1 CÁC VUA

MỤC LỤC

ICÁC VUA

1. SA-LÔ-MÔN (IVua 1:1-11:43)

1. Sa-lô-môn được lập lên làm vua (IVua 1:1-2:46)

(IVua 1:1-10). Đa-vít A-đô-ni-gia Đa-vít suy yếu vì tuổi già, cơ thể vua không ấm lên được và vua cũng không còn năng lực yêu đương nữa (1-4) A-đô-ni-gia sẵn sàng lên ngôi kế vị, ông là người con thứ tư trong sáu người con trai do sáu bà vợ khác nhau sinh ra trong thời gian Đa-vít làm vua tại Hếp-rôn (IISa 3:2-5). Người con trai thứ nhất là Am-nôn đã bị người con trai thứ ba là Áp-ra-lôm sát hại, sau đó chính Áp-ra-lôm tử trận khi lãnh đạo cuộc phản loạn chống lại Đa-vít (13:23-29  18:9-15). Không thấy nói gì về người con thứ hai là Ki-lê-áp, có lẽ ông đã chết. Vì thế, A-đô-ni-gia là người con lớn nhất còn sống và đương nhiên ông là người kế vị ngai vàng. Tác giả muốn nhắc chúng ta những chuyện đó khi ông đề cập đến sự kiện A-đô-ni-gia sinh ra kế Áp-ra-lôm (6). Khi mô tả A-đô-ni-gia rất đẹp trai, ông muốn nhắc cho chúng ta nhớ lại thời trẻ đẹp trước đây của Đa-vít (ISa 16:12) và ông còn gợi ý thêm rằng theo thông thường đây đúng là người kế vị cho Đa-vít.

A-đô-ni-gia không chỉ ngắm nghé ngai vua, nhưng ông còn chiêu mộ được sự ủng hộ của một số nhân vật danh tiếng trong triều đình của Đa-vít (7,9).  Sự kiện ông sắm xe, ngựa ... cùng năm mươi người chạy trước ông (5) nhắc chúng ta nhớ lại những sự chuẩn bị của Áp-sa-lôm trước khi ông ra tay chiếm đoạt ngai vua (IISa 15:1). Cũng thế, sự kiện Đa-vít không tra hỏi hành động của A-đô-ni-gia (6) nhắc chúng ta nhớ lại việc ông sơ sót không ngăn chận cuộc nổi loạn của Áp-sa-lôm ngay từ trong trứng nước. Tánh nhu nhược của vua trong hoàn cảnh này không hoàn toàn tại tuổi già, vì đối với những vấn đề liên quan đến các con trai của ông thì những thất bại lần này cũng như những lần trước đã chứng minh được tính khí của ông (13:1-15:37).

A-đô-ni-gia tổ chức lễ dâng sinh tế và sắp xếp để người ta tôn ông lên làm vua tại Ên-rô-ghên, một con suối ngay phía nam Giê-ru-sa-lem mà Đa-vít không hề hay biết (9 so sánh câu 13,18,25). Điều này không có nghĩa là Đa-vít không còn làm vua nữa, nhưng đúng hơn là A-đô-ni-gia muốn làm người nhiếp chính.  Tuy nhiên, vì Đa-vít đã già, nên chắc chắn A-đô-ni-gia sẽ là vị vua năng nổ.

(IVua 1:11-37). Sự can thiệp của Na-than Chúng ta biết tiên tri Na-than không về phe với A-đô-ni-gia (8) và bây giờ ông xuất hiện để ủng hộ cho Sa-lô-môn là đối thủ A-đô-ni-gia.  Các câu này gợi ý rằng Đa-vít đã có thề với Bát-sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn, là con trai bà sẽ làm vua kế vị (có thể là vậy, mà cũng có thể Na-than và Bát-sê-ba thuyết phục Đa-vít tin rằng ông đã thề như vậy trong khi ông chưa có thề! Nhưng sự kiện A-đô-ni-gia không mời Sa-lô-môn tham dự buổi lễ gợi ý rằng ông biết Sa-lô-môn cũng ngắm nghé ngôi vua nên ông tính toán cẩn thận để hành động trước). Bà Bát-sê-ba xuất hiện trong chuyện nhắc chúng ta nhớ tâm tánh dâm dật của Đa-vít khi xưa trong IISa 11:1-27 và làm nổi bật hình ảnh một người già yếu bất lực hiện nay.

Mặc dù chương này nhiều lần gọi Na-than là tiên tri song ông chẳng có một sứ điệp nào từ Đức Chúa Trời cho vị vua suy nhược này. Thay vào đó ông bày mưu tính kế và khéo léo thuyết phục. Trước hết, được Na-than cố vấn, bà Bát-sê-ba nhắc cho vua nhớ lại lời vua đã thề và báo cho vua biết A-đô-ni-gia tổ chức lễ hội đăng quang.  Kế đó, Na-than xuất hiện đúng lúc (trong khi bà còn đang nói với vua) và bắt đầu bàn luận vấn đề từ một khía cạnh khác.  Ông không đề cập thẳng vấn đề như Bát-sê-ba, mà ông giả bộ tỏ ý tin rằng Đa-vít thừa nhận lễ hội ăn mừng của A-đô-ni-gia, rồi ông nhẹ nhàng nhắc rằng một số người, kể cả Đa-vít, không được mời tham dự.

Dù muộn màng, nhưng Đa-vít từ từ phấn chấn lên và đứng ra giải quyết vấn đề, ông thề sẽ thực hiện lời thề trước đây ngay lập tức (30).  Ông gọi thêm những người ủng hộ chính yếu khác, chẳng hạn như Xa-đốc, thầy tế lễ và Bê-na-gia, và chỉ thị họ xức dầu gấp cho Sa-lô-môn tại Ghi-hôn, một con suối bên ngoài tường thành Giê-ru-sa-lem về hướng đông.

(IVua 1:38-53). Sa--môn làm vua Được những người nòng cốt ủng hộ và được đội cận vệ của Đa-vít tháp tùng (người Kê-rê-thít và người Phê-lê-thít) Sa-lô-môn cỡi con la của Đa-vít (một chi tiết rất có ý nghĩa) đi đến Ghi-hôn (38). Đa-vít không tham dự, có lẽ vì ông quá yếu dù chân đồi phía đông chỉ cách một quãng đường ngắn. Căn cứ vào đám đông tập họp lại trong phút chốc, chúng ta biết Sa-lô-môn là ứng viên được quần chúng hâm mộ.  Khi A-đô-ni-gia nghe tiếng ồn ào tại Ên-rô-ghên và khi tin tức đầy đủ về sự việc loan truyền đến tai ông, thì ông biết rằng mưu kế của ông đã bị bại lộ, những người ủng hộ ông âm thầm giải tán.

A-đô-ni-gia ngờ rằng Sa-lô-môn (người mà ông gọi là ‘vua Sa-lô-môn’) sẽ giết ông, cho nên ông tìm nơi ẩn náu bằng cách nắm các sừng bàn thơ. Bàn thờ của dân Do Thái (theo các mẫu mã khảo cổ khám phá được) có bốn phần nhọn nhô chĩa ra ở bốn góc trên mặt bàn hình vuông. Người nào nắm hai trong bốn cái ‘sừng’ này thì tánh mạng được bảo toàn.  Có thể đây là bàn thờ đặt trong đền tạm do Đa-vít dựng lên để đặt Hòm của Đức Giê-hô-va (IISa 6:17 so sánh IVua 2:28).

Cho đến lúc này, Sa-lô-môn vẫn còn là một nhân vật lu mờ và thụ động (người ta ‘tôn ông lên làm vua’, người ta cho ông ‘cỡi con la’), nhưng bây giờ ông xuất hiện trong chuyện với tư cách riêng của mình. Ông hành động dứt khoát, nhưng khôn ngoan và cẩn thận, hứa tha mạng cho A-đô-ni-gia miễn là ông trung thành.  A-đô-ni-gia hạ mình, nhận em mình là tân vương (53) nhưng từ đó không hề có chuyện giảng hoà giữa hai người. Câu chuyện để lại cho chúng ta ấn tượng là sự thể vẫn chưa kết thúc.

Ba câu cuối cùng của chương này gọi Sa-lô-môn là vua Sa-lô-môn bốn lần (hai lần do người khác và hai lần do chính người kể chuyện).  Ngược lại, A-đô-ni-gia chỉ được gọi là vua một lần, trong phần tường thuật sự tung hô của đám người ủng hộ ông (25).

Như vậy, chương này kết thúc với chuyện Sa-lô-môn được xức dầu làm vua và Đa-vít thoả nguyện vì ý muốn của Đức Giê-hô-va đã thành (48).  Nhưng trước đó vua đã trì trệ làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời Đa-vít hối hả hành động chỉ vì A-đô-ni-gia tìm cách chiếm ngai vàng và vì Na-than tỏ ý lo ngại cho tánh mạng những người ủng hộ Sa-lô-môn, kể cả bản thân ông nữa. Cũng như trong chuyện Giô-sép, Đức Chúa Trời hành động lặng lẽ giữa những mưu kế và tham vọng của con người.

(IVua 2:1-12). Đa-vít băng Chúng ta không biết Sa-lô-môn làm nhiếp chính trong thời gian bao lâu trước khi Đa-vít băng hà. Dòng chuyện chuyển thẳng vào hôm trước ngày Đa-vít băng hà.

Trước hết, Đa-vít khuyên Sa-lô-môn về mặt thuộc linh.  Ông phải bước đi trong đường lối của Đức Giê-hô-va và vâng giữ điều răn của Ngài. Đa-vít hiểu rõ rằng Đức Giê-hô-va hứa làm cho triều đại vua được vững bền (IISa 7:1-29) với điều kiện dòng dõi của vua trung thành với Ngài (4). Sự thực này dần dà lộ rõ theo đà triển khai của câu chuyện.

Kế đến, Đa-vít dặn dò Sa-lô-môn cách giải quyết một số vấn đề còn dở dang. Báo trả trên Giô-áp tội giết người trái với ý của Đa-vít, ban thưởng cho các con trai Bát-xi-lai vì lòng trung thành của họ trừng phạt Si-mê-i vì tội nguyền rủa Đa-vít trong thời gian Áp-sa-lôm nổi loạn, Đa-vít không dặn dò cụ thể về Giô-áp và Si-mê-i, ông chỉ dặn Sa-lô-môn hành động theo sự khôn ngoan của mình (6,9). Lời trăn trối toả sáng với những lời khuyên về mặt thuộc linh, lại chấm dứt trong bầu không khí tăm tối đầy đe doạ. Tiếp theo là lời tường thuật về sự băng hà và sự mai táng của Đa-vít theo đúng lệ thường. Rải rác trong sách Các Vua xuất hiện đều đều những mẫu tường thuật này.

(IVua 2:13-25). A-đô-ni-gia bị xử tử A-đô-ni-gia đến với Bát-sê-ba trong vị thế là mẹ của vua, một địa vị cao quí trong hoàng cung để xin cưới nàng A-bi-sai làm vợ. A-bi-sai vốn là cung phi của Đa-vít (dù Đa-vít không còn khả năng quan hệ tình dục) và cưới nàng hầu làm vợ có nghĩa tương đương với ý đồ chiếm đoạt ngai vàng (so sánh IISa 3:6-8  16:21-22).  Khi Sa-lô-môn nghe được lời thỉnh cầu này, vua hiểu ngay ẩn ý của nó vua cho rằng đây là bước đầu trong chiến dịch mới nhằm chiếm đoạt ngôi vua (22). Khác với cha mình, ông không hành động chậm trễ: A-đô-ni-gia bị giết trong ngày hôm đó.

(IVua 2:26-27). A-bia-tha bị trục xuất Sa-lô-môn nhanh chóng quét sạch một cách hiệu quả mọi dấu vết chống nghịch triều đại của ông.  Vì tội ủng hộ A-đô-ni-gia, A-bia-tha bị đuổi khỏi chức vụ làm thầy tế lễ tại Giê-ru-sa-lem và bị trục xuất về cơ nghiệp của ông tại A-na-tốt cách Giê-ru-sa-lem 3 dặm (5km) về hướng bắc. Tác giả thấy việc ông bị sa thải làm ứng nghiệm lời tiên báo của một tiên tri vô danh trước đây về dòng dõi của Hê-li (ISa 2:27-36).  Xa-đốc thi hành chức vụ thay thế A-bia-tha (35). A-na-tốt là một thành cấp cho người Lê-vi và sau này là quê của Giê-rê-mi (Gie 1:1).

(IVua 2:28-35). Giô-áp bị xử tử Khi nghe tin A-đô-ni-gia bị giết, Giô-áp biết mình gặp nguy, ông chạy đến đền tạm của Đức Giê-hô-va nắm các sừng bàn thờ với hi vọng được toàn mạng. Tuy nhiên, không phải vì ông ủng hộ A-đô-ni-gia mà nay mạng sống ông bị đe doạ, nhưng vì những lời căn dặn của Đa-vít trong lúc hấp hối. Bê-na-gia đắn đo không dám giết Giô-áp tại bàn thờ, nhưng Sa-lô-môn không ngần ngại gì khi ra lệnh cho Bê-na-gia giết Giô-áp tại chỗ. Vua chủ trương rằng việc trả thù cho các nạn nhân của Giô-áp và sự thiệt hại mà Giô-áp đã gây ra cho Đa-vít là thúc bách và quan trọng hơn luật áp dụng cho đền thánh. Vua tuyên bố rằng giết được Giô-áp là vua thực hiện sự báo trả của Đức Chúa Trời và sự bình an của Đức Giê-hô-va sẽ đổ xuống trên nhà Đa-vít mãi mãi (33). Như vậy Bê-na-gia giết Giô-áp và thay ông chỉ huy đội quân.

Tác giả không phê bình gì những hành động này và chúng ta không rõ ông có tán thành việc làm của Sa-lô-môn hay không. Ít nhất ông biết rằng lời Sa-lô-môn tiên tri về nền hoà bình lâu dài sẽ không thành sự thực.

(IVua 2:36-46).  Si--i bị xử tử Đối với Si-mê-i, Sa-lô-môn dùng biện pháp tương đối khoan dung hơn, ông quản thúc Si-mê-i tại Giê-ru-sa-lem, cấm không cho rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nếu không sẽ bị giết.  Có phải ý của Sa-lô-môn chỉ là chừng nấy không? Hoặc từ đầu vua hi vọng rồi ra hoàn cảnh sẽ tạo cho ông lý do để giết Si-mê-i?  Có thể ý của vua là như vậy vì Đa-vít chỉ thị rằng Sa-lô-môn phải làm cho đầu bạc nó dính máu mà xuống âm phủ (9). Ba năm sau, Si-mê-i vi phạm lệnh cấm, Sa-lô-môn tỏ rằng vua coi cái chết của Si-mê-i là sự báo trả của Đức Chúa Trời đối với cách xử sự nhẫn tâm của Si-mê-i đối với Đa-vít (44).  Một lần nữa Sa-lô-môn tiên đoán rằng thời trị vì của ông sẽ được phước (không đúng) và triều đại Đa-vít sẽ vững bền đời đời (45).

Sau khi giải quyết xong công việc dang dỡ của Đa-vít và đập tan mọi chống đối Sa-lô-môn trở thành một quốc vương cương quyết, khôn ngoan thực tế, vua tin rằng vua là người thi hành sự xét đoán của Đức Chúa Trời và vua sẽ được Ngài ban phước. Hình ảnh này không mấy hấp dẫn, nhưng chúng ta biết chắc rằng giờ đây vương quốc Y-sơ-ra-ên đã được thiết lập vững vàng với sự lãnh đạo của Sa-lô-môn (46).

2. Cao trọng và khôn ngoan (IVua 3:1-4:34)

(IVua 3:1). Liên minh với Ai-cập  Để nhấn mạnh sự kiện Sa-lô-môn cũng tạo được vị trí vững vàng trên chính trường quốc tế, tác giả chép về cuộc liên minh của vua với Ai-cập, đóng dấu bằng chuyện vua cưới con gái Pha-ra-ôn (có lẽ vào thời của Siamun, triều đại thứ 21 của Ai-cập xem phần dẫn nhập). Cuộc liên minh bằng hôn nhân với một siêu cường quốc vào thời xưa ở vùng Cận Đông chắc đã củng cố địa vị của Sa-lô-môn cách đáng kể.  Tuy nhiên, còn một mặt trái của nước cờ chính trị này nữa. Vua cưới một người ngoại bang là vi phạm Phu 7:3. Sự vi phạm này cũng báo trước những sự vi phạm tương tự trong IVua 11:1-6.

(IVua 3:2-15). Sa--môn tại Ga-ba-ôn Đây là lần thứ nhất trong bốn lần Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn (so sánh IVua 6:11-13  9:1-9  11:11-13). Tác giả cảm thấy buộc phải giải thích vì sao biến cố lại xảy ra tại một nơi cao quan trọng nhất - Ga-ba-ôn: vua và hết thảy dân chúng đều thờ phượng tại đó vì lúc đó chưa có đền thờ (2). Để gạt bỏ mọi sự ngờ vực về lòng trung thành của Sa-lô-môn, tác giả xác định rằng Sa-lô-môn yêu mến Đức Giê-hô-va và đi theo mọi đường lối của Đa-vít (3)

Hai lần tác giả xác định là Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn trong giấc mơ (5,15). Nhiều chỗ trong Kinh Thánh tỏ ý không tin cậy hình thức liên lạc này (Phu 13:1-5  Gie 23:25-32), nhưng có những chỗ khác lại tỏ ý tôn trọng hình thức này (cụ thể là chuyện của Giô-sép và Đa-ni-ên).  Lời đầu tiên của Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn là thúc giục ông cầu xin. Đối diện với một sự thôi thúc như thế của Đấng tạo dựng nên muôn vật tưởng đâu Sa-lô-môn cần thời gian suy nghĩ. Nhưng ông trả lời ngay lập tức.  Ít ra thì điều này phù hợp với với lối xử sự quả quyết mà từ trước đến nay Sa-lô-môn vẫn bộc lộ, nhưng chính lời thỉnh cầu của ông gây ngạc nhiên không ít. Không ngờ một người tự tin như Sa-lô-môn, được Đa-vít khen là khôn ngoan  (IVua 2:6,9), mà lại thiếu tấm lòng thông sáng. Có lẽ ông nhận thấy muốn lãnh đạo tốt trên dân của Đức Chúa Trời không phải chỉ có mưu kế và khôn ngoan là được.  Đối diện với nhiệm vụ đó, ông cảm thấy mình chỉ là một đứa bé. Ông cũng hiểu rằng dân Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Chúa Trời, còn ông chỉ là đầy tớ của Ngài (từ ngữ dân của Chúa và đầy tớ của Chúa được dùng ba lần trong bản văn tiếng Hi-bá-lai từ câu 7-9).

Do đó, Sa-lô-môn cầu xin tâm trí sáng suốt, thông hiểu để cai trị dân tộc.  Trong tiếng Hi-bá-lai, động từ này có nghĩa là xét xử công lý.  Điều này phù hợp với sự kiện là tại Y-sơ-ra-ên vua là toà án tối cao (IISa 14:4-17  15:2  IVua 3:16-18), và đích thân vua chịu trách nhiệm thực thi công lý. Vì thế trong Thi 72:1-4, tác giả Thi Thiên viết: ‘Hỡi Đức Chúa Trời, xin ban cho vua sự xét đoán của Chúa, và ban cho vương tử sự công bình của Ngài.  Người sẽ xét đoán dân sự Chúa cách công bình, xử kẻ khốn cùng cách ngay thẳng ... Người sẽ đoán xét kẻ khốn cùng giữa dân, cứu con cái của người nghèo thiếu và chà nát kẻ hà hiếp.’ Khả năng xét xử cách công bình và bảo vệ người nghèo thiếu cũng là một nét quan trọng trong bức tranh của Ê-sai mô tả về vị vua lý tưởng sẽ đến (Es 11:3-5). Hễ khi nào chúng ta cầu nguyện cho ‘các vua và hết thảy các bậc bầm quyền’ thì chúng ta cần cầu xin cho họ những điều này (ITi 2:2)

Đức Chúa Trời khen Sa-lô-môn nhận biết nhu cầu cấp thiết của mình. Ngài ban cho ông sự khôn ngoan hơn những người bình thường.  Hơn nữa, Ngài hứa ban cho ông những điều ông không xin chẳng hạn như sự giàu có, tôn trọng và sống lâu (nếu ông cứ bước đi trong đường lối của Ngài).

Khi thức dậy, Sa-lô-môn lập tức trở về Giê-ru-sa-lem, dâng của lễ trước hòm giao ước để kỷ niệm biến cố quan trọng này.  Rõ ràng là các nơi cao, thậm chí cả nơi cao quan trọng nhất là Ga-ba-ôn không xứng đáng đối với một số việc.

(IVua 3:16-28). Biểu lộ sự khôn ngoan Sa-lô-môn biểu lộ ân tứ mới được ban cho trong chuyện nổi tiếng về hai kỵ nữ tranh giành một đứa bé.

Sa-lô-môn đề nghị một giải pháp đơn giản là: xẻ đứa bé làm hai, chia cho mỗi bà một nửa. Phán quyết này xem ra quá ư tàn nhẫn, coi bộ quan toà mệt mỏi quá sức về những lời khởi tố lẫn phản tố nên mới phản ứng cách độc ác đến thế. Thật vậy, có thể lý giải phán quyết này theo hướng đó.  Tuy nhiên, chính phản ứng trái ngược của người thiếu phụ cho phép Sa-lô-môn quyết định ai là mẹ của cậu bé. Cậu bé thoát chết còn Sa-lô-môn được nổi danh. Dân chúng tin chắc Đức Chúa Trời ban cho ông sự khôn ngoan để thực thi công lý.

IVua 4:1-34. Nội bộ vương quốc Thoạt xem, mười chín câu đầu là một bản liệt kê có vẻ buồn tẻ về các quan trong triều đình của Sa-lô-môn.  Nhưng khúc sách này chứa đựng một số vấn đề lý thú về quản trị vương quốc.

Trước hết, chúng ta nên để ý việc Sa-lô-môn các thầy tế lễ vào hàng ngũ các quan thần quan trọng (2-5). Chúng ta nhớ lại rằng Đa-vít đã đặt tôn giáo dưới quyền kiểm soát của hoàng gia khi ông biến Giê-ru-sa-lem thành tân thủ đô của vương quốc (đáng ngạc nhiên là A-bia-tha có tên trong danh sách dù ông đã bị trục xuất trong IVua 2:26-27 có lẽ ông chưa bị trục xuất trong phần đầu thời trị vì của Sa-lô-môn dù chuyện đó được sắp xếp ở vị trí đầu câu chuyện khiến chúng ta tưởng ông bị sa thải sớm ngay khi Sa-lô-môn mới lên ngôi).

Thứ hai, bản danh sách gồm mười hai viên chức (7-19) cho thấy có một cuộc cải tổ hành chánh quan trọng. Nhiều tỉnh ở dưới quyền của họ không còn tương ứng với các lãnh thổ cũ của các chi phái nữa. Có những vùng được phân ranh lại không theo ranh giới truyền thống của các chi phái. Khó lòng mường tượng được sự tán thành của dân chúng đối với phương thức mới. Nhưng sự kiện quan trọng hơn hết là các tỉnh do mười hai viên chức này quản trị không bao gồm Giu-đa (Giu-đa có một quan trông coi riêng nếu chúng ta đọc phần cuối cùng của câu 19 bản RSV: có một quan trông coi cả xứ Giu-đa). Chi tiết này lưu ý chúng ta rằng cụm từ hết thảy dân Y-sơ-ra-ên trong chương này được dùng theo hai ý nghĩa khác nhau. Câu 1 cho chúng ta biết Sa-lô-môn cai trị toàn cõi Y-sơ-ra-ên, rõ ràng nghĩa là vua cai trị toàn vương quốc. Nhưng câu 7 chép Sa-lô-môn đặt mười hai vị quan đầu tỉnh trông coi toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thì nghĩa là các chi phái Y-sơ-ra-ên miền bắc khác với chi phái Giu-đa.  Trên thực tế, câu 20 ám chỉ Giu-đa và Y-sơ-ra-ên là hai thực thể riêng biệt. Do đó, rõ ràng là Giu-đa và Y-sơ-ra-ên được quản trị riêng biệt, như dưới triều đại Đa-vít (IISa 24:1,9).

Tuy nhiên, trong bản danh sách các quan lại, còn có một sự kiện còn quan trọng hơn nữa.  Đó là nhiệm vụ của các quan là điều hành việc thu thuế để cung cấp cho các nhu cầu của hoàng cung. Mỗi vị quan chịu trách nhiệm cung ứng cho triều đình mỗi năm một tháng thực phẩm (7). Như vậy nghĩa là Giu-đa không có nghĩa vụ gì trong hệ thống thuế khoá, gánh nặng hoàn toàn đổ trên Y-sơ-ra-ên. Câu 22-23 mô tả cho chúng ta biết mức tiêu thụ hàng ngày của triều đình cao khủng khiếp, đã trở nên một gánh nặng cho họ biết là dường nào.

Tuy nhiên, cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều ăn, uống và hạnh phúc (20). Vương quốc của họ được an ninh là nhờ có một đoàn quân xa đông đảo (25-26).  Với sức mạnh quân sự cỡ đó, lẽ ra Sa-lô-môn phải duy trì được nền thống nhất của vương quốc một cách dễ dàng. Đây là vương quốc do Đa-vít gầy dựng nên trải rộng từ Mê-sô-bô-ta-mi ở phía tây Bắc, đến bờ biển phía nam (21,24). Thế mà trong các chương sau, cảnh này không còn như cũ.

Tác giả kết thúc chương này bằng lời tán dương sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, ông dùng cấu trúc so sánh để nhấn mạnh Sa-lô-môn có khả năng am hiểu sắc bén phi thường và kiến thức sâu rộng. Tác giả không có ý định thay đổi chủ đề, ông coi sự giàu sang, sức mạnh, thịnh vượng và sự cao trọng là những hình thức biểu dương sự khôn ngoan thông sáng của Sa-lô-môn (chúng ta sẽ thấy mối liên kết tương tự trong IVua 10:14-29). 

Tuy nhiên, chương này cũng cho biết tình hình có phần căng thẳng. Vì khi chúng ta đọc chương này trong sự nhận thức của những sự việc về sau, chúng ta không khỏi kết luận rằng sự hoang phí của triều đình Sa-lô-môn, và gánh nặng đổ trên vai các chi phái miền bắc là mầm mống gây bất mãn đến nỗi chia đôi vương quốc sau này.

3. Chuẩn bị xây dựng đền thờ (IVua 5:1-18)

Phần quan trọng trong bản tường thuật về triều đại Sa-lô-môn là một phần dài (IVua 6:1-9:9) chủ yếu dành cho công việc xây cất đền thờ tại Giê-ru-sa-lem.  Phần này được đóng khung bằng điều ghi nhận về sự giao dịch của Sa-lô-môn với Hi-ram, vua Ti-rơ (5:1-18  9:10-14).

(IVua 5:1-12). Sa--môn Hi-ram Hi-ram vua Ti-rơ trước đây cung cấp cho Đa-vít gỗ, thợ mộc, thợ nề để xây cung điện của Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem (IISa 5:11). Khi nghe Sa-lô-môn lên ngôi, Hi-ram sai sứ thần đến củng cố mối quan hệ ngoại giao thân mật giữa hai hoàng gia. Sa-lô-môn nắm lấy cơ hội này để thương lượng với Hi-ram, nhờ ông này giúp đỡ cho dự án xây dựng khác. Đã đến lúc thực hiện công tác xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem do Đức Chúa Trời giao phó (4-5).

Hy-ram được xưng danh một cách đơn giản là vua Ty-rơ, nhưng ông thật sự cai trị một vùng rộng lớn trên bờ biển Phê-ni-xi và vùng rừng núi xứ Li-ban. Ông cung cấp nhân công từ Si-đôn và Byblos (Ghê-ba 6,18).

Sa-lô-môn cung ứng lúa mì và dầu ô-liu cho triều đình Hi-ram để đổi lấy gỗ và thợ thủ công của Hi-ram. Cuộc thương lượng được thể hiện bằng một hiệp ước (12). Số lượng lúa mì cung ứng cho triều đình Hi-ram (11) không ít hơn số lượng triều đình Sa-lô-môn tiêu thụ hàng năm. Nói cách khác, dân Y-sơ-ra-ên phải đóng thuế lúa mì gấp đôi.

(IVua 5:13-18). Lực lượng lao động của Sa--môn Sau khi giải thích Sa-lô-môn làm thế nào có vật liệu xây cất đền thờ, tác giả quay sang vấn đề lực lượng lao động.  Sa-lô-môn chiêu mộ nhân công từ khắp Y-sơ-ra-ên, tổng cộng là 30.000 người (13). Chúng ta không biết cụm từ toàn cõi Y-sơ-ra-ên trong câu này mang ý nghĩa nào trong hai nghĩa trên.  Mỗi quí, các nhân công phải đi làm việc tại Li-ban một tháng. Nói cách khác, cứ mỗi năm họ phải vắng khỏi ruộng vườn bốn tháng. Thêm vào đó, trong các vùng đồi núi ngay tại đất nước, 150.000 người làm công việc đục đá, chẻ đá và vận chuyển đá. Toàn thể dự án phải mất bảy năm mới hoàn thành (IVua 6:38).

Chắc chắn tác giả nhắn gửi độc giả về tầm rộng lớn trong giai đoạn chuẩn bị của Sa-lô-môn, nhưng đối với độc giả hiện đại thì bản tường thuật để lại một ấn tượng nặng nề ngoài ý muốn của tác giả. Một mặt, chúng ta không khỏi khâm phục Sa-lô-môn ở điểm vua có thể điều động một lực lượng lao động to tát đến thế, rồi lại còn thu cho được thuế để có đủ mà trả công cho người Phê-ni-xi. Mặt khác, chúng ta cũng không thể không nghĩ đến con số khổng lồ của công sức lao động và số lượng hoa màu cần sản xuất đương nhiên đè nặng trên dân chúng.

4. Xây dựng đền thờ (IVua 6:1-7:51)

(IVua 6:1-37) Xây dựng Chương này được bố cục theo dạng đối xứng rõ ràng, trong đó phần thứ hai coi như hình ảnh của phần thứ nhất. Chương này đặt Lời của Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn ở giữa chương để nhấn mạnh tầm quan trọng của Lời Đức Chúa Trời: A1 xác định thời gian (1) B1 Mô tả cấu trúc cơ bản của đền thờ (2-10) C Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn (11-13) B2 Mô tả phần trang trí nội thất (14-36) A2 xác định thời gian (37-38).

Tuy nhiên, chương này chưa có phần sắm sửa vật dụng cho đền thờ là chuyện đương nhiên phải có. Tác giả viết về việc đó sau khi tường thuật về việc xây dựng cung điện của vua Sa-lô-môn (IVua 7:13-51). Dưới đây là lý do khiến tác giả sắp xếp các phần tường thuật theo một trật tự khá lạ lùng như vậy.

Trong phần xác định thời gian khởi công, tác giả cho biết ngày khởi công xây dựng trong tương quan với thời trị vì của Sa-lô-môn và trong tương quan với thời gian trôi qua kể từ khi ra khỏi Ai-cập. Có lẽ có hai lý do chính. Trước hết câu này gợi ý cho một sự so sánh giữa hai biến cố câu này ám chỉ việc xây dựng đền thờ có tầm mức quan trọng như việc khai sinh ra dân tộc. Thứ hai, khi đặt dự án xây đền thờ trong mạch văn nói về lịch sử, câu này nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thực hiện các mục đích của Ngài trong lịch sử và chương trình của Ngài là chương trình lâu dài. Lời Ngài hứa ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi sẽ chọn ... đặt Danh Ngài tại nơi Ngài ngự’ (Phu 12:5) phải trải qua nhiều thế hệ mới hoàn thành.

Phần mô tả đền thờ và sự trang trí chứa nhiều điểm khó cho độc giả hiện đại. Một số từ ngữ chuyên ngành kiến trúc không dễ phiên dịch và nhiều chi tiết khó hình dung ra được.  Thật đáng tiếc vì bản văn truyền lại không có sơ đồ mặt bằng, sơ đồ mặt cắt đứng và những bút tích của hoạ sĩ.

Câu 2-10 mô tả về cấu trúc cơ bản của đền thờ, cấu trúc có hình khối chữ nhật, trục chính trổ hướng đông tây. Phần chính của đền thờ dài khoảng 90 bộ (27 mét) rộng 30 bộ (9 mét) và cao 45 bộ (13,5 mét), gồm có nơi thánh (đại sảnh, bản RSV dịch là gian giữa) và nội sảnh (còn gọi là nơi chí thánh 16). Tiền sảnh hoặc gian ngoài (hiên trước) cũng rộng bằng phần chính của đền thờ và dài hơn 15 bộ (4,5 mét). Chung quanh đền thờ dựa vào tường (trừ tiền sảnh ra) có dãy nhà ba tầng gồm nhiều phòng, cao đến lưng chừng tường của đền thờ.  Có cổng ra vào riêng cho các phòng này trổ bên hông phía nam và các phòng này không thông với phần bên trong đền thờ.  Không thấy chép về công dụng của các căn phòng này. Có thể các phòng này dùng để cất áo lễ và các lễ vật, cũng có thể làm nơi ở cho các thầy tế lễ trực phiên. Ánh sáng chiếu vào đền thờ qua các cửa sổ bố trí ở nửa trên của vách tường, phần tường phía trên mái của các căn phòng bên ngoài đền thờ. Mái đền thờ lợp ván gỗ bá hương gác trên đà gỗ.

Các tảng đá dùng để xây đền thờ đều được đục đẽo đúng kích thước tại nơi khai thác đá để không phải sử dụng các dụng cụ bằng sắt tại công trường xây dựng (7). Khi đặt chi tiết lạ lẫm này xen vào phần mô tả các căn phòng bên ngoài, tác giả muốn cho chúng ta biết công trình được thực hiện theo đúng mệnh lệnh trong Xu 20:25 (so sánh Phu 27:5-6).  Thực sự mệnh lệnh này liên quan đến việc lập bàn thờ. Luật lệ quy định là chỉ dùng đá chưa đục đẽo (nghĩa là đá còn nguyên dạng tự nhiên như thể khi xây bức tường bằng đá mà không cần dùng vữa). Nhân công của Sa-lô-môn xây đền thờ, chớ không xây bàn thờ, cho nên họ được tự do đục đẽo và mài đá. Nhưng họ làm việc với tinh thần tôn trọng luật cấm sử dụng các dụng cụ, và không dụng cụ nào được sử dụng trên công trường xây dựng đền thờ.

Mặt tường đá bên trong đền thờ được ốp một lớp ván gỗ tường và trần nhà ốp bằng ván bá hương, còn sàn nhà lót bằng ván tùng (15). Chắc là sàn trong nơi chí thánh được nâng cao lên hoặc trần được hạ thấp (hoặc cả hai) để giảm chiều cao từ 30 xuống còn 20 cu-bít (khoảng 30 bộ hoặc 9 mét) vì nơi chí thánh là một phòng hình khối vuông (20). Các tấm ván ốp tường đều được chạm bông hoa và hình trái dưa toàn bộ tường, trần nhà và sàn nhà đều được giát vàng bàn thờ bằng gỗ bá hương và các chê-ru-bin khổng lồ bằng gỗ ô-liu trong nơi chí thánh cũng giát vàng. Có thể các chê-ru-bin này giống như các tượng sphinx có cánh quen thuộc trong nghệ thuật vùng Cận Đông thời thượng cổ. Các tượng loại này của người Phê-ni-xi, có đầu người, mình súc vật, bốn chân, hai cánh. Có lẽ đám thợ người Phe-ni-xi làm cho Sa-lô-môn đã tạc ra những chê-ru-bin rất giống với các tượng đó. Chung quanh tường cũng chạm nổi hình chê-ru-bin, cây chà la và bông hoa (29).

Vàng được dùng để giát lên mọi thứ tưởng chừng là chuyện khác thường, nhưng thực ra là cách trang trí bình thường các đền trong vùng Cận Đông xưa. Các họa tiết dùng trang trí cho đền thờ của Sa-lô-môn (trái dưa, hoa nở, cây chà là và chê-ru-bin) chẳng qua cũng là một dạng nghệ thuật vùng Cận Đông thời cổ. Một số đền đài do khảo cổ đào bới được, ngay cả sơ đồ mặt bằng, cũng tương tự như vậy. Về mục đích thì đền thờ của Sa-lô-môn có một mục đích sử dụng duy nhất khác hẳn các đền khác, nhưng về mặt kiến trúc thì không. Dạng kiến trúc và trang trí mỹ thuật của đền thờ phản ánh phong thái của thời đại bấy giờ. Đây là thí dụ đáng chú ý về sự vận dụng sắc thái của một nền văn hóa thịnh hành đương thời vào việc thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Trời.

Những hình ảnh trang trí nội thất của đền thờ coi như vi phạm điều răn thứ hai cấm tạc tượng trên trời cao, hoặc dưới đất (Xu 20:4). Có lẽ họ hiểu điều răn chỉ cấm tạc tượng khi tượng đó có nguy cơ trở thành đối tượng thờ phượng, và họ cho mối nguy này đã bị loại một khi đền thờ được biệt riêng để thờ phượng một mình Đức Giê-hô-va mà thôi.

Sau khi mô tả nơi chí thánh (16,19-21,22b-28) bản tường thuật mô tả gian bên ngoài một lần nữa.  Trước hết là các cửa ngăn nơi chí thánh, sau đó là các cửa ngăn giữa phòng đại sảnh và tiền sảnh. Cuối cùng, bản tường thuật đưa chúng ta ra ngoài đến với sân bên trong đền thờ (36), từ ngữ này tối nghĩa, có thể ám chỉ đến khu vực xung quanh đền thờ. Bản tường thuật kết thúc bằng phần xác định thứ hai về thời gian. Câu này nhắc cho chúng ta nhớ đền thờ khởi công từ lúc nào và hoàn thành khi nào, và cho chúng ta biết thời gian hoàn tất công trình.

Chúng ta chưa bàn đến Lời Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn nằm giữa phần ký thuật này (11-13). Lời phán này có liên quan đến đền thờ ngươi đang xây dựng, ngoài ra không nói đến đền thờ nữa. Vậy thì lời này có mục đích gì? Lời hứa của Đức Chúa Trời? Lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Đa-vít có điều kiện. Vua đã xác nhận điều đó trong IVua 2:4. Bây giờ chính Đức Chúa Trời nhắc lại với lời lẽ liên hệ đến công trình xây đền thờ. Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, nếu Sa-lô-môn bước theo các luật lệ và vâng theo mọi điều răn của Ngài. Nói cách khác công trình xây dựng đền thờ không bảo đảm được chuyện Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên. Không ai co thể ép Đức Chúa Trời ngự trong một cái hộp được, dù cái hộp đó có uy nghi lộng lẫy đến đâu. Sự hiện diện của Ngài tuỳ thuộc vào lòng vâng phục, nhất là lòng vâng phục của Sa-lô-môn trong lúc này. Các câu này hoàn toàn không phê bình công trình xây dựng đền thờ, mà chỉ đặt công trình này vào đúng triển vọng của nó bằng cách nhấn mạnh đến vấn đề lớn hơn. Đó là lòng vâng phục.

(IVua 7:1-12). Cung điện Sa--môn Phần tường thuật công việc xây dựng cung điện Sa-lô-môn chia phần tường thuật xây dựng đền thờ và trang bị nội thất thành hai phần dài bằng nhau. Đền thờ được xây dựng trước, tiếp đến là cung điện (6:37-7:1  9:10). Có thể đặt phần tường thuật công cuộc xây dựng cung điện sau phần dâng hiến đền thờ trong chương 8.  Nhưng có một lý do đặc biệt khiến tác giả phải đặt ở đây.

Ngay sau câu chép về đền thờ được xây dựng trong bảy năm (6:38) là câu chép cho biết Sa-lô-môn xây dựng cung điện mất mười ba năm (nguyên văn là nhà riêng). Theo bản tiếng Hi-bá-lai, cụm từ nhà riêng xuất hiện hai lần trong 7:1, làm nổi bật vấn đề ông xao lãng nhà (đền thơ) Đức Giê-hô-va (6:37). Đến đây phải chăng có ngụ ý phê bình chuyện Sa-lô-môn xây nhà riêng của ông trong thời gian dài gấp đôi thời gian xây nhà cho Đức Chúa Trời không?  Rất có thể có, nhưng mục đích chính của khúc này hướng về phía khác.

Đa-vít xây cung điện tại Giê-ru-sa-lem bằng vật liệu do Hi-ram xứ Ti-rơ cung cấp (IISa 5:11). Nhưng Sa-lô-môn cần cung điện vĩ đại hơn. Câu 2-8 đề cập đến năm điện khác nhau: Dinh Rừng Li-ban, Dinh Hàng Cột Dinh đặt Ngai vàng (còn gọi là Hiên xét đoán, ngai của vua cũng gọi là ngai xét đoán, nhấn mạnh rằng người cai trị chính là người thi hành công lý), dinh thự riêng của Sa-lô-môn và dinh thự riêng của con gái Pha-ra-ôn. (Vì bà là người vợ duy nhất có dinh thự nằm trong liên hợp này nên ngầm hiểu rằng bà là vợ chính của Sa-lô-môn. Hơn nữa, bà được nhắc đến thường xuyên, IVua 3:1  9:16,24  11:1).

Chúng ta không rõ các dinh thự này có nối kết với nhau như thế nào. Có thể các dinh thự này kết hợp lại thành một liên hợp duy nhất, vì tất cả đều được gọi là nhà riêng của vua trong câu 1. Rõ ràng liên hợp cung điện nằm sát bên đền thờ, có một lối thông qua đền thờ (so sánh IIVua 16:18). Chúng ta không biết kích thước của các dinh thự này, nhưng rõ ràng là chỉ một mình Dinh Rừng Li-ban cũng đã lớn hơn đền thờ (2). Do đó, toàn bộ cung điện liên hợp đã khiến cho đền thờ hoá ra nhỏ bé. Vào thời Chúa Giê-xu, đền thờ đồ sộ do Hê-rốt đại đế xây lên vươn cao trên Giê-ru-sa-lem, nhưng vào thời trước lưu đày, cung vua chắc là dinh thự nguy nga đồ sộ nhất trong thành. Có thể đây là lý do tác giả mô tả cung điện của Sa-lô-môn ở đây. Về mặt kiến trúc thì cung điện làm cho đền thờ hoá ra nhỏ bé nhưng trong phần tường thuật công cuộc xây dựng tác giả dùng những đoạn dài mô tả về đền thờ và trang thiết bị trong đền thờ để đóng khung đoạn mô tả về cung điện khiến cho phần này hoá ra ngắn ngủi. Theo lối nghĩ của tác giả thì bằng cách đó ông khôi phục lại một trật tự hợp lý, vì đền thờ mới thật là trung tâm của thủ đô và của đất nước.

(IVua 7:13-47). Trang thiết bị trong đền thờ: Công trình của Hi-ram, thợ đồng Một người trùng tên với vua Ti-rơ, cha là người Phê-ni-xi và mẹ là người Y-sơ-ra-ên, được vời từ Ti-rơ đến Giê-ru-sa-lem để chế tạo các vật dụng bằng đồng cho đền thờ. Tài năng xuất chúng của ông được đề cập ngay từ đầu và được minh chứng qua các vật dụng do ông chế tạo. Như trong phần mô tả về đền thờ, phần này cũng có nhiều chi tiết mường tượng.

Ở vài mức độ nào đó, công trình của Hi-ram có thể sánh với công trình của Bết-sa-lê-ên đối với đền tạm (Xu 36:1-38:31) và chắc chắn tác giả muốn chúng ta lưu ý đến bình diện cao hơn giữa công tác kiến thiết đền tạm và đền thờ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đích thân chỉ thị việc dựng đền tạm trong từng chi tiết (25:1-27:21, nhất là 25:9), nhưng ở đây không nói gì về ý của Đức Chúa Trời đối với công cuộc xây dựng đền thờ và sự chế tạo trang thiết bị của đền thờ.

Không rõ hai cây trụ lớn có mục đích gì (cao khoảng 17 bộ hoặc 8 mét). Chúng không chống đỡ một vật gì mà đứng riêng rẽ ngay trước tiền sảnh của đền thờ.  Đỉnh cột được trang trí giống như hình hoa huệ rất công phu. Hai cột này có tên là Gia-kin và Bô-ách, không rõ có nghĩa gì. Nhưng theo giả thuyết đáng tin cậy nhất, chúng ta biết đây là hai chữ mở đầu trên bảng khắc. Căn cứ vào các thành ngữ khác trong Thi Thiên, chúng ta có thể suy đoán hai câu này được đọc đầy đủ như sau : ‘Gia-vê sẽ lập (Gia-kin) ngai Ngài mãi mãi’ và ‘Nhờ sức mạnh (Bô-a) của Gia-vê, vua sẽ vui mừng.’  Nếu điều này là đúng thì hai cột này kỷ niệm lời Đức Chúa Trời hứa với triều đại Đa-vít. Về sau trong sách Các Vua có những chỗ ngụ ý rằng khi lên ngai, vua đứng bên cạnh một trong hai cột này để cam kết giữ luật lệ của Đức Chúa Trời (IIVua 11:14  23:3).

Thành công gây ấn tượng nhất của Hi-ram về mặt kỹ thuật có lẽ là cái chậu khổng lồ bằng đồng, đường kính khoảng 15 bộ (4,5 mét), còn gọi là biển. Chậu này nằm trên mười hai con bò xếp thành bốn nhóm, mỗi nhóm ba con. Mỗi nhóm quay mặt về một hướng chính. Theo IISu 4:6, công dụng của chậu là chứa nước để các thầy tế lễ thực hiện tắm rửa theo nghi thức nhưng kích thước, kiểu mẫu cũng như tên của chậu có tính cách biểu tượng cũng như có tính cách thực dụng. Cũng như quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời bộc lộ qua quyền năng ngăn chận biển cả, biểu tượng cho sự hổn loạn (xem bức tranh sống động được mô tả bằng ngôn từ trong Giop 38:8-11), thì cũng thế, cái chậu khổng lồ này biểu thị quyền năng gìn giữ trật tự sáng tạo của Ngài và quyền năng cai trị các thế lực hổn loạn đe dọa cõi sáng tạo của Ngài.

Hi-ram còn làm mười cái giá di chuyển được, trang trí chung quanh bằng hình sư tử, bò và chê-ru-bin. Ông cũng làm mười cái thùng có thể di chuyển được và đặt trên giá. Các thùng này cũng dùng vào việc tắm rửa theo nghi thức, vị trí các thùng được đề cập chung với vị trí  của biển (39) gợi cho chúng ta hiểu các thùng này được dùng chung với biển.

Câu 40-45 tóm tắt công trình của Hi-ram, có thêm vài vật dụng không đáng mô tả chi tiết (chảo, xẻng và thùng nhỏ). Câu 46 gợi ý về cách Hi-ram áp dụng để đúc những tác phẩm của ông. Phân đoạn này kết thúc bằng cách nhấn mạnh một lần nữa về thành tựu tuyệt vời của Hi-ram: không xác định được trọng lượng của các vật dụng bằng đồng này, bởi vì nhiều quá.

(IVua 7:48-51).  Vật dụng trong đền thờ: Khí dụng bằng vàng Bản liệt kê các vật dụng bằng vàng do Sa-lô-môn làm cho đền thờ (48-50) rất giống với bản tóm lược công trình của Hi-ram trong cậu 40-45.  Làm như đây là một bản tóm lược tương tự nhưng không có phần chiết tính chi tiết dẫn nhập. Không nêu rõ tên thợ, trừ trường hợp tác giả muốn chúng ta hiểu rằng chính bàn tay Sa-lô-môn đích thân chế tạo các vật dụng này (chắc chắn không phải). Sa-lô-môn cũng đóng góp cho đền thờ số vàng bạc Đa-vít dâng cho đền thờ khi trước. Số vàng này được cất giữ trong kho tàng đền thờ (có lẽ trong các căn phòng bên ngoài) dù mục đích sử dụng số vàng bạc này không rõ. Trong dòng lịch sử nối tiếp của Giê-ru-sa-lem, kho tàng này là nơi cung cấp vật triều cống cho các vua ngoại bang.

5. Khánh thành đền thờ (IVua 8:1-66)

Chương dài này được chia một cách tự nhiên làm bảy phần. ư Giống như dạng bố cục tương ứng trong chương 6, chương này đặt lời cầu nguyện của Sa-lô-môn ở phần giữa bài tường thuật làm trọng tâm cho đoạn này: A1 Nhập đề và triệu tập hội chúng (1-2) B1 Đặt hòm giao ước, dâng lễ vật (3-13) C1 Sa-lô-môn nói đôi lời với hội chúng (14-21) D Sa-lô-môn cầu nguyện (22-53) C2 Sa-lô-môn nói đôi lời với hội chúng (54-61) B2 Dâng của lễ (62-64) A2 Kết và giải tán hội chúng (65-66).

(IVua 8:1-2). Nhập đề triệu tập hội chúng Một hội đồng đông đảo đại diện cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên triệu tập để khánh thành đền thờ, bắt đầu là nghi lễ đặt hòm giao ước trong nơi chí thánh. Thời gian là một dịp lễ trong tháng bảy, có lẽ lắm là Lễ Lều Tạm kéo dài trong bảy ngày như mô tả trong đoạn này (65 so sánh Le 23:33-43).

(IVua 8:3-13). Đặt hòm giao ước Hòm được thỉnh tại nơi ngụ tại khu Giê-ru-sa-lem cổ, còn gọi là thành Đa-vít (1) để phân biệt với hoàng cung mới và khu vực đền thờ do Sa-lô-môn cho xây dựng về hướng bắc. Lâu nay hòm giao ước được đặt ‘trong trại Đa-vít dựng’ (IISa 6:17), thành ngữ này gợi cho chúng ta hiểu trại này không phải là đền tạm.  Đền tạm do Môi-se dựng nên là một di tích cổ của Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ lưu lạc trong đồng vắng, được đem về đền thờ chung với hòm giao ước. Cuộc thỉnh hòm giao ước đến đền thờ, kèm theo sự dâng của lễ gợi cho chúng ta nhớ lại chuyện Đa-vít thỉnh hòm về Giê-ru-sa-lem lúc đầu (6:12-19). Nhưng lần này mọi sự diễn ra ở tầm mức to tát hơn. Nơi hòm ngự không phải là cái trại nữa, mà là đền thờ nguy nga, và của lễ gồm có vô số chiên bò (5)

Cuối cùng hòm giao ước được đặt trong nơi chí thánh. Theo tác giả thì hòm chỉ đựng hai bảng đá khắc Mười Điều Răn, nhưng theo He 9:4, thì hòm còn đựng nhiều di vật khác nữa (so sánh Xu 16:32-33  Dan 17:8-10). Tuy nhiên, tầm quan trọng của hòm không phải ở chuyện hòm chứa đựng gì, mà là sự kiện hòm tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời, hoặc chính xác hơn hòm tượng trưng cho sự hiện diện của sự vinh quang của Đức Chúa Trời với dân chúng.  Do đó, trong thời Sa-mu-ên, khi hòm mất vào tay dân Phi-li-tin có người đã than rằng: ‘Vinh hiển đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên’ (ISa 4:21-22) và tác giả Thi Thiên ghi lại biến cố này khi ông nói ràng Đức Chúa Trời: ‘Nộp sự vinh hiển của Ngài trong tay cừu địch’ (Thi 78:61 bản RSV).

Mối liên hệ giữa hòm giao ước và sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời cũng rõ ràng trong đoạn này. Sau khi các thầy tế lễ khiêng hòm, đặt vào nơi chí thánh và bước ra, thì sự vinh quang của Đức Chúa Trời hiện ra trông như một đám mây, đầy dẫy đền thờ đến nỗi các thầy tế lễ không thể phụng sự được (10-11). Sự kiện này nhắc chúng ta nhớ lại chuyện Môi-se dựng đền tạm làm nơi ngự cho hòm giao ước: ‘Áng mây bao phủ hội mạc và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm đến nỗi Môi-se không bước vào hội mạc được ...’ (Xu 40:34-35).  Trong cả hai trường hợp, hiện tượng xảy ra là dấu chứng cho biết Đức Chúa Trời công nhận và chấp thuận mọi việc đã được thực hiện dấu chứng đó là sự vinh quang của Đức Chúa Trời chiếm ngự đền thờ.  Nhưng Đức Chúa Trời chủ tể không giới hạn trong đền thờ. Ngay trước khi Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị thiêu huỷ, tiên tri Ê-xê-chi-ên nhìn thấy khải tượng ‘vinh hiển của Đức Giê-hô-va’ lìa khỏi Giê-ru-sa-lem vì tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên (Exe 11:23). Về sau khải tượng này được bổ túc bằng một khải tượng nữa về sự vinh quang của Đức Chúa Trời trở lại ngự trong đền thờ được khôi phục trong tương lai (43:4).

Bây giờ chúng ta có thể hiểu rõ hơn về ý nghĩa của chê-ru-bin có cánh xoè ra.  Lúc đầu khi hòm mới được chế tạo ra, các chê-ru-bin này được làm theo kích cỡ nhỏ hơn cho phù hợp với mặt hòm. Đức Chúa Trời hiện diện ở giữa hai chê-ru-bin mà phán  bảo với Môi-se (Xu 25:18-22). Dường như các chê-ru-bin của Sa-lô-môn thay thế các chê-ru-bin đầu tiên biểu thị nơi ngự của sự ‘vinh quang’ của Đức Giê-hô-va. Về sau Ê-xê-chia cũng nói rằng Đức Chúa Trời ‘ngự giữa các chê-ru-bin’ (IIVua 19:15).

Khi thấy đám mây hiện ra, Sa-lô-môn dâng lời cầu nguyện cung hiến ngắn theo thể văn vần. Câu thơ đầu trong bản RSV (‘Đức Giê-hô-va đã đặt mặt trời trên các từng trời’) là câu dịch từ bản tiếng Hy-lạp và không có trong bản tiếng Hi-bá-lai bản NIV bỏ câu này. Nếu chúng ta coi câu này có trong bản gốc, thì câu này nói lên hai điều. Thứ nhất, câu này công bố Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo mặt trời, nên Ngài có quyền trên mặt trời (đây là lời khẳng định quan trọng vì đời xưa nhiều xã hội thờ mặt trời).  Thứ hai, câu này tương phản với câu kế, cho biết mặc dù Ngài dựng nên ánh sáng, nhưng Ngài thích giấu mình trong bóng tối và mây mù mịt. Câu này và câu 13 liên kết với nhau không mạch lạc cho lắm. Có thể Sa-lô-môn bày tỏ lòng ao ước Đức Chúa Trời sẽ ngự trong đền thờ nguy nga của Ngài mãi mãi, cho dù Ngài thích bóng tối mù mịt hơn hoặc có thể ông nói rằng đền thờ xứng hợp với Đức Chúa Trời là Đấng ưa ẩn mình. Nhưng cả hai lối giải thích không phù hợp với quan niệm về đền thờ trong bài cầu nguyện dài tiếp theo, nên chúng ta đơn giản thừa nhận mình không hiểu ý nghĩa câu đó.

(IVua 8:14-21). Sa--môn nói chuyện với hội chúng Sa-lô-môn quay mặt khỏi đền thờ để đối diện với đám đông khổng lồ.  Có lẽ toàn bộ lời chúc phước của Sa-lô-môn (14)  được chép từ câu 15 đến câu 21. Thực ra, ông bắt đầu nói: ‘Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va ...’ đây là cách ca ngợi những điều Đức Chúa Trời đã làm, tức là Ngài đã ‘dùng bàn tay Ngài làm ứng nghiệm lời miệng Ngài phán ra’ (dịch gần sát với thành ngữ trong câu 15). Nói cách khác, Đức Chúa Trời chứng tỏ lời Ngài là hoàn toàn đáng tin cậy.  Phần còn lại bàn rộng về điều này, tóm tắt lời Đức Chúa Trời phán với Đa-vít qua Na-than về một con trai lên ngôi kế vị vua và xây đền thờ (IISa 7:12-13). Sa-lô-môn tuyên bố rằng nay đã đến lúc điều đó được ứng nghiệm (20). Mặc dù Sa-lô-môn nói nhiều về thành quả của mình (‘Tôi nối ngôi Đa-vít ... tôi ngồi trên ngôi ... tôi xây đền thờ ... tôi chuẩn bị một nơi ...’) nhưng ông công nhận rằng đây là việc làm của Đức Chúa Trời, vì mọi sự xảy đến như lời Ngài hứa. Đến đây chúng ta thấy nổ lực của con người và quyền chủ tể thiêng liêng đan dệt vào nhau cách tài tình.

Bài diễn văn đưa ra một ý niệm mới về đền thờ. Đền thờ vừa là nơi đặt hòm giao ước (21) cũng vừa là ‘nhà dành cho Danh của Đức Giê-hô-va’ (17,20 dịch sát nghĩa với các thành ngữ trong câu 16, 18-19). Ý tưởng này rất quan trọng trong lời cầu nguyện tiếp theo.

(IVua 8:22-53). Lời cầu nguyện của Sa--môn Với tư thế mới trước bàn thờ và giang hai tay lên trời, Sa-lô-môn ngầm thông báo rằng tiết mục khác bắt đầu.  Mở đầu lời cầu nguyện (22-26) vua nhắc lại Phu 7:9 về sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với giao ước, nhất là đối với Đa-vít. Nắm lấy lời của Đức Chúa Trời hứa rằng triều đại Đa-vít không bao giờ chấm dứt, ông cầu xin cho lời hứa này được thành tựu. Đồng thời ông cũng công nhận rằng lời hứa còn tuỳ thuộc vào hành vi của con cháu Đa-vít.

Nhưng đền thờ là chủ đề đích thực của bài cầu nguyện này và Sa-lô-môn nói về chủ đề đó trong câu 27-30. Ông công nhận ông thật là phi lý khi giả sử rằng Đức Giê-hô-va có thể cư ngụ trên đất (27) vì tầng trời cao nhất cũng không đủ chỗ chứa Ngài.  Chắc chắn Sa-lô-môn không ảo tưởng cho rằng dầu sao Đức Giê-hô-va cũng ở trong đền do ông xây. Vì thế, ông không cầu xin Đức Chúa Trời ngự trong đền thờ, nhưng đúng hơn ông cầu xin Đức Chúa Trời lắng nghe lời cầu nguyện nào hướng về đền thờ. Đức Chúa Trời vẫn ở ‘trên trời, nơi ở của Ngài’ (30), nhưng Ngài nhận ra các lời cầu nguyện của vua và dân sự xin trong đền thờ. Nói cách khác, Sa-lô-môn cầu xin cho đền thờ được làm nơi gặp gỡ giữa nhu cầu của con người và lòng thương xót thiêng liêng. Tất cả điều này có vẻ gói gọn trong ý niệm cho rằng Danh Đức Chúa Trời ngự trong đền thờ, một chủ đề bất chợt xuất hiện trong câu 29. Vì thế quan niệm cho rằng Danh Đức Chúa Trời ngự tại một nơi (12:5 v.v...) là cách diễn tả Đức Chúa Trời hiện diện theo một ý nghĩa đặc biệt, nhưng không gợi lên hình ảnh Ngài bị giới hạn và bị gò ép. Quan niệm này có liên hệ chặt chẽ với quan niệm về ‘vinh quang’ của Đức Chúa Trời trong tương quan giao ước.

Một số ý tưởng trong đoạn này thành hình trong Chúa Giê-xu trong thời Tân Ước.  Trong Chúa Giê-xu Đức Chúa Trời thật sự ngự trên trái đất (Gi 1:14). Trong Chúa Giê-xu ‘Danh’ Đức Chúa Trời được mọi người biết (17:6,26), và Ngài công bố chính Ngài là ‘đền thờ’ thật và là đền thờ cuối cùng (2:19-22). Trong Ngài, lòng thương xót thiêng liêng đáp ứng nhu cầu của con người cách sâu xa nhất.

Phân đoạn kế tiếp (31-51) gồm bảy lời cầu xin về trường hợp cụ thể trong sinh hoạt của cá nhân hoặc của dân tộc. Các trường hợp cụ thể là: những lời thề trước bàn thờ (31-32) bị quân thù đánh bại (33-34) hạn hán (35-36) đói kém, nạn dịch (37-40) nhu cầu của khách lạ trong xứ (41-43) ra chiến trận (44-45) và làm phu tù (46-51).

Lời khẩn nài thứ nhất và thứ năm liên quan đến cá nhân, trong khi các lời khẩn nài còn lại liên quan đến quốc gia. Tất cả những lời khẩn nài thứ hai, ba, bốn, bảy đều liên quan đến nhu cầu được tha thứ và phục hồi.

Đưa ra bảy thí dụ cụ thể về trường hợp dân chúng hướng về đền thờ mà cầu xin có mục đích gì? Chúng ta phải để ý đến ý nghĩa của con số bảy trong suốt Cựu Ước dường như con số bảy biểu thị sự trọn vẹn, đầy đủ, hoàn toàn. (Con số bảy đóng vai trò quan trọng trong chương này: đền thờ xây cất trong bảy năm, Lễ khánh thành đền thờ diễn ra trong tháng thứ bảy trong buổi lễ kéo dài bảy ngày). Vậy thì có lẽ bảy trường hợp này đủ để bao gồm cho các tình cảnh khiến các cá nhân và dân tộc phải khẩn xin.  Kể cả các trường hợp bất thường.

Độc giả của sách Các Vua thời đầu tiên không khỏi để ý đến lời khẩn nài cuối cùng, dài nhất có liên quan đến tình cảnh riêng của họ: làm phu tù trong một nước ngoại bang (46-51). Lời khẩn nài này thúc giục họ ăn năn và cho họ niềm hi vọng về sự tha thứ của Đức Chúa Trời và về lòng thương xót của những người bắt họ. Tuy nhiên, không có lời hứa hồi hương hoặc phục hồi, cũng nhắc đến việc duy trì và bảo toàn triều đại Đa-vít.  Vua có nhắc đến biến cố Đức Chúa Trời đem họ ra khỏi Ai-cập, ra khỏi lò nấu sắt (51). Đó là chi tiết khơi gợi một tia hi vọng nhỏ nhoi về sự hồi hương. Sự kiện này được nhắc đến như là nền tảng để được Đức Chúa Trời tha thứ.  Nhưng chắc cũng đã khơi dậy nơi những người phu tù đôi chút hi vọng rằng biết đâu một ngày kia Đức Chúa Trời cũng sẽ hành động tương tự như vậy một lần nữa.

Lời khẩn nài cuối cùng bắt đầu bằng sự thừa nhận rằng không có ai mà không phạm tội (46). Vì vấn đề này bao gồm cả Sa-lô-môn và con cháu ông, nên cụm từ hàm chứa một ý là: lưu đày kể như không thể tránh khỏi, vì một triều đại của các vua bất toàn thì làm sao hi vọng có thể sống đúng như Đức Chúa Trời đời hỏi được chứ?

Sa-lô-môn kết thúc lời cầu nguyện với lời cầu xin tổng quát hơn, tức là cầu xin Đức Chúa Trời luôn luôn nghe lời cầu xin của vua cũng như của dân sự. Lý do khiến ông tin tưởng cầu xin là: trong mọi dân tộc, họ được Đức Chúa Trời kêu gọi để làm dân riêng của Ngài. Những việc làm của Đức Chúa Trời trong quá khứ, nhất là những việc bày tỏ rõ ràng mục đích của Ngài là nền tảng cho dân sự tin tưởng Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ lòng thương xót của Ngài ra trong hiện tại và tương lai.

(IVua 8:54-61). Sa--môn nói chuyện với hội chúng lần nữa Sau đó Sa-lô-môn quay lại chúc phước cho dân sự một lần nữa.  Vua nhắc cho họ nhớ rằng Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm mọi lời Ngài hứa với Môi-se và vua nói Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục ở gần dân sự để binh vực lẽ phải của họ. Nhưng Sa-lô-môn không cầu mong (hoặc ít nhất không chỉ) phúc lợi cho dân sự mà thôi. Vua được cảm thúc bởi một động cơ cao cả hơn ấy là cầu mong Đức Chúa Trời được vinh hiển trên thế giới: hầu cho muôn dân trên thế giới biết rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng có ai khác (60). Nỗi niềm này cũng được bộc lộ trong lời cầu xin cho các khách lạ hướng về đền thờ mà cầu nguyện, khi họ nghe nói về Đức Chúa Trời (41-43). Cuối cùng, ông giục giã dân sự làm trọn bổn phận của họ bằng cách hoàn toàn trung thành với đường lối của Đức Chúa Trời. Nhờ dân của Đức Chúa Trời biết sẵn sàng vâng phục Đức Chúa Trời mà thế giới nhận biết bản tánh của Ngài.

(IVua 8:62-64). Lại dâng của lễ Tương xứng với một dịp lễ trọng thể như vậy, vô số súc vật được dâng làm của lễ (dường như tất cả được dâng trong một ngày). Nghi lễ này diễn ra ngay giữa sân trước đền thờ (tức là sân bên trong theo IVua 6:36) bởi vì chỉ có sân này mới đủ rộng. Điều này ngụ ý rằng Sa-lô-môn sắm vai tư tế tại đây để thánh hoá sân đền thờ và để dâng của lễ, cũng như Đa-vít đã dâng của lễ khi vua thỉnh hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem (IISa 6:17-18).

(IVua 8:65-66). Tóm tắt kết thúc buổi lễ Hội chúng đại diện cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Nhân cơ hội sơ lược biên cương phía bắc và phía nam của lãnh thổ, một lần nữa tác giả tán dương triều đại của Sa-lô-môn. Ngày thứ tám, dân sự trở về nhà mình lòng hớn hở.

6. Kết thúc cho công trình xây dựng đền thờ (IVua 9:1-14)

(IVua 9:1-9). Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu nguyện của Sa--môn Mặc dù Đức Chúa Trời phán lời này ngay sau khi khánh thành đền thờ để trả lời cho bài cầu nguyện của Sa-lô-môn, nhưng tác giả lại đặt vào thời gian mười ba năm sau tức là sau khi Sa-lô-môn xây xong đền thờ và cả cung điện nữa (IVua 9:10). Trong 6:11, tác giả đơn giản cho chúng ta biết ‘Lời Đức Chúa Trời đến với Sa-lô-môn’ (có thể qua một tiên tri), còn ở đây Đức Chúa Trời hiện ra với vua một lần nữa bằng điềm chiêm bao khải tượng như đã hiện ra với vua tại Ga-ba-ôn. Khi đề cập đến Ga-ba-ôn, tác giả nhắc chúng ta nhớ rằng giờ đây thời các nơi cao đã qua rồi, hoặc đáng lẽ phải qua rồi.

Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn rằng Ngài đã nhậm lời ông cầu nguyện và đặt Danh Ngài trong đền thờ mãi mãi một lần nữa chúng ta có thể hiểu câu này theo ý là Đức Chúa Trời quan tâm đến đền thờ (3). Tiếp theo, lời hứa có điều kiện mà Đức Chúa Trời phán với Đa-vít được lập lại lần này là lần thứ ba. Nhưng lời hứa này được nhắc lại trong bầu không khí ảm đạm nhất, vì lần này Đức Chúa Trời kể ra những việc Ngài sẽ làm nếu những điều kiện không được đáp ứng. Đức Chúa Trời báo cho Sa-lô-môn biết rằng nếu vua và dân sự (từ ngươi ở số nhiều, cũng xem c.9) lìa bỏ đường lối Ngài mà thờ lạy các thần khác, thì điều xảy ra sẽ là: họ sẽ bị đuổi khỏi xứ, thậm chí đền thờ cũng bị loại bỏ khuất khỏi mắt Ngài (7) và trở thành đống đổ nát (8). Như vậy rõ ràng lời Đức Chúa Trời hứa sẽ đặt Danh và tấm lòng của Ngài tại đền thờ mãi mãi cũng tức là cùng một loạt các điều kiện kèm theo lời hứa về một triều đại bền vững mãi mãi. Vì tác giả vạch ra những nguy cơ của sự bất vâng phục nên phần tường thuật còn lại về triều đại Sa-lô-môn coi như bị phủ một bóng đen ảm đạm.

(IVua 9:10-14). Bang giao với Hi-ram Phần tường thuật về công tác xây dựng đền thờ được mở đầu bằng những sự giao dịch giữa Sa-lô-môn và Hi-ram xứ Ti-rơ (chương 5), giờ đây cũng được kết thúc bằng những sự giao dịch của họ. Tuy nhiên, lần này giọng điệu bài tường thuật không còn tích cực lắm.  Lý do chẳng phải vì nội dung tường thuật mà là mối bang giao của hai vua đã bị biến chất. Việc Sa-lô-môn giao hai mươi thành trong xứ Ga-li-lê cho Hi-ram (để đổi lấy số vàng to lớn, 14) ngụ ý rằng với biện pháp cống thuế, Sa-lô-môn không thu đủ tiền để trả nợ.  Liệu các công trình của Sa-lô-môn có phải là hoang phí không? Hơn nữa, Hi-ram không hài lòng về những thành Sa-lô-môn đem nộp cho ông. Ông đặt tên cho vùng đó là ‘đất chẳng đáng gì’ (xem phần chú giải ngoài lề bản NIV). Điều này hàm ý là sự giàu có, thịnh vượng ở Giê-ru-sa-lem không lan được tới miền bắc của vương quốc.

7. Cao trọng và ngu dại (IVua 9:15-11:43)

(IVua 9:15-28). Các công trình xây dựng khác  Phân đoạn này liệt kê nhiều công trình xây dựng khác trong vương quốc (các trung tâm hành chánh, thành trữ lương thực và các căn cứ quân sự, tất cả được xây dựng bằng sức lao động cưỡng bức của dân ngoại bang vẫn còn sống trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên (15-23). Các cuộc thám hiểm đường biển trên Biển Đỏ cũng đóng vai trò quan trọng trong các chuyến mạo hiểm của Sa-lô-môn, có sự trợ giúp của những người Phê-ni-xi thạo biển cả. Mục tiêu của họ là Ô-phia, có lẽ nằm trong bán đảo A-ra-bi về hướng nam hoặc trên bờ biển phía đông Phi Châu (hoặc có thể cả hai). Thêm một chi tiết nữa về chuyến đi tìm vàng được chép trong IVua 10:11-12, câu này nằm xen vào phần tường thuật chuyến viếng thăm của nữ hoàng Sê-ba. Câu này gọi đoàn tàu là ‘hạm đội Hi-ram’, ngụ ý Sa-lô-môn giao phần lớn cuộc buôn bán trên Biển Đỏ cho người Phê-ni-xi. Tuy nhiên, những chuyến vượt biển này đem sự vinh hiển về cho Sa-lô-môn, cũng như vàng, đá quí và gỗ bạch đàn (loại gỗ lý tưởng để chạm trổ).

Chuyện Pha-ra-ôn đánh chiếm Ghê-xe ở đây nghe lạ tai (16). Dù Sa-lô-môn có sức mạnh quân sự (4:26) nhưng Ghê-xe (Gios 21:21) vẫn thuộc quyền kiểm soát của dân Ca-na-an cho đến chừng vua Ai-cập chiếm lấy và tặng làm quà cưới cho con gái ông lúc nàng lấy Sa-lô-môn.

(IVua 10:1-10) xem giải nghĩa IVua 9:15-28

(IVua 10:11-13) Chuyến viếng thăm của nữ hoàng -ba Trong chương này tác giả trở lại đề tài có liên quan đến sự khôn ngoan và giàu có của Sa-lô-môn. Tác giả ca tụng sự giàu có và khôn ngoan của vua đến cực điểm trước khi đề cập đến sự sa ngã ngu dại của vua. Chương này cho biết sự khôn ngoan của Sa-lô-môn được đồn ra cách rộng rãi, đạt đến tột đỉnh, và cũng cho thấy của cải của các vua chúa ngoại bang tuôn đổ đến Sa-lô-môn bằng các món quà tặng và lễ vật triều cống.

Nữ hoàng Sê-ba (ở phía nam bán đảo A-ra-bi) thực hiện một cuộc hành trình dài để thăm Sa-lô-môn vì bà nghe danh tiếng của vua và mối tương quan của vua với Danh của Đức Giê-hô-va (1). Một lối dịch thẳng thừng hơn là bà nghe ‘danh tiếng của Sa-lô-môn trong mối tương quan với Danh của Đức Giê-hô-va.’ Có thể điều này nói về đền thờ, nhưng cũng có thể gồm tóm tất cả thành tựu của Sa-lô-môn, vì ông thực hiện hoàn tất mọi sự với tư cách là vị vua được Đức Giê-hô-va bổ nhiệm và trao quyền hành. Nữ hoàng đích thân đến để chiêm ngưỡng vị vua nổi danh này và thử sức vua bằng những câu đố (từ này đúng hơn từ câu hỏi khó). Chúng ta không được biết nội dung của những câu đố đó nhưng điều quan trọng là Sa-lô-môn đã có thể trả lời tất cả các câu đố, ông hoàn toàn giải đáp thoả đáng cho bà. Bà cũng hết sức kinh ngạc trước sự giàu sang của hoàng cung, trước ngôi nhà mà vua ‘xây’ (nghĩa đen, tức là cung điện của vua như bản NIV đã dịch, hoặc đền thờ?) Sau khi ca tụng vua hết lời, bà tặng vua vàng, hương liệu và đá quý. Như vậy số của cải lớn lao của Sa-lô-môn lại tăng lên đáng kể.

Phần bình giải câu 12, xin đọc IVua 9:26-28.

(IVua 10:14-29) Thí dụ cụ thể về danh tiếng sự giàu sang Tác giả kể tổng quát số vàng thu nhập của Sa-lô-môn, nhưng chúng ta biết nữ hoàng Sê-ba không phải là vị vua chúa duy nhất ơ vùng A-ra-bi dâng tặng của cải cho Sa-lô-môn vua nhận vàng của tất cả các vua xứ A-ra-bi (15). Đế quốc Sa-lô-môn nằm ở vị trí thuận lợi đến nỗi vua kiểm soát các tuyến đường thương mại chính từ bán đảo A-ra-bi đi về hướng bắc, nên phần nhiều của cải bằng vàng của vua bắt nguồn từ sự kiện này. Các thương gia người A-ra-bi bị buộc phải buôn bán trực tiếp với Sa-lô-môn hoặc phải đóng thuế để được đi buôn bán xa hơn về hướng bắc. Chúng ta có thể đoán rằng trong những điều nữ hoàng cầu xin Sa-lô-môn (13) có các thoả ước thương mại thuận lợi.

Để chứng tỏ vàng trở nên thông dụng biết là dường nào trong thời trị vì của Sa-lô-môn, tác giả kể về năm trăm cái khiên bằng vàng dùng để trang trí, ông tả cái ngai của vua được chạm trỗ và trang trí cách công phu rồi được giát vàng. Ông cũng kể về các vật dụng trong cung điện của vua toàn bằng vàng. Hơn nữa, các đoàn thương thuyền do Sa-lô-môn và Hi-ram tổ chức và thực hiện mỗi chuyến đi về hết ba năm, đem về vàng, ngà voi và thú vật lạ từ các nước khác.

Câu 23-25 tóm tắt cho chúng ta biết về danh tiếng và sự thông sáng của Sa-lô-môn trong thế giới thời xưa. Ở đây chúng ta biết nữ hoàng Sê-ba chỉ là một trong số nhiều khách nước ngoài đến thăm triều đình Sa-lô-môn. Họ đến để nghe tận tai sự khôn ngoan của vua và tặng vua nhiều lễ vật (dĩ nhiên có cả vàng bạc nữa).

Cuối cùng Sa-lô-môn cho nhập cảng ngựa và xe, vua xuất cảng xe qua các nước phía bắc của vương quốc kinh tế của vua, còn vua nuôi ngựa và dự trữ sẵn xe để sử dụng (26).

Tác giả đan dệt các mẫu tin này lại thành một tấm thảm vô cùng sâu sắc. Nhưng tác phẩm này còn có một sợi chỉ khác.  Toàn thể phân đoạn này có ẩn một ý phê bình hầu như khó lòng nhận thấy! Phu 17:1-20 quy định rõ ràng về nếp sinh hoạt của vua chúa Y-sơ-ra-ên. ‘Người chẳng nên thâu góp nhiều bạc vàng’ (17:17), nhưng Sa-lô-môn đã thâu chứa. ‘Vua ấy chẳng nên lo cho có nhiều ngựa, chớ vì muốn thêm nhiều ngựa mà dẫn dân sự trở lại Ê-díp-tô.’ (17:16).  Chắc chắn Sa-lô-môn đã thâu chứa vàng bạc cũng như kiếm nhiều ngựa, vì vua nhập cảng ngựa từ Ai-cập (28).  Nói cách khác, dường như trong đoạn này tác giả không chỉ ca tụng Sa-lô-môn, nhưng ông cũng phê bình nữa. Vua đạt được vị trí cao trọng một phần là do ông coi thường luật lệ trong Phục Truyền Luật Lệ Ký. Vì cùng với lời cảnh cáo nghiêm trọng trong chương trước, đoạn này rung lên hồi chuông báo động vang dội.

(IVua 11:1-8). Sự ngu dại của Sa--môn Nhưng đây mới chỉ là nửa câu chuyện.  Bây giờ tác giả tiết lộ rằng ngoài con gái của Pha-ra-ôn ra, Sa-lô-môn còn nhiều vợ khác nữa. Một lần nữa, điều này nhắc chúng ta nhớ lại luật cấm trong Phục Truyền Luật Lệ Ký: ‘Vua không nên kén nhiều phi tần, e lòng người trở nên xấu xa’ (Phu 17:17). Ẩn ý phê bình nay đã lộ rõ.  Đây là giới phụ nữ thuộc các dân tộc mà Phục Truyền Luật Lệ Ký cấm người Y-sơ-ra-ên cưới gả (c.2 tóm tắt 7:3-4). Đến phần sau thời trị vì của Sa-lô-môn, vua cho xây các nơi cao để các bà vợ ngoại bang của vua thờ cúng thần của họ (7-8), cho nên việc thờ phượng riêng của vua đối với Đức Giê-hô-va bị lơ là (4-5). Trớ trêu thay: chính vua là người xây dựng đền thờ nên coi như vua xoá bỏ các nơi cao, nhưng nay chính vua lại xây các nơi cao - để thờ cúng các thần khác! Trong các câu này, hai lần tác giả cho chúng ta biết khi hành động như vậy Sa-lô-môn đã không hết lòng làm theo sự hứa nguyện của Đa-vít (4, 6) - một điều kiện đã được xác định rõ ràng trong IVua 9:4. Coi như cảnh trạng này dẫn thẳng đến thảm hoạ cận kề thôi.

(IVua 11:9-13). Bản án của Đức Chúa Trời Đây là lần thứ tư và cũng là lần cuối Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn.  Tác giả nhắc chúng ta nhơ lại Đức Chúa Trời hiện ra với vua hai lần, và nhấn mạnh rằng Sa-lô-môn đã nhận rất nhiều đặc ân. Dù gặp gỡ riêng tư với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhiều lần, nhưng Sa-lô-môn đã lìa bỏ Ngài. Thảm hoạ thực sự đang kéo tới. Nhưng vì cớ Đa-vít, thảm hoạ được hoãn lại cho đến thời trị vì của vua kế vị Sa-lô-môn và khi thảm hoạ đến, vua đó sẽ không mất tất cả vương quốc. Nói cách khác, Đức Chúa Trời vẫn tôn trọng lời Ngài cam kết với Đa-vít trước đây, nhưng vì Sa-lô-môn không vâng phục, nên Ngài phải áp dụng một phương thức hoàn toàn khác.

(IVua 11:14-25). Đối thủ nổi lên Trước kia, Sa-lô-môn tuyên bố ông không có đối thủ nào cả (5:4) nhưng ở đây vua có hai đối thủ (từ đối thủ được dịch trong bản tiếng Hi-bá-lai ở 11:14 và câu 23 tương tự như trong 5:4). Mặc dù Đức Chúa Trời tuyên bố tai hoạ sẽ không giáng xuống cho đến khi Sa-lô-môn chết, nhưng đám mây đen báo hiệu giông tố bắt đầu kéo đến trong thời vua còn sống. Vương quốc do Đa-vít tạo dựng bắt đầu rung rinh ở các vùng biên giới vì Ê-đôm ở phía nam và A-ram phía bắc trở nên quốc gia thù địch với Y-sơ-ra-ên. Mối bang giao thân thiết giữa Ha-đát xứ Ê-đôm và Pha-ra-ôn ở Ai-cập gây tiếng vang đáng sợ.

(IVua 11:26-40). Giê---am nổi loạn Giê-rô-bô-am được giới thiệu là một tay lãnh đạo tài năng, Sa-lô-môn giao phó cho ông trông coi toàn thể lực lượng lao động của các chi phái ở miền bắc. A-hi-gia là tiên tri đầu tiên trong một số các tiên tri xuất hiện rải rác trong I và II Các Vua. Ông này can thiệp để phá vỡ hệ thống cha truyền con nối trong triều đại đương thời.  Ông nói tiên tri theo phong cách của các tiên tri Cựu Ước: Ông xé tấm áo choàng của ông làm mười hai miếng, rồi thúc giục Giê-rô-bô-am cầm mười miếng. Rồi ông giải nghĩa: Đức Chúa Trời sẽ tước đoạt vương quốc khỏi tay Sa-lô-môn và giao mười chi phái cho Giê-rô-bô-am. Lời xác định về một chi phái được chừa lại cho con trai Sa-lô-môn cai trị gây ngỡ ngàng. Vì nếu trong mười hai chi phái mà lấy ra mười chi phái, phải còn lại hai chi phái chớ! Chúng ta có thể giải thích là một chi phái này có nghĩa là chi phái Bên-gia-min chớ không phải chi phái Giu-đa. Chi phái Bên-gia-min vẫn tiếp tục liên hiệp với Giu-đa khi vương quốc bị chia đôi. Tác giả không cần phải nhắc đến chi phái Giu-đa, vì dẫu sao hoàng gia khởi xuất từ chi phái này. Do đó, mặc nhiên coi như hoàng gia tiếp tục cầm quyền trên chi phái này.

Một lần nữa tác giả cho biết tội thờ lạy các thần ngoại bang là nguyên nhân gây mất mát cho nhà Đa-vít. Nhưng ở đây không phải chỉ một mình Sa-lô-môn can tội, nhưng hết thảy chúng nó (33) nghĩa là toàn dân sự nói chung đều phạm cùng một tội. Bản tiếng Hy-lạp, La-tinh và Sy-ri thay từ chúng no bằng từ ‘ông’, chỉ về Sa-lô-môn trong câu 31, như vậy là cùng luồng tư tưởng với câu 9-13, tức là chỉ một mình Sa-lô-môn bị lên án về sự bất trung này. Có thể các bản dịch này theo đúng với bản gốc, nhưng nếu từ ‘chúng nó’ trong bản tiếng Hi-bá-lai là đúng với bản gốc thì chúng ta phải kết luận sự dại dột của Sa-lô-môn là một phần trong tập thể lớn hơn có cùng một khuynh hướng. Mà cũng có thể lắm là gương xấu của vua đã khơi mào cho toàn dân.

Mỉa mai thay, lời tiên tri của A-hi-gia nói với Giê-rô-bô-am trong câu 37-38 vang vọng lại lời của Đức Chúa Trời đã hứa với Sa-lô-môn trước đây (IVua 9:4-5).

Hoặc giả bằng cách nào đó mà Sa-lô-môn nghe được lời tiên tri của A-hi-gia, hoặc vì Giê-rô-bô-am đã hành động sao đó để tỏ ra mình có quyền trên các chi phái miền bắc, nên Sa-lô-môn tìm cách giết Giê-rô-bô-am.  Do đó, ông phải trốn qua Ai-cập, sống lưu vong như các đối thủ khác của Sa-lô-môn. Lúc này Pha-ra-ôn tên là Si-sắc. Ông là Shoshenq I (945-924 T.C.), người sáng lập triều đại thứ 22 của Ai-cập. Chính vua là người sau này đưa quân đến đánh Giê-ru-sa-lem (14:25-26).

(IVua 11:41-43). Sa--môn băng Mặc dù thời trị vì của Sa-lô-môn rất đặc biệt, nhưng tác giả viết về sự qua đời của Sa-lô-môn dưới một hình thức đơn giản như thường sử dụng trong sách Các Vua. Tác giả giới thiệu cho độc giả một tài liệu khác và viết ngắn gọn về nơi chốn, thời gian cai trị, sự chôn cất và tên người kế vị.

Về một ý nghĩa, thời trị vì của Sa-lô-môn mở ra một kỷ nguyên mới, vì ông xây dựng đền thờ, biến đổi sự thờ phượng và sinh hoạt của dân tộc. Nhưng theo ý nghĩa khác thì vua chấm dứt một kỷ nguyên vì không vâng phục nên vua là vị vua cuối cùng được cai trị trên toàn thể các chi phái Y-sơ-ra-ên.

2. HAI VƯƠNG QUỐC TỪ LÚC SA-LÔ-MÔN BĂNG HÀ CHO ĐẾN THỜI TRỊ VÌ CỦA ÔM-RI TẠI Y-SƯ-RA-ÊN (IVua 12:1-16:29)

1. Sự hình thành hai vương quốc (Vua 12:1-14:31)

(IVua 12:1-24). Chia đôi vương quốc  Dường như Rô-bô-am đã lên ngôi vua, nay chỉ còn chờ các chi phái miền bắc tôn ông lên làm vua là xong mọi thủ tục.  Nếu vậy thì cũng như cách thức Đa-vít đã từng áp dụng. Thoạt đầu Đa-vít làm vua trên Giu-đa (IISa 2:4) rồi sau đó được lập làm vua trên Y-sơ-ra-ên (5:3). Tác giả nhắc chúng ta nhớ rằng cả Đa-vít lẫn Sa-lô-môn đều không tìm cách xây dựng Giu-đa và Y-sơ-ra-ên thành một thực thể thống nhất (xem phần bình giải IVua 4:20). Có lẽ Sa-lô-môn cũng theo một phương thức tương tự, đó là được Y-sơ-ra-ên tôn làm vua, dù tác giả không nói đến. Đến thời Rô-bô-am, nghi lễ này được tổ chức tại Si-chem, một thành phố trung tâm của vùng đồi núi miền bắc.

Các chi phái miền bắc yêu cầu Rô-bô-am thoả mãn một điều kiện trước khi họ công nhận ông làm vua. Họ cũng có sẵn một người lãnh đạo khác để thay thế là Giê-rô-bô-am, từ Ai-cập trở về sau khi Sa-lô-môn băng hà. Chúng ta biết dưới sự cai trị của Sa-lô-môn, các chi phái miền bắc phải chịu ách nặng nề và lao dịch khó nhọc (4) (Trước đây nhiều dấu hiệu cho chúng ta biết về tình trạng này, những người phát ngôn của Y-sơ-ra-ên khẳng định sự thể đó). Y-sơ-ra-ên chỉ thần phục Rô-bô-am khi ông bằng lòng từ bỏ chính sách này.

Trước hết, Rô-bô-am hành động có vẻ khôn ngoan. Ông không trả lời ngay lúc đó, nhưng dành ra ba ngày để tham khảo ý kiến của các cố vấn. Thế hệ bô lão đã từng phục vụ Sa-lô-môn khuyên Rô-bô-am nên nhân nhượng chấp thuận yêu sách của dân. Tuy nhiên, giới cố vấn cùng trang lứa với Rô-bô-am lại khuyên ông ngược lại, tức là ông nên đáp lại yêu sách của dân với một chính sách hà khắc hơn. Trong tiếng Hi-bá-lai, từ ngữ mô tả những người trẻ này (8,10,14) thực sự có nghĩa là ‘bọn trai trẻ’ hoặc ‘đám trẻ con’. Theo tác giả thì họ đúng là bọn con nít, vì lời khuyên của họ quá ư ngây ngô. Thế mà Rô-bô-am đã chọn làm theo lời khuyên của bọn trẻ này. Khi khước từ lời cố vấn của các bô lão vốn đã phục vụ Sa-lô-môn, Rô-bô-am quay lưng lại với kho tàng khôn ngoan cuối cùng của Sa-lô-môn mà chuốc lấy sự ngu dại. Số phận của vương quốc được định đoạt như thế đấy.

Thái độ thô bạo thẳng thừng của Rô-bô-am chỉ là trò phô trương sức mạnh phủ trên sự nhu nhược. Lắm lúc Sa-lô-môn cũng hành động kém khôn ngoan còn Rô-bô-am thì không có chút vốn khôn ngoan nào cả. Ông đã hết sức vụng về trong nổ lực chiếm lại quyền cai trị nên dân Y-sơ-ra-ên vuộc khỏi tầm tay. Tiếng la ó của dân Y-sơ-ra-ên trong lần âm mưu nổi loạn chống Đa-vít khi xưa nhưng đã thất bại trước đây (IISa 20:1) nay lại vang dội như ném vào mặt ông (16).

Không rõ A-đô-ni-ram (18) được phái đi trong nổ lực thương lượng hoặc quân sự, nhưng giao phó vụ việc cho vị quan chuyện trách việc lao dịch là một hành vi khiêu khích cực độ. Chẳng đáng ngạc nhiên khi vụ việc dẫn đến cái chết của A-đô-ni-ram. Trong khi đó thì Giê-rô-bô-am lên làm vua Y-sơ-ra-ên (20)

Rô-bô-am vội vàng chạy về Giê-ru-sa-lem, ông chiêu mộ quân lính trong chi phái Giu-đa và Bên-gia-min và chuẩn bị chiến tranh. Tuy nhiên, tiên tri Sê-ma-gia đã ngăn chận được cuộc phiêu lưu liều lĩnh này bằng cách truyền rao lệnh cấm hành động từ Đức Chúa Trời (22-24). Chính Đức Chúa Trời phân rẽ Y-sơ-ra-ên khỏi Giu-đa, cho nên ít nhất là trong lúc này, Ngài bảo vệ họ.

Tầm nhìn của con người và của Đức Chúa Trời được đan dệt trong bản tường thuật về vụ việc này là như vậy. Rô-bô-am hành động cách dại dột và tuân theo những lời khuyên tồi tệ, còn Y-sơ-ra-ên nổi loạn chống nghịch nhà Đa-vít (19) Nhưng lý giải chủ chốt cho mọi việc này là Đức Giê-hô-va đứng sau mọi chuyện, Ngài điều khiển mọi diễn biến. Vì vua không khứng nghe lời dân sự nên điều đó bởi Đức Giê-hô-va dẫn đến đặng làm ứng nghiệm lời Ngài phán ... (15). Con người được tự do vâng phục hoặc không vâng phục, được tự do hành động khôn ngoan hoặc ngu dại, nhưng quyền tự do này nằm trong vùng tể trị của Đức Chúa Trời. Đặc biệt tác giả nhiều lần nhấn mạnh rằng những điều Đức Chúa Trời dùng các tiên tri truyền báo trước luôn luôn xảy đến.

(IVua 12:25-32). Lỗi lầm của Giê---am Giê-rô-bô-am xây dựng vương quốc mới trên hai phương diện. Trước hết, ông củng cố hai thành phố quan trọng là Si-chem và Phê-nu-ên (thành Phê-nu-ên là trung tâm phòng thủ và hành chánh ở phía đông sông Giô-đanh). Thứ hai, ông tổ chức lại sự thờ phượng ở Y-sơ-ra-ên, với lý do là nếu để dân sự thường xuyên đến đền thờ Giê-ru-sa-lem e rằng họ trở lại thần phục Rô-bô-am chăng. Để ngăn chận chuyện này, ông xây dựng các trung tâm thờ phượng khác trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, một tại Đan và một tại Bê-tên, ở vùng biên giới phía nam và phía bắc vương quốc. Nỗi lo sợ này chứng tỏ ông thiếu tin cậy vào lời hứa của Đức Chúa Trời đã phán qua A-hi-gia rằng nếu ông vâng phục, Đức Chúa Trời sẽ lập triều đại ông vững bền lâu dài (IVua 11:37-38)

Tuy nhiên, Giê-rô-bô-am phạm một tội nặng còn hơn tội không tin cậy. Các con bò vàng do ông dựng tại Bê-tên và Đan đã đưa dân tộc vào tội thờ hình tượng (28-30). Khó lòng dựng lại ý đồ chính xác của Giê-rô-bô-am khi ông cho lập các pho tượng này. Trong ngành mỹ thuật ở vùng Cận Đông xưa, việc tạc một vị thần đứng trên lưng con bò là chuyện bình thường. Do đó, có thể Giê-rô-bô-am có ý dùng các con bò vàng tượng trưng cho ngai của Đức Giê-hô-va, và có thể ông không bao giờ có dụng ý là các tượng bò vàng đó trở thành đối tượng thờ phượng (cũng thế, chê-ru-bin trong đền thờ của Sa-lô-môn biểu thị nơi Đức Chúa Trời hiện diện,  8:3-13). Lời ông nói trong câu 28 cũng tối nghĩa như vấn đề mấy con bò vàng.  Vì câu này có thể dịch: Đây là thần của các ngươi ... hoặc dịch là: ‘Đây là Đức Chúa Trời của các ngươi...’ Dù chủ ý của Giê-rô-bô-am là gì đi nữa, thì tác giả tường thuật mọi sự trong chiều hướng chứng minh việc làm này là tội lỗi.  Do đó, tác giả muốn chúng ta thấy giữa lời nói của Giê-rô-bô-am trong câu 28 và sự cổ võ thờ bò vàng tại núi Si-na-i trong Xu 32:4 có liên hệ với nhau. Hơn nữa theo quan điểm của tác giả thì ngoài Giê-ru-sa-lem ra, chẳng có nơi thờ phượng nào là hợp pháp cả. Giê-rô-bô-am phạm tội thêm nữa khi ông dựng đền miếu cỡ nhỏ hơn trên các nơi cao và tấn phong nhiều thầy tế lễ bất hợp pháp (31-32).

(IVua 12:33). Người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến Trong cuộc cải cách tôn giáo này, Giê-rô-bô-am khai sinh một kỳ lễ vào tháng tám như kỳ lễ tổ chức tại Giu-đa (IVua 12:32), có thể ông phỏng theo Lễ Lều Tạm cử hành vào tháng thứ bảy (Le 23:33-43). Song song với việc Giê-rô-bô-am chủ tâm đem lại cho Y-sơ-ra-ên truyền thống tôn giáo khác biệt, cũng có thể có lý do thực tiễn để tổ chức muộn hơn. Lễ lều tạm bắt đầu vào mùa hè khi thu hoạch xong mùa màng (23:39), nhưng mùa gặt ở Y-sơ-ra-ên đến muộn hơn ở Giu-đa vì địa thế và khí hậu hơi khác.

Đang khi Giê-rô-bô-am dâng của lễ trong kỳ lễ khai sinh tại Bê-tên thì người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến. Tuy nhiên, vị tiên tri không nói nghịch lại kỳ lễ, nhưng ông nói nghịch lại bàn thờ ở Bê-tên. Thậm chí ông không nói một lời lên án bò vàng có lẽ sau một thời gian sự thờ phượng tại đây mới biến chất thành thờ hình tượng. Vị tiên tri thi hành sứ mệnh vì lý do đơn giản là người ta xây đền miếu thay thế cho đền thờ Giê-ru-sa-lem.

Bê-tên có liên hệ với nhiều sự kiện trong lịch sử Y-sơ-ra-ên từ thưở xa xưa (Sa 28:1-22) nên giữa hai đền miếu do Giê-rô-bô-am xây dựng nên thì Bê-tên trở nên quan trọng hơn và nổi tiếng hơn. Nhưng vị tiên tri tuyên bố rằng bàn thờ Bê-tên sẽ sụp đổ dưới bàn tay Giô-si-a, một hậu tự của triều đại Đa-vít. Hơn ba thế kỷ sau lời tiên tri này mới được ứng nghiệm cuối cùng Giô-si-a xoá bỏ mọi dấu vết thờ phượng hình tượng bất hợp pháp trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Tóm lại, lời tiên tri này cho chúng ta thoáng thấy kết cuộc của vấn đề, ngay từ lúc Y-sơ-ra-ên khởi suy sụp.

Sự kiện bàn thờ nứt ra làm tro đổ vãi xuống đã xác minh rằng lời tiên tri này là thật. Giê-rô-bô-am sững sờ trước cảnh này và trước sự kiện cánh tay của ông thình lình khô héo. Vua nhờ tiên tri cầu thay, rồi cánh tay của vua mới được lành lặn.  Hình như quyền năng của Đức Chúa Trời được thi thố trên vấn đề sống chết đã ảnh hưởng sâu xa đến Giê-rô-bô-am nên vua mời người của Đức Chúa Trời về cung. Nhưng vị tiên tri quyết liệt từ chối vì muốn vâng theo chỉ thị của Đức Chúa Trời. Phải chăng đầy tớ của Đức Chúa Trời không được phép ăn uống tại đó là để biểu lộ rằng Đức Chúa Trời không chấp thuận những việc người ta đang làm tại đó?  Có thể đó là một lý do. Nhưng một cách giải thích thích đáng hơn là tấm lòng cương quyết vâng phục của tiên tri là dấu hiệu nhắc khác nữa cho vua nhớ rằng đời sống riêng của vua cũng như chức vụ làm vua cai trị dân phải có sự vâng phục.

(IVua 13:1-10) xem giải nghĩa IVua 12:33

(Vua 13:11-34) Cái chết của người Đức Chúa Trời Dòng chuyện về người của Đức Chúa Trời đi vào một khúc quanh bất ngờ với sự xuất hiện của một tiên tri già ở Bê-tên. Khi nghe kể việc đã xảy ra cho bàn thờ, vị tiên tri này tự động mời người của Đức Chúa Trời về nhà. Nhưng người của Đức Chúa Trời viện lý do để từ chối như trước. Nhưng vị tiên tri này cương quyết mời cho được người của Đức Chúa Trời về nhà mình (không biết vì động cơ gì) nên ông nói dối nhằm thuyết phục người của Đức Chúa Trời. Ông nói rằng Đức Chúa Trời đã phán với ông rằng Ngài đã huỷ bỏ các chỉ thị trước đây.

Trong câu chuyện không có chi tiết nào khiến chúng ta tin rằng vị tiên tri ở Bê-tên là một trong số những tiên tri giả ‘nói tiên tri dối’, nói theo sự tưởng tượng riêng của họ thay vì trung tín nói lời của Đức Chúa Trời (so sánh Gie 23:16  27:9-16). Thực sự vị tiên tri này đã nhận và truyền đúng lời Đức Chúa Trời trong câu 20-22. Tóm lại ông ta là một tiên tri nói dối. Nhưng lời nói dối đó làm mất mạng sống người của Đức Chúa Trời. Vị tiên tri già tuyên bố người của Đức Chúa Trời sẽ chết vì không vâng phục và lời tiên tri này đã nhanh chóng ứng nghiệm. Sau đó vị tiên tri ở Bê-tên hối hận và ủng hộ sứ điệp của người của Đức Chúa Trời nói về bàn thờ.

Chúng ta đánh giá như thế nào về câu chuyện lạ lùng tức tối này? Chúng ta thấy một tiên tri nói lời dối trá, còn vị tiên tri lại tin lời nói dối này dù đã được Đức Chúa Trời chỉ thị trước rồi. Một mặt, chuyện này chứng tỏ rõ ràng rằng khó phân biệt được đâu là lời thật sự đến từ Đức Chúa Trời. Mặt khác, chuyện này muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự nhất tâm vâng phục. Về mặt này, người của Đức Chúa Trời vẫn là dấu hiệu cho Giê-rô-bô-am và Y-sơ-ra-ên, vì cái chết bi thảm của ông là lời cảnh cáo rằng sự không vâng phục có thể dẫn đến cái chết - cái chết của toàn thể đất nước. Mặt thứ ba, chuyện cho thấy rằng lời tiên tri là không thể thay đổi được. Lời Đức Chúa Trời có quyền năng sáng tạo, định đoạt các biến cố và đưa đẩy đến chỗ ứng nghiệm. Đây là bài học mà vị tiên tri ở Bê-tên phải học (32).

Tuy nhiên, Giê-rô-bô-am không học bài học này.  Mọi việc đã xảy ra đã chứng tỏ một cách chắc chắn rằng bàn thờ tại Bê-tên được duy trì bất chấp ý muốn của Đức Chúa Trời, còn Giê-rô-bô-am cứ miệt mài trong tội lỗi (33). Cuối cùng tội lỗi này đưa nước Y-sơ-ra-ên đến chỗ tan tành hoàn toàn (34).

(IVua 14:1-20) Giê---am tiên tri A-hi-gia Lần đầu tiên ở đây chúng ta biết Giê-rô-bô-am có vợ con, và hoàng cung ở Tiệt-sa (17) cách Si-chem sáu dặm (10km) về phía đông bắc.

Giê-rô-bô-am sai vợ đem quà tặng đến với tiên tri A-hi-gia để tìm hiểu về bệnh trạng của con trai mình. Hình như đi hỏi ý tiên tri để được chỉ dẫn là chuyện bình thường và đem quà trả công cho ông cũng là chuyện bình thường (so sánh ISa 9:3-9). Cho nên vợ của Giê-rô-bô-am không làm điều gì khác thường cả. Nhưng không rõ vì sao khi đến Si-lô bà phải giả trang.  Nếu giả trang để đánh lừa A-hi-gia, thì chuyện đó hoá ra vô ích, vì vị tiên tri cao niên này hầu như không còn thấy được nữa, nhưng quan trọng hơn là vì Đức Chúa Trời cho ông biết trước ai sắp đến và đến với lý do gì!  Theo bối cảnh của câu chuyện, thì động cơ giả trang không quan trọng bằng vấn đề vị tiên tri mù loà có thể ‘thấy thông suốt’. Như trong chương trước, ở đây chúng ta khám phá rằng không nên đùa với các tiên tri của Đức Chúa Trời.

A-hi-gia có sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho Giê-rô-bô-am.  Ông nói ra khi vị khách của ông chưa kịp mở miệng. Giống như Đa-vít, Giê-rô-bô-am được Đức Chúa Trời dấy lên từ giữa dân sự để làm người lãnh đạo của họ (7) và cũng như Đa-vít, vua nhận một vương quốc trước đây ở dưới quyền người khác (8) nhưng những điểm tương đồng đến đây là hết. Khác với Đa-vít, vua không hết lòng làm theo Đức Giê-hô-va. Đúng ra vua đã phạm điều vô cùng gớm ghiếc là xem thường Đức Giê-hô-va (người đã bỏ Ta ra sau lưng người) và dẫn dắt dân sự vào tội thờ hình tượng (9).

Phần cáo tội như thế là đủ. Bây giờ đến phần tuyên án, và bản án chia làm bốn phần. Trước hết, tất cả những người nam trong gia đình Giê-rô-bô-am sẽ bị diệt sạch. Lời hứa có điều kiện về một triều đại vững bền lâu dài (IVua 11:38) bây giờ bị thu hồi bằng những lời lẽ kinh khủng. Thứ hai, người con trai đang đau ốm sẽ chết. Chỉ người con trai này được chôn cất và than khóc theo nghi lễ vì Đức Chúa Trời thấy có điều tốt lành nơi cậu bé ấy. Mỉa mai thay, tia sáng duy nhất trong lời tiên tri ảm đạm này lại là lời tiên tri về cái chết của cậu con trai.  Thứ ba, Đức Chúa Trời sẽ lập một vua mới cho Y-sơ-ra-ên. Vua này sẽ thi hành sự đoán phạt trên nhà Giê-rô-bô-am. Và cuối cùng, dân tộc Y-sơ-ra-ên nói chung sẽ bị diệt vong vì mầm mống hình tượng do Giê-rô-bô-am đã gieo. Dân tộc sẽ bị tản lạc trong các xứ bên kia sông cái (nghĩa là sông Ơ-phơ-rát) dân tộc bị xoá sạch là như thế. (Về trụ A-sê-ra trong câu 16, xin xem lời bình giải bên dưới từ câu 22-24).

Lời tiên tri của A-hi-gia đưa ra một hình ảnh ảm đạm về nguy cơ tiềm tàng của sự diệt vong. Với tư cách là vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên độc lập, Giê-rô-bô-am được Đức Chúa Trời ban cho cơ hội để trở thành nhà lãnh đạo có tầm vóc vĩ đại thay vì vậy, ông đẩy vương quốc vào con đường dẫn tới thảm hoạ. Trong sách Các Vua thường xảy ra tình trạng chênh lệnh cách biệt giữa tiềm năng, tiềm lực và mức độ thành đạt trong thực tế.

Vợ của Giê-rô-bô-am đem về Tiệt-sa câu trả lời cho câu hỏi bà chưa kịp nêu ra - và còn nhiều điều khác nữa. Vừa khi bà về đến nhà, thì lời tiên tri về người con đau ốm được ứng nghiệm. Chuyện xảy ra trong chương trước khiến chúng ta tin rằng những chuyện kế tiếp chắc chắn sẽ thành tựu.  Sự diệt vong của dân tộc như vậy là chắc chắn. Nhưng chúng ta biết sự thể không xảy ra lập tức, vì A-hi-gia có nói chuyện một vị vua được dấy lên để diệt nhà Giê-rô-bô-am (14a phần còn lại của câu này rất mù mờ). Nói cách khác, kết cuộc của triều đại Giê-rô-bô-am và kết cuộc của Y-sơ-ra-ên là hai vấn đề khác nhau.

Tác giả tường thuật về sự băng hà của Giê-rô-bô-am dưới hình thức kết thúc đặc trưng của sách I và II Các Vua, ngoại trừ thời gian cai trị được viết vào cuối phần tường thuật thay vì ở đầu (19-20, câu này cho chúng ta biết thêm về tác giả cai trị và tên vua kế vị). Trường hợp của Sa-lô-môn cũng tương tự như thế (IVua 11:42), có lẽ cũng cùng một lý do: việc lên ngôi trong cả hai trường hợp không theo thông thường, và nội dung của bài tường thuật không cho phép đặt mẫu câu đó ở đầu thời trị vì.

(IVua 14:21-31) Tóm lược thời trị của --am.Dù chúng ta đã gặp Rô-bô-am trong chương 12, nhưng mục tiêu chính của bản tường thuật là chuyện nước Y-sơ-ra-ên được giao qua cho Giê-rô-bô-am. Bây giờ tác giả trở lại Rô-bô-am để viết về thời trị vì của ông trong một bài riêng. Do đó, tác giả dẫn nhập vào thời trị vì của vua theo một mẫu câu đặc trưng trong sách kể từ đây (21)

Căn cứ vào phần dẫn nhập, chúng ta biết khi ông ứng xử cách ngu dại đối với những yêu sách của các chi phái miền bắc là lúc ông được 41 tuổi. Các nhà cố vấn hồ đồ mà tác giả nói ‘cùng lớn lên với ông (12:8) có lẽ cũng đồng một lứa tuổi.  Điều này xác định rằng khi gọi họ là ‘bọn trẻ’ (hoặc ‘con nít’) thì tác giả có ý phê bình họ về giá trị của lời khuyên, chớ không phê bình về tuổi tác thực sự (12:8).

Chúng ta cũng biết rằng mẹ của Rô-bô-am là phụ nữ Am-môn, bà là một trong các vợ ngoại bang của Sa-lô-môn. Điều lạ là người kế vị Sa-lô-môn không phải là con trai của con gái Pha-ra-ôn, kể như là vợ chính của Sa-lô-môn (7:8).  Có thể bà không có con, hoặc các con của bà đều chết trẻ. Hoặc giống như trong trường hợp của A-đô-ni-gia và Sa-lô-môn, có thể thông lệ áp dụng trong việc kế vị làm vua đã bị coi thường. Nguyên nhân đằng sau vụ này có thể là mối bang giao với Ai-cập đã thay đổi khi Si-sắc lên làm vua và đã chứa chấp Giê-rô-bô-am (11:40).

Câu 22-24 cho biết tình trạng tôn giáo tại Giu-đa cũng tồi tệ như tại Y-sơ-ra-ên. Dưới sự lãnh đạo của Rô-bô-am, các nơi cao, đá thiêng và trụ A-sê-ra xuất hiện tràn lan. Trụ A-sê-ra (nguyên văn là ‘A-sê-rim’ như trong bản RSV) nói về một loại hình tượng, có lẽ bằng gỗ, của nữ thần A-sê-ra của dân Ca-na-an. Các hình tượng này không có gì mới lạ đối với dân Y-sơ-ra-ên, vì khuynh hướng thờ lạy các thần Ca-na-an là nét đặc trưng của thời kỳ các quan xét (Cac 3:7).

Sự khác biệt duy nhất giữa hai nước là Rô-bô-am (khác với Giê-rô-bô-am) không bị lên án vì cá nhân ông không dính líu đến việc thờ lạy hình tượng. Tuy nhiên, tác giả tường thuật lại cuộc xâm lăng của Si-sắc ngay sau hàng loạt tội ác này chắc chắn là có ý nghĩa. Rõ ràng ông ngụ ý chiến dịch của quân Ai-cập là sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đối với Giu-đa, đặc biệt là đối với Rô-bô-am, vì họ tấn công vào trung tâm của vương quốc - là đền thờ và hoàng cung. Không nhất thiết vua thờ lạy hình tượng thì vua mới phải chịu trách nhiệm về tội thờ lạy hình tượng của dân sự. Nội chuyện vua không kiểm soát nổi tình trạng suy sụp thuộc linh của vương quốc là đủ khiến vua phải chịu trách nhiệm rồi (xem thêm IVua 15:3 bên dưới).

Shoshenq I (Si-sắc) cho chạm nổi một cảnh trên tường trong đền thờ A-mun tại Thê-bết ghi lại cuộc tấn công của vua vào xứ Palestine. Nhờ cảnh này chúng ta biết rõ vua không chỉ tấn công Giu-đa nhưng cả Y-sơ-ra-ên nữa. Dù vậy tác giả bỏ qua hậu quả do cuộc tấn công này đối với vương quốc của Giê-rô-bô-am mà chỉ tập trung vào thiệt hại Giu-đa phải chịu. Cả kho tàng trong đền thờ lẫn cung điện đều bị cướp phá. Bản tường thuật đặc biệt ghi lại việc mất các khiên vàng do Sa-lô-môn chế tạo (theo 10:16-17 cả thảy là 200 khiên lớn và 300 khiên nhỏ) và Rô-bô-am cho thay thế bằng các khiên đồng. Đây là hình ảnh thu nhỏ về sự suy sụp của nhà Đa-vít. Rô-bô-am cai trị vương quốc bị chia cắt còn một lãnh thổ và nhỏ trở thành mồi ngon cho Ai-cập, và ông chỉ đủ khả năng dùng đồng làm vật dụng thay thế cho những vật dụng Sa-lô-môn làm bằng vàng. Diện tích, nền an ninh và sự giàu có, tất cả bị giảm đi rất nhiều.

Tác giả kết luận về sự trị vì của Rô-bô-am với những câu khác (29-31).

2. Y-sơ-ra-ên và Giu-đa cho đến triều đại Ôm-ri (IVua 15:1-16:28)

(IVua 15:1-8). A-bi-giam làm vua Giu-đa Từ đây cho đến lúc Y-sơ-ra-ên sụp đổ (IIVua 17:1-41) tác giả trình bày hai lịch sử song song với nhau. Chương này cống hiến cho chúng ta một thí dụ cụ thể về cách thức của ông. Trước hết ông viết về lịch sử Giu-đa trong suốt thời A-bi-giam và A-sa (IVua 15:1-24) nhưng ông cũng đề cập đến các vua đương thời của Y-sơ-ra-ên (Na-đáp và Ba-ê-sa) ở thời điểm họ can dự vào lịch sử của Giu-đa. Sau đó ông trở lại triều đại của Na-đáp và Ba-ê-sa (15:25-16:7). Độc giả thời nay có thể bối rối trước lối viết này (nhất là các đoạn chép về các vua A-ram và A-si-ri xuất hiện trên chính trường rồi những danh tính lạ lẫm xuất hiện rải rác trong bản tường thuật). Thí dụ như trong trường hợp này Ba-ê-sa xuất hiện trong phần tường thuật lịch sử Giu-đa trước khi chúng ta biết ông thuộc về lịch sử Y-sơ-ra-ên. Lần đầu tiên ông được nhắc đến trong 15:16, chúng ta không biết ông là con trai kế vị của Giê-rô-bô-am hoặc ông là vị vua khác về sau. Đến câu 27-28 chúng ta mới biết địa vị của ông. Tuy nhiên phương pháp này đáp ứng mục đích của tác giả sách Các Vua, vì nhờ đó tác giả có thể gói gọn thời trị vì của từng vua trong một bài viết.

A-bi-giam, người kế vị của Rô-bô-am được giới thiệu theo lối thông thường (1-2). Cần bàn thêm hai điểm trong lối dẫn nhập này. Từ đây trở đi, tác giả xác định ngày tháng lên ngôi vua Giu-đa theo lịch trị vì của vua Y-sơ-ra-ên và ngược lại. Đối với các trường hợp vua Giu-đa, ông cho biết tên mẹ của tân vương (như ông đã làm trong trường hợp của Rô-bô-am trong 14:21). Dù vậy, ông bỏ qua chi tiết này trong trường hợp của Giô-ram (IIVua 8:16-17) và A-cha (16:1-4).

Tác giả đánh giá rất thấp ba năm trị vì của A-bi-giam (3-8). Chúng ta cần để ý câu ông nói A-bi-giam phạm mọi tội cha người đã phạm, vì trong bài tóm lược thời trị vì của vua, Rô-bô-am không bị cáo phạm một tội gì (IVua 14:22-24). Tuy nhiên, theo phần bình giải chúng ta thấy là Rô-bô-am ít nhất đã phạm tội không ngăn chặn dân sự sa vào tội bội đạo, và ở đây bản cáo trạng cho biết tấm lòng của A-bi-giam ‘không trọn thành với Đức Giê-hô-va’ cũng ám chỉ cả Rô-bô-am nữa (3). Câu sau cho biết triều đại này vẫn còn tồn tại là vì lời Đức Chúa Trời hứa với Đa-vít, chớ không phải nhờ đạo đức của các vua kế vị Đa-vít. Tác giả ca tụng Đa-vít vì tấm gương trung tín với các điều răn của Đức Chúa Trời, mặc dù trong lần này cũng nhắc đến vụ mưu sát U-ri, chồng của bà Bát-sê-ba (5). Đây là điểm tương phản đáng chú ý so lời lời tích cực ca tụng Đa-vít trong lần trước (14:8). Tác giả không muốn chúng ta quên rằng mọi người trong triều đại - kể cả Đa-vít - đều có lỗi lầm - đây là sự kiện mang nhiều ý tiềm ẩn đối với tương lai (8:46-51).

Chúng ta có thể đọc câu 6 là: ‘Chiến tranh xảy ra giữa A-bi-giam (từ biến thể của A-bi-gia) và Giê-rô-bô-am ...’ (bản RSV), vì chiến tranh giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am ... (theo đa số các bản tiếng Hi-bá-lai) không thể kéo dài suốt đời A-bi-gia được.

Tác giả kết thúc bản tóm lược theo khuôn mẫu thông thường với câu nhắc lại thời trị vì của A-bi-gia bị khốn đốn vì chiến tranh.

(IVua 15:9-24).  A-sa làm vua Giu-đa Phần dẫn nhập cho biết A-sa trị vì được 41 năm, mẹ của ông tên là Ma-a-ca, con gái A-bi-sa-lôm, trùng tên với mẹ của A-bi-gia trong câu 2. Bản NIV giải quyết sự khó khăn này bằng cách dịch là bà nội thay vì dịch là ‘mẹ’ trong câu 10 (và c.13).

Lần đầu tiên tác giả phê một vị vua làm tốt theo tiêu chuẩn của Đa-vít (11). A-sa đi ngược giòng tín ngưỡng của hai vị vua cai trị trước mình (theo IVua 11:33 thì có từ thời Sa-lô-môn), thậm chí ông còn truất phế bà nội khỏi chức vụ hoàng thái hậu (nguyên văn là ‘bà chủ’, nghĩa là ngự trị trên hoàng cung) vì bà thờ lạy hình tượng. Thực vậy, khuyết điểm duy nhất của vua là không dẹp bỏ các nơi cao. Câu 15 không rõ nghĩa, nhưng dường như vua đã thâu trữ trở lại trong kho tàng của đền thờ những vật dụng đã bị quân xâm lược Si-sắc vơ vét.

Phần còn lại của bài tường thuật chép về cuộc chiến tranh ở biên giới giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.  Sự kiện Ba-a-sa biến Ra-na thành đồn luỹ cho chúng ta biết lực lượng của vua đã xâm nhập tới phía nam Bê-tên, tiến vào lãnh thổ Bên-gia-min (thuộc về Giu-đa). Hơn nữa mục đích của vua là kiểm soát trục lộ chính giữa Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và phong toả hữu hiệu biên giới phía bắc của Giu-đa. Tình hình căng thẳng đến độ A-sa phải thương lượng với Bên-ha-đát ở Đa-mách xin viện binh, dù vua phải đem hết của báu trong kho của đền thờ và hoàng cung ra một lần nữa để mua cho được sự liên minh này (18-20). Khi Bên-ha-đát kéo quân nam tiến tràn vào miền bắc Y-sơ-ra-ên, Ba-sa-sa buộc lòng phải rút ra khỏi Bên-gia-min để tập trung lực lượng đẩy lùi quân xâm lược. Bấy giờ A-sa chiếm lại các phần đất Bên-gia-min đã mất và tháo gỡ đồn luỹ ở Ra-ma. Ông dùng vật liệu này để củng cố cho Ghê-ba và Mích-ba, như vậy ông củng cố vùng biên giới phía bắc chống lại các cuộc xâm lấn khác trong tương lai.

Phần kết luận cho chúng ta biết thêm rằng A-sa xây dựng nhiều thành và khi về già ông bị đau chân. Chi tiết này phản ánh quan điểm thần học của tác giả. Rõ ràng ông không coi mọi bệnh hoạn và đau khổ như là sự trừng phạt và báo trả của Đức Chúa Trời (như thể trường hợp của Giê-rô-bô-am bị teo cánh tay, 13:4). Ông công nhận người hiền chịu khổ cũng là một phần trong kiếp sống của con người.

(IVua 15:25-32). Na-đáp làm vua Y--ra-ên Đến đây chúng ta bắt đầu bước vào một tiết chuyện dài (IVua 15:25 IIVua 10:36) hoàn toàn về các biến cố ở Y-sơ-ra-ên (xem phần dẫn nhập). Phần lớn của tiết chuyện này (IVua 16:23) viết về thời trị vì của Ôm-ri. Nhưng phần đầu tường thuật về một thời kỳ xáo trộn từ lúc Giê-rô-bô-am băng hà cho đến Ôm-ri lên ngôi. Suốt hai mươi lăm năm, có năm vua lên cầm quyền (hoặc tìm cách chiếm quyền hành) ở Y-sơ-ra-ên, và trong số đó có bốn vua chết thảm khốc.

Bản tánh của Na-đáp, con trai Giê-rô-bô-am được tác giả mô tả gọn gàng với chi tiết ông làm điều ác ... đi theo đường lối của cha người ... Lời tiên tri của A-hi-gia về nhà Giê-rô-bô-am được ứng nghiệm và kết thúc thời trị vì ngắn ngủi của Na-đáp. Ba-ê-sa giết Na-đáp rồi chiếm ngôi vua (sự kiện này xảy ra trong lúc Na-đáp đang bao vây thành Ghi-bê-thôn của dân Phi-li-tin, cho thấy rằng mối quan tâm của tác giả bị hạn chế chính sách đối ngoại của các vua thỉnh thoảng được nhắc đến hoặc hoàn toàn bị bỏ qua. Kế đó Ba-ê-sa giết sạch gia đình Giê-rô-bô-am.

Trong khi câu 29 nói việc này ứng nghiệm lời tiên tri của A-hi-gia, nhưng 16:7 nói tiên tri Giê-hu lên án các việc làm của Ba-ê-sa. Chúng ta có thể giải thích sự mâu thuẫn này là Ba-ê-sa đã hành động vượt quá lời tiên tri của A-hi-gia, lời tiên tri này chỉ nói giết ‘mọi người nam’ (14:10) thuộc về Giê-rô-bô-am (bản KJV mô tả sống động câu 14:10 và dịch là: ‘những kẻ đái vào tường’, tuy nhiên bản KJV dịch sai phần còn lại). Bản AV dịch là Giê-rô-bô-am không còn người nam nào kế vị ngôi vua cả. Câu 15:29 ngụ ý Ba-ê-sa hành động vượt quá phạm vi lời tiên tri này và giết toàn bộ gia đình.

Câu kết thúc về sự nghiệp của Na-đáp chép chiến tranh liên tục diễn ra giữa A-sa và Ba-ê-sa, xem ra lạc lỏng vì chuyện không có liên quan gì đến Na-đáp. Hoặc câu này viết về Na-đáp thay vì Bê-sa-sa, hoặc câu này bị chép lộn từ bản tóm lược về thời trị vì của Bê-a-sa ở phần sau.

(IVua 15:33-34). Ba-ê-sa làm vua Y--ra-ên (15:33-16:7) Tác giả tường thuật tóm tắt về thời trị vì của Ba-ê-sa vì ông đã kể cuộc lên ngôi và trận chiến giữa Ba-ê-sa với A-sa, vua Giu-đa rồi. Vấn đề chính của bản tóm tắt này là ông bị tiên tri Giê-hu lên án. Lịch sử lập lại. Giống như Giê-rô-bô-am, Ba-ê-sa bước đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, nên nhà ông chịu đồng số phận như Giê-rô-bô-am. Lời tiên tri của Giê-hu phán với Ba-ê-sa như tiếng dội lại của lời tiên tri của A-hi-gia nói về Giê-rô-bô-am (so sánh 16:2 với 14:7 và 16:4 với 14:11).

(IVua 16:1-7) xem giải nghĩa 15:33-34

(IVua 16:8-14) Ê-la làm vua Y--ra-ên Như vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi mọi diễn biến xảy ra theo lời tiên tri của Giê-hu hầu như diễn lại các biến cố trước đây. Con trai của Giê-rô-bô-am cai trị được hai năm trước khi bị ám sát, thì cũng thế Ê-la, con trai của Ba-ê-sa cai trị được hai năm Ba-ê-sa mưu sách Na-đáp để lấn ngôi vua, cũng thế Xim-ri mưu giết Ê-la để chiếm ngôi vua. Bố cục bản tóm tắt thời trị vì của Ê-la được viết rập theo khuôn của bản tóm tắt thời trị vì của Na-đáp (so sánh 16:9-10 với 15:27-28 và 16:11-13 với 15:29-30). Tuy nhiên, ở đây có đôi điểm khác biệt, đặc biệt là bản tường thuật không nói Ê-la bước theo đường lối của Giê-rô-bô-am thay vào đó câu này ám chỉ mọi tội của Ba-ê-sa và con trai người phạm và gây cho Y-sơ-ra-ên phạm ... (13). Một điểm tương phản giữa Na-đáp và Ê-la đáng kể bộc lộ sự khác biệt về bản tánh của hai người. Na-đáp chết trong khi đánh giặc với các kẻ thù lâu đời của Y-sơ-ra-ên - một hành động xứng hợp với một vị vua (15:27), còn Ê-la chết trong khi chè chén với quan quản lý cung điện tại Tiệt-sa (16:9), mặc dù chiến cuộc vẫn tiếp diễn ở biên giới Phi-li-tin (c.15). Cuối cùng, Xim-ri biết kềm chế hơn Ba-ê-sa khi chấm dứt triều đại trước. Ông chỉ giết những người nam thôi (11).

(IVua 16:15-22) Xim-ri cuộc nội chiến Y--ra-ên

Lúc này tình hình ở Y-sơ-ra-ên suy thoái đến nỗi trở thành cuộc nội chiến. Đạo quân đang chiến đấu ở Ghi-bê-thôn không công nhận Xim-ri làm vua, thay vào đó họ tôn Ôm-ri, tướng chỉ huy của họ lên làm vua. Biến chuyển thật là mỉa mai vì quân đội rút khỏi Ghi-bê-thôn và tiến đánh chính thủ đô của Y-sơ-ra-ên. Xim-ri tự sát sau bảy ngày trị vì! Có thể chúng ta cho rằng chưa đủ thời gian để thử nghiệm tâm tánh của Xim-ri, nhưng trong lãnh vực chính trị, một tuần lễ là thời gian dài cho nên tác giả biết chắc ông bước theo đường lối của Giê-rô-bô-am và phạm tội Giê-rô-bô-am đã phạm ... (19)

Xim-ri tự tử chết cũng chưa ổn định được tình hình ngay vì Típ-ni, con trai Ghi-nát nổi lên đòi chiếm ngôi vua. Khi Típ-ni chết, cuộc chiến giữa hai phe mới chấm dứt và Ôm-ri lên làm vua mà không có đối thủ.

(IVua 16:23-28) Ôm-ri ổn định lại Y--ra-ên Các biến cố dẫn đến triều đại Ôm-ri (16:15-22) không có lời tiên tri báo trước (tương phản rõ ret với các biến cố ở 15:25-16:14). Không có vị tiên tri nào lên tiếng tuyên bố chấm dứt thời trị vì của Xim-ri hoặc chỉ định Ôm-ri là người được Đức Giê-hô-va lập làm vua cai trị dân Ngài. Cho nên chúng ta phân vân không rõ Ôm-ri chiếm đoạt ngôi vua có nằm trong ý muốn của Đức Chúa Trời không. Chẳng bao giờ có câu trả lời cho việc này, nhưng qua những chương kế tiếp, rõ ràng là sự cai trị của Ôm-ri không nằm ngoài tầm kiểm soát của Đức Chúa Trời. Như thường xảy ra trong sách Các Vua, sự thể này được minh chứng bởi công tác của các vị tiên tri của Đức Chúa Trời.

Bản tóm tắt về thời trị vì của Ôm-ri được kết thúc trong hình thức thông thường với sự kiện con trai ông lên ngôi kế vị ông cho chúng ta biết Y-sơ-ra-ên lại ổn định dưới quyền cai trị của vua chúa.

Tác giả không viết gì về tầm cỡ chính trị của Ôm-ri. Chúng ta biết sơ qua nhờ các bia đá của dân Mô-áp và các câu ghi khắc trên đá của người A-si-ri. Tác giả trưng ra duy nhất một điểm đạt, ấy là vua xây dựng Sa-ma-ri làm thủ đô mới của Y-sơ-ra-ên (24). Ngoài chuyện đó ra vua nổi bật vì phạm tội nhiều hơn các tiền bối và bước theo đường lối của Giê-rô-bô-am (25-26).

3. Hai vương quốc: Triều đại Ôm-ri (16:29  IIVua 10:36)

(IVua 16:1-28) xem giải nghĩa 15:1-34

A-háp làm vua Y-sơ-ra-ên (IVua 16:29-22:40)

(IVua 16:29-34) Dẫn nhập vào thời trị của A-háp Các câu này nối tiếp nhau như một bản sơ lược bình thường về thời trị vì của A-háp, nhưng thiếu phần kết luận như thường lệ. Thực ra, tác giả dành phần kết luận ở 22:39-40. Từ đây đến đó là một số chuyện bất thường, dài lượt thượt được lồng trong khung cảnh thời trị vì của A-háp. Một số chuyện liên quan đến Ê-li (chương 17-19,21), còn các chuyện khác liên quan đến chiến tranh A-háp và Bên-ha-đát, và cũng chứa đựng lời dạy của các tiên tri khác (chương 20,22).

Bản sơ lược này nhằm dẫn nhập vào bài tường thuật dài dòng hơn. Bài này cho chúng ta biết A-háp còn tội lỗi hơn Ôm-ri, vì ông dẫn dân Y-sơ-ra-ên xuống dốc xoáy với tội thờ hình tượng kinh khiếp, và nếu đem so sánh thì tội Giê-rô-bô-am có vẻ nhẹ hơn. Việc vua thờ phượng Ba-anh đặc biệt có liên quan với việc ông cưới Giê-sa-bên, con gái của Ết-ba-anh, vị vua kế vị Hi-ram xứ Ti-rơ. Như vậy hàm ý rằng Ba-anh là thần hộ mệnh của xứ Ti-rơ, Ba-anh Melqart. Sự việc A-háp xây cất đền thờ cho Ba-anh tại thủ đô mới ngụ ý rằng ông muốn biến sự thờ Ba-anh thành quốc giáo của Y-sơ-ra-ên và ý đồ này lộ rõ khi ông nổ lực trừ diệt các tiên tri của Đức Giê-hô-va (xem bên dưới). Vua dựng tượng Át-tạt-tê, đồng thời ông cũng lập các tiên tri của Át-tạt-tê song song với các tiên tri của Ba-anh (18:19).

Mẫu chuyện về công trình tái thiết Giê-ri-cô chứa đựng nhiều vấn đề hơn chứ không phải chỉ có chuyện lời rủa sả của Giô-suê được ứng nghiệm sau nhiều thế kỷ (Gios 6:26). Có thể lắm hai con trai của Hi-ên đã bị dâng làm vật hiến tế cho công trình lúc khởi công và khi hoàn tất. Nếu đúng thế, thì tác giả nhấn mạnh rằng Y-sơ-ra-ên vướng mắc vào những thói tục khác liên quan với sự thờ tà thần trong thời trị vì của A-háp.

(IVua 17:1-18).Ê-li sống tha phương Các thói tục kinh tởm trong thời trị vì của A-háp bị các tiên tri phản đối. Ê-li đột ngột xuất hiện trong chuyện, và ông nổi bật trong bản tường thuật còn lại về thời trị vì của A-háp. Không có lời nói giới thiệu ông là tiên tri, cũng không có lời nào xác định Đức Chúa Trời đã phán với ông, nhưng chúng ta thấy ông đối đầu với A-háp với một sứ điệp đáng sợ. Căn cứ vào nội dung của sứ điệp, chúng ta nhận thấy Ê-li là người có uy quyền của Đức Chúa Trời trong lời nói và việc làm. Ê-li mở đầu củng cố cho sứ điệp của ông bằng một lời thề. Cũng chính lời thề này xác định ông là đầy tớ của Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Nội dung sứ điệp của ông cũng cho biết vấn đề chủ chốt ở đây: Chính Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, chớ không phải Ba-anh như A-háp đã tin. Hạn hán không phải đơn thuần là một biện pháp hình phạt của Đức Chúa Trời, nhưng cũng là bước đầu trong cuộc đấu chứng minh Đức Giê-hô-va là quyền năng, còn Ba-anh là bất năng.

Chuyện Ê-li trốn đến khe suối hẻo lánh cho chúng ta biết ông gặp nguy biến, nhưng mãi đến IVua 18:4 chúng ta mới khám phá đầy đủ tình thế hiểm nghèo của ông. Giê-sa-bên đã lao vào chiến dịch tiêu diệt các tiên tri của Đức Giê-hô-va một cách có tổ chức. Nơi ẩn nấp của Ê-li nằm trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, phía đông sông Giô-đanh (có thể Ê-li biết rành rẽ khu vực này, vì ông gốc ở Ga-la-át 1). Chúng ta có thể đọc câu 4b như sau: ‘... Ta đã ra lệnh cho người A-rập nuôi ngươi ở đó.’  Nếu thế thì phù hợp với chuyện goá phụ người Phê-ni-xi nuôi Ê-li trong chương này. Tuy nhiên, đọc là quạ thì cũng đúng vì chủ đề của toàn thể câu chuyện này (chương 17-18) là Đức Chúa Trời cầm quyền điều khiển mọi phương diện của thiên nhiên.

Khi khe suối của Ê-li khô nước, Đức Chúa Trời sai ông đi hẳn ra ngoài lãnh thổ Y-sơ-ra-ên đến thành Sa-rép-ta xứ Phê-ni-xi. Thật là trớ trêu cho Ê-li, trong khi ông chạy trốn kẻ cổ vỏ cho sự thờ thần của người Phê-ni-xi, thì ông lại ẩn náu trong xứ Phê-ni-xi! Goá phụ mà ông gặp sẵn lòng đi lấy nước cho ông uống, nhưng khi ông xin bánh thì buộc lòng bà phải thú nhận rằng bà rất túng quẫn và sắp chết đói. Bà tỏ vẻ nhận ra ông là tiên tri của Đức Chúa Trời (phải chăng trong thời Ê-li, các tiên tri của Đức Giê-hô-va có dáng mạo đặc biệt? (IVua 20:41  IIVua 2:23-25).  Ê-li bảo đảm bà có đủ lương thực tiếp đãi ông, vì Đức Chúa Trời hứa rằng số bột và dầu ít oi của bà sẽ không hết cho đến khi cơn hạn hán chấm dứt. (Như vậy chúng ta biết rằng trận hạn hán do Ê-li thông báo lan ra ngoài lãnh thổ Y-sơ-ra-ên đến tận xứ Phê-ni-xi). Goá phụ tin lời của ông và làm theo (có thể bà nhận ra khách lạ này là một vị tiên tri), và rồi lời nói của Ê-li trở thành sự thật.

Một thời gian sau, con trai của goá phụ bị bệnh gần chết, dù chúng ta không rõ cậu bé thực sự chết hay chưa. Phản ứng đầu tiên của goá phụ là cho rằng Ê-li, người của Đức Chúa Trời đã gây ra thảm hoạ này để phạt tội lỗi của bà (18). Quan niệm thông thường cho rằng đau khổ và tội lỗi có liên quan với nhau.  Cũng vậy, bạn bè của Gióp suy luận rằng chắc ông đã phạm tội nên mới bị đau khổ như thế (Giop 8:4  11:6). Còn các môn đồ của Chúa Giê-xu vội kết luận rằng sự mù loà của người đàn ông là vì cớ ông phạm tội (Gi 9:1-3). Thời buổi này, những người bị đau khổ thường hỏi: ‘Tôi có làm gì mà phải chịu như thế này?’ Câu hỏi của họ bộc lộ cùng một ý tưởng như goá phụ trong câu 18. Chúng ta cần nhớ rằng sách Gióp đánh đổ quan niệm của các bạn của Gióp, và Chúa Giê-xu loại bỏ lối lý luận của các môn đồ và goá phụ trong chuyện này đã nghĩ sai. Kinh Thánh không mặc nhiên chủ trương một tương quan nhân quả chắc chắn giữa tội lỗi và đau khổ (hoặc giữa công bình và phước hạnh), nhưng Kinh Thánh cũng chứa đựng những chuyện người hiền chịu khổ, không đưa ra lời giải thích trên quan điểm của con người. Rõ ràng chính Ê-li cũng không biết vì sao thảm hoạ này xảy ra. Lời cầu nguyện trong câu 20 cho biết ông bối rối và khổ sở.  Kế đó, ông cầu nguyện cho cậu bé khỏi bệnh. Không rõ vì sao ông nằm dài trên cậu bé, có thể đơn giản là ông muốn truyền hơi ấm từ cơ thể ông qua cho cậu bé, với hi vọng cậu bé sống lại. Nhưng cậu bé sống lại là việc làm của Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu nguyện của Ê-li (22).

Lời của goá phụ trong câu 24 chứa một ý mỉa mai thâm thuý: Một thiếu phụ người Phê-ni-xi nhận biết rằng Ê-li truyền ra lời của Đức Giê-hô-va, trong khi đó vua Y-sơ-ra-ên thờ các thần Phê-ni-xi lại khước từ không chịu nhận biết lời của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu trưng dẫn chuyện Ê-li tại Sa-rép-ta để củng cố cho lời nhận định của Ngài rằng tiên tri không được quê hương mình đón tiếp khiến cho đám thính giả rất bực tức (Lu 4:24-30).

(IVua 18:1-19).  Ê-li trở về Qua năm thứ ba của trận hạn hán, Đức Chúa Trời ra lệnh cho Ê-li trở về Sa-ma-ri và gặp A-háp một lần nữa. Tuy nhiên, trước tiên ông ra mắt Áp-đia, quan quản gia hoàng cung. Quan thờ phượng Đức Giê-hô-va từ thuở nhỏ và vẫn trung thành với Ngài. Lòng trung thành của ông được chứng minh bằng sự kiện ông liều mạng giấu và nuôi một trăm tiên tri trung thành khi Giê-sa-bên tiến hành chiến dịch tiêu diệt. Ông là người can đảm, âm thầm giữ vững đức tin giữa lòng một dân tộc bội đạo. Ông cũng là một người rất bình thường, e sợ Ê-li biến mất trước khi gặp A-háp và ông phải chịu trách nhiệm và bị tử hình. Ê-li cam đoan với ông, một lần nữa, ông lấy lời thề để củng cố cho lời nói của mình rằng ông sẽ gặp A-háp nội trong ngày.

A-háp và Ê-li gặp nhau và trách móc nhau. Vì A-háp lìa bỏ Đức Giê-hô-va quay qua các thần Ba-anh (một từ bao gồm sự thờ phượng nhiều thần ngoại bang) nên vua Y-sơ-ra-ên bị gọi là kẻ gây rối cho Y-sơ-ra-ên. Ê-li thách thức A-háp triệu tập các tiên tri ngoại bang trên núi Cạt-mên. Sự kiện các tiên tri này ăn cùng bàn với Giê-sa-bên cho chúng ta biết bà là người thúc đẩy hình thành một quốc giáo mới.

(IVua 18:20-46).  Ê-li trên núi Cạt-mên Núi Cạt-mên không phải là một ngọn núi, nhưng là một dãy đồi từ vịnh A-cô chạy vào nội địa theo hướng đông Nam, dài khoảng 12 dặm (20 km). không thể định vị chính xác nơi tập trung của Ê-li. Manh mối duy nhất chúng ta biết là vị trí này không cách xa vị trí thuận lợi nhìn ra biển Địa Trung Hải (42-44). Có bằng cớ cho biết dãy núi Cạt-mên là địa điểm truyền thống thờ cúng thần Ba-anh. Nếu đúng vậy thì Ê-li cho các tiên tri Ba-anh có lợi thế là được đấu trên sân nhà.

Không phải chỉ có các tiên tri ngoại bang, mà cả dân chúng khắp Y-sơ-ra-ên tập trung tại Cạt-mên (21 so sánh c.19). Ê-li không lên án dân phạm tội bội đạo tỏ tường, nhưng ông lên án họ lưỡng lự giữa hai niềm tin. Việc này gợi ý rằng họ thử thờ phượng cả Ba-anh lẫn Gia-vê để được lợi tối đa từ cả hai phía. Ba-anh là thần thời tiết, vì vậy chịu trách nhiệm về mùa màng, còn Đức Giê-hô-va dân chúng thường cho đây là thần trong đồng vắng Si-na-i (so sánh Ha 3:3-7). Hoặc cũng có thể giống như người A-ram trong câu 20, họ cho Gia-vê là ‘thần núi chớ không phải thần trũng’ (IVua 20:28). Dù thế nào đi nữa, chắc hẳn dân chúng cho rằng Đức Giê-hô-va có lẽ không chuyên về nông nghiệp. Do đó họ cho rằng thờ phượng Ba-anh cũng hợp lý, vì Ba-anh là thần chuyên về nông nghiệp. Ê-li quét sạch tư tưởng hổn tạp kiểu đó. Dân chúng phải dứt khoát chọn lựa: hoặc là Đức Giê-hô-va, hoặc là Ba-anh.

Động từ để chỉ tình trạng ngả nghiêng của dân sự cũng có nghĩa là ‘đi giẹo’ (câu 26 cũng dùng một dạng động từ này để mô tả các tiên tri Ba-anh nhảy múa). Ê-li dùng động từ với hai ý nghĩa này để nói cho dân chúng biết rằng chính vì muốn bắt cá hai tay mà họ thực sự đã què quặt.

Lời Ê-li tuyên bố ông là tiên tri duy nhất còn sống sót nghe lạ tai, khi so với lời nói trước đây của Áp-đia (13). Lát nữa chúng ta sẽ xem xét lời tuyên bố này trong chương 19. Sau đó ông chỉ thị chuẩn bị của lễ thiêu nhưng không châm lửa. Thần nào giáng lửa thiêu đốt của lễ, thần đó là Chân Thần. Dân sự (trước đây vẫn im lặng 21) nhận xét đây là cuộc thi công bằng (24).

Các tiên tri Ba-anh được khởi sự trước. Ê-li nhường giờ giấc tốt nhất trong ngày cho họ, từ sáng ... (26) ... cho đến giờ dâng của lễ ban chiều (29). Đến giữa trưa, Ê-li chế nhạo ít lời để thay đổi không khí tẻ nhạt, trong cùng một câu, ông gọi Ba-anh là thần mà lại gán cho Ba-anh những sinh hoạt đặc trưng của con người vì không thấy Ba-anh đáp lời. Từ bận rộn dịch trong bản NIV có nghĩa đen là rút lui (bản RSV dịch là ‘đi tẻ tách riêng ra’), có thể Ê-li dùng từ này để ám chỉ Ba-anh đang nghỉ ngơi. Các tiên tri Ba-anh nhảy múa điên cuồng suốt buổi trưa, nhưng cuối câu 29 cho chúng ta biết ba chi tiết phủ định nhấn mạnh rằng tất cả đều vô ích (‘không có tiếng nói, không trả lời, cũng không nghe’).

Ê-li chuẩn bị của lễ của mình bắt đầu từ đầu với con bò thứ hai, sau khi chọn mười hai viên đá tượng trưng cho sự hiệp nhất ban đầu của Y-sơ-ra-ên, ông sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va đã bị phá huỷ - đây là một trong các nơi cao bị tác giả sách Các Vua cực lực lên án trong những hoàn cảnh bình thường. Nhưng ở đây, hoàn cảnh rất khác thường, vì sự thờ phượng Đức Chúa Trời đang lâm nguy và chính sự sống còn của dân Y-sơ-ra-ên cũng đang lâm nguy. Vì vậy, nơi chốn thờ phượng Đức Giê-hô-va không còn là vấn đề nữa, nhưng vấn đề là Y-sơ-ra-ên có tiếp tục thờ phượng Ngài nữa hay không - Y-sơ-ra-ên có còn là Y-sơ-ra-ên nữa hay không.

Ê-li muốn mọi người nhìn thấy rõ là tình thế hoàn toàn bất lợi cho ông. Ông cho người ta xách nước tưới sũng của lễ lẫn củi, nước tràn chảy xuống đường mương chung quanh bàn thờ nữa. Sau ba năm hạn hán, nước rất khan hiếm, nên tưới nước lên của lễ như thế tỏ ra ông tin cậy Chúa về hai việc. Ê-li tin Đức Chúa Trời làm mưa và tin Ngài giáng lửa xuống.

Lời cầu nguyện của ông (36-37) chứng tỏ có đức tin cao độ giữa thời điểm nguy kịch tột độ của lịch sử Y-sơ-ra-ên. Ông nhắc lại sự khai sinh của lịch sử này bằng cách xưng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ tiên dân Y-sơ-ra-ên. Lời cầu nguyện bộc lộ những điểm ưu tiên của ông: ông cầu xin Đức Chúa Trời chứng minh rằng ông là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Điểm này được đóng khung trong hai lời xin cho dân sự nhìn biết thực sự Ngài là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên.

Sự trả lời của Đức Chúa Trời thật là hùng hồn và hoàn toàn. Đức Giê-hô-va làm được điều Ba-anh không thể làm là Ngài phát chớp trong một bầu trời không có mây, ấy thế mà người ta tin rằng Ba-anh là chúa của bầu trời và thời tiết. Cuối cùng, dân sự quyết định chọn lựa giữa Đức Giê-hô-va và Ba-anh (như Ê-li đã khuyến cáo họ trong câu 21). Lời tuyên bố của họ trong câu 39 không phải chỉ có ý công nhận Đức Giê-hô-va là thần có sức mạnh trong Y-sơ-ra-ên mà còn có ý khác nữa. Cụm từ tiếng Hi-bá-lai (nguyên văn: ‘Ngài là Đức Chúa Trời’) tuyên xưng Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất. Hoá ra, các tiên tri Ba-anh chỉ là những kẻ bày trò nói dối, nên Ê-li ra lệnh giết hết.

Ở đây tác giả ghi lại vụ thảm sát nhưng không phê bình gì. Nhưng sau này Ê-li bị khiển trách về một lối nghĩ kiểu quá khích (IVua 19:1-18) và cuộc tàn sát các tiên tri Ba-anh có thể xem như là kết quả của khuynh hướng quá khích đó. A-háp mới được nhắc trở lại trong câu 41 kể từ câu 20. Trong chương này ông là nhân vật phụ, dân sự là chính. Ở đây, cũng như trong câu 20, ông nhận lệnh từ Ê-li, nhà lãnh đạo thật sự trên toàn dân tộc. Nhưng tiếc thay, A-háp vẫn hoàn toàn nhu nhược đối với Giê-sa-bên, không có biện pháp nào kiềm chế bà khi bà tìm cách giết Ê-li.

Lời cầu xin mưa của Ê-li (42-46) có những sắc thái lạ, nhưng ý nghĩa thì rõ ràng. Gió, mây và mưa đều ở trong tầm kiểm soát của Đức Giê-hô-va, vì Ngài là Đức Chúa Trời Tạo Hóa, là Đấng có quyền trên mọi vật Ngài làm ra. Lời cầu nguyện này cũng chứng minh một lần nữa rằng ông là sứ giả của Đức Chúa Trời, vì kết quả của lời cầu nguyện này xảy ra đúng như điều ông tuyên bố trong 17:1 là sẽ không có mưa nếu ông không nói.

(IVua 19:1-18). Ê-li trên núi -rếp Đến đây chúng ta thấy một khía cạnh khác trong tâm tính của Ê-li. Ông là người như mọi người, yếu đuối và có thể sai lầm. Vì sợ Giê-sa-bên nên ông chạy trốn đến đồng vắng phía nam Bê-e-sê-ba, đồng vắng này không chỉ nằm ngoài lãnh thổ Y-sơ-ra-ên, mà còn nằm ngoài biên giới phía nam của Giu-đa. Ở đó, trong cơn buồn thảm tuyệt vọng, ông cầu nguyện xin chết. Không có dấu hiệu nào gợi ý là ông tính đi xa hơn. Chuyến hành trình tiếp theo chỉ có thể hoàn thành nhờ một thiên sứ (hoặc có thể là một sứ giả) giúp ông. Cuộc hành trình dừng lại tại núi Hô-rếp, là nơi Đức Chúa Trời bổ nhiệm Môi-se (Xu 3:1-22) và sau này Ngài hiện ra trong khói, lửa và sấm chớp để ban Mười Điều Răn cho dân Y-sơ-ra-ên (19:1-20:21).

Trên núi Cạt-mên chúng ta thấy Ê-li là nhà lãnh đạo thuộc linh vĩ đại với đức tin và lòng trung tín ông đã cứu dân Y-sơ-ra-ên. Trên núi Hô-rếp, chúng ta thấy ông yếu đuối, lầm lẫn và cần được Đức Chúa Trời khiển trách. Câu hỏi mở đầu của Đức Chúa Trời cho biết mặc dù sứ giả của Đức Chúa Trời giúp ông thực hiện cuộc hành trình này, nhưng đáng lẽ ông không nên có mặt ở đó. Câu trả lời của Ê-li làm mất hết giá trị chuyện đã xảy ra trên núi Cạt-mên. Ông bỏ qua chuyện Đức Chúa Trời chiến thắng Ba-anh, coi như việc đó không đạt được gì cả. Ông ngụ ý liệt tất cả mọi người trong dân Y-sơ-ra-ên là hạng bất trung. Ông không đếm xỉa đến ông Áp-đia trung tín, và biết đâu còn có nhiều người hơn nữa cũng đầy lòng trung tín như Áp-đia. Có thể ông coi chuyện Áp-đia có địa vị trong triều đình là dấu hiệu của sự yếu đuối và thoả hiệp. Một lần nữa, ông xác định ông là tiên tri duy nhất của Đức Giê-hô-va còn sống sót (so sánh IVua 18:22). Như vậy ông coi một trăm tiên tri mà ông biết Áp-đia giấu trong hai hang đá là không ra gì. Có thể vì họ không dám đứng ra đối đầu nên họ bị xem là hoàn toàn bất lực. Mỉa mai thay, lúc này chính Ê-li cũng ẩn tránh trong một hang đá, thế mà ông lại dễ dàng bỏ qua sự kiện chính bản thân ông đã ẩn mình trong ba năm và cũng biểu lộ sự yếu đuối của mình khi ông bỏ chạy.

Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách Ngài đi ngang qua trong khi Ê-li đứng trước miệng hang. Gió, động đất và ngọn lửa liên tiếp tung hoành, nhưng không có Đức Chúa Trời trong đó. Kế tiếp là một hiện tượng khác xảy ra. Những hình thức dịch là tiếng êm dịu nhỏ nhẹ và ‘tiếng nói nhỏ nhẹ thầm lặng’ (RSV) không lột hết ý của cụm từ khó hiểu trong tiếng Hi-bá-lai có thể dịch là: ‘Một tiếng động ngắn ngủi của sự lặng lẽ’. Mặc dù đoạn văn không nói trắng ra, nhưng có ngụ ý là cuối cùng, Đức Chúa Trời đi qua trong sự yên tĩnh sau cơn bão.

Các chi tiết này chứng minh cách sống động rằng không phải lúc nào Đức Chúa Trời cũng hành động một cách hùng hồn và lộ liễu. Có lúc Ngài quyết định hiện diện trong sự lặng lẽ. Do đó, sự nhận định của Ê-li về tình cảnh ông bị bỏ lại sau là đáng phải xét lại vì có thể Đức Chúa Trời hành động theo những cách thức mà các đầy tớ của Ngài không phát hiện được.

Tuy nhiên, khi Đức Chúa Trời lập lại câu hỏi đầu tiên thì Ê-li vẫn trả lời y như trước. Đức Chúa Trời không lập lại bài dạy nữa, nhưng Ngài chỉ thị cho Ê-li xức dầu cho ba người để họ tiến hành thanh tẩy Y-sơ-ra-ên theo cách của họ. Đức Chúa Trời kết thúc chỉ thị với chi tiết là còn hơn bảy ngàn người trong dân Y-sơ-ra-ên vẫn trung tín theo Ngài (18).  Lời quở trách cuối cùng này xoáy mạnh vào bài học về sự lặng lẽ. Ê-li gạt bỏ đức tin của mọi người ngoại trừ của chính mình, cho nên ông không hiểu được cách Đức Chúa Trời làm việc. Đây là thái độ dẫn đến tình trạng kiêu căng gây chia rẽ, thậm chí còn dẫn đến quá mấu giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay.

Chúng ta thường cho rằng Ê-li suy nhược.  Nhưng có nhiều nguyên nhân dẫn đến suy nhược (từ cơn giận bị dồn nén cho đến tình trạng thiếu sinh tố). Không nên cho rằng khi chúng ta bị suy nhược, tức là nan đề của chúng ta cũng tương tự như nan đề của Ê-li, hoặc nan đề của Ê-li giống nan đề của chúng ta. Đối với Ê-li, sự suy nhược và ngã lòng kể như bắt nguồn từ quan niệm sai lệch của ông. Ông xem thường thành quả của mình và đánh giá thấp sự đóng góp của người khác.  Hướng giải quyết ít nhất là một phần nào, là phải cho ông nhìn thấy mọi sự theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng cần có cái nhìn đó, nếu chúng ta không muốn bị ngã lòng trong đời sống Cơ-đốc.

(IVua 19:19-21). Sự kêu gọi của Ê-li- Mặc dù Ê-li không xức dầu cho Ê-li-sê theo nghĩa đen, nhưng với hành động đó, ông thi hành công tác thứ ba của Đức Chúa Trời giao cho trong câu 15-16. Ê-li-sê hiểu rằng khi Ê-li tặng ông chiếc áo choàng tức là kêu gọi ông theo Ê-li, cho nên ông xin thì giờ để từ giã gia đình. Câu trả lời ngắn ngủi của Ê-li không rõ ràng, nhưng coi như ông chấp thuận lời thỉnh cầu của Ê-li-sê. Chắc chắn Ê-li-sê cần thời gian để chuẩn bị thức ăn cho bữa tiệc linh đình tạm biệt toàn thể gia nhân và thời gian cho họ ngồi lại ăn uống với nhau.  Lời Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đồ trong Lu 9:59-62 phản ánh phần nào đoạn này nhưng đòi hỏi một sự đáp ứng lập tức và cấp bách.

(IVua 20:1-21). Sa-ma-ri bị bao vây được giải cứu Chương này trình bày hai hình ảnh mâu thuẫn về A-háp. Trước hết, chúng ta thấy ông là nhà lãnh đạo can đảm, vâng lời tiên tri của Đức Chúa Trời và giành được chiến thắng. Nhưng đến cuối chương, tấm lòng bất phục cố hữu của ông lại nổi lên.

Vương quốc A-ram ở Phía bắc lại xuất hiện trong chuyện, vua cai trị nước này là Bên-ha-đát (như trong 15:18-20). Có lẽ đây là Bên-ha-đát II, con trai kế vị cho vua cha trùng tên. Bên-ha-đát bao vây Sa-ma-ri và gia tăng những điều kiện đầu hàng đến độ A-háp không chấp nhận được dựa theo sự cố vấn của các trưởng lão trong thành. Lúc ấy Bên-ha-đát đe doạ tiêu huỷ Sa-ma-ri đến nỗi bụi đất cũng không còn đủ cho những kẻ theo ông hốt mỗi người một nắm. A-háp cảnh cáo Bên-ha-đát là không nên đếm gà con trước khi trứng nở (11). Không rõ A-háp tự tin thật sự (liệu ông đã nhận được lời tiên tri bảo đảm chép trong 13-14 chưa?) hoặc chỉ nói ngông.

Một tiên tri vô danh cho biết A-háp sẽ chiến thắng, ông chỉ dẫn cụ thể ai là người chỉ huy đạo quân và khai chiến. Chiến thắng sẽ được ban cho ông để A-háp biết Ta là Đức Giê-hô-va (13). A-háp vâng lời, quân A-ram bị đánh bật và cuộc bao vây chấm dứt. Tuy nhiên, không rõ A-háp có công nhận chính Đức Chúa Trời giải vây thành hay không.

(IVua 20:22-34). Chiến thắng tại A-phéc Một lần nữa, vị tiên tri vô danh đến cảnh giác cho vua rằng Bên-ha-đát sẽ trở lại. Lời của vị tiên tri được chứng minh là đúng khi quân A-ram củng cố lực lượng của họ. Khi hai bên dàn quân bày trận, thì quân địch đông hơn quân Y-sơ-ra-ên vô số (27). Tuy nhiên, quân A-ram đã tính sai nước cờ cách nghiêm trọng. Dù họ không hồ nghi gì về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, nhưng họ cho rằng Ngài là thần núi chớ không phải thần trũng, nên Ngài sẽ không giúp gì được trong một trận diễn ra ở các vùng đất thấp. Vị tiên tri báo trước quân a-ram sẽ bại trận, họ sẽ biết rằng Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên là vô hạn, vô biên, và A-háp cũng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va (28 lập lại c.13).

Lực lượng của Bên-ha-đát bị đè bẹp đến độ ông phải đầu hàng và nài xin A-háp đối xử nhân từ. Dù dầu sao trước đây có lần cha ông đã liên minh với Ba-ê-sa (trước khi A-sa vua Giu-đa thuyết phục cha ông xoá bỏ giao ước IVua 15:19), và về sau cha ông đã đạt được hiệp ước buôn bán với Ôm-ri (20:34). Rồi ăn nói theo kiểu ngoại giao quốc tế, Bên-ha-đát tự nhận mình là chư hầu của A-háp (đầy tơ), nhưng ngay lập tức A-háp gọi Bên-ha-đát là anh em (32), như thể hai bên đã liên minh với nhau chớ chẳng phải là kẻ thù. Sự thể vua sẵn sàng liên minh (34) là cách bảo đảm tốt nhất cho nền an ninh của dân Y-sơ-ra-ên trong tương lai. Đây là lần thứ hai A-háp không côn nhận Đức Chúa Trời là Đấng Bảo Vệ Y-sơ-ra-ên.

(IVua 20:35-43). A-háp bị kết tội Câu chuyện sau đây cho chúng ta biết tâm tánh cố hữu của A-háp là không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Một lần nữa, chuyện có liên quan đến một tiên tri vô danh, nhưng chắc không phải vị tiên tri trong câu 13-28.

Để làm cho A-háp hiểu được sứ điệp của mình, vị tiên tri phải mang thương tích trên người. Người đàn ông từ chối gây thương tích cho vị tiên tri đã bị sư tử giết. Cái chết này được vị tiên tri báo trước. Đó là một sự hình phạt đối với tội không vâng lời (c.36). Sự cố kỳ lạ và kinh khủng này nhắc chúng ta nhớ lại chuyện kể trong đoạn 13, về một tiên tri không vâng phục bị sư tử giết chết. Một lần nữa, tác giả cho chúng ta biết cần phải làm đúng theo lời của Đức Chúa Trời, và hậu quả không tránh khỏi nếu không làm theo. Tuy nhiên, sự cố vừa nhắc lại chuyện cũ vừa gợi ý về chuyện sắp tới, báo cho chúng ta biết trước việc vị tiên tri sẽ phơi bày lòng không vâng phục của A-háp và sẽ công bố bản án dành cho A-háp.

Sau khi bị thương tích do tay một người khác sẵn sàng, vị tiên tri giả vờ làm một chiến sĩ mới từ trận chiến ở A-phéc trở về. Ông trình cho A-háp chuyện ông sơ hở khiến cho một tù binh A-ram trốn thoát, vua tuyên bố ông phải bị hình phạt theo mức án qui định. Không rõ việc bỏ tấm khăn che mặt trong câu 41 để lộ cái gì. Có phải nhờ đó mà A-háp nhận ra đây là vị tiên tri mà vua đã biết không? (Chắc chắn đây không phải là vị tiên tri trong câu 13-28, và A-háp nhận ra đây là một trong các vị tiên tri chớ không phải ‘vị tiên tri đó’). Hoặc vị tiên tri này mang dấu hiệu phân biệt mà các tiên tri thời đó phải mang không? (IIVua 2:23-25).

Vị tiên tri này vạch trần tội lỗi của A-háp cũng tương tự như cách tiên tri Na-than vạch trần tội lỗi của Đa-vít trong IISa 12:1-31. Trong cả hai trường hợp, vua mau lẹ kết tội người khác. Đáng lẽ vua phải xử tử Bên-ha-đát, chớ không ân xá cho ông ta. Thay vì hối hận, ăn năn thì A-háp lại tỏ ra bực dọc, tức giận.

(IVua 21:1-16). Vườn nho của Na-bốt Sự cố nổi tiếng về vườn nho của Na-bốt xảy ra ở Gít-rê-ên, là nơi toạ lạc cung điện thứ hai của A-háp và Giê-sa-bên (1  IVua 18:45-46). Xem ra, A-háp cũng biết điều khi đề nghị xin mua vườn nho đó. Nhưng Na-bốt có lý do chính đáng để từ chối. Ngoài vấn đề ông đã đầu tư vào đó quá nhiều công sức và thì giờ, thì việc bán đất còn đi ngược lại tinh thần của luật pháp trong Cựu Ước. Trong xã hội Y-sơ-ra-ên, một gia đình và mảnh đất thừa tự là hai điều không thể tách rời được (Le 25:25-28  Dan 27:1-11  36:7). Sự kiện này lý giải giọng điệu từ khước mạnh mẽ của Na-bốt trong câu 3.

Dầu bực tức nhưng A-háp phải chấp nhận. Nhưng Giê-sa-bên thì không. Bà không thể hiểu vì sao một vị vua Y-sơ-ra-ên lại không có quyền làm theo ý mình muốn (7). Tại đây chúng ta thấy sự xung khắc giữa hai quan niệm về vương quyền. Vua Y-sơ-ra-ên có bổn phận làm theo luật pháp của Đức Giê-hô-va y như bất cứ người dân nào dưới quyền vua (Phu 17:18-20). Nhưng đối với Giê-sa-bên, con gái của quốc vương Phê-ni-xi, bà cho rằng thật lố bịch khi ý muốn của chồng bà lại có thể bị gạt ngang bởi một tên thường dân khư khư tuân thủ bộ luật cổ đại. Tuy nhiên, bà không dám công khai phỉ báng những giá trị truyền thống trong tôn giáo của dân Y-sơ-ra-ên. Thay vào đó, bà sắp đặt mưu kế để cáo gian và xử tử Na-bốt, tạo cơ hội cho A-háp tịch thu vườn nho của ông. Na-bốt bị vu cáo là vi phạm luật pháp trong Xu 22:28, nhưng trên thực tế, cả A-háp và Giê-sa-bên phạm tội tham lam của cải của kẻ lân cận, giết người và làm chứng dối trong vụ việc bẩn thỉu này (20:13,15-17).

(IVua 21:17-19). Ê-li tiên báo triều đại sụp đổ Ê-li lại xuất hiện trong chuyện với nhiệm vụ nói tiên tri về đại hoạ cho nhà A-háp. Dù chính Giê-sa-bên dàn chuyện cái chết của Na-bốt, nhưng A-háp chấp nhận cho bà hành động. Ông không bận tâm hỏi xem Giê-sa-bên dự định làm gì khi bà hứa lấy vườn nho đó cho ông, và ông yên lòng rút êm ra sau hậu trường cho đến khi Na-bốt chết. Giờ đây vị tiên tri lên án rằng vua đã giết người và chiếm đoạt tài sản của người đó (19). Đây là lý do cận kề khiến vị tiên tri công bố lời tiên tri đó, nhưng đây mới chỉ là tội lỗi mới nhất của A-háp. Ông đã khiến cho Y-sơ-ra-ên phạm tội (22), chắc chắn cũng ám chỉ đến việc ông thờ hình tượng (26).

Lời tiên tri vang vọng lời tiên tri của A-hi-gia truyền cho Giê-rô-bô-am và Giê-hu truyền cho Ba-ê-sa thậm chí còn dùng dạng câu tương tự (so sánh c.21 với IVua 14:10 c.22 với 16:3 c.24 với 14:11 và 16:4). Rồi tiên tri cũng không bỏ qua vai trò của Giê-sa-bên.  Bà cũng bị đoán phạt nữa (23,25).

Đáng ngạc nhiên là A-háp, vị vua tội lỗi nhất trong các vua Y-sơ-ra-ên (16:30) lại tỏ lòng ăn năn nhiều nhất (27). Đáp lại Đức Chúa Trời phán với Ê-li rằng hình phạt không giáng trên A-háp, nhưng trên con ông. Triều đại của ông tồn tại thêm một thế hệ nữa.

(IVua 22:1-28). Mi-chê cuộc chiến tranh với vương quốc A-ram Đến năm thứ ba thì hoà ước giữa A-háp và Bên-ha-đát lại bị xé bỏ lần nữa. Hình như A-háp chủ động trước, vì ông muốn chiếm lại Ra-mốt Ga-la-át, khu vực núi đồi phía đông sông Giô-đanh.

Trước hết, ông liên minh với Giô-sa-phát, vua Giu-đa (4). Giô-sa-phát cương quyết phải cầu hỏi Đức Giê-hô-va trước khi hành động, A-háp tập trung bốn trăm tiên tri của ông lại, tất cả đều đồng một lời nói là vua sẽ chiến thắng. Rõ ràng Giô-sa-phát nghi rằng họ chỉ là đám người chỉ nói cho vừa lòng A-háp nên vua hỏi thẳng A-háp rằng ở đây còn có đấng tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu vấn người ấy chăng?

A-háp công nhận còn một tiên tri nhưng ông không mời bởi vì tiên tri này luôn nói những lời trái ý ông. Giô-sa-phát quở trách thái độ của A-háp. Rồi Mi-chê được mời đến. Đến đây dòng chuyện thay đổi đột ngột. Khi sứ giả của vua khuyên ông nên nói giống như các tiên tri kia, thì Mi-chê trả lời rằng ông chỉ có thể nói những điều Đức Chúa Trời phán dặn (13-14). Nhưng thật là ngạc nhiên vì ông nói giống như các tiên tri kia, hoá ra coi như từ đầu đến cuối các tiên tri này đã nói đúng (15), lạ hơn nữa là A-háp ra lệnh cho ông phải nói sự thật. Vua biết lời lành mà Mi-chê vừa nói không phải là lời chân thật (8). Chúng ta lại rơi vào những vấn đề khó hiểu trong chương 13 là làm thế nào phân biệt đâu là lời tiên tri thật? Nhưng lần này dòng chuyện chuyển qua một hướng mỉa mai khác, vì A-háp là vị vua xưa nay luôn luôn chống cự Lời của Đức Chúa Trời, nên giờ đây vua nhanh nhạy nhận biết đây là một lời nói dối và buộc Mi-chê phải nói thật. Kết quả là A-háp tự sụp bẫy: Nếu ông coi những lời đầy khích lệ của Mi-chê là dối trá thì ông cũng coi những lời đầy khích lệ của bốn trăm tiên tri kia là dối trá.

Mi-chê đáp lại bằng một hình ảnh cho thấy rõ rằng A-háp sẽ chết trên chiến trường (17).  Nếu A-háp khước từ lời tiên tri trước, thì ông phải nhận lời tiên tri này! Còn một chuyện lạ tiếp theo nữa là Mi-chê kể lại kinh nghiệm tham dự một cuộc bàn luận của Đức Giê-hô-va - một kinh nghiệm giúp phân biệt một tiên tri thật với một tiên tri giả trong những trường hợp khác (Gie 23:17-18). Ông tiết lộ rằng lời nói của bốn trăm tiên tri kia (gọi là của vua, tức là của A-háp, chớ không phải của Đức Giê-hô-va) là do một linh nói dối cảm thúc nói ra, vì Đức Chúa Trời sai linh nói dối này đến để dụ A-háp đi vào chỗ chết. Kết quả của những lời của tiên tri Mi-chê là để xác chứng cho lời kết là lời A-háp ép buộc ông phải nói ra rằng lời tiên tri đầy hi vọng kia là dối trá.

Câu nói leo của Sê-đê-kia (phát ngôn nhân của bốn trăm tiên tri trong câu 11) khơi dậy một vấn đề khó hiểu. Chắc đây là lời nói mỉa với dụng ý phủ nhận chuyện Mi-chê đã nhận được một lời tiên tri thật từ Đức Chúa Trời. Mi-chê trả lời khi nào Sê-đê-kia chạy trốn cứu mạng mình thì lúc đó ông biết sự thực. Nhưng khi chối bỏ giá trị lời nói của Mi-chê, Sê-đê-kia đã khơi lại một vấn đề quan trọng: Ai là người nói thật, Mi-chê hoặc Sê-đê-kia và các đồng bạn của ông? A-háp đứng trước sự chọn lựa: tin lời vị tiên tri vua ghét, hoặc tin những người đã bị vua (gián tiếp) vạch trần là nói dối?

Vua đã quyết định hành động đúng theo lòng căm thù cá nhân đối với Mi-chê, và đúng theo tâm tánh cố hữu của ông là chống nghịch Lời của Đức Chúa Trời. Nghịch lý thay, ông cũng hành động theo lời tiên tri đó là lời báo trước rằng tai hoạ sẽ đến trên ông (23).

Câu chuyện lạ lùng này đặt ra một vấn đề là có thể nhận biết một lời tiên tri thật và giả không? Không dễ dàng giải đáp vấn đề này. Chúng ta chỉ có thể áp dụng tiêu chuẩn trong Phu 18:22 bằng cách suy nghiệm lại mà thôi, một tiêu chuẩn khác trong 13:1-3 nhấn mạnh sự thể vị tiên tri ấy dẫn dắt dân sự đến chỗ hầu việc Đức Chúa Trời chân thật hoặc lìa bỏ Ngài, chớ không căn cứ vào sự ứng nghiệm của lời tiên tri đó.

(IVua 22:29-40). A-háp tử trận A-háp cải trang ra chiến trường với hi vọng là sẽ thoát chết. Nhưng vua không thể trốn thoát kết cuộc đã được báo trước, một mũi tên tình cờ bắn trúng vào khe hở của bộ áo giáp làm cho vua bị trọng thương. Thậm chí trong lúc vua tìm cách coi thường lời nói của Mi-chê thì cuối cùng vua lại làm ứng nghiệm các lời đó, bởi vì các biến cố do tiên tri của Đức Chúa Trời báo trước đều nằm dưới quyền kiểm soát của Ngài. Các lời tiên tri trước đây của Ê-li cũng được ứng nghiệm khi các con chó liếm máu của A-háp ở bên ngoài thành Sa-ma-ri, y như chó đã liếm máu của Na-bốt ở bên ngoài Gít-rê-ên (IVua 21:19  22:38).

Phần kết thúc câu chuyện tập trung vào sự thịnh vượng trong thời trị vì của A-háp và các chương trình xây dựng rộng rãi của ông.  Hiện nay khoa khảo cổ hoàn toàn xác nhận các công trình này.

4. THỜI TRỊ VI CỦA CAC CON TRAI CỦA A-HAP (IVua 22:41-53  IIVua 8:29)

(IVua 22:41-50) Giô-sa-phát làm vua Giu-đa Tác giả đặt bản tóm tắt thời trị vì của Giô-sa-phát ở Giu-đa xen vào giữa những chương tường thuật nhiều về Y-sơ-ra-ên. Sau lời mở đầu bình thường (41-42) tác giả khen Giô-sa-phát tiếp tục đi theo con đường tin kính Chúa của A-sa (43a) và hoàn tất những công cuộc cải cách (46) dù tác giả cho biết vua vẫn chấp nhận các nơi cao. Nội chuyện tác giả viết về việc ông liên minh với A-háp (44) ngay sau vấn đề nơi cao đủ cho chúng ta biết tác giả kể đây cũng là một khuyết điểm. Sự kiện Giu-đa vướng mắc với Y-sơ-ra-ên thực sự để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng trong thời trị vì của các vua sau này. Giô-sa-phát nổ lực khôi phục đoàn tàu buôn đi Biển Đỏ, vốn là một ngành trong thương trường dưới thời trị vì của Sa-lô-môn (48) là dấu hiệu cụ thể về sự suy thoái của nước Giu-đa kể từ thời hoàng kim của Sa-lô-môn

(IVua 22:51-53). A-cha-xia làm vua Y--ra-ên Trong trường hợp của A-cha-xia con trai A-háp cũng như trường hợp của A-háp. Phần dẫn nhập cho thời trị vì của một tân vương không có phần kết thúc. Tác giả dời phần kết luận đến sau một chuyện khác nữa có liên quan đến Ê-li (IIVua 1:1-18). Cho nên phần tường thuật về thời trị vì của A-cha-xia nom giống như bản tường thuật về thời trị vì của A-háp thu nhỏ lại, phản ánh thời trị vì của vua thực sự chỉ như tiếng dội ngắn nhỏ của thời vua cha cai trị mà thôi.

Lên đầu trang