2 CÁC VUA

MỤC LỤC

IICÁC VUA

1. HAI VƯƠNG QUỐC: TRIỀU ĐẠI ÔM-RI  (IIVua 1:1-10:36) (IVua 16:29)

1.A-cha-xia và Ê-lI (IIVua 1:1-2:18)

(IIVua 1:17) Cuộc nổi loạn của dân Mô-áp đề cập sơ qua trong câu 1, được nhắc lại trong chương 3, làm bối cảnh cho toàn thể chương này.  Ở đây tác giả ám chỉ sự thối nát và suy thoái của triều đại Ôm-ri, đã được tiên báo là sẽ xảy ra trong thời trị vì của con trai A-háp (IVua 21:29).

Tai nạn của A-cha-xia tự nó không phải là một sự hình phạt của Đức Chúa Trời đối với vua.  Nhưng vì ông cầu hỏi các thần ngoại bang nên ông bị tiên tri lên án.  Tác giả chế giễu thần Éc-rôn bằng cách đổi tên của thần là Ba-anh Xê-bun (‘Hoàng tử Ba-anh’) thành tên Ba-anh Xê-bụt (‘Chúa Ruồi’).  (Từ Xê-bun cũng tìm thấy trong tên Giê-sa-bên, nghĩa là ‘Hoàng tử ở đâu’?).  Thay vì đem sứ điệp của Ba-anh Xê-bun từ Éc-rôn trở về, các sứ giả của A-cha-xia lại mang về sứ điệp của Đức Giê-hô-va phán qua Ê-li!  Vì A-cha-xia không tìm kiến Đức Giê-hô-va trong cơn bịnh hoạn, nên Ngài chứng minh Ngài có quyền trên vấn đề sinh tử.

Khó giải thích số phận kinh khủng của hai vị đội trưởng và một trăm người lính trong câu 9-12.  Có lẽ A-cha-xia cũng đe doạ giết Ê-li như A-háp và Giê-sa-bên đã từng đe doạ trước kia.  (Lời thiên sứ phán với Ê-li trong câu 15 ‘đừng sơ’ củng cố ý này).  Hoặc A-cha-xia phải học biết rằng không thề hành quyền trên người của Đức Chúa Trời được vì họ cũng tương tự như Đức Chúa Trời vậy.  Nhưng lời nài nỉ của vị đội trưởng thứ ba đã đem lại kết quả khác hẳn.

Dù A-cha-xia có mong đợi gì đi nữa khi triệu cho được Ê-li về cung, thì giờ đây vua cũng chỉ nghe lập lại lời tiên tri đã nói trước đây là vết thương sẽ không lành và vua sẽ chết (16).

Dựa theo lời tiên tri của Ê-li nói trước đây về A-háp (IVua 21:29) chắc chúng ta đoán A-cha-xia là vua cuối cùng của triều đại Ôm-ri.  Nhưng khi vua băng hà thì Giê-hô-ram (hoặc Giô-ram), một người con trai khác của A-háp (IIVua 3:1) lên làm vua.  Lời tiên tri của Ê-li còn chờ ngày ứng nghiệm.

(IIVua 2:1-18).  Ê-li ra đi Cuộc hành trình trong bản tường thuật này gồm nhiều nơi có liên quan đến quá khứ của dân Y-sơ-ra-ên.  Ghinh-ganh (1) là nơi dừng chân đầu tiên sau khi dân Y-sơ-ra-ên qua sông Giô-đanh.  Những người nam trong dân Y-sơ-ra-ên ra đời trong đồng vắng được cắt bì tại đó (Gios 5).  Bê-tên (2) là nơi Gia-cốp gặp gỡ Đức Chúa Trời sâu trong vùng đồi núi khoảng 14 dặm (24km) (Sáng Thế 28).  Giê-ri-cô (4) nằm trong thung lũng Giô-đanh gần Ghinh-ganh, là thành đầu tiên rơi vào tay Giô-suê (Gios 6:1-27) và sông Giô-đanh (6) ngừng chảy cách lạ lùng để mở đường cho dân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ (3:1-17).

Ngoài khúc quanh lên Bê-tên ra, cuộc hành trình chủ yếu nhắm vào các nơi có liên quan đến việc dân Y-sơ-ra-ên tiến vào đất hứa.  Mục đích của cuộc hành trình này, hoặc ít ra là mục đích của tác giả khi tường thuật cuộc hành trình này là tập trung vào vai trò đặc biệt của Ê-li và Ê-li-sê trong lịch sử Y-sơ-ra-ên.  Những chuyện trước đây trong đời sống Ê-li nhắc lại các lãnh vực trong chức vụ của Môi-se.  Thí dụ: cũng như Môi-se, Ê-li được khải thị về Đức Chúa Trời trên núi Hô-rếp, và cuộc tàn sát các tiên tri Ba-anh giống như tái diễn thanh tẩy sau sự cố cúng thờ con bò vàng (Xu 32:25-29). Bây giờ ông vượt sông Giô-đanh đi qua bờ phía đông (cũng theo cùng một cách thức khi dân Y-sơ-ra-ên vượt Biển Đỏ dưới sự lãnh đạo của Môi-se) và chức vụ của Môi-se cũng chấm dứt trong vùng phía đông sông Giô-đanh như Ê-li.  Cuộc đời của Môi-se kết thúc một cách bí ẩn (Phu 34:6), cuộc đời của Ê-li cũng kết thúc một cách bí ẩn không kém.  Các điểm tương tự trong đời sống của hai người được nhấn mạnh trong Tân Ước khi cả hai người hiện ra nói chuyện với Chúa Giê-xu lúc Ngài hoá hình (Mat 17:3).

Các điểm tương tự giữa Ê-li và Môi-se bao hàm một ý nghĩa thần học.  Môi-se là người trung gian của giao ước lập tại Si-na-i và Hô-rếp.  Ông cũng là tiên tri (Phu 18:15  34:10) đưa dân Y-sơ-ra-ên vào mối tương quan của giao ước và trở thành dân của Đức Chúa Trời.  Ê-li là tiên tri khiến cho dân Y-sơ-ra-ên quay trở lại với giao ước tại Si-na-i và địa vị đặc biệt của dân Y-sơ-ra-ên được cứu vãn.  Tóm lại, những điểm tương đồng với Môi-se đặt Ê-li vào địa vị quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên nhất là sách Các Vua.  Ông H.H. Rowley (‘Ê-li Trên Núi Cạt-mên’ BJLR, 43(1960), 190-219) đã tóm tắt ngắn gọn mối tương quan giữa chức vụ của Môi-se và của Ê-li như sau: ‘Nếu không có Môi-se, thì đạo của Đức Giê-hô-va theo như giải bày trong Cựu Ước sẽ không bao giờ được sáng lập.  Nếu không có Ê-li thì đạo này hẳn đã mai một.’

Nếu Ê-li được xem là Môi-se thứ hai, thì Ê-li-sê xem ra cũng cùng khuôn với Giô-suê.  Cũng như Giô-suê kế vị Môi-se lãnh đạo dân sự, thì Ê-li-sê cũng kế vị Ê-li, ông vượt sông Giô-đanh đi trên đất khô từ bờ hướng đông sang bờ hướng tây như Giô-suê đã đi (14) và theo bước chân của Giô-suê, ông đi đến Giê-ri-cô (15-22).  (Ngay cả tên Ê-li-sê cũng gợi ý nghĩa của tên Giô-suê.  Ê-li-sê nghĩa là ‘Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi’, còn Giô-suê nghĩa là ‘Giê-hô-va là sự cứu rỗi’).

Sự ra đi của Ê-li bày tỏ quyền năng và sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời.  Ê-li-sê và mấy nhóm tiên tri tại Bê-tên và Giê-ri-cô đều biết trước việc Ê-li sẽ đi (3,5), rồi cuối cùng sự việc xảy ra dưới hình thức không lời nào tả rõ được (11). Ê-li-sê cầu xin nhận được bội phần Linh của Ê-li (9) phản ánh sự thừa kế của con trưởng nam (Phu 21:17), và chúng ta thấy có mối liên hệ giữa chi tiết này với việc Ê-li-sê gọi Ê-li là cha (12).  Như vậy chung cuộc là ông xin được thừa kế chức vụ của Ê-li.  Điều kiện Ê-li đưa ra (10) có lẽ bao hàm rằng Ê-li-sê phải hiểu ý nghĩa chớ không phải chỉ có chứng kiến sự kiện ông ra đi.  Tiếng kêu của Ê-li-sê ‘xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên’ (12) cho chúng ta biết ông nhận biết là sức mạnh thực sự của dân Y-sơ-ra-ên và là sự bảo vệ của họ.  Ông xé áo để khóc cho sự mất mát của dân Y-sơ-ra-ên.

Khi Ê-li-sê đến sông Giô-đanh thì sông rẽ ra như đã rẽ ra cho Ê-li, sự kiện này xác nhận rằng Linh vận hành trong Ê-li bây giờ ngự trong ông.  Bởi đó, các tiên tri ở Giê-ri-cô công nhận ông là thầy của họ (15).  Tuy nhiên, họ không hiểu sự ra đi của Ê-li đến mức như Ê-li-sê hiểu, cho nên họ nhất quyết đi tìm Ê-li. Ê-li-sê biết đi tìm cũng vô ích (16-18).

Đến thế kỷ thứ V T.C., tiên tri Ma-la-chi tiên báo Ê-li sẽ trở lại trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va (Ma 4:5).  Văn cảnh đoạn này cho biết là một tiên tri sẽ đến thi hành chức vụ tương tự như chức vụ của Ê-li tức là đem dân sự trở lại cùng Đức Chúa Trời (Ma 4:6).  Nhưng đoạn này cũng dẫn đến nhiều suy đoán cho rằng chính bản thân Ê-li sẽ đến (so sánh Mat 17:10  Mac 8:28).  Chúa Giê-xu cho biết Giăng Báp-tít đã tiếp nối thi hành chức vụ của Ê-li, và làm ứng nghiệm lời tiên tri của Ma-la-chi (Mat 11:14  17:11-13).

Có thể các tiên tri tại Bê-tên và Giê-ri-cô là những người Y-sơ-ra-ên trung tín trong số bảy ngàn người được đề cập trong IVua 19:18.  Đọc thêm phần bình giải về IIVua 6:1-7

2. Ê-LI SÊ (IIVua 2:19-6:23)

(IIVua 2:19-22).  Chữa lành suối Giê-ri- Giê-ri-cô là một trong các thành cổ xưa nhất thế giới, với lịch sử định cư lâu đời vào khoảng 8000 T.C..  Thành phố này độc đáo nổi tiếng là nhờ một dòng suối nhiều nước tưới vùng phụ cận và làm cho đất đai màu mỡ.  Tuy nhiên, trong thời của Ê-li-sê, nước trong dòng suối này có mùi hôi thối.  Muối do Ê-li-sê sử dụng chỉ là biểu tượng, vì muối ném xuống nước chảy thì không ảnh hưởng đến mạch ngầm trong đất gì cả.  Chính Lời Đức Giê-hô-va qua môi miệng Ê-li-sê mới tẩy sạch dòng nước.  Trong trường hợp này chúng ta cũng nhận thấy lời tuyên bố của Ê-li-sê (Giô-suê mới) đã vô hiệu hoá lời của Giô-suê rủa sả thành Giê-ri-cô (Gios 6:26).  Chi tiết rất có ý nghĩa là vị Giô-suê mới cũng đi theo con đường mà Giô-suê thứ nhất đi khi ông dắt dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an (Bê-tên nằm gần A-hi, nơi Giô-suê tiến đến sau khi ông chiếm được Giê-ri-cô, Gios 7:2).

(IIVua 2:23).  Sự cố tại -tên Khi đi Bê-tên, Ê-li-sê đi lại chặng đường ông đã cùng đi với Ê-li (Bê-tên - Giê-ri-cô - Giô-đanh, c.2-8 Giô-đanh - Giê-ri-cô - Bê-tên, c.13-23).

Cái chết của đám trẻ đã chế giễu Ê-li-sê xảy ra thình lình và gây chấn động như khi lửa thiêu đốt các binh lính trong IIVua 1:9-12.  Thậm chí còn xúc động hơn nữa nếu dịch đám trẻ là ‘các bé trai’ (RSV) hoặc dịch là ‘các em nhỏ’ (KJV).  Danh từ dùng trong câu 23 khác với danh từ dùng trong câu 24, có thể dịch cả hai danh từ này là ‘bọn con trai’ hoặc là ‘đám trẻ’.  Bản NIV thích dùng từ đám trẻ hơn, nhưng không dịch tính từ trong câu 23 mô tả chúng còn nhỏ.  Nếu tính từ này không có nghĩa là ‘vô lại’ hoặc ‘không xứng đáng’ thì từ này ngụ ý chúng là những đứa con.  Có thể lý giải sự hình phạt nghiêm khắc này trong trường hợp Ê-li-sê đặc biệt bị chế nhạo trong vai trò thủ lãnh các tiên tri của Đức Giê-hô-va.  Có thể từ lão trọc là một lời chế nhạo kiểu cạo đầu của các tiên tri khi họ trở nên thành viên của một trường phái tiên tri.  Sau sự cố này, Ê-li-sê đi lên mạn Bắc, đến chỗ Ê-li từng chiến thắng các tiên tri Ba-anh, rồi ông đi đến thủ đô Y-sơ-ra-ên.

(IIVua 3:1-20).  Chuẩn bị tái chiếm -áp  Bản NIV luôn luôn  dùng dạng tên Giê-hô-ram thay cho Giô-ram, để phân biệt vua này với vua Giô-ram, cai trị nước Giu-đa đồng thời với vua này trong một thời gian.

Tác giả khen Giô-ram một cách yếu ớt vì vua chỉ đi theo con đường của Giê-rô-bô-am chứ không sa vào đáy sâu tội lỗi của A-háp và Giê-sa-bên.  Dù ông có hạ tượng Ba-anh do A-háp dựng nên (2), nhưng qua chương 10 chúng ta biết rõ sự thờ phượng Ba-anh vẫn được phép phát triển tại Sa-ma-ri.  Cuộc đọ sức của Ê-li trên núi Cạt-mên để lại hiệu quả là sự thờ phượng Ba-anh không còn được nâng lên làm quốc giáo của Y-sơ-ra-ên nữa.  Nhưng bao lâu Giê-sa-bên còn thống trị hoàng cung, thì sự thờ phượng Ba-anh vẫn còn là nét đặc trưng của sinh hoạt ở thủ đô.

Căn cứ vào bia đá của nước Mô-áp (xem phần giới thiệu), chúng ta biết Mô-áp là nước chư hầu của Y-sơ-ra-ên trong thời Ôm-ri cai trị.  Theo IIVua 1:1, nước này nổi loạn trong thời trị vì ngắn ngủi của A-cha-xia, do đó Giô-ram có nhiệm vụ giành lại quyền kiểm soát.

Bản tường thuật có nhiều điểm tương đồng với bản tường thuật về chiến dịch của A-háp chống lại A-ram (IVua 22:1-54).  Cả hai chiến dịch đều nhằm tái chiếm lãnh thổ phía đông sông Giô-đanh.  Trong cả hai trường hợp, Giô-sa-phát vua Giu-đa đều là đồng minh (vua bày tỏ sự nhiệt thành bằng lời lẽ giống nhau trong cả hai lần so sánh 22:4 và IIVua 3:7).  Trong cả hai trường hợp Giô-sa-phát đều đòi phải cầu hỏi Đức Giê-hô-va qua vị tiên tri, và cả hai chiến dịch đều không có kết cuộc rõ ràng dứt khoát.

Vua Ê-đôm theo phe Giô-sa-phát (9).  Có lẽ một vị công sứ cai trị Ê-đôm trong IVua 22:47 là do Giô-sa-phát bổ nhiệm, chớ không phải một người bản xứ thuộc hoàng tộc Ê-đôm.  Như vậy, hình như Giu-đa đã tái lập quyền kiểm soát Ê-đôm kể từ thời Ha-đát (11:1-43).

Vì thiếu nước trầm trọng, nên các vua phải cầu vấn Ê-li-sê.  Chuyện này khiến chúng ta nhớ lại chuyện A-háp đi tìm Ê-li trong trận hạn hán (18:1-15).  Tuy nhiên về những khía cạnh khác, thì hai trường hợp này rất khác nhau.

Bằng tấm lòng thành kính và với giọng sùng đạo và tin tưởng vua Giô-ram nói rằng Đức Giê-hô-va là Đấng khởi xướng chiến dịch này (10,13), dù trước đây chúng ta không thấy ông tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời về vấn đề này.  Ê-li-sê coi vẻ sùng đạo của vua là cạn cợt, nếu không phải là hoàn toàn giả dối (13-14).  Giô-ram nói về ý Đức Chúa Trời cho phép vua hành động trong khi trong thực tế vua không hề cầu hỏi ý của Ngài - Đây là một sự sai lầm hết sức phổ thông!  Chỉ khi nào lâm vào cảnh khó khăn, ông mới làm điều đáng lẽ ông phải làm từ trước.

Ê-li-sê nhờ đến tác động của âm nhạc trong khi nói tiên tri (15) nhắc chúng ta nhớ lại ISa 10:5-13, các tiên tri xuất thần sử dụng nhạc khí.  Ông báo trước nước sẽ uống được và họ sẽ thắng trận, ngay ngày hôm sau lời tiên tri thứ nhất ứng nghiệm.  Kể từ đây, Ê-li-sê không đóng vai trò nào nữa trong câu chuyện.

(IIVua 3:21-27).  Trận chiến với dân -áp Khá kỳ lạ là quân Mô-áp nhận định sai khi họ nhìn ánh nắng ban mai chiếu trên mặt nước (22-23).  Có lẽ chúng ta phải hiểu rằng chính Đức Chúa Trời đã làm cho họ tưởng lầm, và bằng cách này Ngài nộp dân Mô-áp vào tay ba vua (18).  Đây là một cách chơi chữ trong các câu này như ‘Ê-đôm’, ‘đỏ’, ‘máu’, ba từ này giống nhau trong tiếng Hi-bá-lai mà tiếng Việt không thể chuyển dịch được.

Giô-ram và các đồng minh đánh bại dân Mô-áp - làm ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-li-sê.  Tuy nhiên, khi vua Mô-áp dâng con đầu lòng làm vật hiến tế bên tường thành Kiệt Ha-rê-sết (27), thì quân Y-sơ-ra-ên rút lui và không tiếp tục giành thắng lợi nữa.  Đoạn văn không nói rõ vì sao Y-sơ-ra-ên phải rút lui.  Phải chăng cơn giận nổi lên nghịch lại Y-sơ-ra-ên là từ phía dân Mô-áp khi họ chứng kiến cảnh vua của họ phải làm điều kinh khủng đó khi rơi vào thế cùng khốn?  Hoặc nói cách khác là phải chăng vật hiến tế đã phấn khích dân Mô-áp quyết liệt chiến đấu?  Hoặc phải chăng cơn giận dữ (có thể dịch là ‘xung đột’) giáng trên Y-sơ-ra-ên (RSV)?  Nghĩa là khi nhìn thấy cảnh dâng con người làm vật hiến tế mà quân Y-sơ-ra-ên kinh hoảng (vì ghê rợn hoặc vì mê tín dị đoan) đến nỗi họ phải từ bỏ toàn bộ chiến dịch?  Cả hai cách lý giải đều khả dĩ.  Không rõ sau đó chiến dịch đem lại kết quả ra sao.  Nếu quân Y-sơ-ra-ên rút lui, thì phải chăng dân Mô-áp vẫn độc lập, tự do?  Dân Mô-áp đã khắc trên bia đá kỷ niệm cuộc nổi loạn thành công, nhưng sự kiện này không xác minh cho vụ này được, vì biết đâu bia đá đã được khắc trước khi Giô-ram tiến hành chiến dịch.

(IIVua 4:1-7).  Dầu được cung ứng cách lạ lùng Nét đặc trưng trong chức vụ của Ê-li-sê là phép lạ.  Phép lạ đầu tiên là chữa lành suối nước tại Giê-ri-cô (IIVua 2:19-22).  Sau đó là một loạt bảy phép lạ (4:1-6:7).  Xin xem phần bình giải về phép lạ cuối cùng để nắm được ý nghĩa của toàn bộ các phép lạ này (6:1-7).

Một tục lệ được chấp nhận tại Y-sơ-ra-ên là nếu mắc nợ mà không trả nổi, thì một vài người hoặc cả nhà phải làm đầy tớ cho chủ nợ (Le 25:39-41).  Goá phụ của một tiên tri lâm vào tình cảnh này.  Bà sắp mất hai đứa con trai.  Tình cảnh của bà thật là ngặt nghèo, vì bà chẳng còn ai canh tác thửa đất của gia đình.  Rồi đây nợ chồng chất lên nợ nếu Ê-li-sê không giúp đỡ.

Phép lạ dầu chảy trong bình nhắc chúng ta nhớ lại phép lạ cung ứng dầu và bột cho goá phụ đã cho Ê-li tá túc trong nhà (IVua 17:13-16), nhưng ở đây dầu được đem bán đi để trả nợ.

(IIVua 4:8-17).  Một con trai cho thiếu phụ người Su-nem Su-nem toạ lạc ở đâu đó gần Gít-rê-ên (Gios 19:18).  Su-na-mít (12) là một tính từ giống cái bắt nguồn từ tên của thành phố.  Tác giả dùng từ này để chỉ về thiếu phụ đã tiếp đãi Ê-li-sê.  Tác giả không cho biết tên của bà.  Câu 13 cho chúng ta biết mối liên hệ của Ê-li-sê với hoàng cung khác với Ê-li.  Hình như ông được kính trọng và có ảnh hưởng trong hoàng cung.  Câu này dự báo chương 8, khi Ghê-ha-xi, đầy tớ của Ê-li-sê cầu xin vua giùm cho thiếu phụ.

Lời hứa về sự ra đời của một cậu con trai trong những điều kiện hoàn toàn bất khả cũng tương tự như lời Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham và Sa-ra (Sa 18:10).  Câu trả lời đầy ắp hoài nghi của bà gợi chúng ta nhớ lại trường hợp của Sa-ra (18:12).  Nhưng lời nói của vị tiên tri được minh chứng là đáng tin cậy.

(IIVua 4:18-37).  Con trai của thiếu phụ người Su-nem sống lại Chuyện này rất giống với chuyện Ê-li khiến cho cậu con trai của goá phụ ở Sa-rép-ta sống lại (IVua 17:1-24).  Trong cả hai trường hợp, phép lạ đều xảy ra trên giường riêng của vị tiên tri, trong phòng cao và cách thức cũng giống nhau.  Nhưng chuyện này có nhiều chi tiết hơn chuyện trước và thương tâm hơn nhiều.  Và trong chuyện này, tác giả xác định là đứa bé đã chết.

Thiếu phụ đặt đứa con chết lên giường Ê-li-sê và vội vàng đi tìm ông cho chúng ta thấy bà tin Ê-li-sê có thể làm cho con bà sống lại.  Tác giả kể lại chuyện đứa bé sống lại và mẹ con sum họp với nhau cách đơn sơ nhưng cảm động.  Một lần nữa qua người của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng của Ngài trên sự sống và sự chết.

(IIVua 4:38-41).  Nồi canh độc Sự cố này xảy ra trong thời kỳ đói kém (38) kéo dài bảy năm.  Có lẽ đây là nạn đói chép trong IIVua 8:1.  Cũng như trong chương 2, lần này chúng ta thấy ông bầu bạn với một nhóm tiên tri tại Ghinh-ganh (nguyên văn là ‘con của các tiên tri’ như trong bản RSV).  Vì thiếu thức ăn nên một trong các tiên tri hái quả lạ về ăn mà không biết những trái này rất độc.  Việc Ê-li-sê bỏ bột vào nồi canh chỉ là biểu tượng (giống như khi ông bỏ muối xuống suối tại Giê-ri-cô trong 2:21).  Vì ông là người của Đức Chúa Trời, nên việc làm của ông có kết quả.

(IIVua 4:42-44).  Thức ăn cho một trăm người Một lần nữa, có thể một trăm người này (43) là một nhóm các tiên tri sống tập thể.  Hai mươi ổ bánh vừa mỏng, vừa nhỏ, nên không thể nào đủ cho số đông người như thế - do đó đầy tớ của ông mới ngạc nhiên vặn hỏi.  Tuy nhiên, Ê-li-sê đã nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời là sẽ có nhiều lương thực, và kết quả là đúng như vậy.

(IIVua 5:1-27). Chữa lành cho Na-a-man Mối bang giao giữa hai nước Y-sơ-ra-ên và A-ram gồm có những cuộc chiến xen kẻ với những thời gian hoà bình với nhau (thí dụ như IVua 22:1).  Chuyện của Na-a-man xảy ra trong một thời kỳ giao hảo tốt đẹp.  Chủ đề xuất hiện tại nhiều điểm trong chuyện này là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời của thế giới Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất, quyền năng và mối lưu tâm của Ngài không giới hạn trong một địa phương nhưng bao trùm cả vũ trụ.

Chủ đề này xuất hiện ngay khi Na-a-man được giới thiệu.  Ông là tướng chỉ huy của quân đội A-ram, qua ông Đức Giê-hô-va đã ban chiến thắng cho dân A-ram.  Như vậy, ngoài Y-sơ-ra-ên ra thì Đức Giê-hô-va còn cầm quyền trên sự thịnh suy của các dân tộc khác.  Căn bệnh của Na-a-man không hẳn là bệnh cùi, vì trong tiếng Hi-bá-lai, từ phung bao gồm nhiều loại bệnh ngoài da.

Tiếng tăm đồn thổi Ê-li-sê là thầy thuốc đã đến tai Na-a-man qua một nữ tỳ người Y-sơ-ra-ên phục dịch cho vợ Na-a-man.  Bất chấp việc Na-a-man trước đây đã đánh bại dân Y-sơ-ra-ên và bắt cô làm nô lệ, cô thành thật tỏ lòng quan tâm đến sức khoẻ của ông.  Sự thể cô đơn sơ tin rằng Ê-li-sê có thể chữa lành bệnh cho ông tương phản rõ rệt với phản ứng của vua Y-sơ-ra-ên.  Sự hoảng sợ của vua trong câu 7 thật là khôi hài và châm biếm.  Vua không thể thi thố quyền năng của Đức Chúa Trời trên sự sống và sự chết, nhưng vua cũng không hề có ý định giới thiệu Na-a-man đến người của Đức Chúa Trời là người có thể làm được chuyện đó.

Thoạt tiên Na-a-man nổi giận vì Ê-li-sê chỉ dẫn ông tắm bảy lần trong sông Giô-đanh (10-12).  Tuy nhiên, các đầy tớ ông có đức tin hơn - y như nữ tỳ người Y-sơ-ra-ên có đức tin tin hơn vua Y-sơ-ra-ên.  Họ khôn ngoan vạch ra cho ông thấy rằng ông sẵn sàng làm những việc khó, thì tại sao ông không chịu làm những việc dễ?  Khi ông vâng lời làm theo lời Ê-li-sê chỉ dẫn, ông được lành bệnh.  Trong khi chúng ta tưởng Đức Chúa Trời đòi nơi chúng ta những việc to tát, thì thường Ngài chỉ đòi đức tin và lòng vâng phục trong những chuyện nhỏ.

Na-a-man đáp ứng với lòng biết ơn và nhún nhường.  Trước đây, nếu ông có tin Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên về bất cứ điểm nào thì giờ đây ông tuyên xưng Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất (15).  Từ đây trở đi ông chỉ thờ phượng một mình Đức Giê-hô-va (17).  Ông xin đất đủ cho hai con lừa chở không nhất thiết có nghĩa là ông tin rằng Đức Giê-hô-va bị hạn chế trong đất của nước Y-sơ-ra-ên.  Đúng hơn ông tin rằng đất của Đức Giê-hô-va là thánh, cho nên ông cần dùng đất này để lập một nơi thánh dành cho sự thờ phượng Đức Giê-hô-va tại A-ram.  Lời phân bua của Na-a-man trong câu 18 không có nghĩa là ông muốn tiếp tục thờ thần Rim-môn (tước hiệu của thần A-ram) lẫn thờ Đức Giê-hô-va.  Giải thích như vậy sẽ mâu thuẫn với lời ông tuyên bố trong câu 15 và 17.  Vấn đề của ông là, vì ông là quan trong triều đình, nên ông phải thực hiện một số cử chỉ trong buổi lễ thờ lạy Rim-môn, dù rằng từ nay ông chỉ trung tín thờ một mình Đức Giê-hô-va thôi.  Lời chúc của Ê-li-sê bảo đảm ông sẽ được tha thứ.  Toàn thể đoạn này giúp chúng ta cảm nhận được những nỗi khó khăn của những người đang hết lòng thờ Đức Chúa Trời trong một dân theo một tôn giáo khác.

Ghê-ha-xi nhúng tay vào chuyện dối trá (20-27) nối thêm cho câu chuyện phần phụ lục buồn thảm nhưng bổ ích.  Với tư cách là quan cao cấp trong triều đình, Na-a-man đem theo nhiều lễ vật quí giá - nhưng Ê-li-sê từ chối tất cả.  Sự tham muốn chiếm đoạt của cải đã cám dỗ Ghê-ha-xi quá mạnh, nên ông đang tâm lợi dụng lòng biết ơn và rộng lượng của Na-a-man.  Sự hầu việc Đức Chúa Trời không bảo vệ tôi tớ Ngài thoát khỏi cơn cám dỗ.  Thật vậy, chức vụ hầu việc Chúa thường đặt họ vào hoàn cảnh dễ lạm dụng địa vị.  Nội dung lời nói của Ê-li-sê trong câu 26 ngụ ý rằng có những lúc được phép nhận lễ vật, nhưng lần này thì không (không giải thích lý do).

(IIVua 6:1-7).  Lưỡi rìu rơi mất Qua câu chuyện này chúng ta hiểu biết thêm về cộng đồng các tiên tri.  Họ sống tập thể với nhau dưới sự lãnh đạo của Ê-li-sê (nguyên văn của cụm từ chính trong câu 1 là ‘nơi chúng tôi ở trước mặt thầy’).  Hình như tại Bê-tên, Giê-ri-cô và Ghinh-ganh có những cộng đồng như vậy (IIVua 2:3,5,15-18  4:38).  Nếu có thì bản tường thuật này viết về cộng đồng nào, hoặc phải chăng Ê-li-sê có mối quan hệ chặt chẽ đồng đều với các cộng đồng này.  Thật là sai lầm nếu nghĩ rằng họ là các cộng đồng tu sĩ, tương tự như các cộng đồng ẩn tu trong đồng vắng Giu-đa trong suốt thể kỷ thứ IV đến thứ VI S.C. vì chúng ta biết rõ các tiên tri này cũng lập gia đình và nuôi dưỡng con cái (4:1).  Trong chuyện này chúng ta thấy một cộng đồng đang xây dựng thêm chỗ ở đủ cho số tiên tri ngày càng tăng - đây là dấu hiệu cho biết dưới sự lãnh đạo của Ê-li-sê, hàng ngũ tiên tri đông đảo lên.

Việc Ê-li-sê tìm lại được lưỡi rìu chìm dưới nước cũng bí ẩn như việc ông chữa lành cho con suối ở Giê-ri-cô và giải độc cho nồi canh trước đây.  Cũng như các phép lạ khác, phép lạ này chứng minh ông là người có quyền năng lạ lùng mà các tiên tri khác trong cộng đồng không có.  Sở dĩ ông có quyền năng như vậy là vì ông là người của Đức Chúa Trời (6).  Tác giả kể dồn dập các câu chuyện lạ lùng này nhằm giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của cụm từ đó: ông không chỉ là người sùng kính hầu việc Đức Chúa Trời, nhưng ông còn là người tương giao đặc biệt với Đức Chúa Trời trong số các tiên tri vào thời của ông.  Giống như Ê-li trước đây, ông là người của Đức Chúa Trời theo một ý nghĩa đặc biệt trong tình thế hiện tại của nước Y-sơ-ra-ên.

(IIVua 6:8-23).  Ê-li- dân A-ram Câu chuyện này tạo một chút không khí giãn xả hài hước trước khi tình hình căng thẳng và bi kịch kéo đến.  Khi vua A-ram nhất quyết bắt Ê-li-sê vì ông có khả năng biết trước những cuộc đột kích sắp xảy ra và báo cho vua Y-sơ-ra-ên, nhưng mưu toan của vua thất bại ngay từ đầu, vì nếu Ê-li-sê biết trước kế hoạch của vua A-ram, thì ông cũng biết trước kế hoạch này.  Tác giả mô tả sự bối rối của vua A-ram với giọng hóm hỉnh trong câu 11-13.

Ê-li-sê không tìm cách lẫn tránh, nhưng ông cứ ở lại Đô-than trong lúc một lực lượng A-ram đông đảo bao vây thành.  Trong câu 17, chúng ta thấy đầy tớ Ê-li-sê hiểu vì sao Ê-li-sê lại bình tĩnh: đó là đoàn ngựa và xe ngựa lửa (lập lại IIVua 2:11-12) đông hơn quân A-ram.  Lời cầu nguyện của Ê-li-sê xin ban cho người đầy tớ có cái nhìn thuộc linh như thế nào, thì lời cầu nguyện của ông cũng khiến cho quân thù A-ram bị đui mù thể ấy.  Hóm hỉnh đã biến thành trò hề khi Ê-li-sê dẫn đám quân lính bị mù đến Sa-ma-ri.  Kế đó, y như khi ông cầu nguyện cho đầy tớ được có cái nhìn đặc biệt, giờ đây ông cầu nguyện cho mắt họ  được nhìn thấy trở lại.  Nhưng điều họ thấy thì không trấn an họ được: họ đang ở trong thủ đô Y-sơ-ra-ên, là nơi số lính của Y-sơ-ra-ên chắc chắn là đông hơn họ.

Vua Y-sơ-ra-ên công nhận Ê-li-sê có uy quyền trên ông.  Theo IVua 20:35-43 chuyện rất lạ là Ê-li-sê không cho quân Y-sơ-ra-ên giết quân địch.  Tác giả không nói rõ lý do, có lẽ trong trường hợp này, họ phải tuân thủ một luật lệ nào đó về chiến tranh (22).  Ngược lại, họ phải đãi quân địch một bữa tiệc trọng thể rồi cho phép chúng trở về với vua của mình.  Quân thù chưng hửng ngỡ ngàng đến độ không tấn công Y-sơ-ra-ên nữa.

3. Sa-ma-ri bị bao vây trở lại (IIVua 6:24-7:2)

(IIVua 6:24-33). Cảnh khốn khó giờ đây thay vào chỗ cảnh vui tươi.  Điều lạ là chuyện trước vừa kết thúc như thế giờ đây Sa-ma-ri lại bị chính quân A-ram vây hãm (c.2).  Sở dĩ có vẽ mâu thuẫn như thế là vì tác giả không đặt các chuyện về Ê-li-sê theo thứ tự thời gian (xem IIVua 8:1-6 bên dưới).

Cuộc bao vây gây ra nạn đói trong thành, và giá cả thực phẩm tăng vọt chứng tỏ nạn đói đến mức trầm trọng (25).  Câu 27 cho biết vua hoàn toàn bất lực.  Khi nghe tin dân đói trầm trọng đến độ ăn thịt trẻ em, thì vua buồn rầu xé áo, để lộ bao gai mặc sát người.  Người ta mặc bao gai để tỏ lòng sầu khổ khi gặp tai hoạ (Ca 2:10), để tỏ lòng ăn năn tội lỗi (IVua 21:27) hoặc để cầu xin sự giải cứu (IIVua 19:1-2).  Có thể vì một hoặc tất cả các lý do này mà vua mang bao gai trong cơn khủng hoảng này.

Tác giả không cho biết nguyên nhân vua giận sôi đối với Ê-li-sê (31) nhưng cũng dễ đoán thôi.  Ê-li-sê vốn có khả năng biết trước đợt xâm lăng của quân A-ram và đã từng báo cho vua biết để ngăn chận trước, thế mà ông để mặc cho việc vây hãm này xảy ra ông cũng có khả năng làm cho bánh hoá ra nhiều, thế mà ông không sử dụng khả năng đó để cứu vãn nạn đói này.

Câu 32 cho biết quyền hành đã đổi ngôi.  Khi Sa-ma-ri bị bao vây lần trước ‘các trưởng lão’ họp lại chung quanh vua (IVua 20:7), còn bây giờ, cũng trong một hoàn cảnh tương tự, chúng ta thấy các trưởng lão tụ họp trong nhà của Ê-li-sê.  Họ công nhận tiên tri thật sự có khả năng lãnh đạo, còn vua thì không.  (Trong suốt câu chuyện này tác giả không nêu danh tánh của vị vua coi như không cần thiết phải biết đích danh vua.)

Trong câu 33, bản Hi-bá-lai dịch là sứ giả của vua (như trong bản NIV) chớ không phải chính vua (như bản RSV) đến nhà Ê-li-sê, và vị sứ giả này lập lại câu nói của vua (chớ không phải chính vua nói như trong bản NIV).  Có thể thông cảm cho thái độ của vua, nhưng vua đã hiểu lầm vì nếu Đức Giê-hô-va đem tai hoạ đến, thì không có lý do gì để không hướng về Ngài mà cầu xin Ngài giải cứu.  Hơn nữa, thái độ này chỉ dẫn đến chỗ tuyệt vọng trầm trọng hơn mà thôi, vì vua dư biết bản thân vua hoàn toàn không thể làm gì được cả (27).  Nếu Đức Chúa Trời không cứu giúp chúng ta, thì chẳng ai giúp gì được cả.

Ê-li-sê trả lời rằng sự giải cứu sắp sửa đến rồi, chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ tới đây, thực phẩm sẽ dư thừa đến độ giá cả tuột xuống rất nhanh (IIVua 7:1).  Như vậy, Ê-li-sê ngụ ý là (dù ông không nói rõ) thành sẽ được giải vây.  Trong 7:2 tác giả mô tả sứ giả là quan ‘nâng đỡ vua’ (chớ không phải ‘đang nâng đỡ vua’, vì vua không có mặt trong lúc này xem 6:33 trên đây) như thế vị sứ giả này là phụ tá thường trực của vua.  Na-a-man cũng dùng cụm từ tương tự để mô tả chức vụ của ông đối với vua A-ram (IIVua 5:18).  Với thái độ hoài nghi đó ông chuốc lấy một số phận thảm khốc (2) được tiên báo trước.

(IIVua 7:1-2) xem giải nghĩa 6:24-33

4. Sa-ma-ri lại được giải thoát (IIVua 7:3-20)

Trong câu 6-7 tác giả ghi lại phép lạ đã giải thoát thành Sa-ma-ri.  Nhưng nếu đám người bị ruồng bỏ ở cổng thành không quyết định giao số phận của mình cho quân A-ram thì dân chúng Sa-ma-ri chưa chắc đã kịp thời biết sự thực để sớm thoát khỏi nạn đói (3-5).  Trong câu 8, chúng ta hồi hộp không biết bốn người này có chịu đem tin lành về cấp báo cho thành và nhờ đó cứu được dân chúng đang chết đói.  Vua tuyệt vọng đến nỗi ông chỉ có thể nghĩ đây là một cái bẫy (12).  Như trong chuyện Na-a-man, chính người đầy tớ đưa ra lời khuyên bổ ích cần thiết (13).  Lương thực dự trữ do quân A-ram để lại nhiều đến nỗi lời tiên tri của Ê-li-sê được ứng nghiệm và trong cảnh chen lấn hỗn loạn tại cổng thành, viên quan phụ tá của vua chết đúng theo như lời tiên tri đã báo trước (16-20).

5. Sở đất của thiếu phụ Su-na-mít (IIVua 8:1-29)

(IIVua 8:1-6).  Đến đây, nhiều dấu hiệu ràng cho biết tác giả không trình bày những câu chuyện về Ê-li- theo thứ tự thời gian.  Vì câu chuyện này có liên quan đến Ghê-ha-xi (không còn phục vụ Ê-li-sê trong chương IIVua 5:27), nên chắc đã xảy ra trước khi chuyên Na-a-man được chữa lành.  Có thể nạn đói được báo trước trong câu 1 làm bối cảnh cho chuyện trong 4:38-41.

Câu chuyện cho biết Ê-li-sê tiếp tục quan tâm giúp đỡ thiếu phụ người Su-na-mít và gia đình của bà.  Bà hành động trong tư cách một gia trưởng nên có lẽ đến lúc này chồng bà đã qua đời (trong 4:14, ông đã lớn tuổi).  Cung cách vua đối xử với thiếu phụ này khi bà trở về tỏ rõ vua rất tôn trọng Ê-li-sê (4-6).  Tác giả cũng bày tỏ ơn chăm sóc thần hựu của Đức Chúa Trời qua việc Ghê-ha-xi kể lại chuyện của con trai bà đúng lúc bà đến trình nguyện vọng của mình.

(IIVua 8:7-15).  Ha-xa-ên ám sát Bên-ha-đát Sự kính trọng đặc biệt mà Bên-ha-đát dành cho Ê-li-sê trong câu 9 chứng tỏ ông chiếm vị trí cao quí ở A-ram.  Trong bản tiếng Hi-bá-lai câu hỏi của Bên-ha-đát về bệnh hoạn của ông có dạng tương tự như câu hỏi của A-cha-xia trong IIVua 1:2 khiến gợi ý cho chúng ta nên đem hai trường hợp ra so sánh.  Cả hai đều quay sang tìm cầu thần ngoại bang để cầu hỏi tương lai của căn bệnh.  Nhưng vua Y-sơ-ra-ên tìm cầu Ba-anh Xê-bun, còn vua A-ram tìm cầu Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

Có thể đọc nội dung câu của Ê-li-sê nói với vua (c.10) theo hai dạng khác nhau: hoặc đọc là ‘Hãy đi nói với vua rằng ‘chắc chắn vua sẽ sống’, nhưng Đức Giê-hô-va tỏ cho ta biết người hẳn sẽ chết’, hoặc đọc là: ‘Hãy đi nói rằng ‘chắc chắn vua sẽ không sống được’ vì Đức Giê-hô-va tỏ cho ta biết người chắc sẽ chết’.  Vấn đề phát sinh từ bản tiếng Hi-bá-lai, hai từ ‘không’ và ‘với vua’ hơi khác nhau một tí thôi.  Trong khi bản văn chính đọc theo dạng thứ nhất, còn phần ghi chú ngoài lề đề nghị đọc theo dạng thứ hai.  Đa số các dịch giả đọc theo phần ghi chú ngoài lề.  Họ lập luận rằng dạng câu càng khó thì càng có cơ may đúng.  Có thể lý giải lý do thêm từ ‘không’ vào là vì người sao chép không muốn độc giả có ấn tượng cho rằng Ê-li-sê nói dối.  Còn không dễ lý giải khi bỏ chữ ‘không’ này đi.

Không rõ vì sao có sự sai lệch trong sứ điệp này, nhưng có thể câu 10 để lộ một tâm trạng căng thẳng khi Ê-li-sê biết sự thật về căn bệnh của Bên-ha-đát và ý đồ của Ha-xa-ên: căn bệnh không đến nỗi trầm trọng, dù vậy Bên-ha-đát sẽ chết vì Ha-xa-ên âm mưu sát hại ông để chiếm ngôi vua.  Ê-li-sê không nói Đức Chúa Trời chọn Ha-xa-ên làm vua thế cho Bên-ha-đát, chỉ nói Ha-xa-ên sẽ làm vua và gây nhiều khốn khổ cho Y-sơ-ra-ên.

Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng trước đây Đức Chúa Trời bảo Ê-li xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua A-ram (IVua 19:15), mặc dù đoạn này không đề cập đến sự xức dầu.  Tuy nhiên, trên một phương diện, qua sự kiện này việc đó coi như đã làm xong.  Mặt khác, hai nơi chép về Ha-xa-ên lại nhấn mạnh về hai phương diện rất khác nhau.  Trong ICác Vua 19:17, ông chỉ góp phần trừ bỏ khỏi Y-sơ-ra-ên sự thờ phượng thần Ba-anh.  Trong khi đó theo khải tượng của Ê-li-sê (và các diễn biến sau này) thì dưới quyền cai trị của ông, dân A-ram áp bức dân Y-sơ-ra-ên cách nghiêm trọng vô cùng.

(IIVua 8:16-24).  Giô-ram làm vua Giu-đa Với câu 16-29, tác giả đặt bài tường thuật thứ hai về nước Giu-đa xen vào phần tường thuật của triều đại Ôm-ri.  Trong bản tiếng Hi-bá-lai, câu 16 gợi ý Giô-sa-phát và Giô-ram, con trai ông đồng trị vì.  Trong thời trị vì của Giô-ram, cuộc liên minh của Giô-sa-phát với Y-sơ-ra-ên (IVua 22:4-IIVua 3:7) khởi đem lại những trái đắng cay cho Giu-đa.  Các tội lỗi của Giô-ram bắt nguồn từ cuộc hôn nhân với con gái A-háp (18) và tác giả xác định một cách tổng quát là theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên.  Câu này giới thiệu A-tha-li (nhưng không nêu danh tánh) đóng vai chính trong chương 11.  Câu 19 xem như vọng lại IVua 11:36 và 15:4 về lời Đức Chúa Trời hứa sẽ để dành một ngọn đèn cho Đa-vít và dòng dõi người mãi mãi.  Tuy nhiên, đây là lần cuối cùng lời hứa được nhắc lại - so với những diễn biến sau này ở Giu-đa, thì sự kiện này hoá ra đáng ngại.

Chúng ta có thể coi nổ lực thành công của Ê-đôm trong việc giành lại độc lập (được tiên báo trong 11:14-22) và cuộc dấy loạn của thành Líp-na (có lẽ thuộc về dân Phi-li-tin, vì thành này nằm sát biên giới của Giu-đa và Phi-li-tin) là hậu quả tội ác của Giô-ram (so sánh cuộc tấn công của Si-sắc trong bản tường thuật về thời trị vì của Rô-bô-am-  IICac 14:25-28).

(IIVua 8:25-29).  A-cha-xia làm vua Giu-đa A-cha-xia, vua xứ Giu-đa, đi theo bước chân của song thân (26-27).  Trong lời tường thuật về cuộc liên minh với Giô-ram vua nước Y-sơ-ra-ên dẫn đến những biến chuyển gây ra cuộc tẩy trừ sự thờ phượng Ba-anh trong cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.  Lần thứ nhất câu này cũng gọi Ha-xa-ên là kẻ áp bức dân Y-sơ-ra-ên, thế là khải tượng của Ê-li-sê khởi sự thành sự thật.  Mãi đến IIVua 9:27-28 mới nói về cái chết của A-cha-xia.

6. Giê-hu và sự chấm dứt của triều đại Ôm-ri (IIVua 9:1-10:36)

(IIVua 9:1-13).  Giê-hu làm vua Y--ra-ên  Khi Ha-xa-ên lên ngôi vua tại Đa-mách, thì trong việc mà Đức Chúa Trời truyền cho Ê-li thực hiện chỉ còn một việc chưa hoàn tất mà thôi (IVua 19:15-16).  Một khi việc đó được thực hiện, các diễn biến dồn dập xảy ra làm ứng nghiệm lời Ê-li nói tiên tri về sự sụp đổ của triều đại Ôm-ri (21:20-28).

Vì một vài lý do nào đó mà Ê-li-sê không đích thân đi xức dầu cho Giê-hu, nhưng sai một người vô danh trong tập thể tiên tri thực hiện việc đó.  Lời căn dặn trong câu 1 hãy thắt lưng lại (‘Hãy chuẩn bị làm việc’ RSV) có nghĩa là chuẩn bị làm công việc gì đó câu này ngụ ý là mặc quần áo thích hợp với chuyến hành trình.  Trước đây Giê-hu chưa được nhắc đến ngoại trừ trong lời Đức Chúa Trời căn dặn Ê-li (19:16), nhưng theo dòng của các biến cố, chúng ta biết ông là tướng chỉ huy quân đội Y-sơ-ra-ên như Ôm-ri khi xưa (16:16).  (Không nên lẫn lộn ông này với tiên tri Giê-hu trong 6:1-7).  Quân đội đang bảo vệ Ra-mát Ga-la-át, có lẽ sau khi chiếm được thành trong một chiến dịch (mà tác giả không kể lại) diễn ra kế tiếp chiến dịch trong 22:1-54.

Lời tiên tri này (7-10) nhắc lại lời của Ê-li trong 21:21-23, và thêm rằng Đức Chúa Trời sẽ báo thù huyết cho các đầy tớ Ngài (7).  Sự cuồng nhiệt của quân đội trong câu 13 gợi cho chúng ta biết triều đại Ôm-ri không còn được lòng dân chúng.  Giờ đảo chánh đã chín mùi.

(IIVua 9:14-37).  Cái chết của Giô-ram, A-cha-xia Giê-sa-bên Sự hiện diện của Giô-ram và A-cha-xia tại Gít-rê-ên liên hệ đến chuyện Giô-ram bị thương (14-15) làm sống lại chuyện trong chương trước (IIVua 8:28-29) vì họ gặp nhau trên mảnh đất của Na-bốt người Gít-rê-ên (21).  Sau ba lượt hỏi y một câu gợi nhớ lại 1:9-14 Giê-hu nói rõ chủ ý của mình (22).  Chuyện Giô-ram quay xe bỏ chạy sau khi nhận ra ý đồ của Giê-hu (23) trông giống như chuyện A-háp quay xe bỏ chạy khi bị thương tại Ra-mốt Ga-la-át (IVua 22:34).  Tác giả cố tình gợi nhớ lại các tình tiết trước đây trong khi biến cố chuyển động đến cao điểm.

Sự thể Giê-hu giết Giô-ram đang mang thương tích và phải tháo chạy nghe xốn xang vì tính cách nhẫn tâm.  Cách thức ông xử sự với thi thể Giô-ram cũng nhẫn tâm không kém (25-26 so sánh Phu 21:22-23  IISa 21:10-14).  Dù Giê-hu trưng ra một lời tiên tri trước đây để biện minh cho hành động này.  Nhưng từ trước đến nay chúng ta không nghe nói gì về lời tiên tri này cả khiến chúng ta phải tự hỏi không biết rõ  lời tiên tri này có thật hay không hoặc đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của Giê-hu.

Trong câu 7-10, chúng ta không thấy tiên tri ra lệnh cho Giê-hu giết A-cha-xia vua Giu-đa (27-29).  Có lẽ Giê-hu cảm thấy giết là chánh đáng vì A-cha-xia là con trai của A-tha-li, cháu gái của Ôm-ri (IIVua 8:26).  Các chi tiết về địa lý trong câu này không rõ ràng, nhưng điều lý thú là các lực lượng quân sự của Giu-đa (đầy tơ của A-cha-xia) đang đóng quân tại Mê-ghi-đô ở Y-sơ-ra-ên.

Giê-sa-bên biết rất rõ về chiều hướng diễn tiến của biến cố nhưng bà đối diện với cái chết với thái độ lạnh lùng, thậm chí bà còn châm biếm, mỉa mai nữa.  Bà vẽ mắt, chải tóc, không phải để quyến rũ Giê-hu (xem ý câu bà nói với Giê-hu) nhưng ‘bà muốn lìa đời cách lịch sự’ (T.R Hobbs, IICác Vua - Word books, 1985 - trang 109).  Bà hỏi một câu giống hệt như Giô-ram đã hỏi trong câu 18,19 và 22 (nguyên văn là ‘có bình yên không?’) nhưng trong trường hợp này bà cố tình châm chọc.  Khi gọi Giê-hu là Xim-ri, bà nhắc cho ông nhớ lại một viên tướng chỉ huy khác đã giết vua mình - để rồi bảy ngày sau đó chính ông cũng phải chết cách thảm khốc (IVua 16:9-19).

Bà bị giết một cách dã man rùng rợn.  Thi thể của bà bị đoàn xe ngựa của Giê-hu giày đạp (33) và hành động này vượt quá lời tiên tri của Ê-li (21:23).  Dù dựa theo lời tiên tri do chính Giê-hu trưng dẫn (36-37) ông cũng làm quá cả về chi tiết lẫn sự dã man nữa.  Hành vi ăn uống của Giê-hu trong khi chó ăn xác của Giê-sa-bên (34) đã làm nổi bật lòng dạ chai đá của Giê-hu.

(IIVua 10:1-17).  Tàn sát các con trai A-háp những người theo ông Bản văn Hi-bá-lai hình như có sai sót trong chi tiết về bức thư gửi đến Gít-rê-ên trong câu 1, vì Giê-hu đang có mặt tại đó.  Bản Hy-lạp viết ‘gởi cho các quan cai trị trong thành’ (tức là Sa-ma-ri) cho các trưỡng lão ...’ (như trong bản RSV).  Có lẽ đây là nội dung chính xác lúc đầu vì bản sao chép trong tiếng Hi-bá-lai chỉ có sai sót một chi tiết nhỏ này mà thôi.

Giê-hu thách thức các quan cai trị Sa-ma-ri chọn một người kế vị Giô-ram để chiến đấu cho sự tồn tại của triều đại (3).  Mục tiêu tối hậu của ông là giết tất cả bảy mươi người có quyền kế vị, và ông đã đạt được mục tiêu bằng cách thách thức họ như vậy,  Những giỏ đựng thủ cấp của bảy mươi người có quyền kế vị ngôi vua được chở đến Gít-rê-ên là bằng chứng hãi hùng cho biết họ đã thực hiện điều ông đòi hỏi (6-8).

Khó lòng giải nghĩa câu hỏi của Giê-hu trong câu 9 (‘... nhưng ai giết những người này?’).  Hình như ông chối không chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát các hoàng tử, nhưng ông cũng tỏ ý muốn đổ trách nhiệm cho ai.  Ông đã từng trưng ra ý muốn của Đức Chúa Trời để binh vực cho hành động của ông.  Liệu ông có gán cho Đức Giê-hô-va  trách nhiệm về cuộc đổ máu này không?  Hoặc liệu ông có đổ lỗi cho các quan cai trị Sa-ma-ri về hành động dã man mà ông buộc họ thực hiện không?  Nếu ông chủ trương rằng Đức Giê-hô-va đã phê chuẩn mọi hành động của ông, thì ông trưng dẫn lời tiên tri của Ê-li (c.10) để lý giải cũng cùng một chiều hướng đó.  Nếu ông đổ lỗi cho các quan thì lời tiên tri đã được trưng ra để biện minh cho hành động báo thù của ông sắp thực hiện tại Sa-ma-ri.  Dù thế nào đi nữa thì mục đích của Giê-hu là thu phục sự ủng hộ của dân chúng (9), có lẽ thu phục dân chúng Gít-rê-ên và binh lính đóng tại đó.

Giai đoạn đổ máu kế tiếp của Giê-hu là tàn sát toàn thể bà con của hoàng gia và những người ủng hộ hoàng gia đang ở tại Gít-rê-ên (11).  Kế đó ông đi đến Sa-ma-ri tái diễn cuộc tàn sát tại đây (17).  Tuy nhiên, dọc đường ông gặp và giết bốn mươi hai người bà con của A-cha-xia vua Giu-đa (13-14).  Ông bộc lộ tính khí độc ác thất thường khi ra lệnh bắt sống họ nhưng sau đó ra lệnh giết họ.  Ấy thế mà từ đầu đến cuối lúc nào ông cũng huyênh hoang là ông hành động do lòng sốt sắng vì Đức Giê-hô-va (16) - Chúng ta phải nghi ngờ về lời tuyên bố này vì sự kiện ông trưng dẫn bừa bãi lời tiên tri để biện minh cho những hành động tàn bạo dã man của mình (IIVua 9:25-26,36-37).  Mặc dù diệt trừ nhà A-háp là đúng theo lời Đức Giê-hô-va phán cho Ê-li (17) lời lên án chung cuộc của tác giả đối với Giê-hu (29) đặt vấn đề này trong một quan điểm rộng lớn hơn (xem bên dưới).

(IIVua 10:18-28).  Tàn sát những người thờ phượng Ba-anh Cuộc đổ máu tiếp tục diễn ra với cuộc càn quét mọi người thờ phượng thần Ba-anh.  Giê-hu đánh lừa họ bằng cách tuyên bố rằng ông sùng bái thần Ba-anh còn hơn cả A-háp (1) - xét cho cùng A-háp đã không hẳn đã hoàn toàn kiên quyết cổ vũ cho sự thờ phượng mới, thậm chí ông còn đặt cho hai con trai ông có tên liên hệ đến tên của Đức Giê-hô-va (Giô-ram và A-cha-xia).  Giê-hu tiến hành việc thanh tẩy tôn giáo với sự lạnh lùng chai đá đặc trưng của mình.  Mức độ chính xác của cuộc tẩy trừ còn tuỳ thuộc vào từ ‘đầy tớ’ trong tiếng Hi-bá-lai dịch là ‘những người thờ phượng’ (như trong bản RSV) hoặc dịch là những người phục vụ (như trong bản NIV).  Có lẽ cụm từ ‘những người thờ phượng’ là chính xác, ngụ ý loại trừ toàn bộ sự thờ phượng thần Ba-anh, chứ không chỉ loại trừ các viên chức phụ trách sư thờ phượng Ba-anh.

(IIVua 10:29-39).  Đánh giá Giê-hu Khó phân định cho chính xác giá trị của Giê-hu qua nội dung của chương 9 và 10.  Một mặt ông làm theo lời Đức Giê-hô-va phán với Ê-li (10:17).  Nhưng về mặt khác chúng ta thầy có vẻ như ông vượt quá những lời đó và đã vận dụng lời tiên tri để binh vực cho việc chém giết dã man tất cả những người có cơ chống đối ông.  Vì thế, dù ông có trừ tiệt sự thờ phượng Ba-anh ra khỏi Y-sơ-ra-ên (28), nhưng tác giả không đưa ông lên làm nhân vật gương mẫu, mà cho biết hành vi của ông đã phương hại cho mục đích của ông.  Cũng như bao nhiêu nhà lãnh đạo cách mạng khác, trong khi miệt mài thái quá trong nổ lực dẹp bỏ tội ác của những bậc tiền bối thì ông lại vướng vào chính tội của mình.  Vì vận dụng sai lời tiên tri, nên ông tự đặt mình vào hàng ngũ các nhà chính trị độc ác, xưng mình có thẩm quyền, thiếu điều như các tiên tri và biện minh cho việc làm của mình bằng cách viện dẫn ý muốn của Đức Chúa Trời.

Bài tường thuật trong Kinh Thánh chỉ hàm ý những điều này thôi, nhưng trong phần nhận định kết thúc có lời phê bình rõ ràng về thời trị vì của Giê-hu.  Đức Chúa Trời công nhận những thành tựu của ông (30) Ngài hứa triều đại Giê-hu sẽ kéo dài được năm đời tất cả (đời của ông và bốn đời con cháu nữa) - quá ít so với triều đại đời đời (theo kiểu triều đại của Đa-vít) mà Ngài hứa ban cho Giê-rô-bô-am có điều kiện (IVua 11:39).  Điều có ý nghĩa là tiên tri Ô-sê rao ra án phạt dành cho triều đại Giê-hu vì ‘vụ thảm sát tại Gít-rê-ên’ (Os 1:4) là triều đại sẽ bị kết thúc.

Lòng sốt sắng vì Đức Giê-hô-va mà ông vẫn thường xưng nhận (16) bị xói mòn bởi sự thờ con bò vàng do Giê-rô-bô-am lập lên (29,31).  Sự chiến thắng của Ha-xa-ên và sự thể lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên bị cắt giảm xác chứng sự bất mãn của Đức Giê-hô-va đối với thời trị vì của Giê-hu (32-33).  Qua Giê-hu chúng ta có thêm một bằng chứng cho thấy sự bổ nhiệm của Đức Chúa Trời và sự xức dầu của các tiên tri không bảo đảm rằng người nhận lãnh sẽ sống đúng theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời.

2. HAI VƯƠNG QUỐC: TỪ GIÊ-HU ĐẾN SỰ THẤT THỦ CỦA SA-MA-RI (IIVua 11:1-17:41)

1. Triều đại Giê-hu (IIVua 11:1-14:29)

(IIVua 11:1-21).A-tha-li nữ hoàng Giu-đa  Chúng ta biết A-tha-li là con gái A-háp, bà lấy Giô-ram vua Giu-đa (IIVua 8:18,26).  Chỉ có thể lý giải nổ lực của bà nhằm tiêu diệt triều đại Đa-vít là bà có tham vọng đoạt ngôi vua.  Vụ Giê-hu sát hại con trai của bà là A-cha-xia và nhiều người lớn tuổi trong số bà con của vua đã đem lại cho bà cơ hội cần thiết.  Chắc chắn có nhiều bà con của bà bị giết  trong vụ bà mưu toan chiếm ngôi vua.  Tóm lại, bà vươn lên trong hình ảnh một người đàn bà mưu mô với lòng chai đá.

Nếu kế hoạch của bà thành công, triều đại Đa-vít đã bị kết liễu.  8:19 nhắc chúng ta nhớ lại lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với triều đại Đa-vít, vì Ngài đã hứa với Đa-vít và chúng ta thấy lòng thương xót đó đang vận hành trong chuyện này.  Tuy nhiên, theo cách tiếp nhận trình bày thì triều đại được cứu vãn là nhờ lòng can đảm trung thành và sự khôn khéo của con người, tác giả không trình bày sự việc trên phương diện Đức Chúa Trời can thiệp và giải cứu.

Tác giả xác định ngắn gọn Giô-sê-ba, là chị của A-cha-xia (2).   Như vậy bà là con gái của A-tha-li.  Tuy nhiên, trong tiếng Hi-bá-lai, từ này cũng có nghĩa là ‘chị em cùng cha khác mẹ’, có thể bà là con gái Giô-ram nhưng do một người vợ khác sinh ra.  Các chi tiết khác cũng không rõ ràng.  Không thể biết vì sao bà quyết định cứu Giô-ách (khi đó thì Giô-ách được khoảng một tuổi câu 3-4, 21) mà không cứu các hoàng tử khác sắp bị sát hại (xem 12:1-3 bên dưới).  Cũng lạ là mẹ Giô-ách không xuất hiện trong phần chuyện này (12:1 có nhắc đến tên bà).

Tác giả mô tả các biến cố cách chi tiết hơn kể từ câu 4 khi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa xuất hiện trong câu chuyện (9) (Theo IISu 22:11, thì Giô-sê-ba là vợ Giê-hô-gia-đa).  Đáng tiếc là chúng ta không được biết nhiều chi tiết về cách thức dàn quân trong câu 4-11 nên không thể hiểu được một số từ trong lãnh vực quân sự và trong lãnh vực khác.  Với sự sẵn sàng tham gia của quân đội, chúng ta hiểu rằng bà A-tha-li không được họ ủng hộ (mặc dù chắc lúc đầu họ có ủng hộ phần nào, nếu không thì bà hẳn đã không thể ra lệnh giết các hoàng tử).  Các chi tiết khó hiểu này cho chúng ta một ấn tượng về những kế hoạch tỉ mỉ và tối mật của Giê-hô-gia-đa.

Giô-ách có thật sự lên ngôi lúc bảy tuổi hay không còn tuỳ thuộc vào từ Hi-bá-lai ám chỉ đến một buổi lễ biệt hiến cho ngôi vị có được dịch chính xác hay không.  Thông thường, các dịch giả dịch là vương miện, nhưng nghĩa chính xác của từ này thì chúng ta vẫn không rõ.  Cũng không rõ giao ước hoặc :‘chứng cớ’ (RSV) hoặc luật pháp đã được trao cho Giô-ách là gì.  Có lẽ một loại thẻ hoặc bảng có khắc những điểm tóm lược về bổn phận và trách nhiệm của một vị vua.  Có lẽ không liên quan gì đến phần giao ước do Giê-hô-gia-đa lập trong câu 17.  Dân chúng reo hò khi Giô-ách được xức dầu (12,14) chứng tỏ dân chúng ủng hộ sự khôi phục triều đại của Đa-vít.

Tác giả ghi rất ngắn ngủi về cái chết của A-tha-li (13-16).  Tác giả không sơ lược thời trị vì của bà theo lối thông thường vì ông xem việc bà lên ngôi cai trị là bất hợp pháp.

Giao ước thứ nhất mà Giê-hô-gia-đa lập (c.17) nhằm tái lập mối liên hệ giữa Đức Giê-hô-va với dân sự (để họ làm dân của Đức Chúa Trời).  Với lời giao ước thứ hai dân chúng bày tỏ họ công nhận Giô-ách lên làm vua.  Họ cũng tái hứa nguyện với Đức Giê-hô-va, sau đó biểu lộ bằng cách huỷ phá những nơi thờ Ba-anh và giết các thầy tế lễ của Ba-anh (18).  Rõ ràng là qua sự việc dân chúng thờ thần Ba-anh, bà A-tha-li đã du nhập sự thờ phượng này đến Giê-ru-sa-lem, mặc dù chúng ta không biết bà thực hiện việc này trước hoặc sau khi A-tha-li chết.  Lễ đăng quang của Giô-ách được hoàn tất với việc vua đi từ đền thờ xuống cung điện để ngồi vào ngai Đa-vít một cách hợp pháp (19-21).

(IIVua 12:1-3).  Giô-ách vua Giu-đa: Dẫn nhập Theo câu 1, tác giả không công nhận sáu năm cai trị của A-tha-li là hợp pháp, ông cũng không kể sáu năm này nằm trong bốn mươi năm cai trị của Giô-ách.  Ông tính thời trị vì của Giô-ách kể từ khi đăng quang vào năm thứ bảy đời Giê-hu vua Y-sơ-ra-ên.

Giô-ách được trưởng dưỡng trong sự dạy dỗ của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, như vậy là gột bỏ được ảnh hưởng của A-tha-li trên hoàng gia.  Phải chăng vì Giô-ách còn qua bé nhỏ (một tuổi) chưa bị tiêm nhiễm sự thờ thần Ba-anh của bà nội mà Giô-sê-ba quyết định chọn và cứu Giô-ách?  Câu 2 bản NIV chép: Làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va trọn lúc thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa dạy dỗ người, là để phù hợp với sự kiện sau này Giô-ách phạm tội thờ tà thần như có chép trong sách Sử Ký (IISu 24:17-22).  Rồi tác giả phê bình vua về việc vua không dẹp bỏ các nơi cao (3)

(IIVua 12:4-16).  Giô-ách vua Giu-đa: Tu sửa đền thờ Tác giả không cho biết ly do phải tu sửa đền thờ.  Trong IISu 24:7, tác giả giải thích rằng A-tha-li và các con trai của bà đã phá đền thờ, chia làm nhiều khu để làm nơi thờ thần Ba-anh.

Kế hoạch gây quĩ không được mô tả rõ ràng (4-6).  Cách chấm câu trong câu 4 bản NIV cho thấy tiền nộp vào quỹ của đền thờ chia làm ba loại.  Phần đầu câu 4 gộp tất cả ba.  Tuy nhiên, chắc chắn câu này liệt kê bốn loại khác nhau.  Phải gộp tiền từ nhiều hướng khác nhau như thế cho chúng ta biết đền thờ bị hư hại nặng.  Hơn nữa cụm từ tiếng Hi-bá-lai được dịch là từ một trong các quan coi kho bạc không có nghĩa rõ ràng (bản RSV dịch là ‘người quen biết’’).  Một phần thu nhập của mỗi thầy tế lễ cũng được bỏ vào quỹ tu bổ đền thờ.  Chi tiết này cho chúng ta biết thêm rằng công việc sữa chữa là cấp thiết.  Câu 7 cũng có cụm từ tương tự khiến cho ý của câu này cũng không sáng tỏ.

Tác giả không cho chúng ta biết Giô-ách đề xướng cuộc sửa chữa vào năm nào, vì thế chúng ta không biết đến năm thứ hai mươi ba đời vua thì việc này đã kéo dài trong bao lâu rồi (6).  Chúng ta có cảm tưởng là dự án bị đình trệ một thời gian dài.  Rồi sự đình trệ lại gợi ý rằng lòng sốt sắng của các thầy tế lễ đã chùng xuống.  Kết quả là các thầy tế lễ mất cơ hội thực hiện dự án sửa chữa này, và một phương thức gây ngạc nhiên khác được đề ra để tài trợ cho công việc sửa chữa đền thờ.  Vương quyền chi phối hàng giáo phẩm trong thời đó được chứng tỏ qua việc Giô-ách can thiệp và tổ chức lại công việc của các thầy tế lễ.

Tiền được bỏ vào hòm (9) không phải tiền đúc vì mãi đến năm 650 T.C. tiền đúc mới ra đời ( ở Tiểu Á).  Không thể thanh toán bằng hiện vật, phương tiện để trao đổi hàng hoá bình thường là những miếng kim loại với một trọng lượng đã được xác định (vàng hoặc bạc).

Bản liệt kê các thợ thủ công tham gia công trình sửa chữa giúp chúng ta hiểu rằng đền thờ bị hư hại nặng.  Công trình này là một vang bóng ảm đạm về công trình đầu tiên khi xây dựng đền thờ trong thời trị vì của Sa-lô-môn.  Nguồn tài nguyên và tài chánh có vẻ vô tận của Sa-lô-môn tương phản đậm nét với những nỗi khó khăn mà Giô-ách gặp khi gây quỹ sửa chữa đền thờ.

Ý các câu 13-14 hơi mù mờ, nhưng dường như phải hoãn chế tạo các vật dụng trong đền thờ vì phải dùng vàng bạc vào việc sửa chữa (thêm một bằng chứng về sự thiếu thốn tài chánh).  Phải chăng trước đây các vật dụng đã bị mất, bị dùng vào những việc phàm tục hoặc bị chiếm đoạt?  Hoặc Giô-ách đã dùng những vật dụng đó chung với các món quí giá khác để mua chuộc Ha-xa-ên (xem 17-18 bên dưới)?  Phải chăng vì không có vật dụng thay thế thì sự thờ phượng thường lệ tại đền thờ phải tạm ngưng hoặc vẫn tiếp tục với những vật dụng rẻ tiền?  Những câu hỏi này chưa có câu trả lời.

(IIVua 12:17-18).  Giô-ách vua Giu-đa: Giê-ru-sa-lem bị đe doạ Cụm từ mở đầu trong lúc đó cho biết biến cố này xảy ra trong thời gian sữa chữa đền thờ khởi công từ năm thứ hai mươi ba đời Giô-ách (6) nghĩa là trong thời trị vì của Giô-a-cha (cũng bắt đầu từ năm thứ hai mươi ba đời Giô-ách, IIVua 13:1).  Trong thời trị vì của Giô-a-cha, nước Y-sơ-ra-ên suy yếu tộc độ mở đường cho Ha-xa-ên xâm nhập tới tận phương Nam đến tận nước Giu-đa và đe doạ chiếm Giê-ru-sa-lem.

Coi như lực lượng quân sự của Giô-ách ngăn chận cuộc tiến công của Ha-xa-ên.  Vì vậy vua đem các bảo vật trong đền thờ và cung điện ra để mua chuộc Ha-xa-ên (18).  Tác giả sách Sử Ký tả vẽ về cuộc tấn công có phần nghiêm trọng hơn, ông quy trách nhiệm về tai hoạ cho Giô-ách vì cớ vua thờ tà thần sau khi Giê-hô-gia-đa qua đời (IISu 24:23-25).

(IIVua 12:19-21).  Giô-ách vua Giu-đa: Vụ ám sát Phần tường thuật ở trên gợi ý là trong thời trị vì của Giô-ách, nước Giu-đa bị suy yếu và kiệt quệ.  Có thể tình trạng này dẫn đến sự bất mãn và cuộc ám sát.  Đặc biệt là tác giả không quan tâm đến động cơ của những tên sát nhân.  Ông viết về vụ ám sát với những câu kết thúc thông thường.

(IIVua 13:1-9) Giô-a-cha vua Y--ra-ên Giô-a-cha làm theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am giống như Giê-hu cha mình (2).  Kết quả là Y-sơ-ra-ên bị Ha-xa-ên (một Bên-ha-đát khác, câu 3) áp bức.  Câu 7 cho chúng ta thấy hoàn cảnh  rất hiểm nghèo của Y-sơ-ra-ên với đám tàn quân ít ỏi của Giô-a-cha (ngược lại A-háp đã đem hai ngàn chiến xa ra ứng chiến tại chiến trường Qarqar).  Trong cơn khủng hoảng này, Giô-a-cha quay về Đức Giê-hô-va (4) nhưng nhìn chung tấm lòng của dân chúng chẳng thay đổi gì cả (6)

Câu 3-5 tường thuật theo khung của sách Các Quan Xét: Đức Giê-hô-va nổi giận với dân Y-sơ-ra-ên Ngài phó họ cho kẻ áp bức họ cầu xin sự cứu giúp của Ngài Ngài nghe lời cầu cứu của họ và sai một nhà giải phóng đến với họ.  Phần tường thuật này cũng có những điểm tương tự với bản tóm tắt về cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập ghi trong Phu 26:7-9.

Các học giả vẫn còn tranh luận về danh tính của vị cứu tinh được Đức Chúa Trời sai phái (câu 5).  Có thể là vua A-si-ri Adrad-nirani III ... với cuộc hành quân về phương tây vào khoảng năm 805 T.C. đã cắt giảm sức mạnh quân sự của Ha-xa-ên.  Một đề nghị khác khá xác đáng đó là Ê-li-sê.  Nếu là Ê-li-sê thì sự giải cứu xảy ra trong đời Giô-ách, phù hợp với câu 22-25 (xem bên dưới).

(IIVua 13:10-13).  Giô-ách vua Y--ra-ên: Tóm tắt thời trị của vua Các câu này tóm tắt thời trị vì của Giô-ách theo khung sườn quen thuộc.  Giống như hai vua trước vua miệt mài theo đường tội lỗi của Giê-rô-bô-am (11).  Trong câu 12, tác giả nhắc lại cuộc chiến của Giô-ách chống A-ma-xia vua Giu-đa (được tường thuật trong chương 14) thay vì nhắc lại trận chiến chống quân A-ram là trận quan trọng hơn và lần đó vua đã bại trận (c.25).

(IIVua 13:14-19).  Giô-ách vua Y--ra-ên: Giô-ách Ê-li- Sau khi tường thuật về sự qua đời của Giô-ách, tác giả đi ngược thời gian kể lại một chuyện liên quan đến Ê-li-sê.  Đây là lần thứ nhất Ê-li-sê xuất hiện kể từ chương 9, ở đây chúng ta thấy ông sắp qua đời sau hơn năm mươi năm lãnh đạo các tiên tri Y-sơ-ra-ên.  Mặc dù bản tóm tắt trên có phê bình Giô-ách nhưng chuyện này cho thấy vua rất mực tôn kính người của Đức Chúa Trời (so sánh IIVua 8:4-6).

Lời vua nói trong câu 14 lập lại như lời kêu than của chính Ê-li-sê lúc Ê-li được đem đi (xem phần bình giải 2:12).  Khi nói như vậy Giô-ách công nhận Ê-li-sê là sức mạnh cho dân Y-sơ-ra-ên và là người bảo vệ họ.  Vua than thở về cái chết sắp tới của Ê-li-sê.  Tiếng kêu của vua nghe vô cùng não ruột vì trong thực tế ‘xe và lính kỵ’ của Y-sơ-ra-ên như hoàn toàn bị tiêu điệt (7).  Liệu sau khi Ê-li-sê qua đời, Y-sơ-ra-ên có rơi vào cảnh vô phương tự vệ không?

Chuyện gồm có những động tác mang tính cách biểu tượng, như các chuyện trước đây chép về phép lạ của Ê-li-sê.  Tuy nhiên, trong trường hợp này, các động tác được chính vua thực hiện (dù Ê-li-sê có đặt tay trên vua lúc vua bắn tên câu 16).  Lời tiên tri của Ê-li-sê (17) khẳng định qua sự việc này là dân Y-sơ-ra-ên sẽ vẫn sống còn qua cơn áp bức của nước A-ram.  Động tác thứ nhất tượng trưng cho chiến thắng và khôi phục.  Tuy nhiên, vua thực hiện động tác không đủ nhiều nên vua chiến thắng trên dân A-ram trong một số lần hạn chế thôi (19).  Có thể là với động tác đó, vua tỏ ra thiếu đức tin hoặc thiếu cương quyết.

A-phéc trong câu 17 có thể là A-phéc trong IVua 20:26,30.  A-phéc nằm về phía đông biển Ga-li-lê, không nên lẫn lộn với A-phéc ở đồng bằng ven biển cách Gióp-bê mười hai dặm (20km) (ISa 4:1)

(IIVua 13:20-21).  Ê-li- qua đời phép lạ cuối cùng Không như Ê-li, cuộc đời của Ê-li-sê chấm dứt theo cách thông thường của con người, rồi thi thể được chôn cất và bị mục nát.  Chắc biến cố này xảy ra sớm nhất là hai năm sau khi ông qua đời, vì lúc này thi thể của ông chỉ còn là bộ hài cốt.  Sau khi ông đã qua đời nhiều năm mà phép lạ liên hệ đến ông vẫn xảy ra là một sự kiện không giống với một phép lạ nào khác trong Kinh Thánh.  Một lần nữa chủ điểm của câu chuyện có lẽ là để bày tỏ quyền năng phi thường của Ê-li-sê, bằng cách cho chúng ta biết rằng một chút xíu quyền năng còn sót lại trong hài cốt của ông cũng đủ làm cho người chết sống lại.  Quan trọng hơn nữa, sự việc này còn biểu tượng cho ý nghĩa hành động của Ê-li-sê trong những câu trước là dân Y-sơ-ra-ên sẽ có sinh khí mới sau khi ông qua đời.

(IIVua 13:22-25).  Giô-ách vua Giu-đa : giải cứu dân Y--ra-ên Mặc dù Giô-a-cha cầu xin ơn của Đức Giê-hô-va và Ngài lắng tai nghe vua (4), nhưng vẫn không có sự giải cứu khỏi sự áp bức nào trong suốt thời trị vì của vua (22).  Tuy nhiên đến đời Giô-ách, con trai của vua, sự giải cứu đã đến, sau khi Bên-ha-đát kế vị Ha-xa-ên (có thể đây là một Bên-ha-đát thứ ba xem IVua 20:1).  Ba lần chiến thắng của Giô-ách là những lần Ê-li-sê tiên báo trước (18-19).  Đây là bước đầu khôi phục vận mệnh Y-sơ-ra-ên và sẽ đạt đến đỉnh cao dưới thời trị vì của vua kế vị Giô-ách.

Cũng như sự tồn vong của Giu-đa gắn liền với lời Đức Chúa Trời hứa dành cho Đa-vít (11:36  IIVua 8:19), thì cũng thế, trong câu 23 cho biết sự tồn vong của Y-sơ-ra-ên gắn liền với một giao ước lâu đời hơn - tức là giao ước của Đức Chúa Trời lập với các tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên trong đó có lời hứa ban đất cho họ.  Nói theo cách loài người, thì lần này sự sống còn của Y-sơ-ra-ên kể như treo trên chỉ mành, nhưng thực sự thì vận mệnh Y-sơ-ra-ên được bảo đảm bằng giao ước của Đức Chúa Trời và Ngài hằng lo làm trọn giao ước.

(IIVua 14:1-22).  A-ma-xia làm vua Giu-đa Tác giả chính thức giới thiệu A-ma-xia (1-4) là một vị vua tốt như vua cha.  Kể từ vua A-sa, vua là vua đầu tiên được so sánh với Đa-vít.  Nhưng trong trường hợp của vua A-sa, tác giả có ý khen ngợi (IVua 15:11) còn ở đây có ý phê bình (3).  Ông có tra cứu sách luật pháp của Môi-se khi trừng phạt những kẻ ám sát cha, rõ ràng đây là một bộ Phục Truyền Luật Lệ Ký (Phu 24:16).  Cuộc chiến thắng dân Ê-đôm (7) không có nghĩa là vua chiếm lại Ê-đôm, nhưng chiến thắng này mở đường cho con trai của vua là A-xa-ria chiếm lại Ê-lát khỏi tay người Ê-đôm và kiến thiết lại (22).  Ê-lát nằm ở đầu mõm Vịnh Aqaba, gần Ê-xi-ôn Ghê-be là cảng của Biển Đỏ thời xưa, đời Sa-lô-môn (IVua 9:26).

Dầu tác giả tường thuật về vua với nhiều điểm tích cực, nhưng cuộc chiến chống Y-sơ-ra-ên (8-14) đã làm giảm thanh danh của vua.  Không thấy tường thuật một vụ gây hấn nào từ phía Giô-ách (IISu 25:6-13).  Mặc dù bản NIV dịch câu nói của A-ma-xia là một lời thách thức (c.8).  Nhưng bản tiếng Hi-bá-lai không phải như vậy mà có thể đây chỉ là một lời xin hội đàm.  Nếu đúng thế thì chúng ta phải liên hệ với biến cố trong sách Sử Ký, và như vậy thì A-ma-xia hi vọng đạt được thoả thuận bồi thường qua sự đàm phán trong hoà bình. Mặt khác, phần cuối câu trả lời của Giô-ách cho chúng ta thấy vua hiểu câu nói của A-ma-xia là một lời khiêu chiến. Giô-ách kể chuyện ngụ ngôn (hoặc bịa ra) trong câu 9 để ví A-ma-xia với cây gai vô giá trị và tỏ ý hết sức khinh miệt vua. Trong chuyện ngụ ngôn có nói về chuyện hôn nhân, như vậy có lẽ trong thời gian đó A-ma-xia muốn liên minh với Y-sơ-ra-ên bằng một cuộc hôn nhân, tuy nhiên không có bằng chứng nào về vụ này.

Giô-ách không tiến quân vào nơi phía bắc nhưng ông đưa quân đội đi thẳng vào Giê-ru-sa-lem.  Trận chiến diễn ra tại Bết-sê-mết (nhờ cụm từ trong xứ Giu-đa chúng ta biết đây không phải là Bết-sê-mết ở miền bắc Y-sơ-ra-ên).  A-ma-xia thất bại nhục nhã và bị bắt sống.  Giô-ách phá thủng một mảnh tường độ 180 mét (200 bộ) phía tây Bắc và đột nhập vào Giê-ru-sa-lem.  Các của quý trong cung điện và đền thờ không còn được bao nhiêu vì trước kia vua cha đã vét hết của quý ra để nộp cho Ha-xa-ên (IIVua 12:18).  Vụ bắt theo các con tin có lẽ là để ngăn chận mọi mưu toan thù địch khác từ phía Giu-đa.

Câu 15-16 hầu như lập lại các lời tường thuật về sự qua đời của Giô-ách chép trong 13:12-13.

Chắc A-ma-xia được trả tự do khi Giô-ách rút quân đi vì tác giả không nhắc đến vua trong số các con tin bị bắt trong câu 14.  Sau khi gây thảm hoạ cho đất nước, như thế vua không còn được lòng dân, và đáng ngạc nhiên là vua còn sống thêm ít nhất là mười lăm năm nữa (17) rồi mới bị ám sát (19).  Cái chết của hai vì vua Giu-đa vì cuộc âm mưu trong cung đình (dù trong cả hai trường hợp  không có ai định chiếm ngôi của nhà Đa-vít) gợi ý một cách nhẹ nhàng nhưng đáng sợ về những cuộc thay đổi triều đại đẫm máu trong nước Y-sơ-ra-ên.  Liệu Giu-đa có rơi vào vết xe đổ Y-sơ-ra-ên bất chấp những cuộc chấn chỉnh tôn giáo của vua Giô-ách chăng?  Cái chết thảm khốc của Giô-ách và A-ma-xia đặt ra một vấn đề lần đầu tiên, và là vấn đề chủ chốt trong thời vua Ê-xê-chia và vua Giô-si-a: liệu sự cải chánh của các vua có thể ngăn chận nổi tai hoạ này không?

(IIVua 14:23-29).  Giê---am II vua Y--ra-ên Tác giả chỉ dành bảy câu cho vị vua này là một trong những vị vua quan trọng nhất của nước Y-sơ-ra-ên.  Một lần nữa sự kiện này cho chúng ta thấy mối lưu tâm chính của tác giả.  Sự khôi phục biên cương khởi sự từ thời Giô-ách nay đạt đến đỉnh cao dưới thời trị vì của Giê-rô-bô-am II.  Vua thành công trong việc chiếm lại các lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên đã bị mất.  Chưa định vị được Lê-bô-ha-mát (hoặc ‘cổng Ha-mát’, bản RSV), nhưng địa danh này rất có giá trị vì là biên giới phía bắc của vương quốc Sa-lô-môn (IVua 8:65).  Biển A-ra-ba là Biển Chết.  Mõm phía nam của Biển Chết là biên giới cực nam của lãnh thổ Y-sơ-ra-ên bên phía đông sông Giô-đanh (nghĩa là chạy dài tới Mô-áp và bao gồm cả Mô-áp).

Câu 28 cho chúng ta biết thêm chút ít về thành tích của Giê-rô-bô-am II, nhưng lại khó dịch nghĩa của mệnh đề chủ chốt trong câu này.  Theo nghĩa đen câu này chép vua ‘khôi phục Đa-mách và Ha-mát về cho Giu-đa trong Y-sơ-ra-ên’ mà như vậy là không có nghĩa gì cả.  Có nhiều đề nghị giải thích điểm này.  Bản RSV cho rằng ‘cho Giu-đa’ nghĩa là Đa-mách và Ha-mát ‘vốn thuộc về Giu-đa’ - Dịch theo kiểu này kéo theo nhiều vấn đề trên phương diện lịch sử.  Bản NIV cũng theo cùng một quan điểm nhưng viết là ‘Yauđi’ thay cho ‘Giu-đa’ (Bản NIV viết là: ‘Đa-mách và Ha-mát ở Yauđi’).  Yauđi là một vương quốc nhỏ phía bắc Sy-ri.  Không có phương án giải quyết nào là thoả đáng cả.  Nhưng nếu các cuộc chinh phục của Giê-rô-bô-am II lan được đến tận Đa-mách và Ha-mát, thì chắc ông đã khôi phục biên cương của Y-sơ-ra-ên ở miền bắc, tương đương với biên cương trong đời Sa-lô-môn.

Câu 25b chép các thành tích của ông được Giô-na, con trai A-mi-tai báo trước - đây là vị tiên tri trong sách Giô-na.  Hai vị tiên tri giảng hai sứ điệp khác xa trong thời trị vì của Giê-rô-bô-am II là Ô-sê và A-mốt, và các sách của họ cho biết tại Y-sơ-ra-ên ngoài cuộc phục hưng kinh tế và quân sự ra mọi việc khác đều không đạt mức bình thường.

Câu 26-27 gợi nhớ lại câu trả lời của Đức Chúa Trời trong IIVua 13:4-5 và mô tả những chiến thắng của Giê-rô-bô-am II được xem như là sự giải cứu đạt mức tối đa trong thời kỳ đó.  Sự kiện Giê-rô-bô-am phạm tội như vị vua trùng tên trước đây (24) không ảnh hưởng gì đến kết quả.  Chính ý muốn của Đức Chúa Trời chớ không phải sự vâng phục hoặc không vâng phục của vua quyết định diễn biến của mọi biến cố.

2. Những thập niên cuối của vương quốc Y-sơ-ra-ên (IIVua 15:1-17:41)

(IIVua 15:1-7).  A-xa-ria vua Giu-đa  Tác giả viết danh tánh của vị vua này dưới nhiều dạng rắc rối.  Uzziah (Ô-xia) trong câu 13 và 30 Uzziahu (Ô-xia) trong câu 32,34 Uzza (U-xa) trong 21:18.

Tác giả khen ông có cùng đức tính như hai vị vua trước (3-4).  Nhưng lần này không có sự so sánh với vua Đa-vít.  Chuyện duy nhất trong thời gian trị vì lâu dài của vua được tác giả chọn để ghi lại là căn bệnh ngoài da (có thể không phải là bệnh phung, vì trong tiếng Hi-bá-lai từ này gộp chung nhiều chứng bệnh).  Bài tường thuật dài hơn trong sách Sử Ký (IISu 26:1-23) về thời trị vì của vua A-xa-ria cho thấy một thời kỳ phục hưng tại Giu-đa, tương đương với sự khôi phục ở Y-sơ-ra-ên dưới quyền cai trị của Giê-rô-bô-am II.

Tác giả không cụ thể kết luận rằng chứng bệnh ngoài da của vua là một sự hình phạt, dù ông chủ trương rằng Đức Giê-hô-va làm điều này.  Có thể tác giả chỉ muốn khẳng định quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên sức khoẻ và bệnh hoạn, và ông không ngụ ý đây là sự báo trả về tội lỗi.  Trái lại, tác giả sách Sử Ký với ngụ ý đây rõ ràng la sự hình phạt ( 26:16-21).  Nhưng nếu báo trả hoặc hình phạt đã trở nên một sự hiểu biết phổ thông, thì có lẽ tác giả sách Các Vua cho là không cần phải nhắc lại nữa vì đã quá quen thuộc với mọi người.

Chứng bệnh buộc A-xa-ria phải rút lui khỏi các trách nhiệm hằng ngày của một vị vua và Giô-tham lên cai trị trong vai nhiếp chính.  Có lẽ vua mắc bệnh nặng hơn Na-a-man, vì trước kia Na-a-man vẫn có thể tiếp tục công tác trong triều đình tại Đa-mách.  Hoặc có thể là một người bệnh hoạn như vậy không thể nào đảm nhiệm tốt đẹp vai trò của một vị vua.

(IIVua 15:8-31).  Y--ra-ên tuột dần vào thảm hoạ Khi triều đại Giê-hu chấm dứt thì nước Y-sơ-ra-ên rơi vào một giai đoạn bất ổn khác, tương tự như thời gian sau khi Ba-ê-sa qua đời.  Nhưng lần này không có chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

Xa-cha-ri bị ám sát sau sáu tháng lên ngai kế vị cho Giê-rô-bô-am II - một vị vua lừng danh (8-10).  Câu 12 khiến chúng ta chú ý đến lời Đức Chúa Trời phán cho Giê-hu rằng con cháu ông sẽ cai trị đến bốn đời (IIVua 10:30).  Với cái chết thảm khốc của Xa-cha-ri, câu này giờ đây nghe như một lời đe doạ chớ không phải là một lời hứa.

Sau khi ám sát Xa-cha-ri, Sa-lum làm vua chưa đầy một tháng đã bị Mê-na-hem giết (13-14).  Thậm chí tác giả không nhận định về Sa-lum trong vai trò một vị vua như các vị vua khác.

Việc dân chúng ở thành Típ-sắc không chịu mở cổng thành cho Mê-na-hem có nghĩa là họ không công nhận ông làm vua (chưa định vị được thành này.  Không nên lẫn lộn với thành cùng tên nằm bên sông Ơ-phơ-rát được nhắc trong IVua 4:24.  Bản Hy-lạp chép Tappuah là một thành của dân Ép-ra-im được liệt kê trong Gios 16:8.  Bản RSV và NEB cũng theo bản Hy-lạp).  Mê-na-hem xử sự cách tàn nhẫn độc ác đối với dân thành này nhằm cảnh cáo dân các thành khác phải từ bỏ ý đồ chống đối ông.

Uy tín của Mê-na-hem càng không thể tăng khi dân phải đóng thuế cao để vua có đủ bạc rất lớn mà dâng nộp cho Phun (có thể là Tiếc-lác Phê-lê-se III) vua A-si-ri.  Dù bản NIV dịch là vua A-si-ri xâm chiếm xư, nhưng theo nguyên văn Hi-bá-lai thì không nhất thiết phải hiểu như thế.  Các văn bản của người A-si-ri cũng đề cập đến việc Mê-na-hem nộp triều cống, nhưng không ngụ ý là một cuộc xâm lăng đã buộc vua phải thần phục như vậy.  Câu 19 chép vua nộp bạc cho Tiếc-lát Phi-lê-se để cầu cạnh sự ủng hộ và củng cố ngai vàng của mình chứng tỏ một bối cảnh khác.  Vua tình nguyện thần phục vì vua cần A-si-ri trợ giúp để chống lại kẻ thù không được nêu đích danh tại đây.  (Sự cố ở Típ-sắc trong câu 16 chứng tỏ có những sự chống đối từ trong nước hoặc có thể một nước độc lập ở phía đông sông Giô-đanh với uy thế đang lên đe doạ xâm lấn - Xem bên dưới chuyện Phê-ca hoặc có thể dân A-ram lại là mối nguy mới).  Các văn bản của người A-si-ri cho biết việc triều cống này xảy ra vào năm 743 hoặc 738 T.C.  Sau món quà đầy ấn tượng ban đầu, có thể năm nào vua cũng nộp triều cống nhưng với số lượng khiêm nhường hơn.

Dù Mê-na-hem phải đương đầu với lực lượng chống đối nào đi nữa, thì nguyên nhân chính khiến vua không được lòng tác giả sách Các Vua là vì vua làm theo tội ác của Giê-rô-bô-am (18).

Phê-ca-hia con trai Mê-na-hem cũng bị lên án như vậy (24).  Vua bị ám sát sau hai năm cai trị (25) chứng tỏ sự ủng hộ của dân dành cho vua còn kém hơn là dành cho vua cha.

Phê-ca, kẻ ám sát Phê-ca-hia rồi chiếm quyền cai trị cũng bị tác giả lên án vì vua vẫn phạm các tội của Giê-rô-bô-am (28).  Sự thể đạo quân của vua xuất phát từ Ga-la-át (25) phía đông sông Giô-đanh, khiến cho một số học giả nghĩ rằng lâu nay vua đã thiết lập vương quốc thù địch với Phê-ca-hia rồi.  Thuyết này giúp lý giải thời gian hai mươi năm trị vì của vua (27), bằng không thì khó lòng tính toán cho hợp lý.  Phải tính thời gian trị vì từ lúc vua bắt đầu thành lập vương quốc độc lập riêng.  Chắc hẳn Phê-ca và phe cánh ủng hộ vua muốn chấm dứt cái cảnh phải quỵ luỵ dân A-si-ri.  Vì chính sách của Phê-ca chống lại A-si-ri nên Tiếc-lát Phi-lê-se phát động chiến dịch tàn phá Y-sơ-ra-ên (29), chúng ta sẽ bàn thêm chiến dịch này trong IIVua 16:7-9.  Một khi quốc sách kéo theo tai hoạ thì vua mất uy tín là chuyện không có gì lạ.  Cho nên vua bị Ô-sê ám sát.  Rồi Ô-sê chiếm ngôi làm vua cuối cùng của Y-sơ-ra-ên (30).

(IIVua 15:32-38).  Giô-tham vua Giu-đa Sự khen ngợi dành cho Giô-tham cũng qua loa y như dành cho các vua khác đã cai trị Giu-đa (34-35).  Về những thành tích của vua, tác giả chỉ tường thuật về những công trình xây dựng (IISu 27:1-9 chép nhiều về công trình này) và các đợt tấn công của Phê-ca và Rê-xin, hai vua này đóng vai chính trong chương sau.  Chương này (không phải chương 16) cho chúng ta biết các cuộc tấn công này là do Đức Giê-hô-va đưa đẩy (37).

(IIVua 16:1-4).  A-cha vua Giu-đa Kể từ khi A-tha-li chết, đây là lần đầu tiên tác giả nhận định một cách tỏ tường về một vua Giu-đa không tin kính Chúa.  Ngoài Giô-ram ra, A-cha là vị vua Giu-đa duy nhất đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên (3).  Trong trường hợp của Giô-ram, tác giả đề cập đặc biệt đến tội bội đạo của A-háp (IIVua 8:18).  Dường như trường hợp cũng tương tự như thế, vì nét đặc trưng của thời trị vì của A-cha là bội đạo (vì khi phê bình các vua Y-sơ-ra-ên tác giả chưa bao giờ nói đến việc dâng sinh tế bằng con người).

(IIVua 16:5-9).  A-cha vua Giu-đa: Chinh chiến với A-ram Y--ra-ên Rê-xin là vua đầu tiên của A-ram, được kể tên kể từ thời Bên-ha-đát con trai của Ha-xa-ên (13:25) qua đời có lẽ vào năm 770 T.C.  Rê-xin làm vua tại Đa-mách vào năm 738, khi ông nộp triều cống cho Tiếc-lát Phi-lê-se III.  Các văn bản A-si-ri cũng xác nhận Tiếc-lát Phi-lê-se phát động chiến dịch tấn công Y-sơ-ra-ên vào năm 733 T.C. (15:29) và tấn công A-ram năm 732 T.C. (16:9).

Es 7:1-6 cũng cho biết thêm về các biến cố này.  Hình ảnh nổi cộm là Rê-xin và Phê-ca muốn lập một liên minh chống lại A-si-ri, kể cả Giu-đa nữa.  Vì không thuyết phục được A-cha liên kết với họ, nên họ nảy ý định truất phế ông rồi cử người thay thế ông (là Bên Ta-bê-ên 7:6).  Nếu họ thành công hẳn triều đại Đa-vít đã bị kết liễu.

Theo câu 6 thì Rê-xin đã chiếm Ê-lát về cho A-ram.  Câu này hơi lạ vì  Ê-lát nằm ở mũi vịnh Aqabah, khó lòng nằm trong tầm kiểm soát của người A-ram.  Đọc là Ê-đôm thay vì đọc là A-ram thì hợp lý hơn về mặt địa lý lẫn chính trị (trong tiếng Hi-bá-lai Ê-đôm và A-ram chỉ khác nhau một nét nhỏ).  Bản RSV còn thay đổi nhiều hơn nữa, bày tỏ hẳn cụm từ Rê-xin vua A-ram.

Để đối phó với sự tấn công sắp tới, A-cha cầu cứu người A-si-ri trái với điều Ê-sai khuyên (7:1-25).  Vua lấy vàng bạc trong kho của đền thờ và cung điện gởi tặng cho Tiếc-lát Phi-lê-se.  Với chính sách này Giu-đa rơi vào vết xe đổ của Y-sơ-ra-ên khi xưa (so sánh IIVua 15:19) - một chính sách tai hại dẫn đến việc A-si-ri thôn tính Y-sơ-ra-ên.

Sự hưởng ứng của vua A-si-ri đem tai họa đến cho cả Y-sơ-ra-ên lẫn A-ram.  Số phận Y-sơ-ra-ên được chép trong 15:29, phân nửa lãnh thổ phía bắc của Phê-ca bị quân A-si-ri chiếm đóng và đa số dân bị lưu đày, còn lãnh thổ trở thành một tỉnh của A-si-ri.  Vị vua kế vị Phê-ca chỉ còn cai trị một vương quốc thu hẹp đáng kể.

(IIVua 16:10-20).  A-cha vua Giu-đa: Bàn thờ ngoại giáo Có lẽ A-cha viếng thăm Tiếc-lát Phi-lê-se trong lúc A-ram đã bị sát nhập vào guồng máy cai trị của người A-si-ri, sau khi Đa-mách thất thủ vào năm 732 T.C.

Không có lý do nào khiến chúng ta cho rằng việc A-cha cho làm một bàn thờ mô phỏng lại bàn thờ vua thấy ở Đa-mách là một hình thức dùng để bày tỏ vua thần phục nước A-si-ri.  Bàn thờ này không giống kiểu bàn thờ của người A-si-ri và IISu 28:23 chép bàn thờ này được dùng để thờ ‘các thần của A-ram’ là những thần đã biểu lộ lắm uy lực đối với nước Y-sơ-ra-ên.  Tóm lại, việc đưa kiểu bàn thờ đó vào trong đền thờ Giê-ru-sa-lem nói lên rằng A-cha không cưỡng lại nổi sức thu hút của các thần ngoại bang.  Còn thầy tế lễ U-ri chỉ biết vâng phục (10,15,16) cho chúng ta biết hoặc ông cũng bội đạo như vua, hoặc vai vế của ông không cho phép ông công khai phản đối.  Có lẽ vì vai vế thấp kém thì đúng hơn, vì sau này Ê-sai tỏ ý tán thưởng ông (Es 8:2).

Câu 17-18 liệt kê những thay đối khác do A-cha đem vào đền thờ, và sự thay đổi cuối cùng là để tôn trọng vua A-si-ri (18).  Chúng ta không biết rõ ý chính xác của cụm từ này.  Không có lý do nào khiến Tiếc-lát Phi-lê-se III buộc A-cha phải tiếp nhận tôn giáo của người A-si-ri hoặc buộc vua phải loại bỏ quốc giáo Giu-đa.  Có lẽ cổng bên ngoài đền thờ (bản RSV dịch là: ‘cổng ngoài dành cho vua’) tượng trưng cho mối liên kết giữa vua và sự thờ phượng Đức Giê-hô-va vì một vài lý do nào đó không vừa ý lãnh chúa A-si-ri.

(IIVua 17:1-6).  Nước Y--ra-ên cáo chung Qua các văn bản của A-si-ri, chúng ta biết Tiếc-lát Phi-lê-se III bổ nhiệm Ô-sê làm vua (hoặc ít nhất cũng công nhận ngôi vị của ông).  Vì thế xem như ông là vị vua chư hầu bù nhìn của A-si-ri.

Tác giả nhận định (2) vua không đến nỗi tệ hại như các vua Y-sơ-ra-ên trước - nếu đem so sánh với A-cha vua Giu-đa trong IIVua 16:3 thì vua bị phê bình nhẹ tội hơn.  Tuy vậy, quả là mỉa mai thời trị vì của vua kết thúc với sự cáo chung của vương quốc Y-sơ-ra-ên.

Vì Ô-sê không chịu nộp triều cống hàng năm và tìm cách liên minh với Ai-cập, nên A-si-ri trút thạnh nộ xuống trên vua (4). Không rõ thân thế của Sô, vua Ai-cập (có thể ông là Pha-ra-ôn Osorkon IV người Li-bi.  Một bản dịch khác cho Sô là một địa danh: ‘... đến Sô - có lẽ là Saia? - đến với vua Ai-cập’). Tuy nhiên, lúc này Ai-cập quá suy yếu không thể giúp vua cách hữu hiệu được, cho nên nỗ lực giành độc lập của Ô-sê đã đem lại tai hoạ cũng như nỗ lực trước đây của Phê-ca.

Lúc này Sanh-ma-na-se V con trai của Tiếc-lát Phi-lê-se III lên ngai kế vị (726-722 T.C.).  Câu 4 cho biết Sanh-ma-na-se V bắt giam Ô-sê vào tù.  Chưa chắc sự cố này xảy ra trước cuộc tấn công và chiếm Sa-ma-ri trong câu 5, nên có thể tác giả không viết theo thứ tự thời gian.  Cuộc bao vây kéo dài trong ba năm chắc đã gây ra nạn đó kèm theo những cảnh hãi hùng (như trong IIVua 6:24-30) nhưng tác giả không muốn chúng ta đau lòng trước những cảnh thương tâm.  Trước đây, Sa-ma-ri bị bao vây hai lần và được giải cứu (IVua 20:1-43  IIVua 6:24-7:20), nhưng lần này Sa-ma-ri không được giải cứu.  Thành phố thất thủ vào năm 722 T.C., nhằm lúc Sanh-ma-na-se qua đời.  Theo tài liệu của A-si-ri thì Sargon II, em trai lên ngai kế vị nhận về mình thành tích đánh chiếm thành Sa-ma-ri.  Số người bị Sargon bắt đi lưu đày là 27.290 người (6).  Con số này tính ra là quá lớn so với dân thành Sa-ma-ri, có thể con số này bao gồm cả dân đi đày từ các thành khác trong Y-sơ-ra-ên.  Những người lưu đày định cư trong các miền xa xôi thuộc đế quốc A-si-ri (6) khó lòng định vị chắc chắn tất cả các miền này.

(IIVua 17:7-23).   lược quan điểm thần học về lịch sử Y--ra-ên Ô-sê có đời sống thuộc linh khá hơn các vua khác đôi chút, hoá ra nổi bật trên hàng loạt những cuộc đời phạm đi phạm lại những tội kéo đất nước vào chỗ tan hoang không cách nào tránh được.  Họ theo các tập tục của các dân tộc bị Đức Giê-hô-va đánh đuổi (8) bị cấm tiệt trong Le 18:3,24-28, kèm theo lịnh cấm này cũng có lời cảnh cáo là họ sẽ bị lưu đày nếu không vâng phục.  Theo quan điểm của tác giả, thì các nơi cao (9-11) là những nơi thờ phượng bất hợp pháp, nhất là sau khi xây dựng xong đền thờ Giê-ru-sa-lem.  Tuy nhiên, các nơi cao cũng không phải là những nơi thờ hình tượng (IVua 3:3-4).  Nhưng ở đây vẽ ra một bức tranh khác hẳn tác giả phê bình công trình xây dựng các nơi cao nhằm làm nơi thờ thần ngoại bang.  Câu 12 nhắc lại điều răn cấm thờ hình tượng (Xu 20:4-5).

Câu 13 tóm tắt sứ điệp của Đức Giê-hô-va phán với Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên qua các tiên tri.  Do đó chắc chắn là động từ ở số nhiều trong câu 14-17 (họ không nghe, họ từ chối, họ làm theo, họ quên ...) là nói về Giu-đa và cả Y-sơ-ra-ên nữa.  Thật vậy, tác giả chỉ đề cập tục dâng người làm sinh tế (17) của A-cha (IIVua 16:3), của Ma-na-se (21:6) là các vua Giu-đa.  Tuy nhiên, chắc chắn câu 16 chỉa vào Y-sơ-ra-ên, vì câu này đề cập đến bò vang của Giê-rô-bô-am (IVua 12:28-30).

Khi tác giả nói Đức Chúa Trời đuổi dân sự xa cách mặt Ngài (18,20) thì ông có ý nói họ bị đày ra khỏi xứ.  Không phải tác giả quan niệm rằng Đức Giê-hô-va chỉ hiện diện trong xứ Y-sơ-ra-ên.  Nhưng vì ông chủ trương xứ Y-sơ-ra-ên là nơi Đức Chúa Trời thực hiện những mục đích mà Ngài đề ra cho dân của Ngài.  Trong câu 19-20 tác giả gộp cả Giu-đa vào chuyện cách tỏ tường, cụm từ hết thảy dân Y-sơ-ra-ên trong câu 20 rõ ràng bao gồm cả Giu-đa (nghĩa là mọi chi phái phát xuất từ tổ phụ Y-sơ-ra-ên (Gia-cốp).  Đoạn này so sánh hai vương quốc, nên tiếng chuông báo về sự lưu đày của Giu-đa kể như được gióng lên ở đây.

Phần tóm tắt cuối cùng (21-23) kết luận rằng sự tan nát của Y-sơ-ra-ên là do tội của Giê-rô-bô-am và bởi đó khiến chúng ta nhớ lại lời tiên tri của A-hi-gia báo trước rằng hậu quả chung cuộc của tội lỗi của Giê-rô-bô-am là lưu đày (IVua 14:15-16).

(IIVua 17:24-34a).  Các chuyển biến kế tiếp tại Sa-ma-ri Câu 4 không có ý nói rằng dân ngoại thay thế dân Y-sơ-ra-ên định cư khắp nơi trong xứ.  Căn cứ vào số người bị đày thì không phải Sargon đã bắt toàn dân mà cũng không phải là đa số đi đày (IIVua 17:6).  Câu 4 có ý nói rằng dân ngoại bang thay thế dân Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri và các thành được chọn khác.  Dân A-si-ri thường áp dụng chính sách chuyển dân chúng từ các vùng khác thuộc đế quốc đến định cư thay cho dân bản xứ bị lưu đày.  Mục đích của họ là giảm bớt tình cảm dân tộc và nhờ đó ngăn ngừa trước các biến loạn.

Tương quan nhân quả trong câu 26 nghe có vẻ mê tín và thô thiển, nhưng tác giả chủ trương như thế trong câu 25.  Bao giờ tác giả cũng tìm cách khẳng định sự tể trị của Đức Giê-hô-va trên các biến cố lịch sử và tìm cách nhận biết mục đích của Ngài.  Căn cứ vào các lời phê bình trước đây của tác giả về những thói tục tín ngưỡng tại Y-sơ-ra-ên, chúng ta nghĩ rằng chắc thầy tế lễ trở về từ nơi lưu đày là người bội đạo rồi.  Tuy nhiên, bản tường thuật không có ý đó và cũng không trách ông nếu ông không giữ được đạo.  Thực ra, không phải hoàn toàn thất bại, vì dân ngoại bang cũng quay ra thờ phượng Đức Giê-hô-va dù vẫn không từ bỏ thói tục thờ hình tượng trước đây của họ (33).  Giống như dân Y-sơ-ra-ên trong thời Ê-li, họ vừa thờ Đức Giê-hô-va vừa thờ các thần của họ như xưa nay (xem bình giải IVua 18:21).

Mặc dù một số bản dịch (RSV, NEB) dùng từ ‘người Sa-ma-ri’ trong câu 29, nhưng bản NIV dịch đúng hơn với từ dân thành Sa-ma-ri.  Không có bằng chứng nào xác định sự liên hệ giữa những người thờ hình tượng trong câu này và những người Sa-ma-ri sau này (chỉ thờ một thần) mà chúng ta gặp trong Tân Ước.  Josephus, một sử gia người Do Thái viết sử từ thế kỷ thứ I S.C. trong một thời gian dài đã ảnh hưởng đến lối dịch và cách giải thích toàn thể đoạn này khi ông cho rằng những người Sa-ma-ri cùng thời với ông là con cháu của những người ngoại quốc được vua A-si-ri đưa vào (Ant IX, 14, iii).  Nhận định này thiếu cơ sở lịch sử và chỉ phản ánh thành kiến chống đối người Sa-ma-ri trong thời của ông.  Nhưng dầu sao đi nữa thì dân thành Sa-ma-ri không phải là những người ngoại quốc nhập cư, mà là dân Y-sơ-ra-ên.  Còn người ngoại quốc nhập cư thì chiếm đoạt những đền đài thờ phụng của họ.

(IIVua 17:34b-41).  Nhận định cuối cùng về Y--ra-ên Mặc dù câu 34 thường được xem như dẫn nhập cho phần nhận định khác (kéo dài đến câu 41) về dân ngoại quốc nhập cư ở miền bắc, nhưng có lý do chính đáng để xem câu này chuyển tiếp sang vấn đề khác.  Chắc chắn phần đầu câu này nối tiếp câu 33 (chúng ghì mài theo thói tục cũ cho đến ngày nay), nhưng tốt hơn nên dịch phần thứ hai của câu này là: ‘Không ai thờ phượng (một mình) Đức Giê-hô-va, cũng không vâng giữ luật lệ ...’.  Ở đây câu này có nghĩa là không chỉ có người ngoại quốc nhập cư ở miền bắc không chịu thờ phượng Đức Giê-hô-va, vì cụm từ ‘không một ai’ có nghĩa là ngay cả con cháu của Gia-cốp, mà Ngài gọi là Y-sơ-ra-ên cũng không thờ phượng Ngài.  Câu 35-39 diễn ý những điều kiện trong giao ước của Đức Giê-hô-va với Y-sơ-ra-ên (nhắc lại Phu 4:1-6:25).  Cũng như câu 20, câu này gộp toàn thể dòng dõi của Gia-cốp.  Do đó câu 40-41, lên án cả Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên vì họ không tuân thủ những điều kiện trong giao ước và con cháu họ vẫn không tuân thủ cho đến ngày nay.

Những phần so sánh giữa Y-sơ-ra-ên với Giu-đa trong chương này (ở đây và trong câu 19-20) báo trước sự sụp đổ kề cận của chính Giu-đa.

3. GIU-ĐA ĐƠN ĐỘC IIVua 18:1-25:30)

1. Ê-xê-chia (IIVua 18:1-20:21)

(IIVua 18:1-8).  Dẫn nhập  Chương trước gióng lên tiếng chuông ảm đạm về Giu-đa, vì mạnh mẽ hàm ý là Giu-đa sẽ đồng số phận với Y-sơ-ra-ên.  Tuy nhiên ở đây viễn cảnh sụp đổ dường như còn xa.  Ê-xê-chia đổi ngược chính sách của tiên vương và đưa Giu-đa ra khỏi con đường thờ hình tượng.  Tất cả những dấu hiệu bên ngoài về sự thờ thần ngoại bang đều bị loại bỏ, ngay cả con rắn đồng do Môi-se làm trong đồng vắng (Dan 21:8-9) cũng bị tiêu trừ vì con rắn đã trở nên đối tượng được tôn sùng cách sai lầm (c.4). Qua những phát hiện của khảo cổ, chúng ta hiểu được nguy cơ thờ lạy con rắn vì rắn là con vật biểu tượng quan trọng trong sự thờ thần Phì Nhiêu của dân Ca-na-an.

Kể từ A-sa, Ê-xê-chia là vua đầu tiên được kể là làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va như tổ phụ Đa-vít đã làm (3 so sánh IVua 15:11).  Hơn nữa, ông là vua đầu tiên phá bỏ các nơi cao (4).  Thật vậy, vua đáng được khen ngợi hoàn toàn vì lòng trung tín và đức tin không lay chuyển (5-6).  Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy sự nhận định rộng lượng này sẽ hơi đổi khác trong chương 20.

Bản tóm tắt về thời trị vì của Ê-xê-chia đặc biệt đề cập đến vụ vua nổi lên chống lại A-si-ri (7).  Hậu quả của cuộc nổi loạn (IIVua 18:13-19:37) chiếm phần lớn của ba chương dành cho thời trị vì của vua.  Cần hiểu cuộc tiến đánh Phi-li-tin (8) là một phần trong chiến dịch chống lại A-si-ri.  Sargon II đã chinh phục Ga-xa, nên Ê-xê-chia mở rộng trận chiến đến tận Ga-xa và lãnh thổ của nó.  Có thể ông chủ tâm làm suy yếu quyền kiểm soát của A-si-ri đối với khu vực này.  Nếu đúng thế, thì có thể ông mở chiến dịch ngay sau khi Sargon I qua đời năm 705 T.C., trước khi San-chê-ríp lên kế vị củng cố quyền kiểm soát đế quốc.

(IIVua 18:9-12).  A-si-ri tấn công Y--ra-ên Thoạt nhìn các câu này có vẻ lập lại chương 17 một cách vô nghĩa.  Tuy nhiên, trong phần này thời điểm của các biến cố được tính theo thời gian trị vì của Ê-xê-chia (9,10).  Kết quả là khuyến giục độc giả so sánh và đối chiếu cuộc tấn công Y-sơ-ra-ên của người A-si-ri với cuộc tấn công Giu-đa từ câu 13 trở đi.  Vì vậy hai bản tường thuật mở đầu tương tự như nhau, nguyên văn là: ‘Năm thứ tư đời Ê-xê-chia (nhằm năm thứ bảy đời Ô-sê, con trai Ê-la vua Y-sơ-ra-ên), Sanh-ma-na-se vua A-si-ri tiến đánh Sa-ma-ri ...’ (9) ‘Năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia, San-chê-ríp vua A-si-ri tiến đánh các thành kiên cố của Giu-đa ...’ (13).  Ô-sê khá hơn các vua trước ông đôi chút (17:2), nhưng cuộc nổi loạn của ông chống lại A-si-ri đã đưa Y-sơ-ra-ên đến chỗ diệt vong.  Ê-xê-chia tốt hơn A-cha rất nhiều nên Giu-đa còn tồn tại sau cuộc nổi loạn chống lại A-si-ri như chúng ta thấy dưới đây.

Thứ tự thời gian trong câu 9 và 10 không khớp với phần thứ tự thời gian trong câu 13.  Nếu Sa-ma-ri thất thủ năm 722 T.C. tức vào năm thứ sáu đời Ê-xê-chia (10) thì Ê-xê-chia phải lên ngôi vào năm 728 T.C.  Năm thứ mười bốn (13) phải là năm 715 T.C., nhưng chúng ta biết rằng các văn kiện của A-si-ri ghi chép rằng chiến dịch của San-chê-ríp tấn công Giu-đa xảy ra vào năm 701 T.C.  Nhiều người đề nghị giải quyết theo những hướng khác nhau.  Một số người cho đây là lỗi lầm của người sao chép, một số người khác cho rằng có vấn đề nhiếp chính.  Đây chỉ là một trong các trường hợp chênh lệch giữa các khung thời gian trong Kinh Thánh mà chúng ta thường gặp.

(IIVua 18:13-37).  A-si-ri tấn công Giu-đa Đối phó lại cuộc tấn công của San-chê-ríp, phản ứng cấp thời của Ê-xê-chia là hàng phục và dâng lễ vật triều cống hậu hĩ (14-16).  Tuy nhiên trong câu 17 chúng ta thấy Giê-ru-sa-lem lại bị đe doạ một lần nữa.  Một số học giả cho rằng người A-si-ri mở hai chiến dịch khác nhau ở đây: câu 3-16 chép về các biến cố năm 701 T.C. còn câu 17 trở đi chép về một chiến dịch sau này (có lẽ xảy ra vào năm 688 T.C.) nhưng không thấy ghi lại trong các văn kiện của người A-si-ri.  Một ý kiến khác cho rằng sau khi nhận lễ vật tiến cống, San-chê-ríp tiếp tục gây sức ép bắt buộc Giê-ru-sa-lem phải hoàn toàn đầu hàng.  Chúng ta có thể so sánh chuyện này với chuyện Bên-ha-đát tiếp tục gia tăng các điều kiện đầu hàng đối với A-háp khi Sa-ma-ri bị bao vây lần đầu (IVua 20:1-11).  A-háp không chịu đầu hàng và cương quyết chiến đấu, thì cũng thế Ê-xê-chia không chịu giao nộp thủ đô.

Ba vị quan tướng quân sự cao cấp đang bao vây La-ki (17) được phái đến Giê-ru-sa-lem (IISu 32:9), chúng ta hiểu biết cuộc bao vây này là nhờ hàng loạt các hình chạm nổi tìm thấy trong cung điện đổ nát của San-chê-ríp tại Ni-ni-ve, và các phát hiện khảo cổ xác nhận cảnh tàn phá tại La-ki).  Triều đình Ê-xê-chia cũng sai ba quan tướng với cấp bật tương đương đi lên vách thành để nghe sứ điệp của San-chê-ríp (18), do tướng chỉ huy chiến trường người A-si-ri chuyển lại (19 bản NEB dịch là ‘chỉ huy trưởng’ nguiyên văn là Rabshakeh (Ráp-sa-kê) như trong bản RSV).

Viên tướng chỉ huy dùng nhiều lần từ ‘tin cậy’ (bản RSV dịch là ‘nhờ cậy’ bản NIV dịch là ‘lệ thuộc’ trong tiếng Hi-bá-lai.  Trong câu 19 ông cũng dùng từ này để mở đầu cuộc nói chuyện, dù bản dịch tiếng Anh không sáng tỏ cho lắm).  Chủ ý của sứ điệp là: Giê-ru-sa-lem tin cậy ai?  Viên tướng chỉ huy khéo léo loại tất cả mọi đối tượng có thể tin cậy, chứng tỏ không còn ai bảo vệ Giê-ru-sa-lem nữa.  Ông loại bỏ Ai-cập ra bằng cách ví Ai-cập với một cây sậy gãy đâm lủng cánh tay nào dựa vào nó (21).  Ê-sai cũng phê bình thái độ nương dựa vào Ai-cập (Es 30:1-5  31:1-3) và giải pháp của ông là tìm sự giúp đỡ của Đức Giê-hô-va (Es 31:1).  Viên tướng chỉ huy quay sang loại bỏ Đức Giê-hô-va.  Ông không nói rằng Ngài yếu đuối hoặc không hiện hữu.  Nhưng ông khéo léo gợi ý rằng Đức Giê-hô-va sẽ không đáp lời họ vì Ê-xê-chia đã phá bỏ các nơi cao là nơi thờ phượng Ngài lâu nay (22).  Khó nắm bắt manh mối lập luận của câu 23-24, nhưng ý chính trong câu này khá rõ: quân đội Giu-đa quá kiệt quệ không thể tung ra chiến trường một lực lượng kỵ binh hữu hiệu, cho dù chính San-chê-ríp cấp ngựa cho họ.  Cuối cùng ông lập luận lại rằng công cuộc cải cách của Ê-xê-chia đã xúc phạm đến Đức Giê-hô-va và tự xưng rằng A-si-ri đến huỷ diệt Giu-đa theo lệnh của Ngài (25).

Lập luận của viên tướng chỉ huy thật vững vàng và áp đảo: Ai-cập quá yếu không giúp được, quân đội Giu-đa thì vô dụng, còn Đức Giê-hô-va thì chống lại dân của Ngài Ê-xê-chia chẳng còn có thể trông mong vào ai nữa.  Không có gì ngạc nhiên khi các quan tướng Giu-đa xin tướng chỉ huy nói bằng tiếng A-ram (ngôn ngữ ngoại giao quốc tế) thay vì bằng tiếng Hi-bá-lai (26), vì họ e rằng lời nói của ông làm nhụt nhuệ khí của dân trong thành.  Viên tướng chỉ huy không chịu vì ông có ý nói cho mọi người nghe.  Trong câu 27 ông mô tả vắn tắt nhưng sống động về cảnh đói khát hãi hùng sắp đến cho thành bị bao vây.  Sau đó ông trực tiếp nói với dân chúng (28-35), ông hứa tha mạng sống cho những ai tình nguyện đầu hàng để khuyến khích họ đào ngũ (31-32).  Ông cũng quay sang lãnh vực tôn giáo (33-35), nhưng với lối lập luận khác:  Những thần của các thành khác không thể cứu dân của mình khỏi sức mạnh của người A-si-ri, thì làm sao Đức Giê-hô-va cứu Giê-ru-sa-lem được?  Tuy nhiên, nội dung trong các phần khác của sách Các Vua đánh đổ lập luận của ông, vì có nhiều bằng cớ chứng tỏ rõ rằng Đức Giê-hô-va không phải như các thần khác.

Ba quan trưởng Giu-đa trở về với Ê-xê-chia, áo xé toạc làm dấu hiệu bày tỏ sự buồn rầu lo lắng (so sánh IIVua 6:30)

(IIVua 19:1-7).  Ê-sai Khi nghe tin đó, Ê-xê-chia cũng xé quần áo và mặc bao gai.  Theo câu 2 các quan trưởng và các thầy tế lễ đều mặc bao gai - dấu hiệu cho biết Giê-ru-sa-lem đang lâm cảnh tuyệt vọng (về ý nghĩa bao gai, xin xem chú giải IIVua 6:30).  Điểm chính họ muốn nhờ Ê-sai là xin ông cầu thay cho những người sót lại còn sống sót (4).  Cầu thay là nhiệm vụ truyền thống của các tiên tri Y-sơ-ra-ên ( Xu 32:30-32  Gie 7:16  15:1).  Khi đề cập đến những người còn lại, tác giả muốn nhắc chúng ta nhớ rằng các thành kiên cố của Giu-đa đã rơi vào tay San-chê-ríp (IIVua 18:13) và Giê-ru-sa-lem ngày càng bị cô lập (Es 1:7-9, có lẽ đoạn này mô tả thời gian này).  Ê-xê-chia hi vọng rằng vì San-chê-ríp chế giễu Đức Chúa Trời Hằng Sống nên chắc Ngài đã nghe và quở phạt ông (4).

Vấn đề ‘nghe’ được lập lại nhiều lần trong hai mươi câu đầu của chương này: Ê-xê-chia nghe sứ điệp của San-chê-ríp (1) vua hi vọng Đức Giê-hô-va nghe lời phạm thượng này (4) Ê-sai xin vua đừng sợ vì điều vua đã nghe (6) San-chê-ríp sẽ được nghe tin đồn (7) tướng chỉ huy chiến trường nghe tin vua đã rời khỏi La-ki (8) San-chê-ríp nghe tin Tiệt-ha-ca đang tiến quân (9) chắc chắn Ê-xê-chia cũng đã nghe việc vua A-si-ri làm cho các nước khác? (11).  Vào lúc căng thẳng nhất, Ê-sai bảo đảm với Ê-xê-chia rằng Đức Giê-hô-va đã nghe lời cầu nguyện của vua (20).

Tiên tri Ê-sai vận dụng lời của Đức Giê-hô-va vào tình thế (6) và cuộc xung đột chuyển sang một bình diện mới.  Đối nghịch với lời của Vua Lớn, là vua A-si-ri (IIVua 18:28), chúng ta có lời của Vua Lớn Chân Thật, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.  Lời đầu tiên của Ê-sai tuy ngắn nhưng nói thẳng vào vấn đề, Ê-xê-chia không nên hãi hùng, vì Đức Chúa Trời tể trị mọi hoạt động của San-chê-ríp, Ngài sẽ khiến ông rút về nước và tại đó ông sẽ bị ám sát.  Điều khó hiểu là lời tiên tri này ăn khớp thế nào với các biến cố xảy ra trong thực tế.  Có thể tin đồn (7) là tin tức về cuộc tiến quân của Tiệt-ha-ca (9) nhưng cuộc tiến công này tự nó không thể làm cho San-chê-ríp rút về A-si-ri.  Không thấy tác giả dề cập đến lý do chính khiến cho San-chê-ríp thối chí (35-36).

(IIVua 19:8-19).  Một bức thư một lời cầu nguyện Cuộc rút quân của viên tướng chỉ huy (8) là một điểm nhỏ báo trước lời tiên tri bắt đầu được ứng nghiệm: Khi nghe tin San-chê-ríp chuyển quân, ông liền quay trở về với San-chê-ríp.  Dĩ nhiên là ông không thể rút hết lực lượng khỏi Giê-ru-sa-lem, vì nếu thế thực phẩm sẽ lại tuôn vào thành.  Cho nên chúng ta có thể đoán rằng ông để lại một lực lượng khác tiếp tục bao vây Giê-ru-sa-lem trong khi ông trở về báo tin cho San-chê-ríp biết tình trạng bế tắc kéo dài tại đây.  Nếu xác định được Líp-na là Tell Bornat, thì Líp-na nằm về phía bắc La-ki, và San-chê-ríp đã điều lực lượng chính của vua tiến về Giê-ru-sa-lem.  Chắc hẳn vua rút quân khỏi La-ki sau khi thanh toán xong thành đó.

Nguyên văn câu 9 trong bản tiếng Hi-bá-lai là ‘Tiệt-ha-ca vua Cush’.  Theo Kinh Thánh, Cút là một xứ sát nách Ai-cập về phía nam, tức là Nubia hoặc miền bắc Xu-đăng ngày nay (chớ chưa chắc là ‘Ê-thi-ô-bi’ như trong bản RSV).  Vào năm 701 T.C., triều đại Cút thứ Hai mươi lăm cai trị cả xứ Cút lẫn Ai-cập.  theo Kinh Thánh thì Tiệt-ha-ca là Taharqa, là vua áp chót của triều đại đó, trị vì từ năm 690-664 T.C.  Do đó tước vị vua được gán cho ông trong câu này là tước vị hàm mà thôi vì mãi đến năm 690 T.C. ông mới lên ngôi, còn năm 701 T.C. ông chỉ là hoàng tử, thay mặt cho anh mình là Pha-ra-ôn Shebitku lãnh đạo cuộc viễn chinh.

Khi nghe tin Tiệt-ha-ca tiến quân, San-chê-ríp gởi thêm cho Ê-xê-chia một sứ điệp nữa.  Chắc lúc này San-chê-ríp nôn nóng muốn thanh toán Giê-ru-sa-lem gấp để ông có thể tập trung quân mà đối đầu với quân của Tiệt-ha-ca ở miền nam.  Mặc dù sứ điệp lần này cũng tương tự như sứ điệp trong câu 33-35, nhưng lần này xuất hiện một chiều hướng mới.  Hình như San-chê-ríp hiểu ý chính của lời tiên tri của Ê-sai, vì ông nhắc đến lời tiên tri ấy (10).  Ông không phủ nhận sự hiện hữu của Đức Giê-hô-va, cũng không phủ nhận việc Ngài phán qua tiên tri, ông chỉ gán cho Ngài một cái nhãn nói dối.  Thêm một danh sách các thành thất thủ minh chứng rằng A-si-ri là vô địch (11-13).

Ê-xê-chia nhận được sứ điệp mới nhất qua một lá thư, ông cầm bức thư lên đền thờ.  ông muốn trình bày cho Đức Giê-hô-va những lời lẽ báng bổ trong thư (16).  Mở đầu lời cầu nguyện, ông công nhận dù Ngài ngự giữa chê-ru-bin trong đền thờ, nhưng sự hiện diện và quyền năng Ngài không bị hạn chế.  Ngài là Đức Chúa Trời cai trị trên các nước thế gian và Ngài là Đấng tạo nên trời đất (15).  Ông cũng công nhận sự khoe khoang của San-chê-ríp là đúng sự thật.  Thật vậy, nhiều dân tộc đã bị San-chê-ríp chinh phục và các thần của họ đã bị phá huỷ (17-18).  Nhưng các thần đó không phải là thần chân thật.  Ông cầu xin Đức Giê-hô-va giải cứu Giê-ru-sa-lem (19) để chứng minh cho thế gian biết Ngài là Đấng Tạo Hóa và là Chủ Tể duy nhất.

(IIVua 19:20-34).  Ê-sai tái xuất hiện Trái với lần tiên tri trước đây, lần này Ê-sai trình bày lời tiên tri dài theo thể văn vần.  Sau lời dẫn nhập xác quyết với Ê-xê-chia rằng Đức Chúa Trời đã nghe lời vua cầu nguyện, lời tiên tri chia làm ba phần.

Phần thứ nhất (21-18) nói với San-chê-ríp.  Dân cư (con gái) thành Giê-ru-sa-lem sẽ chế nhạo San-chê-ríp khi ông chạy trốn (21).  Ông bị lên án là đã phỉ báng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên không phải chỉ bằng những lời lẽ mới đây, mà bằng những lời khoe khoang rằng A-si-ri chiến thắng ở khắp mọi nơi (22-24).  Nhưng có một sự thực mà ông không chịu công nhận.  Đó là chính Đức Giê-hô-va quyết định các chiến thắng này (25-26).  San-chê-ríp lầm khi ông cho rằng chính ông là người dàn dựng ra các biến động của thế giới, chớ không phải Đức Giê-hô-va.  Ông đã chiếm địa vị của Đức Chúa Trời khi xưng mình có uy quyền tối cao và đòi hỏi mọi dân tộc phải phục tòng tuyệt đối dưới quyền của mình.  Vì thái độ xấc xược đó, nên Đức Giê-hô-va khiến ông phải tháo lui (27-28).  Es 10:5-19 cũng đề cập đến những chủ đề tương tự.

Phần thứ hai (29-31) nói với vua Ê-xê-chia. Mặc dù Giê-ru-sa-lem phải gánh chịu hậu quả của cuộc bao vây của người A-si-ri nhưng sau đó Giê-ru-sa-lem sẽ được khôi phục.  Đây là dấu hiệu giành cho Ê-xê-chia (29) tức là nhờ điều này mà ông nhận biết rõ ràng có bàn tay của Đức Chúa Trời can thiệp.  Câu kết ở đây cũng được dùng ở cuối 9:7.

Phần thứ ba (32-34) nói về chung cuộc của chiến dịch của San-chê-ríp.  Cuộc bao vây sẽ không đạt đỉnh cao với một cuộc tấn công vào Giê-ru-sa-lem.  Bình thường quân đội A-si-ri kết thúc cuộc bao vây bằng cách tấn công vào mục tiêu.  Bước thứ nhất họ đào hào đắp luỹ để chuyển dàn chày đập phá đến sát tường thành.  Trong khi đó, các xạ thủ nấp sau những cái khiên bắn tên yểm hộ.  Tác giả mô tả chiến thuật này trong câu 32.  Họ sẽ không thực hiện chiến thuật này vì  San-chê-ríp sẽ phải rút quân về nước.  Lý do căn cội khiến Đức Chúa Trời giải cứu Giê-ru-sa-lem không phải vì San-chê-ríp phạm thượng, cũng không phải vì Ê-xê-chia đã tỏ lòng sùng kính và đã cầu nguyện nhiều, nhưng vì vinh hiển của Ngài và vì những lời Ngài đã hứa với Đa-vít rằng triều đại ông sẽ bền vững (34).

(IIVua 19:35-37).  Kết cuộc của San-chê-ríp Tác giả mô tả ngắn gọn cái chết đột ngột và kỳ lạ của 185.000 binh lính A-si-ri.  Số binh lính tử vong quá lớn so với số quân trong một bộ phận của quân viễn chinh.  Vì vậy chắc chúng ta phải hiểu rằng tai hoạ không chỉ giáng trên quân A-si-ri đang vây thành Giê-ru-sa-lem nhưng cũng giáng trên các cánh quân của San-chê-ríp đóng rải rác khắp xứ Giu-đa.  Chẳng có gì lạ khi vụ thất bại nhục nhã này không được ghi chép lại trong các bản tường thuật của A-si-ri về cuộc viễn chinh này.  Theo lối tường thuật của San-chê-ríp thì trên hai bản chạm khắc chủ yếu ông ghi lại sự thành công trong việc dẹp loạn còn ông không đả động đến vụ không chiếm được Giê-ru-sa-lem.  Bản tường thuật đó kết thúc với điểm thắng lợi là Giu-đa đem lễ vật triều cống dâng ở Ni-ni-ve có ghi chép trong IIVua 18:14.  Còn để kỷ niệm ông chọn cuộc bao vây thành công thành La-ki cho người ta chạm nổi.

Vụ mưu sát ông (37) xảy ra năm 681 T.C. làm ứng nghiệm lời tiên tri trước đây của Ê-sai (7).  Một văn kiện của A-si-ri có đề cập đến vụ mưu sát này nhưng các chi tiết vẫn còn mơ hồ.

(IIVua 20:1-11).  Bịnh hoạn lành bịnh. Câu 1 không xác định rõ ngày tháng Ê-xê-chia lâm bệnh (trong những ngày nầy ...) mà chỉ gợi ý là vua lâm bệnh trong thời gian cận kề cuộc xâm lăng của San-chê-ríp.  Nhưng câu 6 giúp chúng ta xác định cụ thể hơn: lời Đức Chúa Trời hứa cho vua sống thêm mười lăm năm nữa gợi ý việc xảy ra vào năm thứ mười bốn trong thời gian hai mươi chín năm trị vì của Ê-xê-chia (18:2) và cũng là năm San-chê-ríp xâm lăng đất nước (18:13), còn lời Đức Chúa Trời hứa là sẽ giải cứu thành đương nhiên là phải có trước chuyển biến trong cuối chương 19 chớ không phải sau đó.  Tóm lại, trong chương này, tác giả không sắp xếp các biến cố theo thứ tự thời gian.  Hình như tác giả không theo thứ tự thời gian vì chuyện này và chuyện tiếp theo (12-19) đặt Ê-xê-chia trong tầm nhìn không mấy sáng lạng.  Tác giả chủ tâm tách rời mấy chuyện này để tạo nên sự tương phản với hình ảnh nổi cộm trong chương 18-19.  Và thay vì đặt những chuyện này ra trước, tác giả gom lại và đặt ở đây xem như một nhịp cầu bắc qua thời trị vì của Ma-na-se gắn liền với những hậu quả của thời đó.

Ê-xê-chia chỉ mới ba mươi chín tuổi sau mười bốn năm trị vì (18:2).  Vì vậy chắc vua bàng hoàng lắm khi nghe báo rằng vua sắp qua đời (20:1).  Nhưng cung cách của vua không biểu lộ lòng tin kính như khi vua phản ứng đối với mối đe doạ của người A-si-ri.  Trong lời cầu nguyện ở 19:15-19, vua khẳng định Đức Chúa Trời nắm quyền tể trị và vua muốn Đức Chúa Trời được vinh hiển.  Nhưng ở đây vua lấy sự tin kính của mình làm cơ sở cho lời cầu xin (3).  Đức Chúa Trời đáp lại bằng tấm lòng thương xót và sai Ê-sai đến với hai lời hứa chữa lành cho vua và giải cứu thành, nhưng vì Danh Ta và tôi tớ Ta là Đa-vít (6 chú ý điểm tương đồng với 19:34), chớ không phải vì mức độ tin kính của vua.  Vị tiên tri nói như vậy cốt để chấn chỉnh lại thái độ của vua.  Trước đó, việc nhắc lại Đa-vít là tổ phụ của Ê-xê-chia (5) cũng nhằm mục đích nhắc nhở vua nhớ lại địa vị của vua trong triều đại mà Đức Chúa Trời đã hứa.

Dùng trái vải làm thuốc đắp để chữa bệnh da cho vua (7) là một ‘phương thuốc dân gian’ đặc trưng thời đó.  Vì vậy chắc hẳn trước kia vua đã điều trị theo cách này, nhưng vô hiệu quả cho đến khi tiên tri Ê-sai loan báo rằng Đức Chúa Trời sẽ chữa lành cho vua thì phương thuốc đó mới đem lại hiệu quả.

So sánh với niềm tin của vua đã bộc lộ trong lần khủng hoảng trước đây thì việc vua Ê-xê-chia xin thêm một dấu hiệu bộc lộ một nét không mấy sáng sủa.  Lẽ ra trong việc Đức Chúa Trời chữa lành bệnh cho vua trong vòng ba ngày đủ khiến vua tin rằng Ngài sẽ cho ông sống thêm mười lăm năm nữa.  Vậy mà Ê-xê-chia vẫn đòi thêm một dấu lạ thứ hai để xác chứng cho dấu lạ thứ nhất.  Không rõ dấu lạ này được xây dựng trên cơ sở lý luận ra sao vì chúng ta không rõ bóng đổ trên cấu trúc nào, thiết kế ra sao.  Bản RSV đến ‘giàn tính thời gian của A-cha’ (11) theo đó ta hiểu rằng bóng lùi lại mười vạch trên một thiết bị biểu thị thời gian.  Tuy nhiên các bản NIV, NEB cho thiết bị này có dạng một giàn thang có nhiều nấc.  Được phép chọn lựa, Ê-xê-chia đã chọn dấu lạ đặc biệt hơn trong hai dấu lạ đề nghị (9-10) và dấu lạ đã xảy ra cho vua (11).  Nhiều người thử xây dựng tiến trình diễn biến của dấu lạ này nhưng chưa ai tìm được một phương thức thỏa đáng.

(IIVua 20:12-19).  Đoàn sứ thần của --đác Ba-la-đan Mê-rô-đác Ba-la-đan (tức là Marduk-aplaiddina trong các văn kiện của Ba-by-lôn) cai trị đế quốc Ba-by-lôn độc lập trong khoảng thời gian từ năm 721-709 T.C.  Sau đó vua bị Sargon II bắt lưu đày, nhưng đến năm 705 T.C. khi Sar-gon II băng hà, vua lại tiếp tục hoạt động giành lại độc lập cho dân Ba-by-lôn.  Ông chiếm lại được ngôi báu nhưng chỉ tồn tại được một thời gian ngắn ngủi từ năm 703-703 T.C.  Cuối cùng thì vua lại bị San-chê-ríp trục xuất ra khỏi Ba-by-lôn.  Vua phải sống lưu vong trong vùng Tây Nam xứ Ê-lam.  Chắc hẳn đoàn sứ thần đến thăm Ê-xê-chia là một nổ lực tìm liên minh ở phương Tây để bẻ gãy cái ách của người A-si-ri.  Chuyến viếng thăm này nằm trong giai đoạn phục quốc ngắn ngủi của Mê-rô-đác Ba-la-đan khoảng năm 703-702 T.C. là rất hợp lý.  Lý do trực tiếp đưa đến chuyến viếng thăm này là bệnh tình của vua Ê-xê-chia (12), nhờ đó chúng ta có thể hiểu rằng Ê-xê-chia bị bệnh khoảng một hoặc hai năm.  Có thể dựng lại các biến cố theo trật tự trên.  Tuy nhiên, theo bản tường thuật về vụ này trong Es 39:1, thì đoàn sứ thần đến thăm Ê-xê-chia khi vua đã bình phục, nghĩa là trong năm 701 T.C. hoặc sau đó (xem câu 1-11 bên trên).  Mặc dù lúc đó Mê-rô-đác Ba-la-đan vẫn còn sống lưu vong, nhưng có thể tin là từ xa ông vẫn cố gắng tạo ảnh hưởng trên các chuyển biến của đất nước.  Với những bằng chứng hiện có, chúng ta vẫn không thể giải toả yếu tố bất định về thứ tự các sự việc.

Việc vua Ê-xê-chia sẵn lòng đưa đoàn sứ thần đi thăm kho dự trữ và kho vũ khí (13) có nghĩa là vua sẵn sàng liên minh với Mê-rô-đác Ba-la-đan.  Lâu nay Ê-sai vẫn quyết liệt phản đối mọi chuyện liên minh với ngoại quốc (30:1-5  31:1-3) nên giờ đây ông cực lực lên án quyết định này là rất hợp lý (16-18).  Ông tiên báo rồi đây có ngày Ba-by-lôn sẽ biến thành kẻ thù, sẽ vơ vét của cải và lùa dân chúng đi.  Nhưng Ê-xê-chia không ăn năn, chỉ nghĩ đến bản thân mình (19).  Vua tự trấn an với sự kiện là những thảm hoạ mà Ê-sai tiên báo sẽ xảy ra trong đời con cháu của vua chớ không xảy ra trong đời của chính vua.  Việc vua tin rằng suốt đời vua sẽ được hoà bình và an ổn cũng có thể khiến vua hài lòng trong vụ liên minh hợp tác đó.

Vì vậy chương này kết thúc với lời tiên báo nghiêm trọng  về thảm hoạ:  Ấy là vị vua cải tổ vĩ đại nhất của Giu-đa được báo trước rằng vương quốc của mình sẽ sụp đổ và dân bị lưu đày.  Hoàn toàn không hi vọng tránh khỏi dù có ăn năn.

(IIVua 20:20-21).  Kết luận Trong các thành tích của vua Ê-xê-chia, tác giả chọn lọc ra hai công trình để ghi lại: hồ chứa nước và ống ngầm dẫn nước vào thành phố.  IISu 32:30 cũng đề cập đến công trình này với nhiều chi tiết về địa lý.  Có lẽ công trình này nằm trong kế hoạch chuẩn bị đối phó với cuộc bao vây thành của San-chê-ríp.  Đó là cách duy nhất để đem nước từ bên ngoài thành cho dân bên trong thành (32:2-4).

2. Sự tái phạm dưới đời Ma-na-se và A-môn (IIVua 21:1-26)

(IIVua 21:1-18).  Ma-na-se  Ma-na-se quay về con đường A-cha, là ông nội đã đi.  Vua quét sạch tất cả những cuộc cải tổ của Ê-xê-chia như thể chưa hề có cuộc cải tổ nào.  Vua tái lập các nơi cao, sự thờ phượng Ba-anh và A-sê-ra phát triển như thời A-háp và đền thờ bị ô uế vì các bàn thờ các thần ngôi sao.  Vua cũng du nhập nhiều thói tục ghê tởm và dâng lễ vật bằng sinh mạng con người.  Câu nhận định là tất cả các tội ác này chọc giận Đức Giê-hô-va (6) vang lên cách đáng sợ.  Lời hứa có điều kiện được nhắc lại trong câu 7-8 phủ lên tương lai một màu đen tối hơn.  Vì cớ họ không trung tín với điều kiện tiên quyết là tuân thủ luật pháp Môi-se khiến cho giờ đây lời hứa về chuyện dân Y-sơ-ra-ên sẽ không còn phải lưu lạc xa xư trở nên bấp bênh.

Câu 10-15 tóm tắt sứ điệp của các tiên tri vô danh trong thời trị vì của Ma-na-se, tiên báo chắc chắn và rõ ràng về số phận của Giu-đa.  Giê-ru-sa-lem sẽ bị xét xử theo cùng một luật đã áp dụng cho Sa-ma-ri (13).  Việc nhắc đến nhà A-háp là nhằm so sánh giữa A-háp và Ma-na-se trong câu 3.  Chén dĩa được chùi rửa sạch là hình ảnh sống động biểu tượng biện pháp hình phạt sẽ được áp dụng triệt để.  Phần còn sót lại của sản nghiệp ta (14) có thể chỉ về dân Giu-đa còn lại sau khi Y-sơ-ra-ên sụp đổ, nhưng rất có thể câu này đề cập đến số dân Giu-đa còn sót lại sau cuộc tấn công của San-chê-ríp.  Việc từ bỏ và giao nộp số dân còn sót lại là dấu hiệu cho biết Đức Chúa Trời chấm dứt không đặc biệt chăm sóc dân của Ngài nữa.  Những tội ác trong thời trị vì của Ma-na-se chẳng qua chỉ là sự quật khởi của chứng bất phục tòng cố hữu âm ỉ phát triển lâu nay (c.15).  Hình ảnh về tai họa sắp đến do Ê-sai mô tả ngắn gọn trong các câu này đượm sắc bi thảm (IIVua 20:17-18).

‘Huyết vô tội đổ ra’ (16) có thể chỉ về những người chống đối chính sách của Ma-na-se bị ám hại y như các tiên tri của Đức Giê-hô-va từng bị giết trong suốt thời gian A-háp và Giê-sa-bên trị vì.

Vườn U-xa, nơi an táng Ma-na-se, có thể là phần lăng tẩm rộng mở của hoàng gia trong thời A-xa-ria/Ô-xia (tên tắt của vua là U-xa).

(IIVua 21:19-26).  A-môn A-môn tiếp tục đi theo con đường của vua cha, chỉ khác một điều là ông bị ám sát (23).  Cụm từ dân của xư không có ý nghĩa rõ ràng, có thể cụm từ này chỉ về một nhóm nào đó trong xã hội, chớ không phải toàn thể dân chúng.  Nhóm này nhiệt thành ủng hộ công cuộc khôi phục lại triều đại Đa-vít trong thời A-tha-li (IIVua 11:14).  Họ xử tử những kẻ đã ám sát A-môn và lập thái tử mới tám tuổi lên làm vua thay thế (24 so sánh 22:1). A-môn được chôn cất cùng một chỗ với vua cha (26).

3. Giô-si-a (IIVua 22:1-23:30)

(IIVua 22:1-20). Tìm thấy sách Luật  Sau hai đời vua sa đoạ, chúng ta lại gặp một vua sống theo tiêu chuẩn Đa-vít đề ra (2).

Chúng ta thấy chương trình tái thiết đền thờ đang tiến hành trong câu 3-7.  Sự kiện này nhắc chúng ta nhớ lại công cuộc cải cách của Giô-ách (IIVua 12:1-21).  Trong lần cải tổ trước, đền thờ được tu sửa lại vì có nhiều khu vực đã bị biến thành nơi thờ thần ngoại bang trong thời trị vì của A-tha-li.  Còn A-môn và Ma-na-se đã phế bỏ đền thờ nên giờ đây Giô-si-a lo trùng tu.

Trong thời gian trùng tu, thầy tế lễ Hinh-kia tìm thấy sách Luật Pháp trong đền thờ (8).  Khi nghe đọc sách Luật Pháp Giô-si-a tỏ ra kinh hãi vô cùng (10-11).  Vì thế vua áp dụng những biện pháp có ghi lại trong chương 23.  Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào điều này rồi kết luận rằng nhờ tìm ra sách Luật Pháp vào năm thứ tám mà Giô-si-a trở thành nhà cải cách là sai lầm.  Công việc tân trang đền thờ cho biết công cuộc cải tổ tôn giáo đã được thực hiện trước khi tìm thấy sách Luật Pháp, và bản tường thuật trong sách Sử Ký xác chứng điều này (IISu 34:3-7).  Căn cứ vào những việc tiếp theo, đa số học giả đồng ý rằng sách Luật Pháp này nếu không giống y như Phục Truyền Luật Lệ Ký thì cũng tương tự.

Phản ứng của Giô-si-a cho chúng ta biết nội dung sách Luật Pháp này rất nghiêm trọng.  Vì toàn bộ luật lệ trong sách đã bị vi phạm, nên vua sợ sẽ gánh chịu hậu quả (13).  Khi được lệnh cầu hỏi Đức Giê-hô-va, thầy tế lễ thượng phẩm, thư ký và nhân viên phụ tá tìm đến nữ tiên tri Hun-đa.  Chúng ta chỉ biết về bà qua mấy câu này.  Bà sống trong quận thứ nhì của Giê-ru-sa-lem (14 nguyên văn là ‘trong Mishneh’) có lẽ khu vực phía bắc thành Đa-vít xưa, là khu vực phát triển quanh khu liên hợp đền thờ và cung điện của Sa-lô-môn.  Khu gia cư của bà và hôn nhân của bà với một vị quan trong triều đình (14) chứng tỏ rằng chính bà cũng là thành viên trong triều đình.

Sứ điệp của Hun-đa nghe thật là lạnh lùng.  Bà xác minh sự nhận biết của Giô-si-a là đúng.  Đúng là Đức Giê-hô-va đã nổi giận với Giu-đa bởi vì họ đã bỏ qua những yêu cầu trong sách Luật Pháp (không thể biện hộ rằng họ không thể vâng giữ theo luật pháp được vì sách Luật Pháp đã bị thất lạc.  Thực tế là lúc đầu, có lẽ trong thời trị vì của Ma-na-se, sách Luật Pháp không còn được xem là quan trọng nên mới xảy ra chuyện mất.).  Hai lần bà nói về thảm hoạ chắc chắn sẽ đến, không sao tránh khỏi (16-20).  Nhưng Giô-si-a đã được miễn trừ khỏi phải chịu khổ vì thảm hoạ đó, bởi vì vua đã hết lòng hưởng ứng những yêu cầu trong sách Luật Pháp (19-20).

(IIVua 23:1-3).  Tái lập giao ước  Giô-si-a triệu tập tất cả các đại diện của toàn dân lại để cùng nhau nghe đọc sách Luật Pháp.  Trước kia, các trưởng lão (1) là các gia trưởng, nhưng đến thời quân chủ, có lẽ từ này được dùng để chỉ về những người lãnh đạo dân sự.  Còn các thầy tế lễ và các tiên tri đại diện cho tôn giáo (2).  Lúc này sách Luật Pháp được gọi là sách Giao Ước, vì sau khi nghe hết nội dung của sách, vua và dân sự tái lập lời hứa nguyện trung thành với các lời giao ước chép trong sách (3).  Những yêu cầu của giao ước cũng được gọi là điều răn, luật lệ và mạng lịnh của Đức Giê-hô-va, Phục Truyền Luật Lệ Ký dùng các từ này rất nhiều lần (chẳng hạn như Phu 6:17) để mô tả các quy định của giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên tại Si-na-i.  Tóm lại, Giô-si-a chủ toạ một buổi hội họp tái lập giao ước của Môi-se.  Ông đứng bên cạnh trụ cột (3), đây là vị trí truyền thống của các vua đứng khi họ được xức dầu phong vương (IICác Vua 11:14).  Có lẽ vị trí này biểu thị vị thế đôi của vua: một lãnh tụ và là một thành viên trong dân tộc thuộc về giao ước (IIVua 11:17).

(IIVua 23:4-20).  Các sự cải chánh  Các câu này liệt kê các công tác dẹp bỏ và phá huỷ tất cả các cơ sở và các trang thiết bị lỉnh kỉnh dành cho sự thờ hình tượng do Ma-na-se du nhập vào nước.  Những công tác này được tường thuật sau buổi lễ tái lập giao ước hàm ý rằng những việc đó thể hiện sự hưởng ứng của vua và dân đối với sách Luật Pháp.  Tuy nhiên, có nhiều việc liên quan đến đền thờ (4,6,7,11,12) đã được chỉnh trang trước khi tìm ra sách Luật Pháp.  Như vậy, rất có thể tác giả gộp hai giai đoạn cải cách trước và sau khi tìm thấy sách Luật Pháp chung trong một bài tường thuật (sách IISu 34:3-7 ủng hộ cho quan điểm này).

Trong số những món đồ bị thiêu trong lửa, có những món bằng kim loại hoặc bằng đá, cho nên trong nhiều trường hợp, thiêu đốt chỉ là một việc làm tượng trưng chớ không phải để huỷ, như trường hợp chuyển tro đến Bê-tên (4) và rắc tro của tượng Át-tạt-tê trên mồ mả trong trũng Xết-rôn (6 - để làm cho bụi đất cũng bị ô uế sao?).

Không rõ Giô-si-a áp dụng biện pháp đối với các thầy tế lễ thờ hình tượng trên các nơi cao xứ Giu-đa trong câu 5.  Động từ (thủ tiêu trong bản NIV) có thể ám chỉ vua sa thải họ, cũng có thể ám chỉ vua giết họ.  Rất có thể vua áp dụng biện pháp thứ hai để đối phó với các thầy tế lễ trên các nơi cao tại Sa-ma-ri (20).  Tuy nhiên, vì động từ trong câu 5 không dứt khoát như động từ trong câu 20, chúng ta nên giả định họ chỉ bị sa thải là hơn.  Các thầy tế lễ thờ hình tượng này không phải là các thầy tế lễ trong câu 8-9.  Các thầy tế lễ trong câu 8-9 là các thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va từng phục vụ trên các nơi cao chớ không phải tại Giê-ru-sa-lem.  Câu 9 tối nghĩa nhưng chắc có nghĩa là (theo bản NIV) sau khi về đến Giê-ru-sa-lem, họ dùng bữa chung với các thầy tế lễ khác (nguyên văn là ‘anh em của họ’), nhưng không được dự phần phục vụ dâng các của lễ trong đền thờ.

Các vua Giu-đa trong câu 5 và 12 chắc là vua Ma-na-se và A-môn, cũng có lẽ gộp luôn các vua trước nữa.  Chắc công cuộc cải tổ của Ê-xê-chia không đủ sâu rộng để có thể trừ diệt mọi tệ nạn đã xâm nhập đất nước trước thời trị vì của vua xem câu 13-14 bên dưới.

Các địa điểm có dính líu đến sự thờ hình tượng đều bị làm ô uế cho dân chúng thôi không sử dụng những nơi đó cho các mục đích tương tự nữa.  Biện pháp này đã được áp dụng cho các nơi cao khắp nước Giu-đa (8) và tại Tô-phết, một đền toạ lạc trong thung lũng bọc Giê-ru-sa-lem về phía nam (10).  Giê-rê-mi cũng đề cập đến Tô-phết là nơi dâng sinh tế bằng con người (hình như tên riêng của Tô-phết có nghĩa là ‘lò lửa’ Gie 7:31).  Các nơi cao do Sa-lô-môn lập trên đồi phía đông Giê-ru-sa-lem cũng bị làm ô uế (13-14).  Công cuộc cải tổ của Giô-si-a xem ra triệt để hơn tất cả các cuộc cải tổ khác từ trước đến nay, vì các vua trước có cải tổ nhưng vẫn chừa lại những tảng đá thiêng và tượng Át-tạt-tê tại các địa điểm này (14).

Trong câu 15-20, chúng ta thấy cuộc cải tổ tràn vào vương quốc cũ của các chi phái miền bắc.  Kể từ năm 721 T.C., sau khi Sa-ma-ri thất thủ, lãnh thổ này trở nên một tỉnh của đế quốc A-si-ri nằm trong guồng máy cai trị của A-si-ri.  Theo IISu 34:6 thì cuộc cải tổ lan đến tận vùng đất thuộc chi phái Nép-ta-li ở phía bắc, là vùng đã trở nên một tỉnh của A-si-ri kể từ năm 732 T.C.  Yếu tố giúp Giô-si-a có thể can thiệp vào các khu vực này mà không chọc giận người A-si-ri là khoảng năm 630 T.C. đế quốc A-si-ri bắt đầu suy sụp, mức độ kiểm soát các tỉnh trở nên lỏng lẻo.  Tác giả sách Sử Ký xác định là năm thứ mười hai thời trị vì của mình, Giô-si-a cải tổ ở miền bắc (34:3), nghĩa là vào năm 629-628 T.C..  Khoảng thời gian này chính nước Giu-đa chắc cũng không còn làm chư hầu của A-si-ri nữa, vì A-si-ri không kiểm soát nổi nữa.

Phần tường thuật này tập trung vào các hoạt động của Giô-si-a tại Bê-tên, xoáy vào chuyện vua làm ứng nghiệm lời tiên tri của người Đức Chúa Trời đã rao ra trong thời Giê-rô-bô-am (IVua 13:1-34).  Đặc biệt nhắc lại sự cố xảy ra cho người của Đức Chúa Trời trong câu 17-18.  Các hoạt động khác của Giô-si-a ở miền bắc chỉ được ghi lại trong phần tóm lược mà thôi (19-20).

(IIVua 23:21-23).  Cử hành Lễ Vượt Qua Lễ Vượt Qua cử hành trong thời Giô-si-a không phải là một cuộc liên hoan mừng cuộc cải tổ thành công.  Việc giữ Lễ Vượt Qua tự nó cũng là một hành động vâng theo sách Giao Ước (21).  Các câu này không có ý nói là trong suốt thời kỳ các quan xét hoặc suốt thời kỳ quân chủ, người ta không hề giữ Lễ Vượt Qua.  Chủ ý nơi đây là Lễ Vượt Qua này độc đáo về phạm vi lẫn hình thức tổ chức.  Thay vì mỗi gia đình cử hành lễ tại tư gia theo hình thức trong Xu 12:1-13:22, Giô-si-a tổ chức dưới dạng một quốc lễ tập trung tại Giê-ru-sa-lem phù hợp với Phu 16:1-8 (theo IISu 30:1-27, vua Ê-xê-chia cũng có tổ chức một Lễ Vượt Qua trên bình diện quốc lễ tại Giê-ru-sa-lem, nhưng lại có tính cách bất thường, vì được cử hành vào tháng thứ hai thay vì tháng thứ nhất).

(IIVua 23:24-27).  Thảm hoạ không tránh khỏi Tác giả tóm tắt các hoạt động khác trong chương trình cải tổ (nhất là thay đổi các khuynh hướng trào lưu do Ma-na-se du nhập vào so sánh IIVua 22:6) để đề cao sự vâng theo những qui định của sách Luật Pháp đòi hỏi.  Tác giả ca ngợi lòng trung tín đặc biệt của Giô-si-a bằng lời lẽ tương tự như đã ca ngợi Ê-xê-chia (25 so sánh 18:5).  Thực ra, nếu hiểu theo nghĩa đen thì hai câu này mâu thuẫn với nhau.  Nhưng tác giả dùng lối nói cường điệu để đề cao hai vua sống gần tới mức lý tưởng của mình.

Tuy nhiên, thảm hoạ tiên báo trong 21:10-15 và Hun-đa khẳng định trong 22:15-20 được lập lại.  Đà phạm tội của Ma-na-se kéo theo sự hình phạt không ai ngăn chận lại được.  Số phận của Y-sơ-ra-ên giờ đang lù lù đến với Giu-đa.

(IIVua 23:28-30).  Giô-si-a băng Trong số các vua Giu-đa đeo đuổi chính sách cải tổ, không có vua nào sống mãn đời với chung cuộc vui. Giô-ách bị ám sát (12:20), con trai vua là A-ma-xia theo gót ông cũng bị ám sát (14:19).  Ê-xê-chia phải nhận lời cảnh cáo của Ê-sai về chuyện Giu-đa sẽ bị lưu đày (20:16-18), còn Giô-si-a tử trận đột ngột ngoài chiến trường.  Lời tiên tri của Hun-đa (22:20) nhấn mạnh rằng Giô-si-a không phải chứng kiến Giu-đa sụp đổ cách thảm hại, nhưng cũng không có chi tiết khiến ta nghĩ đến một cái chết đột ngột.  Vì vậy, cái chết của vua làm chúng ta bàng hoàng sửng sốt, hơn nữa, nội dung ngắn ngủi và bối cảnh vua chết trong phần kết luận về triều đại của ông cũng bàng hoàng như vậy (so sánh ghi chú về vụ mưu sát Giô-ách trong 12:20).

Thời điểm là năm 609 T.C. với bối cảnh chính trị là thời kỳ tận chung của đế quốc A-si-ri.  Thành Assur và Ni-ni-ve của người A-si-ri đã lọt vào tay người Ba-by-lôn và người Mê-đi, vua cuối cùng của A-si-ri là Ashuruballit phải trốn đến Ha-ran về phía tây bắc Mê-sô-bô-ta-mi.  Vì chuộng A-si-ri hơn bất cứ kẻ thù vô danh mạnh mẽ nào khác (Ba-by-lôn), nên Nê-cô, vua Ai-cập xuất quân giúp Ashuruballit chống lại các cuộc tấn công khác.  Giô-si-a không muốn đế quốc A-si-ri hồi sinh, nên vua nổ lực cản đường đạo quân Ai-cập trong khi họ đi ngang qua Palestine để tiến tới vùng phía bắc.  Vua tử trận trong vụ này, nhưng sự can thiệp của vua đã cầm chân Nê-cô trong thời gian đủ dài, đủ để ảnh hưởng trên tình thế, khiến Ha-ran rơi vào tay người Ba-by-lôn và các đồng minh, thế là A-si-ri không còn nữa.

4. Chung cuộc của Giu-đa (IIVua 23:31-25:30)

(IIVua 23:31-34).  Giô-a-cha  Giô-a-cha cai trị được ba tháng, nhưng dường như ông đã dảo ngược lại công cuộc cải tổ của cha mình, vì ông làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va (32).  Nhưng khi A-si-ri sụp đổ, thì Nê-cô vua Ai-cập nắm thời cơ kiểm soát trên Sy-ri - Palestine.  Sau chuyến thử giải vây cho Ha-ran nhưng thất bại, Nê-cô lập một căn cứ tại Ríp-la bên sông Orontes tại Sy-ri.  Trong thời gian này vua truất phế Giô-a-cha và bắt Giu-đa phải nộp triều cống (33).  Sau đó Giô-a-cha bị đày sang Ai-cập và qua đời tại đó (34) - theo như Giê-rê-mi đã tiên báo (Gie 22:11-12, trong câu này tên của vua gọi là Sa-lum, chứng tỏ rằng Giô-a-cha là tước hiệu).  Em của vua là Ê-li-a-kim lên làm vua thay thế, lấy hiệu là Giê-hô-gia-kim (34).

(IIVua 23:35-37).  Giê--gia-kim Giê-hô-gia-kim lên ngai với tứ cách là vua một nước chư hầu của Ai-cập, hằng năm phải nộp triều cống.  Động từ được dùng trong vụ dân chúng buộc phải nộp vàng bạc (IIVua 23:35) là một động từ diễn tả một ý mạnh, ngụ ý các biện pháp cưỡng bức khắc nghiệt đã được áp dụng.   Giê-hô-gia-kim tiếp tục làm điều ác bắt nguồn từ thời anh của vua (23:37) cho nên vua bị Giê-rê-mi cực lực lên án (Gie 22:13-23).  Vua quyết liệt chống lại các tiên tri của Đức Giê-hô-va (26:20-23  36:1-32) chứng tỏ rằng vua đã bỏ đạo, nhưng vua đặc biệt bị lên án về những chuyện bất công trong xã hội do vua chủ trương (22:13-17).

Ai-cập chỉ kiểm soát Giu-đa trong bốn năm thôi, vì năm 605 T.C., quân Ba-by-lôn chiến thắng Ai-cập tại chiến trường Cạt-kê-mít.  Cạt-kê-mít bên sông Ơ-phơ-rát là tiền đồn của Ai-cập kể từ năm 609 T.C.  Nê-bu-cát-nết-sa, thái tử nước Ba-by-lôn hoàn toàn đại thắng trên các lực lượng của Nê-cô, cho nên Ai-cập mất quyền kiểm soát Sy-ri - Palestine (IIVua 24:7  Gie 46:2).  Cũng trong năm này, vua Ba-by-lôn là Nabopolassar băng hà và Nê-bu-cát-nết-sa lên kế vị.  Cụm từ vua Ba-by-lôn trong IIVua 24:1 chỉ về vua này.

Có thể Giê-hô-gia-kim trở nên chư hầu của Nê-bu-cát-nết-sa vào năm 605 T.C. (24:1) ngay sau khi Nê-bu-cát-nết-sa chiến thắng ở Cạt-kê-mít (cũng có thể là sau khi Nê-bu-cát-nết-sa lại tiến quân vào Palestine năm 604/603 T.C.).  Đối với Giu-đa thì chỉ là chuyện đổi chủ thôi, từ ông chủ Ai-cập sang tay ông chủ Ba-by-lôn.

Các cuộc tấn công vào Giu-đa đề cập trong 24:2 có thể là do lính đánh thuê của Nê-bu-cát-nết-sa sau khi Giê-hô-gia-kim nổi loạn (1).  Nhưng dù chúng ta có thể lý giải các chuyển biến quanh co trong tình hình tại Giu-đa trên phương diện chính trị , thì tác giả tin chác rằng chính là Đức Giê-hô-va đã sai họ đến huỷ diệt Giu-đa để ứng nghiệm sứ điệp của tiên tri đã nói trước đây (2-4).  Mặc dù mãi đến mười hai năm sau Giu-đa mới bị tàn phá, nhưng tác giả thấy biến cố này dẫn đầu một chuỗi biến cố chắc chắn sẽ xảy đến.

(IIVua 24:1-7) xem giải nghĩa 23:31-37

(IIVua 24:8-17) Giê--gia-kin: Cuộc bao vây lưu đày lần thứ nhất.Như bác mình là Giô-a-cha, Giê-hô-gia-kin chỉ trị vì được ba tháng.  Nê-bu-cát-nết-sa dốc toàn quân trả đũa cho cuộc nổi loạn của vua cha (24:1).  Vua cũng làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va (9), có thể vua tiếp tục áp dụng chính sách bất công và áp bức của Giê-hô-gia-kim.

Thời gian trị vì ngằn ngủi của vua gói trọn trong cuộc bao vây Giê-ru-sa-lem của quân Ba-by-lôn.  Cuộc bao vây kéo dài từ cuối năm 598 T.C. đến tháng hai năm 597 T.C. (sách Sử Ký của người Ba-by-lôn cho biết những ngày tháng này).  Sau khi đầu hàng (12) Giê-hô-gia-kin bị bắt làm tù binh và bị đày qua Ba-by-lôn như Giê-rê-mi đã tiên báo (Gie 22:24-28).  Các thành viên khác trong hoàng gia và các quan chức lãnh đạo của Giu-đa cũng bị đi đày.

Các thợ lành nghề và thợ thủ công (bản RSV dịch là ‘thợ lành nghề và thợ rèn’) đề cập trong câu 14-16 có thể là các nhân viên trong quân đội vì người ta gộp họ vào những người có tài chiến đấu trong câu 16 (dù bản NIV không nói rõ sự kiện này).  Tốt hơn nên dịch là ‘các kỹ sư công binh và lính công binh’ (nghĩa là các thợ đào hào đắp luỹ xây tháp).  Nếu thế thì câu 14 nói về nhân viên quân sự khoảng gần 10.000 người.  Tuy nhiên, câu 16 có nói 7000 quân tác chiến và 1000 thợ xây dựng và lính công binh, cộng là 8000 người mà thôi.  Một vấn đề rắc rối khác nữa là trong 52:28 cho biết số người bị lưu đày vào thời này là 3.023 người.  Có lẽ số này nói về thường dân.  Số người này cộng với số 7000 quân tác chiến trong câu 16 là 10.000 người như trong câu 14.  Tuy nhiên, như thế vẫn chưa tính 1000 thợ xây dựng và lính công binh trong tổng số, vì chưa gộp họ vào 7000 quân tác chiến của câu 16 (nghĩa là chúng ta phải đọc là: ‘... 7000 quân tác chiến, kể cả 1000 thợ xây dựng và lính công binh tất cả người hữu dụng trong chiến tranh ...).  Giải pháp nào cũng không ổn, cho nên phải thừa nhận là không nắm được tổng số người bị lưu đày.  Tuy nhiên, rõ ràng là Nê-bu-cát-nết-sa bắt đi những phần tử ưu tú trong dân chúng, họ là những người quản lý và chiến sĩ  sẽ hữu dụng cho vua.  Còn ở lại là dân nghèo nhất trong xứ (14).

Theo thông lệ, tác giả nhấn mạnh rằng việc Nê-bu-cát-nết-sa bắt hoàng gia đi đày và mang theo các vật báu trong kho tàng (13) là việc làm ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai (Es 20:17-18).

Ma-tha-nia, con trai thứ ba của Giô-si-a, và là chú của Giê-hô-gia-kin bị lưu đày, được Nê-bu-cát-nết-sa chỉ định làm vua chư hầu với tước hiệu là Sê-đê-kia (17)

(IIVua 24:18-25:7) -đê-kia: Phản nghịch cuộc bao vây lần thứ hai

IIVua 24:18-20 Sê-đê-kia tiếp tục áp dụng chính sách của các tiền nhân (24:19).  Khi dịch câu 20, bản NIV và bản RSV mở đầu một đoạn mới với câu xác định là Sê-đê-kia chống nghịch lại vua Ba-by-lôn.  Cách dịch khác khá hấp dẫn là vẫn duy trì sự liên tục của câu này, rồi dịch ý phần thứ hai của câu này là: ‘Tuy nhiên, Sê-đê-kia phản nghịch lại vua Ba-by-lôn’ (Hobbs IICác Vua, trang 345, 354).  Như thế, câu này có nghĩa là Sê-đê-kia phản nghịch mặc dù mọi điều đó xảy đến cho Giê-ru-sa-lem vua không học được bài học nào trong các biến cố vừa qua.

Nhờ Gie 27:1-11, chúng ta biết Sê-đê-kia âm mưu phản loạn trong phần đầu thời trị vì và kéo Giu-đa vào một khối liên minh gồm Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Ty-rơ và Si-đôn để chống lại Ba-by-lôn.  Giê-rê-mi cho cuộc dấy loạn này là ngu dại vì không vâng phục ý nuốn của Đức Giê-hô-va và ông khuyên họ phục tùng Nê-bu-cát-nết-sa là người được Đức Giê-hô-va dấy lên (27:12-15).

Có lẽ liên minh chống lại Ba-by-lôn thành hình vào năm 594 T.C., là thời gian Ba-by-lôn suy yếu do bất hoà nội bộ.  Giê-rê-mi ghi lại chuyến viếng thăm Ba-by-lôn của Sê-đê-kia năm 593 T.C. (51:59), có lẽ để chứng tỏ cho Nê-bu-cát-nết-sa về lòng trung thành của ông.  Cuối cùng Nê-bu-cát-nết-sa tiến quân đánh Giu-đa vào năm 589 T.C.  Vua bao vây Giê-ru-sa-lem cùng năm (IIVua 25:1).  Cuộc bao vây bắt đầu từ năm thứ chín và kết thúc vào năm thứ mười một thời trị vì của Sê-đê-kia (1-2), nhưng không tròn hai năm.  Câu 3 trong bản Hi-bá-lai ghi rằng cuộc bao vây chấm dứt vào ‘ngày thứ chín trong tháng’, theo Gie 52:6 đây là tháng thứ tư (bản NIV, NEB và RSV đưa ngày tháng này vào IIVua 25:3).  Như vậy cuộc bao vây kéo dài mười tám tháng (Gie 37:5-8 cho biết có một thời gian dãn vây ngắn khi quân Ba-by-lôn phải đối phó với viện binh Ai-cập).  Cuộc bao vây chấm dứt vào tháng bảy năm 587 T.C. vì tường thành bị đập vỡ (c.4).  Dầu sao, thành cũng không thể cầm cự lâu hơn vì nạn đói do cuộc bao vây gây ra đã đến mức tuyệt vọng (c.3).

Sê-đê-kia bỏ trốn qua một ngõ không được tác giả định vị rõ ràng (c.4) vua kéo theo số quân đã cầm cự bảo vệ thành.  Thoát khỏi Giê-ru-sa-lem, họ chạy về hướng A-ra-ba, hoặc đúng hơn là bằng đường đi A-ra-ba, con đường này đi từ Giê-ru-sa-lem đến Giê-ri-cô.  Có thể Sê-đê-kia hi vọng sẽ vượt qua sông Giô-đanh và ẩn náu trong xứ Ê-đôm, Mô-áp hoặc Am-môn, cả ba nước này đều là thành viên trong khối liên minh (Gie 27:3). Nhưng chưa đến Giô-đanh thì vua bị bắt lại.  Theo câu 6, thì dường như Nê-bu-cát-nết-sa không đích thân chỉ huy cuộc bao vây Giê-ru-sa-lem, vì vua đang có mặt ở bản doanh tại Ríp-la. Hình phạt dành cho Sê-đê-kia là độc ác, nhưng theo tiêu chuẩn thời bấy giờ thì không phải là quá đáng (người A-si-ri vốn nổi tiếng là làm mù mắt các tù binh của họ)

IIVua 25:1-7 (xem giải nghĩa IIVua 24:18-20)

(IIVua 25:8-21) Lưu đày tàn phá Khoảng một tháng sau khi thành vỡ, một quan tướng người Ba-by-lôn đến tổ chức cuộc phá huỷ Giê-ru-sa-lem và bắt dân đem đi.  Tác giả căn cứ vào thời trị vì của vua Nê-bu-cát-nết-sa mà xác định thời gian năm thứ mười chín đời vua Nê-bu-cát-nết-sa khiến chúng ta phải hiểu là không còn vua ngồi trên ngai nước Giu-đa nữa, nên không thể dựa vào đó mà xác định ngày tháng của các biến cố.  Triều đại Đa-vít đã chấm dứt.

Thành phố, kể cả đền thờ đều bị thiêu huỷ và các tường thành bị đập tan (9-10).  Những người còn sống sót trong thành và những người đã quy hàng đều bị bắt đi lưu đày.  Theo Gie 52:29, thì tổng số người bị đày lần này là 832 người.  Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy ở trên, trong lần lưu đày thứ nhất, con số Giê-rê-mi đưa ra chưa phải là tổng số, cho nên ở đây có lẽ cũng vậy.  Những người bần hàn nhất bị để lại canh tác đất đai (12).  Từ nay, ruộng và vườn nho hẳu sản xuất nhiều hơn nhu cầu của số dân còn lại.  Vì vậy bổn phận của những người ở lại trong xứ là phải nộp số lương thực bội thu đó cho vua Ba-by-lôn.

Bản liệt kê về các món trang thiết bị và vật dụng trong câu 13-17, làm não lòng người vì nó làm cho ta hồi tưởng thời vàng son của Sa-lô-môn.  Các vật dụng bằng đồng không ghi trọng lượng (16) khiến chúng ta nhớ đến IVua 7:47 còn sự mô tả hai trụ cột (17) tóm lược 7:15-22.

Nhiều quan chức khác trong thành không được đi lưu đày, cũng không được ở lại trong xứ, nhưng họ bị điệu đến Nê-bu-cát-nết-sa tại Ríp-la và bị hành quyết.  Không rõ vì lý do gì, nhưng có lẽ họ bị xem là những phần tử không đáng tin cậy.

Phần cuối cùng của câu 21 (như vậy dân Giu-đa bị đem đi khỏi xứ mình) nghe như tiếng vọng của lời tuyên phán đối với Y-sơ-ra-ên trong IIVua 17:23 (dù bản NIV không dịch rõ điểm tương tự này).  Chủ điểm thật sáng tỏ: Giu-đa chịu cùng số phận với Y-sơ-ra-ên, đúng theo lời tiên tri.

(IIVua 25:22-26) Ghê-đa-lia Người Ba-by-lôn tổ chức lại guồng máy hành chánh của xứ, chỉ định Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, làm quan tổng đốc.  A-hi-cam là một trong các quan chức được Giô-si-a sai đi gặp nữ tiên tri Hun-đa sau khi tìm thấy sách Luật Pháp (IIVua 22:12), trong thời trị vì của Giê-hô-gia-kim, nhờ thế lực của ông mà Giê-rê-mi thoát chết (Gie 26:24).  Chắc Ghê-đa-lia cũng thuộc thành phần quan lại ở Giê-ru-sa-lem nhưng được người Ba-by-lôn tín nhiệm và dân chúng tôn trọng.

Một số quan tướng trong quân đội (có lẽ là những người trốn thoát khỏi người Ba-by-lôn khi Sê-đê-kia bị bắt c.5) kéo nhau đến với Ghê-đa-lia tại Mích-ba, trung tâm hành chính mới cách Giê-ru-sa-lem tám dặm (13 km) về phía bắc. Ghê-đa-lia hứa cho họ trú ẩn nếu họ chịu sống yên ổn, phục tùng người Ba-by-lôn.  Lời ông khuyên họ phục dịch vua Ba-by-lôn, thì mọi sự sẽ tốt đẹp cho các ngươi (24) làm chúng ta nhớ lại trước đây Giê-rê-mi cũng khuyên Sê-đê-kia như vậy (27:12).  Thực ra, có thể Ghê-đa-lia chịu ảnh hưởng của Giê-rê-mi, vì Giê-rê-mi đến sống tại Mích-ba sau khi người Ba-by-lôn trả tự do cho ông (Gie 40:5-6).

Tuy nhiên, có nhiều người thù ghét Ghê-đa-lia vì cho rằng ông cộng tác với người Ba-by-lôn.  Vì vậy họ âm mưu hại ông.  Cuối cùng, Ích-ma-ên, một người trong hoàng tộc đã ám sát ông (25).  Một số người Giu-đa và người Ba-by-lôn ở với ông tại Mích-ba cũng bị sát hại.  Theo Gie 40:14 thì vua Am-môn đứng sau vụ này Am-môn là một thành viên trong khối liên minh chống lại Ba-by-lôn (27:3).  Nếu Ghê-đa-lia được bổ nhiệm vào tháng năm khi quan chức của Nê-bu-cát-nết-sa đến Giê-ru-sa-lem (8), thì Ghê-đa-lia giữ chức tổng đốc khoảng hai tháng (25).

Vì sợ người Ba-by-lôn báo thù cho cái chết của Ghê-đa-lia nên toàn thể dân cư tại Mích-ba trốn qua Ai-cập (26).

(IIVua 25:27-30) Giê--gia-kin trong cảnh lưu đày.Tác giả đột nhiên đổi cảnh, đem chúng ta đến Ba-by-lôn, bỏ lại sau một xứ Giu-đa vô chính phủ và hổn loạn.

Ê-vinh Mê-rô-đắc (trong văn bản của người Ba-by-lôn gọi là Amel-Marduk) kế vị Nê-bu-cát-nết-sa, cha mình, năm 562 T.C..  Năm 561 vua đem Giê-hô-gia-kin ra khỏi ngục, là nơi ông đang sống làm một con tin quí tộc, ông được đưa về sống trong cung điện với một sự tự do tương đối.

Mục đích của bốn câu này gây ra nhiều cuộc bàn cãi.  Tác giả ghi sự việc này vào đây là vì yếu tố lịch sử, hoặc vì một sứ điệp nào?  Tác giả thực sự muốn truyền đạt điều gì?  Một số người xem việc Giê-hô-gia-kin được tha khỏi ngục là một tia sáng xuyên qua khe hở chiếu vào bóng tối lưu đày, báo hiệu Giu-đa có thể được trả tự do và trở về xứ.  Một số người khác cho rằng mặc dù Giê-hô-gia-kin được trả tự do, nhưng bản tường thuật vẫn kết thúc trong cảnh buồn bã, chẳng ấm lòng người tí nào.  Nếu tác giả chủ tâm gieo chút ít hi vọng thì vẫn không phải là niềm hi vọng lộ liễu về sự hồi hương của Giu-đa từ chốn lưu đày.  Căn cứ theo IVua 8:46-51, ngoài sự lưu đày ra, không có chuyện hồi hương trong viễn cảnh của tác giả.  Nếu có tia hi vọng nào chiếu qua những câu này thì chỉ là một chút mờ ảo thôi.  Sách chấm dứt trong tình trạng lững lờ, không có lối thoát.  chút hi vọng duy nhất còn vương nơi đây là biết đâu lưu đày chưa phải là án tận chung cho Giu-đa.

Lên đầu trang