ cất giữ. Cuốn tài liệu này được kể là hiến pháp của nền ‘quân chủ’. Nội dung ra sao không rõ nhưng có lẽ tài liệu này triển khai Phu 17:18-20. Chắc chắn có những điều luật qui định về ‘quyền lợi và nghĩa vụ’ (trong tiếng Hi-bá-lai, từ này gồm chỉ một chữ được dịch trong bản RSV). Nói cách khác, đây là tài liệu chỉ dẫn cho vua biết ông có quyền kỳ vọng điều gì từ nơi đồng bào của ông, ngoài bổn phận đối với Đức Chúa Trời, ông có bổn phận gì đối với họ. Như vậy, vua và dân chúng có chung một tương quan.
Sau-lơ trở về nhà như mọi người khác (26) sau này, chắc hẳn Ghi-bê-a trở thành đế đô của Sau-lơ. Khởi đầu chế độ quân chủ, có thể chưa có hệ thống thuế khoá trung ương, nên Sau-lơ tạm thời sống nhờ vào nông trại của ông (ISa 11:5).
Thật ra, chẳng có gì ngạc nhiên khi có một số người Y-sơ-ra-ên bi quan không tin Sau-lơ có khả năng dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ chiến thắng dân Phi-li-tin (27). Nếu các trưởng lão Y-sơ-ra-ên can tội không nhận Đức Chúa Trời là vua, thì những người này phạm một lúc hai tội, vì họ cũng phế bỏ người mà Đức Chúa Trời chọn làm vua. Họ là những kẻ gây rắc rối, hoặc ‘người vô dụng’ (GNB).
(ISa 11:1-11). Chiến thắng đầu tiên của Sau-lơ Một lần nữa, tác giả gây ngạc nhiên cho độc giả khi chuyển trọng tâm chú ý từ miền Trung và biên giới phía tây của nước Y-sơ-ra-ên (giáp với dân Phi-li-tin) đến biên giới đông nam. Vua Am-môn là Na-hách cai trị một quốc gia nhỏ bên kia Giô-đanh, sát biên giới của một vùng thuộc lãnh thổ Y-sơ-ra-ên gọi là Ga-la-át. Trước đây, có lúc đội quân của ông xâm lấn lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, nay họ bao vây thành Gia-be Ga-la-át.
Tình thế này là một thí dụ cho chúng ta thấy mức độ suy yếu của dân Y-sơ-ra-ên trong thời gian đầu khi vua Sau-lơ cai trị. Một lần nữa, chúng ta nhớ đến lễ công cử Sau-lơ lên làm vua đã đem lại cho Y-sơ-ra-ên tinh thần đoàn kết và sức mạnh, nhưng hai điều này không tự động hình thành và có ngay lập tức. Chúng ta không thể biết chắc quyền hành thực thụ của Sau-lơ lan rộng đến đâu dù sau này khi uy tín và thế lực của ông đạt mức đáng kể nhất. Trong thời gian đầu trị vì, quyền kiểm soát của ông hẳn là rất giới hạn. Các chi phái đã quen thói hành động cách độc lập và phần tường thuật này cho biết ngay cả một thành riêng rẽ như Gia-be Ga-la-át cũng có thể tự đứng ra ký hiệp ước được. Một chi tiết đáng lưu ý là các sứ giả của Gia-be hành động như thể Sau-lơ không phải là vua và họ gửi sứ điệp đi khắp Y-sơ-ra-ên, tìm kiếm tiếp viện từ bất kỳ ai. Nhưng chính Sau-lơ lại là người đáp ứng lời cầu cứu của họ.
Tình hình cũng cho biết mức độ căm ghét của dân Am-môn đối với dân Y-sơ-ra-ên, dù rằng hành động dã man dự tính trong câu 2 tương phản kỳ lạ với cử chỉ lịch lãm hào hùng trong câu 3. Dân Am-môn quá ít quân không thể đối đầu với một dân Y-sơ-ra-ên đoàn kết nhưng nếu một dân Y-sơ-ra-ên vừa chia rẽ vừa lo đối phó với sự xâm lấn của quân Phi-li-tin ở nơi khác thì sẽ trở thành một con mồi ngon cho họ.
Câu 6-11 cho biết Sau-lơ đáp ứng như thế nào. Giống ‘các quan xét’ trước kia, ông được Thánh Linh của Đức Chúa Trời ban cho sức mạnh. Ông hành động cách bạo dạn và có uy quyền, chiêu mộ toàn quân Y-sơ-ra-ên từ các thành phố, làng mạc, nông trại và đồng ruộng. Câu 7 ngụ ý không phải vì kính nể Sau-lơ hoặc Sa-mu-ên mà họ ra chiến trường nhưng vì kính sợ Đức Giê-hô-va. Quân số trong câu 8 có vẻ quá lớn, ở đây cũng như ở các chỗ khác trong sách các lịch sử thời Cựu Ước. Thường thường có gợi ý là từ Hi-bá-lai dịch là ngàn trong bản NIV (và hầu hết các bản tiếng Anh) nên dịch ra là ‘một đơn vị (quân đội)’, là một toán chiến sĩ khá ít người. Đáng lưu ý là chi phái Giu-đa được liệt kê tách riêng khỏi các chi phái khác. Sự phân biệt này có thể phản ánh sự kiện về sau vương quốc sẽ bị chia rẽ sau khi Sa-lô-môn qua đời.
Đoạn này (và nhiều đoạn khác trong Cựu Ước) khải thị cho chúng ta biết về Đức Chúa Trời là Đấng cứu giúp dân Ngài trong chiến tranh. Nhiều Cơ-đốc nhân xem vấn đề này là một quan niệm gây ra vấn đề khúc mắc trên phương diện đạo đức. Tình hình thực tế và thời điểm lịch sử đó đã đưa thẳng đến chiến tranh chớ không thể có giải pháp hoà bình được. Hơn nữa, trong cuộc chiến này, dân Y-sơ-ra-ên không nhằm mở rộng lãnh thổ, cũng không tìm cách thống trị các dân tộc khác, họ chiến đấu để loại trừ áp bức và bất công. Cựu Ước luôn bày tỏ Đức Chúa Trời chống lại sự bất công.
Trận đánh có tính cách quyết định, lần đầu tiên Sau-lơ đem lại chiến thắng quan trọng. Dân chúng Gia-be không bao giờ quên ơn của ông đã làm cho họ (ISa 31:11-13).
(ISa 11:12-15). Lễ đăng quang tại Ghinh-ganh Một buổi lễ được tổ chức tại Ghinh-ganh, sau khi Sau-lơ chiến thắng ở bên kia sông Giô-đanh. Tại lễ này, toàn thể Y-sơ-ra-ên công nhận Sau-lơ là vua. Chắc chắn người tham dự phần đông trong đội quân chiến thắng. Ghinh-ganh là thành phố gần sông Giô-đanh nhất trong số những thành nơi Sa-mu-ên cai trị (7:16). Một số học giả cho rằng trong chương này chỉ có phần kể lại lễ đăng quang mới thật sự là do ngòi bút của tác giả nên họ coi câu 14 (và các câu nhắc đến Sa-mu-ên trong chương này) là do người biên tập thêm vào, rồi sau đó họ dịch cụm từ khẳng định Sau-lơ là vua thành ‘tôn Sau-lơ làm vua’ (theo nghĩa đen). Tuy nhiên, theo hiện trạng nội dung bài tường thuật khá hợp lý và cũng dễ hiểu lý do cần cử hành thêm một buổi lễ nữa, vì trước đây có một số người có thái độ thù nghịch đối với Sau-lơ (10:27). Đây là lần đầu tiên toàn dân tỏ ý thần phục ông. Câu 15 nhắc đến Đức Giê-hô-va và của lễ thù ân có thể gợi ý rằng đây là một lễ lập giao ước, tương tự trong Xuất Ê-díp-tô 24.
Niềm phấn khích của chiến thắng và buổi lễ dẫn đến hội hè ăn mừng: nguyên văn là ‘Sau-lơ và cả dân Y-sơ-ra-ên vui mừng khôn xiết’. Tên của Sa-mu-ên không được nhắc đến ở đây là có ý nghĩa: nếu trong lúc này ai nấy đều đã quên biến cố ở chương 8, thì ông không quên. Sau-lơ thì vô can, nhưng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên can tội chối bỏ Đức Giê-hô-va và Sa-mu-ên. Chương kế tiếp ghi thêm những lời quở trách và cảnh cáo của Sa-mu-ên.
(ISa 12:1-15). Bài diễn văn của Sa-mu-ên Không rõ Sa-mu-ên nói những lời này trong buổi họp ở cuối chương 11, nghĩa là tại hội đồng ở Ghinh-ganh hoặc tại một hội đồng quốc gia khác vào cuối đời của Sa-mu-ên. Trên một vài phương diện, bài diễn văn nghe giống như lời từ biệt, nhưng lời dẫn nhập ngắn gọn trong câu 1 không cho chúng ta một tia sáng nào. Dầu sao đi nữa, bài diễn văn quả là thích hợp ở chỗ này. Tác giả đặt bài diễn văn ở đây để tạo cho độc giả cơ hội suy ngẫm trước khi khởi tường thuật về chế độ quân chủ. Chương 11 kết thúc bằng niềm vui mừng, phấn khởi khi dân Y-sơ-ra-ên ăn mừng chiến thắng và hướng về tương lai với lòng tin tưởng là sẽ chiến thắng dân Phi-li-tin. Nay, họ đã có vua là người tỏ ra là một chiến sĩ giỏi. Vì thế, họ cảm thấy thật vững tâm. Tuy nhiên, Sa-mu-ên phân tích quá khứ và triển khai hiện tại để đưa ra một đường hướng cho tương lai. Bài diễn văn tuyên bố rõ ràng tương lai không tùy thuộc vào vua, cũng không tùy thuộc vào tài năng của vua, mà tùy thuộc vào ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhưng ý muốn Đức Chúa Trời tùy thuộc vào lòng trung thành của họ đối với Ngài.
Trước hết, Sa-mu-ên yêu cầu mọi người rà soát công tác cai trị của ông vì nay ông tự rời bỏ chức vụ lãnh đạo chính trị (1-5). Thính giả chỉ có thể xác nhận rằng suốt nhiều năm, ông đã lãnh đạo họ cách công bình và tử tế trong mọi lãnh vực. (Không một lời nào nhắc lại sự than phiền trước đây về hai con trai của ông trong ISa 8:1-5 nhưng câu 2 nhắc đến các con trai của ông có thể ngụ ý rằng ông đã rút họ ra khỏi chức vụ tại Bê-e-sê-ba và đem họ về nhà.) Ở đây nhấn mạnh rõ Sa-mu-ên không thu bất kỳ món gì của bất cứ ai một cách bất công. Đoạn này mô tả về Sa-mu-ên hoàn toàn tương phản với đoạn do chính ông mô tả về các vua trong 8:11-18, các vua sẽ đoạt của dân hết món này đến món khác. Tác giả có ý định trình bày một bối cảnh bao quát hơn. Tác giả so sánh các quan xét trong quá khứ với các vua trong hiện tại và tương lai. Các nhà lãnh tụ trong quá khứ là các cá nhân do Đức Chúa Trời chọn ra do đó họ cai trị tốt đẹp còn bây giờ dân Y-sơ-ra-ên khởi chọn lãnh đạo của mình. Đây là một bước nguy hiểm. Đúng là Đức Chúa Trời đã chọn Sau-lơ và về sau, Ngài cũng chọn Đa-vít nữa, nhưng sau khi Sa-lô-môn chết, trong vương quốc phía bắc có nhiều vua do dân trong vùng lập lên mà thôi.
Câu 8-11 nhắc dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại những sự kiện quan trọng đã qua trong lịch sử của họ. Trước nhất, Đức Chúa Trời thường xuyên quan tâm đến nhu cầu của họ, giải cứu họ khỏi vô số quân thù. Thứ hai, Đức Chúa Trời chọn lựa và ban cho họ những vị lãnh tụ đã đưa họ đến chỗ chiến thắng. Thứ ba, thất bại xảy ra là do họ phạm tội, vì họ thường hay từ bỏ Đức Gia-vê và thờ lạy hình tượng. Câu 11 liệt kê một số nhà lãnh đạo tài năng mà Đức Chúa Trời ban cho họ. Chắc chắn Sa-mu-ên có thể kể tên mình là vị quan xét cuối cùng, hoặc giả tác giả Kinh Thánh có thể ghi thêm vào tuy nhiên, thay vì đọc tên Sa-mu-ên, chúng ta lại đọc thấy tên Sam-sôn (xem phần chú giải ngoài lề bản NIV).
Câu 12 lập lại lời cáo buộc trong 8:7-8 vì cớ đòi có một người làm vua tức là dân Y-sơ-ra-ên từ bỏ Đức Gia-vê là vua của họ. Câu này ngụ ý Na-hách chắc đã quấy rối dân Y-sơ-ra-ên ở bên kia sông Giô-đanh từ lâu trước khi tấn công Gia-be Ga-la-át như vậy tỏ rõ dân Y-sơ-ra-ên sẵn sàng ứng phó một cách sai lầm khi gặp tình thế khó khăn. Khi bị Na-hách tấn công, đáng lẽ họ phải hiểu rằng chỉ vì tội bất trung với Đức Chúa Trời nên họ mới lâm vào tình thế nguy ngập như vậy. Nhưng thay vì ăn năn (như trong quá khứ), họ lại tự mình đưa ra một giải pháp phủ nhận quyền cai trị của Đức Giê-hô-va và yêu cầu lập vua cai trị họ. Dầu sao trong thực tế, họ xin Đức Giê-hô-va chọn một người làm vua, nên hiện nay Ngài sẵn sàng ban cho họ một cơ hội nữa trước khi sửa phạt họ. Tất cả đều phụ thuộc vào lòng trung thành của vua và của họ đối với Đức Giê-hô-va.
(ISa 12:16-25). Khích lệ và cảnh cáo Đám thính giả chắc đã tự hỏi không biết ông lý giải lịch sử Y-sơ-ra-ên như vậy có đúng không. Vì vậy, có dấu lạ từ trời giúp xua tan mọi nghi ngờ. Vào đầu mùa hè là thời vụ thu hoạch lúa mì trong nước Y-sơ-ra-ên, không có sấm cũng chẳng có mưa, nên lời tiên báo của Sa-mu-ên được ứng nghiệm nhanh chóng chứng tỏ Đức Chúa Trời phán qua ông. Toàn thể đoạn này cho thấy Sa-mu-ên là một tiên tri theo đúng nghĩa của từ tiên tri. Ông phân tích quá khứ và hiện tại, tiên đoán tương lai, nhắc dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, kêu gọi họ bỏ hình tượng, hứa cầu thay và cho họ biết điều phải và đúng.
Câu 22 nhắc thính giả và độc giả nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với dân Ngài: Đức Chúa Trời đã chọn Y-sơ-ra-ên làm dân riêng của Ngài, và Ngài thề không từ bỏ họ. Vì vậy, bài học dành cho thính giả lẫn thế hệ mai sau là họ phải thực hiện phần giao ước của họ. Nếu họ không thực hiện, nhất là khi họ bỏ chân thần quay sang thờ hình tượng, lúc ấy Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ phạt họ. Câu cuối nói sơ qua về cách Đức Chúa Trời hình phạt họ: bằng cách đày họ ra khỏi xứ và hủy bỏ chế độ quân chủ, cả hai cách này đã xảy ra trong thế kỷ VI T.C. Như vậy, ngay khi chế độ quân chủ vừa lập ra thì sự cáo chung cũng được báo trước. Tuy nhiên, ở đây cũng có một tia hi vọng cho những người sống trong thời kỳ lưu đày. Bài diễn văn của Sa-mu-ên cho biết sự sụp đổ của chế độ quân chủ nằm trong chương trình và hành động của Đức Chúa Trời, đồng thời báo cho biết dù sao Đức Chúa Trời cũng không bỏ dân Ngài. Vì thế, dù trong cảnh lưu đày khốn khổ, dân của Đức Chúa Trời không nên quay qua các thần khác. Câu 21 vạch ra tính cách vô dụng của hình tượng để chận trước độc giả nào bị cám dỗ quay qua hình tượng.
2. Chiến tranh và xung đột (ISa 13:1-15:35)
Phần lớn thời trị vì của Sau-lơ là chiến tranh. Dân Phi-li-tin là kẻ thù chính và chương 13, 14 kể lại vài thắng lợi ban đầu của Sau-lơ. Chương 15 kể chi tiết về cuộc chiến thắng trên kẻ thù cở nhỏ là dân A-ma-léc. Chương ISa 14:47 nhắc đến các chiến thắng khác nhưng không mô tả. Về một mặt, các chương này mô tả khởi đầu cai trị của Sau-lơ thành công rực rỡ, ông liên tục ‘giải cứu’ dân Y-sơ-ra-ên khỏi các kẻ thù (14:47).
Tuy nhiên, các chương này kết thúc bằng câu nói buồn thảm: Đức Giê-hô-va buồn rầu vì đã lập Sau-lơ làm vua Y-sơ-ra-ên (15:35). Các biến cố chép trong các chương 13-15 không phải chỉ là những trận chiến chống kẻ thù ngoại bang, mà còn có những chuyện mâu thuẫn giữa Sau-lơ với những người Y-sơ-ra-ên khác. Trong chương 14, suýt nữa Sau-lơ phải giết chính con trai của mình, kết cuộc là ông mâu thuẫn tranh cãi với đội quân riêng của ông. Nghiêm trọng hơn nữa, trong cả hai chương 13 và 15, chúng ta thấy Sau-lơ xúc phạm nặng đến Sa-mu-ên là người nhân danh Đức Chúa Trời tuyên phán. Mặc dầu đến đây, Sau-lơ gặt hái được nhiều thắng lợi, nhưng chưa chi Sau-lơ đã vội biểu lộ rằng ông không đúng là người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên dù đã thắng nhiều trận chiến.
Thời trị vì của Sau-lơ không hẳn thất bại hoàn toàn dù đã chấm dứt trong thất trận và chết chóc (chép trong chương 31). Ông đem hi vọng đến cho dân Y-sơ-ra-ên, một niềm hi vọng mới mẻ khi ông khởi liên kết các chi phái lại (trước đây họ độc lập với nhau), từng bước thành lập quân đội, đánh bại dân Phi-li-tin nhiều trận, và đuổi họ ra khỏi lãnh thổ Y-sơ-ra-ên. Mặc dù đại bại trong trận cuối cùng nhưng ông đã đặt nền móng cho người kế vị trong nhiều lãnh vực quan trọng. Chúng ta không nên bỏ qua lời làm chứng của Đa-vít về Sau-lơ (IISa 1:19-27). Tuy nhiên, chương 13-15 cho biết rõ ràng theo quan điểm của Đức Chúa Trời thì Sau-lơ thất bại, dù chính Đức Chúa Trời chọn ông làm vua. Lý do chính là ông không chịu vâng theo lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời qua trung gian tiên tri Sa-mu-ên. Sứ điệp thật rõ ràng: Đức Chúa Trời không ban phước cho vua Y-sơ-ra-ên nào tự đặt mình lên trên các tiên tri do Ngài lập lên. Chúng ta có thể coi các biến cố mô tả trong các chương 13-15 là cuộc đấu tranh giành quyền lực và Đức Chúa Trời đứng về phía tiên tri chống lại vua.
Chúng ta không biết rõ Sau-lơ trị vì trong bao lâu. Lý do là bản văn tiếng Hi-bá-lai của ISa 13:1 chép như sau: “Khi lên làm vua, Sau-lơ được ( ) tuổi và ông trị vì Y-sơ-ra-ên trong hai năm”. Rõ ràng vô tình có một con số bị bỏ sót trước từ ‘tuổi’, bản NIV rất có lý khi thêm vào con số ba mươi, lấy từ các bản tiếng Hy-lạp (xem phần chú giải ngoài lề bản NIV). Cũng hợp lý khi cho rằng có một con số khác cũng vô tình bị sót, đó là con số đứng trước con số hai năm nói về thời gian ông trị vì, mặc dù một số ít học giả tin rằng con số hai năm là chính xác. Dựa vào Cong 13:21 và theo sử gia Do Thái Giô-sép thì có được con số bốn mươi hai cả hai đưa ra con số chẵn là ‘bốn mươi’. Tuy nhiên, trong Cựu Ước con số bốn mươi thường biểu thị một thế hệ, nên con số nhỏ hơn như số ‘hai mươi hai’ của bản NEB là hoàn toàn hợp lý. Con số hai năm không chắc chắn. (NEB: New English Bible, Bản Kinh Thánh tiếng Anh hiện đại.)
(ISa 13:1-7). Chuẩn bị chiến tranh Câu 2 mô tả tổng quát về việc Sau-lơ chuẩn bị cho cuộc chiến tranh bắt buộc chống dân Phi-li-tin. Ông tuyển chọn người thành lập một quân đội thường trực sẵn sàng ra trận và đóng quân tại hai địa điểm khác nhau. Ông thân hành chỉ huy một đạo quân đông quân, và con trai ông là Giô-na-than (lần đầu tiên được nhắc đến ở đây) chỉ huy một đạo quân ít người hơn. Rồi câu 3 mô tả nguyên nhân dẫn đến trận chiến quan trọng đầu tiên. Tức giận vì tiền đồn bị mất nên dân Phi-li-tin kéo một đạo quân đông đảo, trang bị đầy đủ xâm nhập lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, họ quyết định đập tan đội quân ít người hơn của dân Y-sơ-ra-ên. Quân đội Y-sơ-ra-ên có quá ít vũ khí thích đáng (c.22) nên chẳng có gì lạ khi nhiều người đào ngũ. Lúc đầu là 2.000 người rốt cuộc chỉ còn 600 người (15). Nhưng Sau-lơ có một lợi điểm tiềm ẩn, đó là còn một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời dành cho ông thực hiện và tình cảnh tuyệt vọng này có thể đảo ngược khi ông tuân thủ hoàn toàn. Mệnh lệnh đó là đi đến Ghinh-ganh và chờ Sa-mu-ên (ISa 10:8). Vì vậy, Sau-lơ đi đến Ghinh-ganh (4) và chờ ở đó trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng (7).
(ISa 13:8-14). Sa-mu-ên quở trách Sau-lơ Đến phút cuối, Sau-lơ không vâng theo các chỉ thị của Sa-mu-ên. Có thể độc giả trong thời đại này thông cảm cho Sau-lơ, vì tình hình quân sự quá bi đát (dân sự bỏ trốn) và Sa-mu-ên đến trễ. Mặc dù Sa-mu-ên có đến muộn một chút nhưng Sau-lơ lại không thể chờ đợi quá giờ qui định thêm một lát nữa. Sau-lơ không bị quở trách vì tội tự ý làm công việc của thầy tế lễ, nhưng ông bị quở trách vì chiếm vai trò của vị tiên tri. Sa-mu-ên hứa (10:8) sẽ đến dâng của lễ cần thiết trước khi xuất quân và ông hứa sẽ hướng dẫn và chỉ thị cho Sau-lơ về trận chiến. Nhưng Sau-lơ cho rằng ông có thể thực hiện được cả hai nhiệm vụ này. Đối với chúng ta, tội của ông có thể không đáng kể, nhưng có một vấn đề cơ bản vướng mắc ở đây: liệu tân vương phục tùng tiên tri hay cai trị tiên tri? Tiên tri là người đại diện cho Đức Chúa Trời để phán dạy và hành động, do đó, qua hành động dại dột này, Sau-lơ bộc lộ ra bản thân ông không bị ràng buộc bởi những chỉ thị của Đức Chúa Trời. Chính vì hành động này mà gia đình ông mất chức vị vua (14). Đức Chúa Trời giao chức vị này cho một người khác, một người ‘làm theo lòng ta...’ nghĩa là ‘mẫu người Ngài cần’ (GNB). Người đó là Đa-vít sẽ xuất hiện trong chuyện ở chương 16. Chẳng phải Đa-vít ít tội hơn Sau-lơ nhưng ông luôn tuân thủ các chỉ thị của đấng tiên tri.
(ISa 13:15-23). Chuyển quân Đoạn này mô tả ngắn gọn về những cuộc chuyển quân trước khi lâm trận. Nhờ di chuyển dân sự đến Ghi-bê-a, Sau-lơ kết hiệp lực lượng của ông với lực lượng của Giô-na-than (xem câu 2), như vậy, dù quân số Y-sơ-ra-ên rất ít và trang bị kém nhưng họ đã họp lại thành một đạo quân. Trái lại, dân Phi-li-tin chia quân ra làm nhiều đội nhỏ (17) và vì vậy họ thua trận.
19-21 Cho đến nay, dân Phi-li-tin toàn quyền cấm dân Y-sơ-ra-ên làm gươm và giáo. Nếu dân Y-sơ-ra-ên thuê họ mài bất kỳ dụng cụ nào có khả năng trở thành vũ khí, thì họ đòi giá rất cao. Chúng ta có thể đoán chừng dân Y-sơ-ra-ên chỉ có cung và tên thôi.
(ISa 14:1-23). Chiến tích của Giô-na-than Nhìn vào các khó khăn trong chương trước, không ai hi vọng dân Y-sơ-ra-ên sẽ chiến thắng, nhưng có hai sự kiện làm đảo ngược tình thế. Một là lòng can đảm và bạo gan của Giô-na-than, còn sự kiện kia là ý Đức Chúa Trời muốn dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng. Như chính Giô-na-than nhận xét, không gì có thể ngăn cản Ngài hành động được. Dân Phi-li-tin là một dân không cắt bì đúng nghĩa, vì họ không giữ tục lệ này nhưng ở đây có ý nói là họ ở bên ngoài giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên. Sa 17:1-27 cho biết cắt bì là dấu hiệu của giao ước Đức Chúa Trời sẽ chiến đấu thay cho dân sự thuộc trong giao ước của Ngài. Kế hoạch của Giô-na-than thành công vì yếu tố bất ngờ, và nhờ Giô-na-than vận dụng đường tiến hẹp giữa những đồi cao và thung lũng. Nhờ vậy mà hai người có thể giết được hai mươi người.
Đáng lẽ Giô-na-than phải báo trước cho cha mình (1), nhưng khi đọc câu 2 chúng ta có cảm tưởng Sau-lơ hoàn toàn không hay biết gì về kế hoạch của Đức Chúa Trời, cũng như của Giô-na-than, con ông. Ông không theo dõi tình hình, dù có thầy tế lễ A-hi-gia ở Si-lô đi với ông. A-hi-gia mặc ê-phót, là cái áo của thầy tế lễ dùng làm phương tiện tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời (Xu 28:6-30). Tuy nhiên, hình như Sau-lơ không quan tâm tìm kiếm ý của Đức Chúa Trời.
15-19 mô tả quân Phi-li-tin kinh hoảng và quân của Sau-lơ kinh ngạc sau khi Giô-na-than bất ngờ tấn công đồn Phi-li-tin. Cuối cùng, Sau-lơ mới cầu hỏi Đức Chúa Trời (18) nhưng vì tình hình diễn tiến quá nhanh nên ông đổi ý không cầu hỏi nữa. Như vậy, tác giả nhấn mạnh chính Đức Chúa Trời là Đấng chiến thắng (15,23) Sau-lơ đuổi theo quân Phi-li-tin đang chạy trốn, nhưng không biết gì về những việc đang xảy ra.
18 Chuyện lạ là hòm giao ước lại được nhắc đến ở đây, dù có thể Sau-lơ cho thỉnh mang hòm từ Ki-ri-át Giê-a-rim đến (ISa 7:1-2) như trước đây dân Y-sơ-ra-ên đã thỉnh hòm từ Si-lô ra chiến trường (4:4-5). Nhưng xem ra chúng ta nên hiểu theo bản tiếng Hy-lạp, thay vì viết là hòm giao ước, bản này viết là ê-phót (xem phần chú giải ngoài lề bản NIV). Câu 3 cho chúng ta biết A-hi-gia mang ê-phót để tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời. Trong tiếng Hi-bá-lai, từ ‘hòm giao ước’và từ ‘ê-phót’khá giống nhau nên dễ bị lầm lẫn.
(ISa 14:24-45). Giô-na-than gặp nạn Một lần nữa, câu chuyện chuyển biến đột ngột. Chiến sự tiếp tục diễn ra cho đến câu 46, nhưng từ câu 24 trở đi, tác giả chú trọng vào bối cảnh của câu chuyện giữa Sau-lơ, Giô-na-than và quân đội của họ. Người kể chuyện để cho ba phe tự bộc lộ và hành động, không phê phán gì về mặt tôn giáo và đạo đức của họ. Thế là nảy sinh nơi độc giả một số thắc mắc không có lời giải đáp. Sau-lơ thề nguyền như thế có đúng không (24-28)? Giô-na-than công khai phê phán lời thề nguyền như thế có đúng không (29-30)? Binh lính xem như không có lời thề nguyền đó có đúng không (31)? Sau-lơ đòi thi hành đúng theo lời thề nguyền và đòi xử tử con trai của mình là một người vô tội có đúng không (44)? Binh lính bênh vực Giô-na-than và phải chống lại uy quyền của vua có đúng không (45)? Có lẽ chúng ta không nên nêu những câu hỏi này. Tác giả không có ý dạy đạo đức ở đây, ông chỉ muốn vẽ ra cho chúng ta một bức tranh rõ ràng hơn về Sau-lơ.
Sau-lơ là người hấp tấp, thốt ra lời thề nguyền dại dột trong khoảnh khắc phấn khích, không nghĩ gì đến hậu quả. Đã thế, ông lại nôn nả muốn thi hành lời thề nguyền cách triệt để. Tại Ghinh-ganh, ông không vâng phục Đức Giê-hô-va (chương 13) và ông không muốn bị Sa-mu-ên quở trách lần thứ hai. Vì thế, ông cẩn thận dâng của lễ (33-35), rồi theo đúng thể thức ông tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời: nói cách khác, ông cầu vấn ê-phót thiêng liêng nơi thầy tế lễ A-hi-gia (36,37,41,42,3). Khi biết Giô-na-than là người vô tình phạm lời thề nguyền, Sau-lơ sẵn sàng xử tử con trai mình, chớ không muốn thất hứa với Đức Chúa Trời. Chúng ta cảm nhận rằng ông không biết ý muốn của Đức Chúa Trời là gì cả. Câu 37 cho biết Đức Chúa Trời không trả lời ông, và cuối cùng binh lính nhận xét (45) qui công chiến thắng về cho Giô-na-than và Đức Chúa Trời, chớ không phải Sau-lơ. Chúng ta sẵn sàng thông cảm cho một người hấp tấp dù có thiện chí nhưng sai lầm vì thiếu suy nghĩ. Một người như vậy có xứng đáng làm vua không? Dĩ nhiên là không. Như vậy, toàn thể phần này bày tỏ hai điều: Đức Chúa Trời có thể làm cho dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng quân thù đông đảo hơn, còn Sau-lơ không thực hiện gì nhiều trong vai trò lãnh đạo của mình. Dù ông vẫn làm vua cho đến cuối đời, nhưng Đức Chúa Trời đã phế bỏ ông khỏi chương trình của Ngài.
Chú giải. 41-42 Dù không biết chính xác cách thức Đức Chúa Trời bày tỏ ý của Ngài, nhưng chúng ta thấy thể thức này có thể đáp lại những câu hỏi với câu trả lời phải hoặc không để phân biệt người này với người kia. Hai bộ phận dùng vào việc cầu hỏi này gọi là ‘U-rim’ và ‘Thu-mim’, là tên gọi ghi rõ trong bản tiếng Hy-lạp (xem phần chú giải ngoài lề bản NIV). Cũng xem Xu 28:29-30.
(ISa 14:46-52). Vài nét đại cương về sự cai trị của Sau-lơ Chương này kết thúc bằng một số chi tiết ngắn gọn về thời trị vì của Sau-lơ để chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn. Câu 47 cho biết trong giai đoạn này, dân Y-sơ-ra-ên bị kẻ thù đe doạ ở miền đông, miền bắc và miền tây. Dân A-ma-léc (48) xâm nhập quấy nhiễu các vùng dân cư sống ổn định trong miền nam. Chương kế tiếp mô tả Sau-lơ phát động chiến dịch chống lại họ. Lúc này, dân Phi-li-tin đã bị đánh bật ra khỏi lãnh thổ Y-sơ-ra-ên (46) nhưng vẫn không ngừng xâm nhập và tấn công Y-sơ-ra-ên (52).
Hầu hết các thành viên trong gia đình Sau-lơ được nêu danh trong câu 49-51 sẽ xuất hiện trong chuyện vào thời điểm về sau. Câu 52 đề cập đến đội quân thường trực của Sau-lơ là nền tảng cho sự nghiệp của Đa-vít (ISa 18:2,5).
ISa 15:1-35. Sau-lơ bị phế bỏ lần cuối cùng Với bài tường thuật đầy đủ chi tiết này, tác giả chủ tâm khẳng định Sau-lơ không đủ khả năng cai trị Y-sơ-ra-ên, đồng thời xác nhận Đức Gia-vê đã phế bỏ ông. Sau-lơ nhận lệnh rõ ràng từ Sa-mu-ên. Ông tuân thủ một phần thôi, còn phần kia bỏ ngoài tai vì cho là không có gì tai hại. Câu 24 cho biết ông biết rõ việc ông làm (ông còn cho chúng ta biết lý do khiến ông làm như vậy), nhưng ông lại nói dối về việc đó không chỉ một lần mà là hai lần (13,20), lấy cớ tưởng làm như thế tức là tuân thủ đúng theo mệnh lệnh. Cuối cùng, ông buộc phải nhìn nhận sự thật, thú nhận là đã phạm tội và vi phạm mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Kết quả là Đức Chúa Trời dứt khoát phế bỏ ông, và mối liên hệ giữa ông với Sa-mu-ên chấm dứt kể từ đây.
Như trong chương 13, có lẽ thiện cảm của độc giả trong thời đại này nghiêng về phía Sau-lơ, không phải vì ông nói dối, nhưng vì ông muốn cứu một mạng người. Do đó, chúng ta cần biết rõ rằng ngay từ đầu động cơ của Sau-lơ không phải do lòng nhân đạo. Nhưng đây không phải là vấn đề cần bàn cãi. Theo cái nhìn của tác giả thì vấn đề là vua Y-sơ-ra-ên có sẵn sàng thi hành các chỉ thị của Ngài truyền qua đấng tiên tri không. Vâng phục là đức tính chính (22) nhưng Sau-lơ tỏ ra ngạo mạn (23). Rõ ràng là bầy gia súc đã khiến cho binh lính của Sau-lơ nổi lòng tham, và chắc chắn cũng khêu gợi lòng tham của Sau-lơ nữa. Chúng ta không biết rõ vì sao A-ga được tha chết, có lẽ Sau-lơ thấy có lợi về mặt tài chánh hoặc chính trị và hi vọng là qua A-ga sẽ thương lượng được với các toán lính A-ma-léc khác.
Dân A-ma-léc là kẻ thù lâu đời của Y-sơ-ra-ên (2) và toàn bộ lối sống của họ là mối đe doạ cho dân Y-sơ-ra-ên. Họ có một vài thành, nhưng phần đông họ thích du mục, xâm nhập và cướp bóc các nông trại và gia súc, nhất là trong vùng biên cương phía nam của Y-sơ-ra-ên. Như vậy, nội chuyện sống còn của họ đủ là mối đe doạ thường xuyên cho dân Y-sơ-ra-ên. Vì thế, điều quan trọng và chánh đáng là phải có biện pháp khắc nghiệt. Dân A-ma-léc là một dân gian ác (18).
Mạng lịnh của Đức Chúa Trời truyền là tiêu diệt toàn thể dân A-ma-léc (3). Đây là một tập tục ở giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên lẫn các nước lân bang. Lời thề nguyền tận diệt có tính chất tín ngưỡng này ít được dùng đến, kể cả trong thời chiến chỉ dùng đến khi có lý do đặc biệt. Hãy lưu ý là dân Y-sơ-ra-ên phải hết sức cẩn thận không làm hại dân Kê-nít (6). Sự kiện phải tiêu diệt cả bầy gia súc cho thấy sự ‘tiêu diệt’ này có tính cách dâng tế lễ theo ý nghĩa này thì việc giết người và súc vật là một cách dâng lên cho Đức Chúa Trời. Phải trừ diệt những người gian ác quá độ vì họ là mối đe doạ nguy hiểm và theo ‘lệnh tận diệt’thì họ và của cải của họ đều phải dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Chính lòng tham lam khiến cho người ta vi phạm ‘lệnh tận diệt’ chớ không phải lòng nhân từ (9, 19).
Trong Tân Ước có một đoạn tương tự như câu chuyện này. Đó là chiến trận thuộc linh mà Phao-lô nói đến (Eph 6:10-18). Phao-lô khuyên phải luôn thức canh, vì lòng tham, sự nói dối và sự không vâng phục đều là những mối nguy cho dân Đức Chúa Trời trong mọi thời đại.
Tầm quan trọng trên phương diện lịch sử của chương này là giải thích vì sao Đức Giê-hô-va và tiên tri Sa-mu-ên phế bỏ Sau-lơ. Còn tầm quan trọng trên phương diện thần học nằm trong câu 22,23,29. Các câu 22,23 nêu giá trị của lòng vâng phục và tôn thờ Đức Chúa Trời. Con người thường nghĩ sai rằng Đức Chúa Trời sẽ bỏ qua và tha thứ hết mọi tội nếu họ chăm chỉ đến đền thờ (hoặc Hội Thánh) và dâng của lễ (hoặc hát Thánh ca). Nhiều tiên tri thời Cựu Ước đã phê bình lối lập luận sai lạc này A-mốt nói rằng Đức Chúa Trời ‘ghét’ và ‘khinh dể’ các kỳ lễ, của lễ và sự dâng hiến (Am 5:21-24). Cũng thế, chúng ta cho rằng giả hình trong sự thờ phượng là tội ghê gớm nhất đối với Đức Chúa Trời Sa-mu-ên nói rằng không vâng phục cách ngạo mạn cũng là tội ghê gớm như vậy.
Câu 29 mô tả cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng không nói dối (khác với Sau-lơ!) cũng không đổi ý. Vì lòng thương xót, Ngài có thể hoãn hình phạt để loài người có cơ hội ăn năn và thay đổi ý tưởng nhưng Ngài không thay đổi mục đích và chương trình của Ngài. Đức Chúa Trời quyết định giao tương lai của Y-sơ-ra-ên cho một người tốt hơn là Đa-vít (28). Dù trong các hoàn cảnh khác nhau, nhưng độc giả ở thế hệ sau được an ủi vì biết chắc Đức Chúa Trời đã hứa và lời Ngài hứa là hoàn toàn chân thật và chắc chắn.
Chương này kết thúc bằng lời nói đau buồn: Sa-mu-ên thương tiếc và Đức Gia-vê buồn rầu. Phải ban cho dân Y-sơ-ra-ên một vua tốt hơn Sau-lơ. Chương 16 cho biết cách thức Đức Chúa Trời thay thế Sau-lơ như thế nào.
3. SAU-LƠ VÀ ĐA-VÍT (ISa 16:1-31:13)
Phần còn lại của sách I Sa-mu-ên kể về mối liên hệ của Sau-lơ với Đa-vít. Sau khi xức dầu cho Đa-vít làm vua kế vị, Sa-mu-ên âm thầm rời khỏi sân khấu. Dù Đức Chúa Trời cho phép Sau-lơ cứ tiếp tục làm vua cho đến khi qua đời, nhưng ông đã bị phế bỏ. Tương lai thuộc về Đa-vít, là một người còn nhỏ tuổi và không có kinh nghiệm. Các chương này mô tả làm thế nào Đức Chúa Trời trang bị Đa-vít cho sự nghiệp tương lai, bảo vệ ông trong mọi nguy nan và giới thiệu ông là người Ngài chọn cho dân Y-sơ-ra-ên.
1. Đa-vít chiếm được địa vị trong triều đình (ISa 16:1-17:58)
Đúng chỗ của Đa-vít là cung vua, nhưng tại đó dễ gì ông được tiếp đón với tư cách người kế vị Sau-lơ. Hai chương này cho biết làm sao tài năng của ông đã đem ông đến bên cạnh Sau-lơ.
(ISa 16:1-13). Đa-vít được xức dầu Ở đây cũng vậy, người kể chuyện tỏ ra rất khéo léo khi không đề cập đến tên của Đa-vít cho đến câu cuối cùng, dù Đa-vít thực sự là trọng tâm của câu chuyện. Từ chương này cho đến hết sách II Sa-mu-ên, Đa-vít là nhân vật chính. Mục đích chính của phần này cho chúng ta biết Đa-vít được Đức Chúa Trời chọn lựa và Sa-mu-ên xức dầu cho ông. Đa-vít không phải là loại người nhẫn tâm, đầy tham vọng, quyết tâm giành quyền hành. Ông là người Đức Chúa Trời chọn lựa dù lúc ấy ông chỉ là một cậu bé làm công việc tầm thường. Ngay cả Sa-mu-ên cũng tính chọn người khác (6). Sa-mu-ên thực hiện công việc xức dầu là điều quan trọng, vị lãnh tụ cao niên tạo ra một lãnh tụ mới. Hành động này làm cho vai trò lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên có tính cách liên tục. Đây cũng là bằng chứng khách quan, dù chỉ một số người biệt lập, ít oi thừa nhận Đa-vít sẽ làm vua. Để làm tiên tri, một người phải nhận được Đức Chúa Trời kêu gọi cách riêng tư, nhưng để làm vua, một người còn phải nhận được một dấu hiệu khác nữa, chớ không chỉ có sự kêu gọi trong nội tâm, vì người khác có thể nghi ngờ sự kêu gọi này.
Trong câu 7, câu chuyện nêu ra vấn đề tổng quát về nguyên tắc chọn lựa của Đức Chúa Trời. Dường như dân Y-sơ-ra-ên có kỳ vọng là vị lãnh tụ có một ngoại hình tốt và vóc dáng đáng nể (7,12,18 9:2). Những người Y-sơ-ra-ên khôn ngoan hơn tìm kiếm phẩm chất bên trong, và câu 7 khẳng định rằng Đức Chúa Trời làm như thế. Ngoài đức tính trong nội tâm của Đa-vít, Đức Chúa Trời còn thêm một điều khác nữa - ấy là quyền năng của Thánh Linh (13). Đa-vít nhận ân tứ này từ Đức Giê-hô-va ngang bằng các quan xét và Sau-lơ trước ông ân tứ này rất cần thiết cho vai trò lãnh đạo quốc gia. Trong bối cảnh chung của Cựu Ước, nhiệm vụ của Thánh Linh là trang bị cho các lãnh tụ khả năng lãnh đạo về phương diện quân sự.
Câu 2,4,5 nhắc chúng ta nhớ rằng Sau-lơ vẫn làm vua và là một người đáng sợ. Trên bình diện chính trị đơn thuần thì hành động Sa-mu-ên xức dầu cho Đa-vít chẳng khác gì tội phản bội, vì thế ông buộc phải giữ bí mật, thậm chí phải phỉnh gạt đôi chút.
(ISa 16:14-23). Đa-vít được tiến dẫn vào cung vua Đoạn này và đoạn 17 cho biết hai tài năng đặc biệt của Đa-vít làm cho Sau-lơ chú ý và khiến ông trở nên thành viên chính thức trong cung vua (18:2). Tài năng thứ nhất là ông có năng khiếu chơi đàn và thứ hai là tài năng quân sự của ông đang manh nha phát triển. Đoạn này tập trung vào năng khiếu âm nhạc của ông, nhưng cũng đề cập sơ qua về tài năng quân sự. Bối cảnh ở đây là cuộc tấn công bất thường của dân Phi-li-tin, nên Sau-lơ buộc phải kêu gọi mọi người bỏ ruộng vườn để chiến đấu chống quân thù. Như vậy, có lúc Đa-vít trông coi bầy chiên của cha mình nhưng những lúc khác, ông đánh nhau với dân Phi-li-tin. Nếu ông chỉ có tài năng chiến đấu ngoài chiến trường, chắc chắn Sau-lơ không mấy lưu tâm đến ông nhưng chính tài gảy đàn cầm đã đưa ông vào cung vua.
Câu 14 cho chúng ta biết dấu hiệu đầu tiên gây bất an cho Sau-lơ từ lúc này trở đi. Ngôi vua chưa bao giờ được yên ổn, dân Phi-li-tin đe doạ thường xuyên sự hiệp nhất, yểm trợ của dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn lỏng lẻo. Việc Sa-mu-ên tuyên bố phế bỏ chắc cũng làm cho uy tín của ông bị lung lay và lòng ông mất bình an. Vì thế, đoạn này chép rằng: này có một ác thần mà Đức Chúa Trời khiến đến khuấy khuất vua. Không nên coi đây là trường hợp bị quỉ ám. Tác giả đang tập trung trình bày vấn đề Đa-vít (vị vua tương lai) nhận được Thánh Linh của Đức Giê-hô-va, còn Sau-lơ (vua bị phế bỏ) mất Thánh Linh và Đức Chúa Trời kiểm soát các diễn tiến nên Sau-lơ cần nghe nhạc để khỏa lấp sự mất mát này. Thế là chính quan cận thần của vua tiến dẫn Đa-vít. Theo ý nghĩa này thì ác thần trong Sau-lơ, tâm thần lo âu bên trong vua, ở dưới sự kiểm soát của Đức Chúa Trời.
Như vậy, trên nấc thang lên ngôi cai trị của Đa-vít có bước thứ nhất là Đa-vít vào hoàng cung và phục vụ vị vua đương thời cách đắc lực và hiệu quả. Có lý do chính đáng khi tin rằng về sau có nhiều lời tuyên truyền ác độc tố cáo ông là tên phản bội trắng trợn trong suốt thời gian Sau-lơ cai trị. Vì thế, có các chương như chương 16 làm sáng tỏ lòng trung thành và thiện ý của Đa-vít đối với Sau-lơ.
(ISa 17:1-11). Dân Phi-li-tin thách đố Giờ đây, bối cảnh chuyển từ hoàng cung yên ổn đến một chiến trường mới, gần Sô-cô xứ Giu-đa - nói cách khác, Sau-lơ phải đương đầu với cuộc xâm nhập mới của dân Phi-li-tin. Có lẽ vì những tổn thất trong các lần trước, nên lần này dân Phi-li-tin áp dụng hình thức chiến đấu khác. Họ đưa ra một tay vô địch (4) và thách đấu với tay vô địch của dân Y-sơ-ra-ên. Sở dĩ họ chủ trương đấu tay đôi như vậy vì họ tin thần nào mạnh hơn sẽ đem lại chiến thắng cho người được chọn. Như vậy, họ giành được chiến thắng cách dễ dàng mà không mất nhiều sinh mạng. Căn cứ vào vũ khí to lớn, áo giáp chắc chắn và vóc dáng khổng lồ của Gô-li-át, dân Phi-li-tin tin chắc họ sẽ chiến thắng. Điều đáng chú ý là ngay cả Sau-lơ, dù có thân hình cao lớn (9:2 10:23) cũng không dám nhận lời thách thức vua cũng hoảng hồn, kinh hãi (11). Vì vậy, Sau-lơ đã chứng tỏ ông không có tài năng lãnh đạo: Y-sơ-ra-ên cần một chiến sĩ mới dẫn đầu họ ra trận.
(ISa 17:12-30). Đa-vít ra chiến trường Bây giờ, Đa-vít được đưa vào chuyện trở lại. Câu 12-19 giải thích vì sao Đa-vít không có mặt trong quân đội Y-sơ-ra-ên khi Gô-li-át buông lời thách thức lúc đầu, đồng thời cũng giải thích lý do bốn mươi ngày sau, ông xuất hiện trên chiến trường. Tác giả muốn chúng ta hiểu rằng Đức Chúa Trời tể trị các biến cố này. Hiển nhiên, Đa-vít không xuất hiện trong tư cách một chiến sĩ (có thể các biến cố trong chương 17 xảy ra trước các biến cố của chương 16:21). Câu 25 không phải là một câu tầm thường, vì câu này cho biết làm sao Đa-vít trở nên nhân vật cao trọng trong Y-sơ-ra-ên, và câu này cũng đặt nền cho 18:17. Tuy nhiên, câu này là một tương phản lý thú với câu 26. Đa-vít quyết định nhận lời thách của Gô-li-át, không phải vì của cải và danh vọng, ông chỉ mong ước tôn vinh Đức Chúa Trời và cất bỏ sự sỉ nhục khỏi Y-sơ-ra-ên. Đa-vít tự chứng tỏ ông là người lãnh đạo xứng đáng của Y-sơ-ra-ên, trái ngược với vua Sau-lơ đang sợ hãi và mấy ông anh ưa gây sự của ông.
(ISa 17:31-40). Sau-lơ phỏng vấn Đa-vít Cuộc đối thoại giữa Sau-lơ và Đa-vít làm nổi bật lòng can đảm của ông và niềm tin ông đặt nơi Đức Chúa Trời hằng sống, và một lần nữa, những điều này chứng tỏ ông đủ đức tánh xứng đáng làm lãnh tụ. Lẽ ra, Sau-lơ có thể phô bày cùng một niềm tin và lòng can đảm, nhưng ông không làm được như vậy. Sau-lơ biểu thị là ông tin tưởng vào kinh nghiệm chiến trường và vũ khí tốt đến nỗi thái độ của ông thật không khác gì thái độ của Gô-li-át. Lẽ dĩ nhiên, người kể chuyện công nhận rằng thông thường kinh nghiệm và vũ khí là quan trọng trong chiến tranh nhưng sự thật chỉ Đức Chúa Trời mới có thể ban chiến thắng cho Đa-vít trong trường hợp khác thường này.
(ISa 17:41-58). Đa-vít chiến thắng Thế là cuộc đọ sức xảy ra. Đối với Gô-li-át, đây là trận đấu hết sức không cân sức, ông cảm thấy bị sỉ nhục khi thấy một thanh niên hình như không mang vũ khí tiến ra. Tuy nhiên, độc giả biết trước đây thực sự là một trận đấu không cân sức, vì Đức Chúa Trời của Đa-vít đang kiểm soát tình thế. Theo thủ tục thi đấu giữa hai tay vô địch, cả hai đối thủ đều có đôi lời phát biểu, và cả hai cùng nêu danh thần của mình. Gô-li-át nhân danh các thần mà rủa sả, nhưng Đức Chúa Trời của Đa-vít không phải là thần linh của các bộ lạc, Ngài là Đức Chúa Trời mà toàn thể thế giới đều sẽ biết. Đức Chúa Trời giải cứu (47) là khẩu hiệu của toàn bộ Kinh Thánh theo mạch văn Đa-vít không có ý nói ông sẽ được giải cứu khỏi cái chết, nhưng ông muốn nói về sự thể dân Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi ách thống trị của dân Phi-li-tin.
Chiến công của Đa-vít dẫn đến cuộc đại chiến, dân Phi-li-tin bị đẩy lui về các thành cũ của họ là Gát và Éc-rôn. Đa-vít đánh bật họ ra khỏi lãnh thổ Y-sơ-ra-ên. Trong số chiến lợi phẩm thu được có thủ cấp của Gô-li-át sau này người ta đem sọ Gô-li-át về Giê-ru-sa-lem, sau khi Đa-vít chiếm được thành này (IISa 5:1-25).
Đoạn cuối, câu 55-58, gây nhiều tranh luận. Các học giả thường hiểu rằng Sau-lơ không nhận ra Đa-vít hoặc không biết gì về Đa-vít. Nếu thế thì mâu thuẫn với ISa 16:14-23. Có thể đồng ý là chương 17 phát xuất từ một tư liệu khác với tư liệu của chương 16. Nhưng không nhất thiết phải kết luận rằng chương 17 dựa theo truyền thống cho rằng trước đó Sau-lơ và Đa-vít chưa hề gặp nhau. Vì như vậy là không đúng. Chỉ căn cứ vào chương 17, chúng ta cũng biết hai người này đã trò chuyện với nhau trước khi Đa-vít đấu với Gô-li-át, do đó Sau-lơ phải biết ít nhất là cái tên của Đa-vít. Sự thực thì Sau-lơ hỏi Áp-ne về lý lịch nhiều hơn là bản thân Đa-vít, hẳn là giờ đây, Sau-lơ buộc lòng phải gả con gái ông cho Đa-vít đúng theo lời vua đã hứa (17:25). Do đó, điều quan trọng đối với ông là tìm hiểu lý lịch của con người sắp gia nhập triều đình.
2. Đa-vít và Giô-na-than (ISa 18:1-20:42)
Dầu phần này nằm lọt trong phần chuyện nhiều ý nghĩa về mối liên hệ giữa Đa-vít và Sau-lơ, nhưng phần này tập trung vào Giô-na-than nhiều hơn là Sau-lơ. Tác giả có mục đích riêng khi mô tả cách đầy đủ một tình bạn mà mọi người đều biết đến. Ông muốn chứng minh một cách minh bạch rằng con người bị phế không được kế vị vua cha lại là người bạn thân nhất của Đa-vít, trong khi biết Đa-vít sẽ lên làm vua kế vị cha mình. Chuyện tích này nhằm bác bỏ mọi tin đồn cho rằng Đa-vít là đối thủ gớm ghiếc của Giô-na-than. Rốt cuộc, chính quân Phi-li-tin giết Giô-na-than trong lúc Đa-vít đang ở nơi phương trời xa (chương 31). Trước đó, chính miệng Giô-na-than cũng công nhận Đa-vít sẽ là vua tương lai của Y-sơ-ra-ên (23:16-18).
(ISa 18:1-9). Sau-lơ ghen tị Chiến công của Đa-vít qua cuộc đương đầu với Gô-li-át đem lại kết quả trực tiếp là ông chiếm được một vị trí trong triều đình, và cấp bậc cao trong đạo quân. Giô-na-than không hề ghen tị nhân vật mới gia nhập triều đình, dù trước đây ông cũng là nhân vật đem lại chiến thắng cho Y-sơ-ra-ên trái lại, ông mau chóng kết bạn thâm tình với Đa-vít. Thật vậy, cách cư xử của ông đối với Đa-vít dường như biểu thị rằng ông nhận thấy Đa-vít là một con người có tầm cỡ lớn hơn ông, xứng đáng dẫn dắt Y-sơ-ra-ên trong tương lai.
Sau-lơ tỏ lòng ghen tị vì những lý cớ không đáng. Sau-lơ nổi giận vì lời của một bài hát tuyên dương phổ thông trong dân gian trong khi họ không hề có ý chê bai vua là kém cỏi hơn Đa-vít bài hát không có chủ đích nói về hai số lượng đích thực và chính xác. Thật ra, bài hát nhằm ca ngợi cặp Sau-lơ và Đa-vít là một đôi tài ba. Dầu vậy, mọi người vẫn nhận thấy những thắng lợi và sự nổi danh của Đa-vít tạo cho Đa-vít tiềm lực trở thành đối thủ của Sau-lơ, nếu Đa-vít muốn. Sau-lơ sợ Đa-vít không đúng chỗ, nhưng không phải là phi lý.
(ISa 18:10-30). Sau-lơ quyết tâm giết Đa-vít Lòng ghen tị của Sau-lơ chẳng mấy chốc biến thành hành động khi ông dùng nhiều cách để giết Đa-vít. Lần thứ nhất là một hành động bất chợt trong lúc ông không kiểm soát được chính mình (10-11). Dù ‘cơn sốt hoảng’ (RVS) khiến tâm trạng ông xấu hơn, ông không nói tiên tri gì được đúng theo ý nghĩa của sự tiên tri.
Sau-lơ sợ Đa-vít vì một lý do đáng lưu ý (câu 12). Sau-lơ thấy Đức Giê-hô-va ở với Đa-vít, hoặc nói cách khác, ông thấy Đa-vít thành công trong mọi việc ông đảm nhận. Ông thấy Đa-vít thành công và nhận ra đó là do Đức Chúa Trời ban cho, nhưng ông lại nghĩ rằng ông có thể kết liễu sự thể này, làm như thể ông có khả năng phá hoại chương trình của Đức Chúa Trời. Vì thế, chương này mô tả kế hoạch giết Đa-vít của Sau-lơ. Nếu Đa-vít tử trận trong khi chiến đấu chống người Phi-li-tin, như Sau-lơ hi vọng, thì không ai đổ tội cho Sau-lơ được. Nhưng thực sự là Đức Chúa Trời ở cùng Đa-vít trong mọi việc (28), nên kế hoạch của Sau-lơ đương nhiên thất bại. Về phía Sau-lơ, tình trạng ngày càng tồi tệ đối thủ trẻ tuổi của ông chẳng những sống nhăn mà còn nổi danh rồi lấy vợ là công chúa Mi-canh (c.27). Không rõ vì sao Đa-vít không cưới Mê-ráp (17-19). Việc Đa-vít trả lời cách khiêm tốn đối với lời đề nghị của vua là chuyện bình thường (18) chớ không có ý chê Mê-ráp hoặc chê Mi-canh trong câu 23. Vì vậy, việc Sau-lơ gả Mê-ráp cho người khác có thể vì một giây phút nói năng hấp tấp, còn không là do ông cố tình sỉ nhục Đa-vít.
Tư cách của Sau-lơ trong các chương này ngày càng tồi tệ. Ngược lại, Đa-vít không làm điều gì hại hoặc phản bội Sau-lơ, chính tình thương của gia đình Sau-lơ dành cho Đa-vít đã chứng minh điều này (28 ISa 19:1). Sau-lơ thù hằn Đa-vít (29), nhưng Đa-vít không bao giờ thù hằn Sau-lơ.
(ISa 19:1-10). Đa-vít chạy trốn Sau-lơ mong cho Đa-vít bỏ mạng trong chiến trận không thành, nên giờ đây vua xúi giục triều thần giết Đa-vít. Sự kiện này tạo nên tình huống mới rất nguy hiểm cho Đa-vít. Giô-na-than phải chọn lựa: hoặc thực hiện ý muốn của cha mình giết Đa-vít, hoặc tìm cách thay đổi sự suy nghĩ và thái độ của cha mình. Sự kiện Giô-na-than chọn cách hành động thứ hai chứng tỏ ông tin chắc Đa-vít không phải là kẻ thù của mình hoặc của cha mình. Sự kiện Sau-lơ buộc phải đồng ý với Giô-na-than, thậm chí còn thề không giết Đa-vít (6) là một bằng cớ chứng tỏ thêm rằng Đa-vít không phải là người phản bội. Một lần nữa, chúng ta thấy tác giả tìm cách biện minh cho Đa-vít.
Thế nhưng, Sau-lơ lại không tự chủ được mình nên đã phóng ngọn giáo vào Đa-vít. Đến nước này, Đa-vít không còn cách nào ngoài việc chạy trốn.
(ISa 19:11-24). Đa-vít chạy trốn Khi Sau-lơ đã quyết tâm giết Đa-vít thì không còn cố gắng che giấu ý định này nữa. Trước đây trong chương này, Giô-na-than cứu mạng sống Đa-vít, giờ đây, chính Mi-canh, con gái Sau-lơ cứu mạng sống ông. Nàng phải nói dối và phỉnh gạt để cứu mạng sống ông, tuy nhiên không có một lời quở trách nàng trong đoạn này người kể chuyện lưu tâm nhiều hơn đến chuyện Đa-vít thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc. Đoạn này cho biết chính gia đình của Sau-lơ cũng sẵn sàng bảo vệ Đa-vít khỏi nanh vuốt của Sau-lơ. Đáng ngạc nhiên là trong nhà Đa-vít có một hình tượng. Từ ‘hình tượng’ được dịch từ tiếng Hi-bá-lai có nghĩa là loại hình tượng thuộc trong gia đình, và có thể gần gũi với sự thờ phượng Đức Giê-hô-va trên phương diện nào đó chúng ta biết chắc không một chỗ nào trong Kinh Thánh cho biết Đa-vít phạm tội thờ các thần khác.
Trong các chương này, hơn một lần chúng ta thấy Đa-vít có những hành vi đạo đức đáng ngờ. Thí dụ trong chương 21, ông can tội nói dối và phỉnh gạt, trong chương 25 ông dự định giết người. Rõ ràng không thể xem đây là những gương tốt cho người khác. Đúng hơn, tác giả muốn tô đậm nét những hoàn cảnh nguy nan của ông, và qua cảnh hiểm nghèo này Đức Chúa Trời vẫn chăm sóc ông (cho dù ông có sa ngã).
Lẽ tự nhiên, Đa-vít muốn cầu vấn Sa-mu-ên, là người đã xức dầu cho ông làm vua (chương 16). Tuy nhiên, đoạn này không nói gì về cuộc trò chuyện của họ, thay vào đó tác giả làm nổi rõ bản chất của năng lực tiên tri. Thông thường, Thánh Linh của Đức Chúa Trời trang bị cho con người năng lực để công bố hoặc thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời. Trong sự hiện diện của năng lực đó, một năng lực xem ra có tính cách lây lan, các binh lính của Sau-lơ, rồi cuối cùng chính Sau-lơ cũng đều nói tiên tri. Tuy nhiên, trong trường hợp của họ thì từng trải này đã không tăng thêm sức mạnh, trái lại làm cho họ mất sức. Thật vậy, đến như Sau-lơ cũng bị lột hết sự oai vệ của một vị vua. Một lần nữa, chúng ta nghe lại lời ngạn ngữ có ý mỉa mai, trong ISa 10:11 và lần này mỉa mai đến thế cũng đúng thôi.
Rõ ràng, sự việc này không có tính cách ‘tiên tri’ như chúng ta thường hiểu. Trong một vài bối cảnh nào đó thì từ ‘nói tiên tri’ trong tiếng Hi-bá-lai có liên hệ đến tình trạng bất bình thường giống như tình trạng mê mẩn ngất trí (IVua 18:29). Sự hiện diện đầy năng lực của Đức Chúa Trời đem lại nhiều hệ quả khác nhau tùy theo tình huống.
(ISa 20:1-17). Đa-vít hội ý với Giô-na-than Sau một chuỗi những sự cố như thế, Đa-vít không còn hi vọng trở về với triều đình Sau-lơ. Dầu vậy, ông là một nhân vật trong triều đình, và ngay cả Sau-lơ cũng có thể muốn cứu vãn thể thống. Rõ ràng, việc Đa-vít vắng mặt ở triều đình vào dịp lễ có thể làm dân chúng đàm tiếu và gây ra chuyện khó xử (5-7). Đa-vít biết rõ mối hiểm nghèo đang chờ mình (3), nhưng ông thấy có quyền đòi hỏi sự công bằng: ông đã phạm tội gì? Giô-na-than nhìn thấy vấn đề hơi khác, hết sức mong mỏi có thể tin tưởng cha mình và rõ ràng ông tin sẽ không có chuyện nguy hiểm xảy đến với Đa-vít.
Trọng tâm của đoạn này từ câu 14-17. Đa-vít thực sự lâm vào tình thế nguy nan, Giô-na-than có thể giúp ông trong tình thế này, nhưng các câu này lại đề cập đến chuyện Đa-vít giúp đỡ Giô-na-than trong tương lai. Tình bạn đơn sơ không cần kết ước trịnh trọng. Nhưng cả Giô-na-than lẫn Đa-vít đều là những nhân vật quan trọng trong Y-sơ-ra-ên, rồi có thể xảy ra cuộc đối đầu về mặt chính trị giữa hai dòng họ, tức là nhà Sau-lơ và nhà Đa-vít (16). Trong nhiều xã hội, những chuyện tương tự có thể dẫn đến những vụ ám sát có tính chất chính trị, hoặc cả một gia tộc bị tiêu diệt. Do đó, giao ước họ lập với nhau là một giao ước quan trọng. Sau diễn biến của chương này, Giô-na-than và Đa-vít hiếm khi gặp nhau, vì thế, lời họ hứa với nhau trong lúc này có tầm quan trọng đặc biệt. Câu 17 xác định lời cam kết của Giô-na-than và Đa-vít dành cho nhau. (Ý kiến mới đây cho rằng Đa-vít và Giô-na-than có quan hệ đồng tình luyến ái là hoàn toàn xuyên tạc tác giả chú ý nhấn mạnh rằng Đa-vít không phải là kẻ thù chính trị của Sau-lơ và gia đình Sau-lơ, còn Giô-na-than cũng chẳng có lý do gì phải sợ hoặc nghi kỵ Đa-vít.)
(ISa 20:18-42). Đa-vít ra đi lần cuối Giô-na-than căn dặn Đa-vít cách chi tiết là việc cần thiết để khi ông báo tin cho Đa-vít thì chẳng ai biết họ đang trò chuyện với nhau (19-22). Rõ ràng Giô-na-than không muốn người lính hầu của ông (21,39) biết ông gặp Đa-vít. Nếu Sau-lơ nhất quyết giết Đa-vít thì việc Giô-na-than trò chuyện với Đa-vít cũng bị coi là phản bội. Ngay cả Giô-na-than cũng không thoát khỏi cơn giận dữ của Sau-lơ. Sau này, Giô-na-than tìm được cách gặp riêng Đa-vít và nói chuyện lần cuối.
Sau-lơ thấy rõ một điều là: nếu không giết Đa-vít thì Giô-na-than không bao giờ được kế vị làm vua (31). Điều khác biệt là Giô-na-than chấp nhận sự việc này, còn Sau-lơ giờ đây căm ghét Đa-vít dữ dội. Chúng ta có thể cho rằng Sau-lơ lợi dụng buổi lễ để có cơ hội giết Đa-vít. Đây là một quốc lễ nên vắng mặt một nhân vật quan trọng của triều đình là người ta nhận biết ngay, dù trong Y-sơ-ra-ên thời xưa thường có thể vì cớ không thánh sạch mà vắng mặt. Chúng ta đọc các luật lệ này trong Le 11:1-15:23. Nói cách khác, sự vắng mặt của một nhân vật quan trọng là điều đáng nghi ngờ. Hoàng tử muốn vắng mặt cũng phải xin phép (IISa 15:7-9).
3. Đa-vít đi lánh nạn (ISa 21:1-26:25)
(ISa 21:1-15) Đa-vít tại Nóp và Gát Trọng điểm của chương này mô tả cảnh ngộ của Đa-vít thật nguy nan và tuyệt vọng biết dường nào. Ông hoàn toàn đơn chiếc (1), không có vũ khí và tình cảnh này tự nó cũng làm cho người ta nghi ngờ: một nhân vật quan trọng đương nhiên phải có quân hộ tống. Dĩ nhiên, Đa-vít chỉ còn cách là nói dối. Tác giả không tán thành sự dối trá này - thật vậy, chính Đa-vít cũng công nhận mình đáng trách khi nghe kể lại hậu quả của hành động này (ISa 22:22). Tuy nhiên, tác giả không khiển trách Đa-vít về tội nói dối, ông nhận thức đầy đủ cảnh ngộ nguy cấp của Đa-vít. Chắc chắn sau này, kẻ thù của Đa-vít lên án ông về hai sự cố chép trong chương này. Đa-vít ghé vào Nóp làm cho nhiều người tin kính bị giết chết (22:18) và Đa-vít vượt biên đến Gát (10-15) là phản quốc, vì A-kích là vua dân Phi-li-tin. Vì vậy, trước hết tác giả giải thích rằng mặc dù Đa-vít nói gạt thầy tế lễ A-hi-mê-léc, song ông không hề hay biết về những sự cố xảy ra sau này. Rắc rối xảy ra là do Đô-ê (7), một trong các tôi tớ của Sau-lơ có mặt tại đó để làm trọn lời hứa nguyện.
Thứ hai, tác giả giải thích khi Đa-vít vượt biên đến Gát, ông hi vọng người ta không nhận ra ông. Đến lúc bị phát hiện, ông giả điên để đánh lừa vua Phi-li-tin. Nhờ vậy, rõ ràng dân Phi-li-tin không tôn trọng ông vì một chiến sĩ tài ba làm phản chống Sau-lơ thì có thể họ còn hoan nghênh. Còn nếu ông không điên thì chắc họ cũng không cho ông trở về xứ Y-sơ-ra-ên.
(ISa 22:1-5). Đa-vít được ủng hộ Trong chương 21, Đa-vít chạy trốn một mình trong hoàn cảnh hiểm nghèo. Nhưng sau khi từ Gát trở về lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, ông nhanh chóng thu hút được một số người ủng hộ. Gia đình ông cũng đến theo ông, không phải để tăng cường lực lượng cho ông mà để được an toàn. Chẳng bao lâu, Đa-vít đưa cha mẹ ông ra ngoại quốc, ngoài tầm tay của Sau-lơ. Những kẻ theo ông đều là dân sống ngoài vòng pháp luật như ông, và đủ đông để lập thành một đội quân nhỏ. Đối với Sau-lơ, rõ ràng họ là đám quân nổi loạn và phản quốc. Còn chúng ta nghĩ gì? Các chương sau cho biết Đa-vít không bao giờ dùng đội quân này để tấn công Sau-lơ và quân đội Y-sơ-ra-ên, nhưng đó là chuyện tương lai. Còn có một người khác ủng hộ Đa-vít, đó là tiên tri Gát. Như vậy, chúng ta thấy bàn tay của Đức Chúa Trời hành động dẫn dắt Đa-vít (5). Thế là đúng theo nghĩa đen, Đức Chúa Trời vẫn ở với Đa-vít. Một chiến sĩ tài ba bây giờ trở thành kẻ lánh nạn thành công. Ông vào địa phận của chi phái Giu-đa để lánh nạn, tránh xa đế đô của Sau-lơ. Đó là một quyết định sáng suốt vì ông thuộc chi phái Giu-đa, nên ông có lý do để hi vọng sẽ chiếm được thiện cảm nơi một số người.
(ISa 22:6-23). Vụ thảm sát tại Nóp Trong thời gian này, Nóp là trung tâm thờ phượng chính. Sau khi dân Phi-li-tin chiến thắng ở chương 4, trung tâm thờ phượng tại Si-lô bị phá hủy nên có lẽ Nóp thay thế làm một trung tâm thờ phượng quan trọng. A-hi-mê-léc, thầy tế lễ thượng phẩm tại Nóp, là cháu của Hê-li tại Si-lô. Thật kinh khủng khi Sau-lơ dám tàn sát nhiều thầy tế lễ tại một trung tâm thờ phượng quan trọng như vậy, bất chấp lời biện bạch chí lý của A-hi-mê-léc (14-15). Chương này chứng tỏ rằng giờ đây, Sau-lơ nghi ngờ mọi người kể cả Giô-na-than (8) và ông tưởng tượng thấy người ta âm mưu hại ông trong khi chẳng có âm mưu nào cả. Chi tiết rất có ý nghĩa nơi đây là chính quan tướng của ông không vâng theo lệnh ông (17).
Sự bạo tàn của Sau-lơ đưa đến hậu quả mà ông không tiên liệu được. Một người thoát khỏi vụ tàn sát đó là A-bia-tha (thầy tế lễ thượng phẩm tại Giê-ru-sa-lem sau này), A-bia-tha không có cách nào khác hơn là đi theo Đa-vít, Như vậy, ngoài tiên tri Gát-ra, Đa-vít có thêm sự ủng hộ của thầy tế lễ.
(ISa 23:1-14). Đa-vít tại Kê-i-la Phân đoạn này đưa ra một nét tương phản lý thú giữa năng lực của con người và quyền kiểm soát của Đức Chúa Trời. Đa-vít và dân Kê-i-la không thể kháng cự lại quyền lực của vua Sau-lơ. Chương này cho biết Đa-vít buộc phải di chuyển xa hơn về phía nam đến vùng đất khô cằn hơn. Về phần dân Kê-i-la, có thể họ có cảm tình với Đa-vít (họ cũng là người Giu-đa), nhưng họ sợ Sau-lơ nổi giận và trả thù. Chắc mọi người đều biết Sau-lơ đối xử với Nóp như thế nào rồi. Dù dân Kê-i-la có sẵn sàng nộp Đa-vít cho Sau-lơ đi nữa (12) song chắc chắn họ vẫn mãi mãi biết ơn Đa-vít, vì ông đã cứu họ khỏi dân Phi-li-tin (5). Sự kiện này rất hữu dụng cho ông về sau.
Theo quan điểm loài người thì Sau-lơ rất có thế lực nhưng thực sự chính Đức Chúa Trời điều khiển và kiểm soát các biến cố, nhất là Ngài hướng dẫn Đa-vít qua trung gian của A-bia-tha và cái ê-phót (6). Nhờ đó, Đa-vít biết lúc nào có thể đến Kê-i-la, lúc nào phải rời khỏi đó và làm thế nào để thoát khỏi tầm tay của Sau-lơ (14). Đức Chúa Trời để cho cá nhân và tập thể hoàn toàn tự do hành động, tuy nhiên Ngài tể trị làm cho mọi việc xảy ra theo ý muốn của Ngài. Vì vậy một lần nữa, Đa-vít thoát khỏi Sau-lơ và như vậy cũng mưu ích cho một thành của dân Y-sơ-ra-ên, một hành động được dân ghi nhớ mãi về sau. Sau-lơ tự chứng tỏ ông không xứng đáng làm vua, bởi vì ông tấn công một thành thuộc vương quốc của mình còn Đa-vít đã hành động như một vị vua, khi ông đánh bại quân Phi-li-tin, kẻ thù của dân tộc ông.
(ISa 23:15-28). Đa-vít tại Xíp Khu vực gần thành Xíp là một đồng vắng (14). Trốn tránh trong một địa thế như vậy thì dễ, nhưng nuôi một đội quân 600 người lại khó. Từ chương ISa 22:1 trở đi, số người theo ông tăng lên. Việc này lý giải phần nào thái độ thù nghịch của dân Xíp đối với ông có lẽ vì họ thấy ông là mối đe doạ cho nguồn cung cấp lương thực của họ, nên họ sẵn sàng giúp Sau-lơ trong cuộc lùng kiếm Đa-vít, nhưng một lần nữa, Đức Chúa Trời tể trị hoàn cảnh bằng cách dùng dân Phi-li-tin thực hiện mục đích của Ngài (27-28).
Nhưng mỉa mai thay, Sau-lơ và quân đội của ông không tìm ra Đa-vít, còn Giô-na-than lại gặp Đa-vít cách dễ dàng. Chắc chắn Đa-vít có bố trí lính canh hướng dẫn Giô-na-than đến gặp Đa-vít. Mục đích chính của Giô-na-than là trấn an Đa-vít. Khi nhắc lại lời kết ước, Giô-na-than khẳng định ông sẵn sàng phụ thuộc vào Đa-vít nói cách khác, ông từ bỏ địa vị làm hoàng tử. Giô-na-than không sống thọ để thực hiện lời ông hứa, nhưng lời hứa của Giô-na-than cho chúng ta biết thêm về tình thân thiện giữa Đa-vít và Giô-na-than vẫn luôn tồn tại. Đa-vít không chiếm đoạt của Giô-na-than một món gì, còn Giô-na-than không căm tức Đa-vít một chút nào cả.
(ISa 24:1-23) Đa-vít và Sau-lơ gặp nhau tại Ên-Ghê-đi Phần tường thuật chi tiết trong chương 24 kể lại biến cố xúc động trong suốt thời gian Đa-vít lánh nạn. Câu chuyện làm chúng ta lưu ý đến một số dữ kiện quan trọng về Đa-vít và Sau-lơ. Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, cả hai đều có cơ hội hạ sát địch thủ của mình. Nhưng cả hai đều bị lương tâm ngăn cản không hành động bạo tàn như vậy. Đa-vít chắc bị cám dỗ hạ sát kẻ ngược đãi mình, nhất là khi chính binh lính của ông thúc giục ông. Nhưng lương tâm đã ngăn cản ông thậm chí ông cảm thấy ân hận sau khi làm hư cái áo của Sau-lơ. Về phần Sau-lơ, khi bất thình lình nghe Đa-vít gọi thì vua hoàn toàn nắm Đa-vít trong tay mình vì Đa-vít đã lọt trong vòng vây của quân lính của Sau-lơ. Nhưng lời nói của Đa-vít chạm thấu lương tâm của vua. Do đó, lời nói của hai người có ý nghĩa đặc biệt. Đa-vít tỏ lòng tôn kính đối với Sau-lơ trong vị thế một ông vua. Như chúng ta biết, Sau-lơ đã bị Đức Giê-hô-va phế bỏ, nhưng ông vẫn làm vua, ông được Sa-mu-ên xức dầu theo lệnh của Đức Giê-hô-va (6). Đa-vít tuyên bố không ai có quyền xâm phạm đến con người của vua Y-sơ-ra-ên.
Sau-lơ chân thành thú nhận ông đã xử tệ với Đa-vít, ông cũng công nhận rằng Đa-vít chưa hề làm hại ông một điều gì. Nhìn về tương lai, ông công nhận Đa-vít sẽ làm vua.
Ở đây cũng vậy, đoạn văn có ý biện minh cho Đa-vít, chống lại các lời cáo buộc sau này cho rằng Đa-vít nhẫn tâm nghịch thù Sau-lơ và dòng ho của Sau-lơ (21). Chương này bày tỏ hết sức rõ ràng Đa-vít không chỉ tha mạng Sau-lơ, mà còn thề tha mạng sống cho gia đình Sau-lơ nữa. Khi Đa-vít xem trọng tính cách thiêng liêng của con người và mạng sống của một vị vua thì lời nói của Đa-vít đã trở thành bài giảng cho những người hoặc tổ chức sau này muốn ám sát hoặc nổi loạn lật đổ vua.
(ISa 25:1-11). Thái độ thù nghịch của Na-banh Sa-mu-ên qua đời (1) kết thúc một thời đại. Ông chết trước khi Đa-vít là người được ông xức dầu (chương 16) làm vua nhưng giờ đây ít ra Sau-lơ cũng đã công nhận Đa-vít sẽ là vua kế vị ông (ISa 24:20). Công tác của Sa-mu-ên đã hoàn tất.
Dù Sau-lơ thốt ra những lời lẽ tỏ ý ăn năn trong 24:16-21, nhưng giữa Đa-vít và Sau-lơ khó lòng thân thiện như xưa. Đa-vít vẫn sống trong vùng đất khô cằn xứ Giu-đa với đám thuộc hạ đông đúc. Sau đó không bao lâu, Sau-lơ lại khởi tìm bắt Đa-vít. Trong khi đó, Đa-vít phải lo tìm lương thực hằng ngày cho thuộc hạ, và đoạn này cho biết việc đó khó khăn vô cùng. Ông cố chiếm được sự ủng hộ và sự tiếp trợ từ các nông dân giàu có như Na-banh bằng cách giúp đỡ và bảo vệ họ khỏi những toán quân cướp bóc (như dân A-ma-léc) rồi hi vọng họ sẽ cho lương thực cách rộng rãi. Chắc chắn có nhiều nông dân vui mừng giúp đỡ ông, đồng thời cũng có nhiều người giúp cách miễn cưỡng. Còn Na-banh sẵn đã keo kiệt trong mọi chuyện (3) nên ông từ chối cách sỗ sàng. Nói đúng ra thì ông có quyền làm theo lòng mình và một khi ông nói rằng Đa-vít chỉ là một ‘đầy tớ’ trốn ‘chủ mình’, thì lời nhận xét này không xa sự thật chi lắm. Tuy nhiên, độc giả biết rằng Đa-vít không có nổi loạn chống lại Sau-lơ và Đức Chúa Trời đã chọn Đa-vít làm vua vậy nên xem như Na-banh hoàn toàn không biết gì về chương trình của Đức Chúa Trời.
(ISa 25:12-35). A-bi-ga-in can thiệp Đa-vít nổi giận đối với Na-banh là điều dễ hiểu và chúng ta có thể hiểu được nỗi tuyệt vọng của ông khi không tìm được lương thực. Tuy nhiên, đối với hành vi của Na-banh mà Đa-vít đằng đằng sát khí như thế cũng không đúng. Chuyện đời Đa-vít cho biết thỉnh thoảng Đa-vít cũng khe khắt và vũ phu, nhưng Đức Chúa Trời vẫn tể trị hoàn cảnh và ngăn cản Đa-vít khỏi làm điều ác. Lần này, Đức Chúa Trời không sai tiên tri đến, cũng không ban sự dẫn dắt cho thầy tế lễ A-bia-tha, nhưng Ngài sai chính vợ của người Đa-vít muốn giết. Không phải ngẫu nhiên bà A-bi-ga-in lại sáng suốt (3), bà không chỉ nhìn thấy mối nguy, mà còn hành động mau lẹ có hiệu quả chận đứng được tấn thảm kịch. Bà nhắc Đa-vít nhớ lại Đức Chúa Trời đã xức dầu cho ông làm vua, chắc chắn Ngài cũng bảo vệ ông, đồng thời đáp ứng nhu cầu của ông nữa. Do đó, Đa-vít không cần phải dùng đến vũ lực, cũng không cần trả thù.
Những lời A-bi-ga-in trình bày có ý nghĩa thần học, xác định rõ ràng địa vị của Đa-vít trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nói thêm theo quan điểm con người thì bà ăn nói rất sáng suốt: nếu Đa-vít sát hại một nông dân địa phương, chắc chắn sau này ông khó lòng thu phục được sự ủng hộ của chi phái Giu-đa.
(ISa 25:36-44). Hôn nhân của Đa-vít Đoạn cuối câu chuyện nói về cái chết của Na-banh và sau đó là chuyện Đa-vít cưới quả phụ A-bi-ga-in. Theo quan điểm loài người, cái chết của Na-banh là do tự nhiên nhưng tác giả muốn nêu lên một lẽ thật chung là vấn đề sống chết đều thuộc quyền Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể tin rằng láng giềng của Na-banh cùng tin như vậy, và họ công nhận Đức Chúa Trời có thể sẽ trừng trị người nào có thái độ thù địch với Đa-vít. Vì thế, cái chết của Na-banh biết đâu chừng lại hoá ra có ích cho Đa-vít.
Cho đến lúc này, vợ duy nhất của Đa-vít là Mi-canh, con gái của Sau-lơ (ISa 18:27). Nay, Sau-lơ gả nàng cho người khác (44). Hành động này chứng tỏ ông căm ghét Đa-vít và cũng có tính chất chính trị, nhằm cắt đứt mọi liên hệ của hoàng gia với Đa-vít. Như vậy, Đa-vít không thể ngắm nghé ngai vàng. Thời bấy giờ thường có nhiều cuộc hôn nhân có tính chất chính trị nhờ kết hôn với A-bi-ga-in và A-hi-nô-am (42-43) mà Đa-vít thắt chặt mối liên hệ với các gia đình có thế lực trong chi phái Giu-đa. Bước đường lên ngai vàng của ông trong tương lai nhờ sự ủng hộ của chi phái Giu-đa, chớ không phải của triều đình đương thời. Tác giả không nói ra, nhưng chúng ta thấy rõ chuyện Đa-vít kết hôn với A-bi-ga-in là việc nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời đối với Đa-vít.
(ISa 26:1-25). Đa-vít đột nhập trại Sau-lơ Cốt lõi chính của bài tường thuật này tương tự như chương 24. Sau-lơ đem quân vào địa phận của chi phái Giu-đa lùng bắt Đa-vít và ông suýt bắt được Đa-vít Đa-vít có cơ hội giết Sau-lơ nhưng thay vì ra tay, ông lại nói chuyện với vua. Một lần nữa, vua lại thú nhận có lỗi với Đa-vít. Chương này có nhiều điểm tương tự như chương 24, thí dụ như hành vi của dân Xíp (1). Nhưng nhiều chi tiết khác thì không giống. Ở đây, Đa-vít không tình cờ ẩn trong hang đá như ở chương 24, nhưng ông có chủ ý đi vào trại của Sau-lơ. Áp-ne xuất hiện trong chuyện, nhưng Áp-ne không đóng vai trò gì trong chương 24. Tuy nhiên, một số học giả cho rằng hai chương này đều thuật lại cùng một sự việc nhưng theo chiều hướng khác nhau. Thắc mắc chủ chốt là sao tác giả lại kể hai câu chuyện tương tự như nhau. Câu trả lời là một mặt ông muốn củng cố điểm cốt lõi trong chương 24. Dân Y-sơ-ra-ên tin tưởng vào lời chứng có đôi (Phu 19:15), vì thế đây là lần thứ hai, Đa-vít chống lại cơn cám dỗ và cương quyết không ám hại Đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va (9) và đây cũng là lần thứ hai Sau-lơ nhìn nhận ông có lỗi (21) và công nhận Đa-vít sẽ có một tương lai sáng lạn (25). Vì vậy, tác giả nhấn mạnh sự thể Đa-vít từ khước không ám hại Sau-lơ, và Sau-lơ nhìn nhận ông hoàn toàn có lỗi (trong những khoảnh khắc mà lòng ông mềm mại nhất).
Yếu tố mới của câu chuyện nằm trong lời nói của Đa-vít ở câu 19. Câu này dẫn trước chuyện trong chương sau, khi Đa-vít miễn cưỡng rời bỏ đất Y-sơ-ra-ên để lánh nạn trong xứ Phi-li-tin. Sau này, kẻ thù của Đa-vít lập luận rằng Đa-vít là tên phản quốc thờ cả tà thần của xứ Phi-li-tin. Câu 19 không có ý nói Đa-vít thực sự thờ các thần dân Phi-li-tin, nhưng câu này làm chúng ta chú ý đến sự kiện trong đất ngoại bang không có đền thờ Đức Giê-hô-va để Đa-vít thờ lạy Đức Chúa Trời chân thật. Do đó, Đa-vít hết sức miễn cưỡng khi phải rời khỏi lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên và ông rủa sả kẻ đã gây nên cớ sự.
Chú giải. 21 Sau-lơ tự gọi mình là ngu xuẩn, y như A-bi-ga-in gọi chồng mình là ngu dại khi ông chống lại Đa-vít (ISa 25:25). Trong tiếng Hi-bá-lai, hai từ này có dạng khác nhau, nhưng cùng một ý nghĩa. Những ai chống lại kế hoạch của Đức Chúa Trời, rốt cuộc đều ngu dại.
4. Đa-vít trong lãnh thổ dân Phi-li-tin (ISa 27:1-30:31)
Đây là giai đoạn khó khăn nhất trong sự nghiệp của Đa-vít. Vì không thể sống còn trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, ông buộc phải ẩn náu trong lãnh thổ của một vua Phi-li-tin. Đa-vít cầm đầu một đội quân nhỏ, và hiển nhiên là dân Phi-li-tin sẽ không tiếp nhận các chiến sĩ Y-sơ-ra-ên trừ phi họ có thể tin cậy rằng các chiến sĩ Y-sơ-ra-ên này sẽ vì quyền lợi của Phi-li-tin mà đánh trận chống dân Y-sơ-ra-ên. Đội quân của Đa-vít có được lợi điểm căn bản là chắc chắn Sau-lơ, vua Y-sơ-ra-ên, là kẻ thù của họ. Đa-vít phải thuyết phục dân Phi-li-tin tin rằng ông và lính của ông đã là và còn là kẻ thù của cả Sau-lơ lẫn dân Y-sơ-ra-ên nói chung. Tuy nhiên, Đa-vít không hề muốn tấn công dân Y-sơ-ra-ên, và giả như ông có làm như vậy thì ông sẽ không bao giờ được làm vua Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông phải đương đầu với một hoàn cảnh thật là éo le, ngoài vấn đề nuôi binh lính và trợ cấp tiền bạc cho họ. Tuy nhiên, ông đã chu toàn vì Đức Chúa Trời luôn ‘ở với ông’.
(ISa 27:1-12) Đa-vít và vua A-kích Đa-vít thoát hiểm trong đường tơ kẻ tóc trong những lần mới đây thuyết phục ông tin rằng khó lòng mãi mãi tránh khỏi bị bắt và bị giết. Đội quân 600 người của ông cũng không thể trốn tránh lâu hơn. Chúng ta có thể đoán rằng các quốc gia trung lập hoặc các liên minh của Sau-lơ không chịu tiếp nhận họ. Hi vọng duy nhất của Đa-vít là liên kết với dân Phi-li-tin, kẻ thù của Sau-lơ. Vì vậy, ông trở lại Gát là nơi trước đây ông có lần ghé đến (ISa 21:10-15). Lần này, ông được A-kích, vua Phi-li-tin tôn trọng, và cho ông đóng quân ở thành Xiếc-lác. Chúng ta thấy Đức Chúa Trời tể trị luôn cả quyết định của dân Phi-li-tin. Xiếc-lác nằm gần biên giới Y-sơ-ra-ên nên A-kích hi vọng Đa-vít sẽ tấn công dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Giu-đa. Tuy nhiên, Xiếc-lác cũng gần ranh giới của dân tộc khác có nhiều bộ tộc sống ở phía nam Xiếc-lác. Họ là kẻ thù của cả Y-sơ-ra-ên lẫn dân Phi-li-tin. Sự kiện này tạo cho Đa-vít cơ hội làm lợi cho chi phái Giu-đa, bằng cách tấn công kẻ thù của họ. Nhờ vậy, ông đánh lừa được A-kích. A-kích có thể nhìn tận mặt các chiến lợi phẩm nhưng ông không tài nào biết được là những chiến lợi phẩm đó từ đâu mà có. Đa-vít cũng làm lợi cho mình vì những chiến lợi phẩm đó cung ứng được lương thực và những nhu cầu khác của đội quân theo ông.
Rõ ràng, Đa-vít biết khéo léo vận dụng cơ hội cách tối đa. Theo quan điểm của Cơ-đốc nhân, chúng ta không thể nào thán phục tài khéo phỉnh gạt cùng những cuộc tàn sát của ông. Dĩ nhiên, đoạn này không tán dương sự dối gạt và tàn bạo nhưng trên căn bản, đoạn này cho biết cảnh ngộ của Đa-vít thật hết sức éo le, mà Sau-lơ là người đã đẩy ông vào cảnh này. Đoạn này cũng cho biết Đa-vít nhất quyết không làm hại dân sự của ông. Trái lại, ông làm mọi cách để có thể giúp họ. Ông chỉ có bổn phận đối với Y-sơ-ra-ên, nhưng cảm thấy không có bổn phận gì đối với kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên cả.
(ISa 28:1-25). Sau-lơ cầu bà bóng Giờ đây, mọi chuyện diễn biến đến tột đỉnh. Mấy chương cuối của sách I Sa-mu-ên viết về một biến cố quan trọng duy nhất, một trận đại chiến giữa quân Y-sơ-ra-ên và quân Phi-li-tin, liên hệ đến các hoạt động và số phận của ba cánh trong cuộc - Sau-lơ cùng đội quân Y-sơ-ra-ên, quân đội Phi-li-tin, và Đa-vít cùng đội quân nhỏ của ông. Dân Phi-li-tin phát động cuộc chiến này, bằng cách tập trung các lực lượng mạnh mẽ lại (1,4). Đa số chiến sự giữa Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin đều xảy ra ở miền nam, nhưng lần này dân Phi-li-tin thay đổi chiến lược và tập trung ở miền bắc tại Su-nem. Có lẽ họ định cắt đôi lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, cô lập Sau-lơ ra khỏi các chi phái miền bắc. Dù gì đi nữa, Sau-lơ không thể thờ ơ với mối đe doạ này, và xem chừng tình thế buộc ông phải chiến đấu trong một đồng bằng, địa hình này tạo lợi thế to tát cho các cổ xe ngựa của dân Phi-li-tin. (Thông thường, quân Y-sơ-ra-ên có khả năng chiến đấu trong vùng núi đồi. Ở địa hình này, xe ngựa không mấy hữu dụng.) Vì thế, Y-sơ-ra-ên ở trong một tình thế nguy cấp, và Sau-lơ rất cần cố vấn quân sự. Dù chuyện kể có tính chất cá nhân nhưng quan hệ là phải nhận thấy Sau-lơ đang tìm sự dẫn dắt với tư cách là vua Y-sơ-ra-ên, chớ không phải là một thường dân. Nhưng dù với tư cách là vua Y-sơ-ra-ên, ông vẫn không nhận được sự giúp đỡ của tiên tri nào. Câu 6 nói đến ba phương cách thường được dùng để tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời U-rim có liên hệ với ê-phót của thầy tế lễ (ISa 14:37). Sau-lơ không thể cầu vấn Sa-mu-ên vì ông mới chết, trừ phi ông cầu bà bóng. Nhưng chính Sau-lơ đã đuổi hết các bà đồng cốt ra khỏi miền Trung của vương quốc của ông. Luật Cựu Ước nghiêm cấm cầu hỏi người chết (gọi hồn) (Le 19:31 Phu 18:9-14) và Sau-lơ ủng hộ các luật lệ loại đó. Giờ đây, chính ông lại đi cầu hỏi đồng bóng chứng tỏ ông đang thật sự tuyệt vọng để thực hiện việc này, ông phải đi đến Ên-đô-rơ ở tận miền bắc, tức là đi qua mé bên kia trại quân Phi-li-tin.
Tại đây, tác giả không công kích cũng không chê bai thói tục cầu hồn ông chỉ có ý mô tả tình cảnh tuyệt vọng của Sau-lơ và quyết tâm của Đức Giê-hô-va. Hoặc giả Đức Chúa Trời cho phép chính Sa-mu-ên hiện ra, hoặc giả một tà linh giả dạng Sa-mu-ên hiện ra, đối với Sau-lơ thì đã thực sự nhìn thấy Sa-mu-ên, nghe tiếng nói của Sa-mu-ên. Tiếng nói này nhắc lại và khẳng định Đức Giê-hô-va đã phế bỏ Sau-lơ và chọn Đa-vít. Câu 19 tiên báo thêm chi tiết mới về kết quả của trận chiến ngày hôm sau.
Dụng ý của câu chuyện cốt xoáy mạnh vào sự vô vọng của Sau-lơ - và cho biết ông rơi xuống thấp tột độ đến nỗi một tội phạm phải đến an ủi ông. Vì theo luật pháp của vua Sau-lơ thì bà đồng này là một tội phạm. Chắc chắn chương này không khuyến khích tục cầu cơ, đồng bóng, cầu hồn không bao giờ có thể nhờ họ mà tìm được sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời.
(ISa 29:1-11) Dân Phi-li-tin và Đa-vít Trong chương 28, chúng ta đã thấy Sau-lơ bất lực biết bao, và tình cảnh của ông thật vô vọng. Trên một phương diện, Đa-vít cũng bất lực không kém, hoàn toàn ở dưới quyền phán quyết của người Phi-li-tin. Đội quân của ông quá ít người không đủ sức chống cự lại dân Phi-li-tin, và ông không dám kháng cự mệnh lệnh của họ hi vọng duy nhất của ông là có thể tiếp tục đánh lừa A-kích. Khó mà đoán được Đa-vít sẽ làm gì nếu A-kích thuyết phục được các vua khác của dân Phi-li-tin tin tưởng vào lòng trung thành của Đa-vít. Tuy nhiên, các vua Phi-li-tin đã gạt phăng lời làm chứng của A-kích. Mối nguy họ thấy rõ là đội quân của Đa-vít có thể trở mặt trong lúc chiến đấu và sẽ khiến cho quân Phi-li-tin thất trận (4). Họ cũng nhớ lại tiếng tăm của Đa-vít khi còn là một chiến sĩ, được các phụ nữ Y-sơ-ra-ên ca ngợi bằng lời hát (5 ISa 18:7). Tác giả không nói ra, nhưng ông để cho độc giả tự kết luận chính Đức Chúa Trời tể trị trên A-kích và cứu Đa-vít khỏi tình huống tiến thối lưỡng nan.
Chú giải. 1 Chuyện này xảy ra tại A-phéc, trước khi dân Phi-li-tin chuyển quân về hướng bắc và đóng trại tại Su-nem (28:1). Nói cách khác, các diễn biến ở chương 29 xảy ra trước các diễn biến ở chương 28. 6 Ở đây, A-kích nhân danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề, có thể vì ông đang nói chuyện với một người Y-sơ-ra-ên. Trong câu 9, lời ông ám chỉ Đa-vít là Thiên Sứ Đức Chúa Trời không thực tế có lẽ đây là lối nói theo tập quán. Đoạn này không ngụ ý A-kích có lòng thờ phượng Đức Giê-hô-va. 11 Dân Y-sơ-ra-ên đã đóng trại tại Gít-rê-ên (1), do đó câu này báo hiệu trận chiến đã bùng nổ.
(ISa 30:1-17). Đa-vít đánh bại dân A-ma-léc Bài tường thuật theo gót Đa-vít đi về miền nam, trở lại bản doanh tại Xiếc-lác, và tạm gác chuyện chiến tranh tại Ghinh-bô-a cho đến chương 31. Khi mô tả nhiều chi tiết như vậy, tác giả nhắm mục đích vạch rõ khi chiến trận diễn ra, Đa-vít và binh lính ông đang ở rất xa quân Phi-li-tin. Chúng ta có thể mường tượng được chuyện sau này, những người chống nghịch Đa-vít tung tin đồn rằng Đa-vít và binh lính của ông giúp quân Phi-li-tin đánh bại quân của Sau-lơ. Trái lại, chương này cho biết Đa-vít tiến đánh kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên là dân A-ma-léc trong khi chiến trận giữa Sau-lơ và quân Phi-li-tin đang diễn ra.
Một khía cạnh quan trọng khác của chuyện này là kẻ thù A-ma-léc. Chương 15 ghi lại chuyện Sau-lơ không tiêu diệt dân này, dù họ là mối đe doạ lâu đời của dân Y-sơ-ra-ên. Giờ đây, chương 30 mô tả Đa-vít làm công tác đáng lẽ Sau-lơ đã hoàn tất.
(ISa 30:18-31). Chiến lợi phẩm của Đa-vít Không dễ tìm ra đoàn quân xâm lược du mục. Vì thế, chuyện Đa-vít chiếm lại mọi vật bị dân A-ma-léc cướp coi như nhờ phép lạ.
Câu 7 nêu lên một điểm quan trọng, so sánh cách xử sự của Đa-vít trong tình huống khó khăn với cách xử sự của Sau-lơ trong chương 28. Sau-lơ cầu đồng bóng, nhưng Đa-vít đến với người của Đức Chúa Trời để tìm kiếm ý muốn Ngài. Buổi cầu vấn của Sau-lơ kết thúc trong tuyệt vọng, còn buổi cầu vấn của Đa-vít kết thúc trong sự phấn khởi (6).
Đức Chúa Trời không chỉ can thiệp để Đa-vít khỏi phải tham gia chiến trận đánh lại đồng bào của mình, nhưng Ngài còn sắp xếp thì giờ rất chính xác. Đa-vít và đội quân của ông trở về Xiếc-lác sớm hơn thì giờ dân A-ma-léc dự đoán, nếu trễ hơn hẳn họ đủ thì giờ đem vợ và con cái của đội quân Đa-vít bán đi làm nô lệ.
Đoạn này cho thấy cách Đa-vít vận dụng uy quyền của mình đối với những người hung dữ (c.6) và cả những kẻ gây rối nữa (22). Ở đây, chúng ta thấy ông quyết định theo lối một vị vua thường làm (nhất là c.25). Chủ trương chung của ông là mọi người đều hưởng lợi bằng nhau, và ông cũng đền đáp lại lòng mộ khách của các thành và các miền trong địa phận Giu-đa, là những nơi đã cho ông và binh lính của ông ẩn tránh khỏi Sau-lơ (27-31). Đây là một cử chỉ chính trị khôn ngoan: khi thời điểm đến, dân Giu-đa tự ý chọn ông làm vua còn hơn là phục vụ con trai của Sau-lơ (IISa 2:10).
(ISa 31:1-13) Chiến trận Ghinh-bô-a. Người ta đặt tên cho chiến trận này cùng tên với Đồi Ghinh-bô-a. Trận chiến bùng nổ ở vùng đồng bằng, nhưng sau đó dân Y-sơ-ra-ên thất trận và bị rượt đuổi lên sườn đồi, tại đó nhiều người tử trận, kể cả Sau-lơ và Giô-na-than. Chương này không cho biết con số tổn thất, nhưng rõ ràng dân Phi-li-tin đại thắng, họ chiếm được nhiều thành của dân Y-sơ-ra-ên (7). Như vậy, cuộc trị vì của Sau-lơ kết thúc thảm bại, đối với bản thân Sau-lơ lẫn dân Y-sơ-ra-ên. Tưởng chừng các thần Phi-li-tin toàn thắng nhưng sách II Sa-mu-ên sẽ cho chúng ta biết Đa-vít vĩnh viễn đánh bại dân Phi-li-tin như thế nào.
Đoạn cuối của chương này kết thúc thời trị vì của vua Sau-lơ. Khi mới làm vua, chiến công đầu tiên của ông là giải cứu thành Gia-be Ga-la-át (chương 11) nay dân cư thành Gia-be thu hồi xác và chôn cất hài cốt của ông cách tươm tất. Lạ một điều là sao họ lại hỏa táng, vì dân Y-sơ-ra-ên không có tập tục này. Dù hỏa táng vì lý do gì đi nữa, thì cũng nhằm tôn trọng người quá cố đấy thôi.
Như vậy, sách I Sa-mu-ên kết thúc trong thảm hoạ. Tuy nhiên, thảm hoạ này đã được phát ngôn viên của Đức Chúa Trời báo trước (ISa 28:19), nhưng không có nghĩa là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thất bại. Ngài đã chọn cho Y-sơ-ra-ên một vua kế vị. Ngài huấn luyện cho vua ấy trở thành một chiến sĩ và nhà lãnh đạo tài giỏi hơn Sau-lơ. Đức Chúa Trời sẽ xử lý mối đe doạ của dân Phi-li-tin vào đúng thời điểm của Ngài.