ISỬ KÝ
1. CÁC MỐI LIÊN HỆ (ISu 1:1-9:34)
Bút pháp của tác giả trong các chương mở đầu sách Sử Ký có vẻ kỳ lạ đối với các độc giả thời nay đến nỗi có thể lắm chúng ta lướt qua và tự hỏi không biết bút pháp này có giá trị thực sự như thế nào đối với chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần nhớ rằng ai đã biết nội dung của Cựu Ước thì đều quen thuộc với nội dung của sách, dù có thể không quen với bút pháp của sách. Còn đối với đối tượng đầu tiên của sách thì cũng vậy và càng hơn nữa.
Phân đoạn ISu 1:1-9:34 là phần dẫn nhập thích hợp cho các phần sách còn lại, vì trong phần dẫn nhập này cách viết của tác giả không giống như cách viết trong các phần khác. Tác giả dùng những dữ kiện trong lịch sử của tuyển dân của Đức Chúa Trời mà mọi người đã biết rồi viết lại theo hướng mới. Quyển sách của ông bao hàm trọn quãng thời gian từ khởi đầu cho đến gần thời đại của ông. Vì vậy lẽ tự nhiên là ông phải loại bỏ nhiều chi tiết, và thêm vào đó nhiều nhân vật và chi tiết khác trong thực tế. Vì thế cái nhìn của tác giả về lịch sử vừa bao quát vừa có tính cách cá nhân.
Chín chương đầu thường được xem là ‘gia phả’. Thực ra, chín chương này bao gồm nhiều bộ phả hệ, cho nên độc giả có thể nghiên cứu các bản danh sách tương tự khác trong Kinh Thánh để hiểu rõ hơn về chín chương này. Thí dụ như Sa 5:1-32 cho biết Đức Chúa Trời điều động cho loài người lan tràn khắp địa cầu theo như Ngài đã trù hoạch và cho biết Ngài bảo toàn loài người như thế nào cho dù loài người đã phạm tội.
Mat 1:1-25 cho biết Ngài sắp xếp là qua dòng giống đó một người được chỉ định để cứu loài người ra khỏi tội, và cuối cùng người đó đã đến thế gian. Tương tự như thế, chủ đề lớn nhất của sách Sử Ký là chương trình của Đức Chúa Trời đối với hạnh phúc của nhân loại không bao giờ thất bại.
Cho nên mô tả các chương này bằng từ liệu ‘gia phả’ là không đủ ý nghĩa, vì các chương này còn bao gồm các bản danh sách thuộc dạng khác. Các bản danh sách này có chung một điểm đặc thù là không phải tác giả chọn lọc danh tánh những nhân vật đó để liệt kê nhưng vì họ có liên he với nhau. Các mối liên hệ như cha với con hoặc các mối liên hệ khác đều cho chúng ta biết Đức Chúa Trời liên tục làm việc suốt dòng lịch sử của dân sự Ngài.
1. Liên hệ giữa các thế hệ (ISu 1:1-3:24)
Cây phả hệ của ISu 1:1-3:24 khởi đầu từ lịch sử nguyên thuỷ của loài người và có lẽ kéo dài cho đến năm 400 T.C., tức là vào lúc viết sách Sử Ký. Một đầu là A-đam, nguyên tổ của loài người, còn đầu kia là một gia đình Do-thái tái định cư gần Giê-ru-sa-lem sau thời kỳ lưu đày, và sách này được viết cho cộng đồng người Do-thái trong thời này. Mối liên hệ này tiếp nối liên tục trải qua đời Nô-ê, Áp-ra-ham và Đa-vít (một số nhánh có truy ra còn một số nhánh khác thì không).
(ISu 1:1-3). Dòng dõi A-đam Bản danh sách này nằm trong Sáng Thế Ký (Sa 5:3-32), bao gồm tên của mười thế hệ từ A-đam đến Nô-ê.
(ISu 1:4-27). Dòng dõi Nô-ê Đại tộc các con trai thứ của Nô-ê được liệt kê trước đại tộc Sem ở nhánh thứ nhất, gia phả của Sem là dòng chính, như trong Sa 10:1-22. Tác giả sắp xếp lại chương 10 một ít và sắp xếp 11:10-26 nhiều hơn để viết câu 4-23 và 24-27. Tác giả cũng nhắc lại danh tiếng của Nim-rốt (10) và Bê-lét (19) có chép trong Sáng Thế Ký. Đây là hai lời chú thích đầu tiên thêm phần tươi sáng cho bảng liệt kê danh sách có vẻ lê thê.
(ISu 1:28-33). Dòng dõi của Áp-ra-ham Một lần nữa dòng chính viết cuối cùng, cho nên trước khi đọc dòng dõi của Y-sác, chúng ta đọc dòng dõi của Ích-ma-ên (25:12-16 chép vắn tắt) và dòng dõi của các con trai cùng cha khác mẹ của họ, tức là các con trai của Áp-ra-ham do Kê-tu-ra sinh ra chớ không phải do Sa-ra hoặc A-ga (25:1-4).
(ISu 1:34-54). Dòng dõi của Y-sác Một lần nữa tác giả bắt đầu viết về dòng phụ trước, tức là viết về các con trai của Ê-sau (35) trước khi viết đến dòng dõi quan trọng hơn của người em là Gia-cốp. Một lần nữa tác giả trích lục từ nhiều nguồn tư liệu (36:10-14,20-43), tác giả mặc nhiên coi như độc giả đã biết vì sao Ê-sau (34), Sê-i-rơ (38) và Ê-đôm (43) được xếp chung thành một nhóm. Tác giả không liệt kê các vua Ê-đôm theo phả hệ mà theo thứ tự lên ngôi cai trị, còn có lẽ các tộc trưởng thì không được liệt kê theo thứ tự cầm quyền. Nhưng không hề gì, miễn là các nhân vật đó có một mối liên hệ với nhau. Đây không phải là bảng liệt kê tên riêng rỗng tuếch. Lời ghi chú ngắn gọn về hai vua trùng tên Ha-đát (46,50), tương tự như lời ghi chú về Nim-rốt (10) gợi ý họ vốn là những nhân vật có thực trong lịch sử.
(ISu 2:1-2). Dòng dõi Y-sơ-ra-ên Dòng dõi chính mà tác giả sách Sử Ký truy tìm từ A-đam suốt qua Nô-ê và Áp-ra-ham, thì bây giờ thuộc về em của Ê-sau là Gia-cốp. Tên riêng ‘Gia-cốp’ chỉ xuất hiện trong một chương trong phần tư liệu tác giả trích của một tác giả khác (ISu 16:13,17 Thi 105:6,10). Còn phần mình tác giả thường dùng ‘Y-sơ-ra-ên’ thay cho ‘Gia-cốp’. Chủ đề chính của tác giả là đất nước Y-sơ-ra-ên tiếp tục sống còn một cách kỳ diệu trong thời của ông và ân điển của Đức Chúa Trời đã bảo tồn đất nước đó trong lịch sử. Chính vì vậy mà ngay từ đầu tác giả dùng tên Y-sơ-ra-ên thay vì Gia-cốp.
(ISu 2:3-9). Dòng dõi Giu-đa Hầu hết các mối liên hệ này được ghi trong Sa 46:12 (so sánh 38:1-30) và Gios 7:1-26. Tên riêng Hê-man và Ê-than cũng xuất hiện trong lời tựa của Thi 88:1-89:52 ( IVua 4:31). Vậy nên, có thể đây là chi tiết đầu tiên cho chúng ta biết tác giả quan tâm đến cuộc thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên trong đền thờ cũng như quan tâm đến ngai vàng và hoàng tộc. Từ đây trở đi, ông trình bày về hoàng tộc trước tiên chớ không phải sau cùng.
Ông cũng quan tâm đến Y-sơ-ra-ên trong dạng một thực thể duy nhất và quan tâm đến ý nghĩa của việc được làm dân của Đức Chúa Trời. Ông trình bày điều này bằng bốn nhân vật trong phân đoạn này. Cụm từ con gái Su-a cho biết Giu-đa cưới một người ngoại, và mối quan hệ với Ta-ma là một việc loạn luân, tuy nhiên bởi ân điển của Đức Chúa Trời cả hai người đàn bà này được đem vào bản gia phả, riêng Ta-ma lại đứng vào một vị thế khá đặc biệt (Mat 1:3). Những điểm được nhấn mạnh này khác những điểm nhấn mạnh của E-xơ-ra và Nê-hê-mi xin xem phần dẫn nhập, mục tác giả. Mặt khác, Ê-rơ và A-ca cả hai đều ra đời trong một ‘gia đình thánh’, nhưng sự kiện đó không bảo đảm là đương nhiên họ được Đức Chúa Trời ưu đãi.
(ISu 2:10-17). Dòng dõi Giu-đa theo nhánh Ram Đây là dòng đưa đến hậu duệ là Y-sai rồi đến Đa-vít là nhân vật quan trọng nhất trong toàn bộ quan niệm của tác giả về lịch sử. ‘Cây phả hệ’ đặc biệt minh hoạ điểm này cây Y-sai (Es 11:1,10) là hình ảnh nghệ thuật quen thuộc trong lãnh vực tôn giáo vào thời Trung cổ. Một lần nữa, tác giả quan tâm đến dòng chính trong gia phả (10-12) và các dòng phụ toả rộng (13-17). Tác giả không căn cứ vào một tư liệu riêng biệt nào để xây dựng toàn bộ phân đoạn này, mặc dù có nhắc đến hầu hết các nhân vật này ở những chỗ khác trong Kinh Thánh (Dan 2:3 Ru 4:19-22 ISa 16:6-13, trong đoạn này Đa-vít là con thứ tám của Y-sai IISa 2:18). Do đó hình như chính ông tự phối hợp tư liệu. Trước sự thể là các thế hệ trong bảng liệt kê này không lấp đầy thời gian chín thế kỷ kể từ lúc Giu-đa di trú qua Ai-cập cho đến lúc Sa-lô-môn xây dựng đền thờ (Xu 12:40 IVua 6:1) thì chúng ta có thể hiểu là ông đặt nặng mối quan tâm vào tính cách liên tục nhiều hơn là một bảng liệt kê đầy đủ. (Xin chú ý đến ‘tính cách uyển chuyển’ chung trong các bản gia phả trong Kinh Thánh. Theo ngôn ngữ của Kinh Thánh thì từ liệu ‘cha’ có thể hiểu là cha ông, tức là một ông tổ, và từ liệu ‘con’ có thể hiểu là con cháu, tức là một hậu duệ phái nam).
(ISu 2:18-24). Dòng dõi của Giu-đa theo nhánh Ca-lép Không nên lầm lẫn Ca-lép này với Ca-lép trong Dan 13:1-14:45, vì Ca-lép trong 13:1-14:45 là người đồng thời với Bết-sa-lê-ên (20) là con cháu của Ca-lép ở đây. Bết-sa-lê-ên, con người tài hoa tham gia vào việc sáng tác nghệ thuật trong sự chế tạo đền thờ đầu tiên (Xu 31:2-5) xuất hiện ở đây cùng một chỗ với những ông tổ của vua Đa-vít (20). Một lần nữa đây là chi tiết giúp tác giả phối hợp hai mối quan tâm chính của mình là ngai vàng và đền thờ.
(ISu 2:25-41). Dòng dõi của Giu-đa theo nhánh Giê-rác-mê-ên Qua các thế hệ (25-33) trong hậu duệ của Giu-đa có Ê-li-sa-ma (34-41). Nếu gia phả này đầy đủ thì Ê-li-sa-ma đồng thời với Đa-vít nếu còn vài thế hệ nữa xen kẽ nữa, tức là nếu từ liệu ‘cha’ có nghĩa là ‘tổ phụ’, thì có thể ông này sống cùng thời với tác giả sách Sử Ký. Quan trọng hơn nữa là sự xuất hiện của một người ngoại quốc. Cũng như con gái Su-a (3), Gia-ra (34-35) được sát nhập vào gia tộc Y-sơ-ra-ên mà không thấy ai tỏ dấu hiệu phản đối nào cả, mặc dù Su-a là người Ca-na-an và Gia-ra là người Ai-cập - tức là hai kẻ thù lớn nhất của người Y-sơ-ra-ên trước và sau cuộc xuất hành. (Theo nghĩa câu 34, Ạc-lai trong câu 31 có thể là con gái hoặc có thể là cháu trai của Sê-san).
(ISu 2:42-55). Dòng dõi Ca-lép (một lần nữa) Vấn đề con cháu Ca-lép xuất hiện ở đây không có nghĩa là tác giả thiếu tổ chức. Trái lại viết về dòng dõi của Ca-lép một lần nữa là một cách bố trí đặc biệt cẩn thận vì ở trên chương ISu 2:10-3:9 đã viết về gia đình của Ram, Ca-lép, Giê-rác-mê-ên, Ca-lép, Ram theo thứ tự. ‘Hoán vị’ hoặc cách bắt chéo này được sử dụng rất nhiều trong Kinh Thánh. Hu-rơ là mối liên kết ban bản danh sách về dòng Ca-lép lại với nhau (19, 50) nhưng danh sách thứ hai đề cập đến vài điều mới lạ. Xíp, Hếp-rôn, Ki-ri-át Giê-a-rim và Bết-lê-hem (42, 50, 51) không phải là tên người nhưng là địa danh - qiryat nghĩa là ‘thành phố’, còn bêt nghĩa là ‘nhà’ - và từ liệu ‘cha’ ở đây có thể dịch là ‘người sáng lập’ như trong bản NEB, hoặc có thể dịch là ‘nhà lãnh đạo’. Cũng thế, câu 52-55 không viết về cá nhân mà viết về các chi tộc (cũng như 1:11-16 viết về dân tộc).
(ISu 3:1-9). Dòng dõi Ram (một lần nữa) Đây là gia đình do Đa-vít sinh ra, để đối chiếu với gia đình sinh ra Đa-vít (trong phân đoạn viết về Ram ở trên). Có thể tác giả vận dụng tư liệu trong IISa 3:2-5 5:5,14-16, mặc dù lần này sách Sử Ký tường thuật đầy đủ hơn, Đa-vít có không dưới mười chín con trai.
(ISu 3:10-16). Dòng dõi của Sa-lô-môn Phân đoạn này bao quát gần hết thời đại quân chủ, dù tác giả hầu như không đề cập đến vương quốc (ông chỉ dùng từ trị vì một lần trong c.4), trong các chương này ông quan tâm đến dân sự và mối quan hệ của họ. Trong số các tài liệu ông tổng hợp với nhau từ trước cho đến điểm này bây giờ chỉ còn lại một dòng duy nhất, ấy là hoàng tộc. Dầu vậy phân đoạn này không bao gồm hết các vị vua Y-sơ-ra-ên. Ở đây không đề cập đến Sau-lơ, A-tha-li hoặc các vua cai trị miền bắc sau khi vương quốc bị chia đôi. Hoàng tộc xuất phát từ Đa-vít mới là vấn đề quan trọng. Dĩ nhiên trong các tư liệu của tác giả gồm toàn bộ sách Các Vua. Như ậy là tác giả đã chắt lọc hết sức gắt gao.
(ISu 3:17-24). Dòng dõi Giê-hô-gia-kin Hầu như tác giả bỏ qua hai bước ngoặc quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên - ấy là thời kỳ lưu đày và thời kỳ khôi phục. Một ám chỉ duy nhất về chế độ quân chủ là cụm từ ‘Đa-vít ... cai trị’ (4) còn chi tiết duy nhất ám chỉ hai biến cố lớn đó là cụm từ Giê-hô-gia-kin bị bắt làm phu tù (17). Vấn đề quan trọng hơn đối với tác giả là dân Y-sơ-ra-ên, đặc biệt là dòng dõi Đa-vít, vẫn tồn tại qua mọi cuộc bể dâu, thế hệ cuối cùng là đám con trai của Ê-li-ô-ê-nai (24) kết thúc dòng lịch sử bắt đầu từ A-đam.
Chú giải. Ở đây xuất hiện hai vấn đề rắc rối nhỏ. Ở những chỗ khác trong Kinh Thánh, Xô-rô-ba-bên là con trai của Sa-la-thi-ên, chứ không phải là con của Phê-đa-gia (19). Có thể giải toả điểm này là Phê-đa-gia cưới người vợ goá của anh mình, cho nên con của họ được kể là con của Sa-la-thi-ên (Phu 25:5-6). Có thể hiểu được con số sáu (22) nếu cụm từ các con trai người trong câu đó là do lầm lẫn khi sao chép (theo bản Kinh Thánh tiếng Việt cũ thì không có vấn đề này).
2. Liên hệ giữa các thế hệ (ISu 4:1-7:40)
Từ chương 1-9 tác giả vận dụng nhiều gia phả của Giu-đa và của Bên-gia-min chớ không phải chỉ có một. Vì sao? Vì trong chương 1-3 Giu-đa là ông tổ của Đa-vít, một hoàng tộc và là chủ đề chính của các chương này, còn trong chương 8-9 Bên-gia-min là ông tổ của Sau-lơ, một hoàng tộc và là chủ đề của các chương này. Cả Giu-đa và Bên-gia-min trong chương 4-7 là hai chi phái chính, tạo nên cây Y-sơ-ra-ên, từ đó toả ra các nhánh khác.
(ISu 4:1-23). Chi phái Giu-đa Danh sách này có liên hệ với danh sách trong chương 2 ở vài điểm, nhưng nhìn chung thì không rõ hai danh sách này có liên hệ với nhau như thế nào. Tuy nhiên, giống như ở trên (ISu 1:10,19) tác giả đưa vào nhiều điểm, không những là mối quan tâm của ông, nhưng còn có ý nghĩa quan trọng nữa. Trước hết, họ là những con người thực sự. Một khi nhận thấy các địa danh như Bết-lê-hem và Thê-cô-a (4,5) ở trong xứ của họ khiến cho độc giả nhớ rằng sách của ông căn cứ trên sự kiện trong thực tế chớ không phải là hư cấu - Từ liệu ‘tổ phụ’ ở đây có nghĩa là ‘ nhà sáng lập’ hoặc ‘nhà lãnh đạo’ xin xem 2:42-55. Ý nghĩa của các tên riêng này và nghề nghiệp của các nhân vật tăng thêm tính cách có thực của các chi tiết: Bết-lê-hem là ‘Nhà Bánh’, Na-hách (12) là ‘Thành phố Đồng’ Giê-ha-ra-sim (14) là ‘Trũng Thợ’, còn các thợ dệt vải gai mịn và thợ gốm sinh sống trong các thành phố khác (21-23).
Thứ hai, những người này minh hoạ các nguyên tắc thuộc linh. Tác giả ca tụng Gia-bê (9-10) vì tên của ông trong tiếng Hi-bá-lai có nghĩa là ‘đau đớn’, do đó mọi người nghĩ là ông bất hạnh, nhưng nhờ niềm tin thành khẩn nơi Đức Chúa Trời mà ông xoá bỏ lòng mê tín như vậy. Mê-rết (17-18) cưới vợ người Ai-cập - hai câu này gây ra nhiều tranh cãi, nhưng vấn đề đã rõ ràng. Ở đây thêm một trường hợp nữa (2:3,34-35) về người ngoại bang được làm thành viên trong dân sự của Đức Chúa Trời, như vậy đây là tầm nhìn rộng mở của tác giả. Ca-lép, người Kê-nít (15) có thể là một người ngoại bang, là con nuôi chớ không phải được sinh ra trong chi phái Giu-đa, về sau ông rất nổi tiếng (Gios 14:6-15).
(ISu 4:24-43). Chi phái Si-mê-ôn Kế đến là Si-mê-ôn, một chi phái luôn liên kết chặt chẽ với Giu-đa, và được Giu-đa chia lãnh thổ cho. Gios 19:1-9 đề cập đến điều này trong bảng liệt kê các vùng đất lãnh thổ, rồi giờ đây tác giả vận dụng lại trong câu 28-33. Bản liệt kê này nghiêng về mặt địa lý nhiều hơn là mặt phổ hệ so với ISu 4:1-23, chứng tỏ tình trạng sút kém của chi phái về mặt đất đai cũng như về dân số. Độc giả đương thời biết rõ những chuyện này rồi. (Si-mê-i, trong câu 27 là một người ngoại lệ). Mặt khác, không một chi phái nào trong Y-sơ-ra-ên có thể dễ dàng suy vong, ngược lại trong câu 38-43 tác giả đưa ra bằng chứng về sức sống mãnh liệt của họ ngay cả trường hợp chi phái Si-mê-ôn.
(ISu 5:1-26). Các chi phái bên kia sông Giô-đanh Như trong trường hợp chi phái Si-mê-ôn, tác giả ghi lại những chi tiết về lãnh thổ của các chi phái kế tiếp. Ru-bên, Gát và phân nửa chi phái Ma-na-se định cư ở phía đông sông Giô-đanh tại các miền có ghi trong các câu 8b-11 và câu 23 dưới tên gọi chung là Ga-la-át. Tác giả cho biết Ru-bên là con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên (1) mặc dù quyền trưởng nam đã chuyển qua cho Giô-sép (tức là cho Ép-ra-im và Ma-na-se) còn địa vị cai trị thuộc về Giu-đa (Sa 35:22,48 49:4,8-12,22-26). Cũng như trường hợp của chi phái Si-mê-ôn, chi phái Ru-bên cũng có chiến tranh. Tất cả chi phái Ga-la-át đều tham gia cuộc chiến chép trong câu 19-22 và bị xâm lăng trong câu 26. Nếu cuộc chiến chống dân Ha-ga-rít với cuộc chiến chép trong câu 10 là một thì hai biến cố này tương ứng với nhau ở hai đầu trong thời gian chiếm cứ vùng phía đông sông Giô-đanh (10, 26 dĩ nhiên là trong câu 3-6 rất nhiều thế hệ bị bỏ qua không nhắc đến). Những cuộc chiến này minh hoạ một qui luật thuộc linh: về một mặt, nếu họ tin cậy kêu cầu thì họ sẽ chiến thắng (20) mặt khác, nếu họ bất trung nổi loạn, họ sẽ thất bại (25-26).
(ISu 6:1-81). Chi phái Lê-vi Giấy mực dành cho chi phái này là 81 câu và chiếm vị trí trung tâm nên rõ ràng chi phái này có tầm quan trọng lớn lao. Đọc lịch sử của chi phái này (1-30) chúng ta biết ngay lý do. Các thầy tế lễ cả trong Y-sơ-ra-ên xuất thân từ dòng dõi người con trai thứ hai của Lê-vi là Kê-hát. Chức tế lễ là vương quyền hiệp lại làm thành chủ đề chính của sách Sử Ký. Vì thế tác giả phổ hệ dòng dõi này cho đến lúc bị lưu đày (15). Một lần nữa tác giả coi dòng lịch sử liên tục là quan trọng hơn các biến cố trọng đại bộc phát trong quãng thời kỳ lịch sử. Trong đoạn này ông không nhắc đến biến cố nào khác (kể cả cuộc xuất hành. Riêng Môi-se chỉ được nhắc đến trong câu 3) trừ trường hợp đặc biệt là công tác xây dựng đền thờ (10). Nếu lời ghi chú nằm trong câu 9 như nhiều người nghĩ, thì lời ghi chú này nằm ngay giữa danh sách. Như vậy, ở đây tác giả cũng cẩn thận sắp xếp nhấn mạnh vào tụ điểm là đền thờ và chức tế lễ. Tiếp theo là bảng liệt kê các chi tộc khác trong một chi tộc có Sa-mu-ên, một nhân vật vĩ đại (27-28), nhưng tên của ông cũng chỉ được nhắc đến sơ qua thôi.
Nhiệm vụ của chi phái Lê-vi (31-53) cũng liên hệ đến chủ đề chính tức là thời trị vì của Đa-vít và Sa-lô-môn khi mà ba nhạc sĩ nổi tiếng là Hê-man, A-sáp và Ê-than, mỗi người đại diện cho một chi tộc được bổ nhiệm (33,39,44). Mười hai thế hệ hậu duệ của A-rôn cũng tụ vào điểm đó, họ là các thầy tế lễ thượng phẩm dâng sinh tế và lễ vật (49-53).
Chi phái này ở rải rác khắp xứ (54-81). Chi phái Lê-vi không có lãnh thổ riêng, nên các chi phái khác phải cấp đất và thành cho người Lê-vi. Nét đặc thù của tác giả sách Sử Ký là ông vẫn cứ viết về điều này khi tình hình thực tế đã hoàn toàn khác hẳn, viết như vậy là ông muốn nói rằng dù có xảy ra chuyện gì đi nữa, nguyên tắc đại diện của chức tế lễ vẫn phải cứ duy trì.
(ISu 7:1-12). Các chi phái chiến đấu Đến đây một đặc điểm mới lạ xuất hiện: sức mạnh quân sự của một chi phái. Danh sách này liệt kê quá ít nhân vật nếu đem so sánh với các bảng danh sách trước (chỉ có một nhóm người trong 900 năm kể từ Y-sa-ca cho đến Đa-vít, câu 1-2), có thể là vì tác giả không có đủ bộ gia phả, cho nên ông dùng bảng danh sách trong quân đội để điền vào. Tuy nhiên số lính chiến trong thời Đa-vít giúp chúng ta hiểu rằng Y-sơ-ra-ên trong quá khứ rất khác với Y-sơ-ra-ên bị chia cắt trong thời của tác giả, cho nên chúng ta phải ngẫm nghĩ kỹ mới hiểu ý nghĩa của sức mạnh đề cập ở đây.
Chú giải. Về những số liệu lớn trong phân đoạn này xin xem phần dẫn nhập.
Phân đoạn này không đề cập đến chi phái Đan, trừ phi chúng ta đọc câu 12b là ‘Con trai của Đan: Hu-sim, người con trai duy nhất’ (so sánh Sa 46:23).
Một số người cho rằng phân đoạn viết về chi phái Bên-gia-min (6-12) thực ra là viết về chi phái Sa-bu-lôn, vì nếu không thì chi phái này cũng không có trong danh sách (như chi phái Đan), trong khi thực sự thì gia phả của chi phái Bên-gia-min nằm trong chương 8, tương ứng với gia phả của chi phái Giu-đa trong chương 4. Mặt khác, thứ tự nêu danh của ba chi phái Bên-gia-min, Đan và Nép-ta-li trong 46:21-24 cũng là thứ tự trong ISu 7:6-13.
(ISu 7:13-40) Các chi phái còn lại Phân đoạn viết về chi phái Ma-na-se và Ép-ra-im thật khó hiểu. Trước hết, chúng ta không rõ Ga-la-át (đây là địa danh hoặc nhân vật? So sánh với Dan 32:39-40) trong câu 14-19 chỉ về toàn thể chi phái Ma-na-se hoặc chỉ nói đến một nửa chi phái (ISu 5:23) còn Ma-a-ca xuất hiện ở đây là lạc lõng trừ phi chúng ta bỏ vài từ trong câu 15 và đọc là lấy vợ tên là (ND: Trong bản tiếng Việt không có vấn đề này). Cũng thế, trong phân đoạn kế tiếp, chúng ta cũng không biết rõ Ép-ra-im trong câu 22-23, con trai của Giô-sép (sanh tại Ai-cập, Sa 41:50-52) là tổ phụ của chi phái hay một người con cháu nào đó trùng tên. Hai phân đoạn khác tương đối rõ ràng.
Chúng ta không coi thường các chi phái này, mặc dù họ sẽ là thuộc viên trong vương quốc phản bội ở miền bắc. Trong các bảng liệt kê này, cũng như trong các bảng liệt kê trước tác giả sách Sử Ký cho chúng ta thấy có những người không phải là dân Y-sơ-ra-ên cũng được tiếp nhận vào dòng dõi Y-sơ-ra-ên (14) và họ đã sanh ra những nhân vật nam lỗi lạc (27) và có những nhân vật nữ chiếm địa vị cao trọng trong Y-sơ-ra-ên (15b Dan 36:1-13,24).
3. Mối liên hệ giữa ngai vàng và đền thờ (ISu 8:1-9:34)
Có lẽ Bên-gia-min trong chương 8 là chi phái cuối trong năm chi phái, tương ứng với chi phái Giu-đa trong chương 4 - một hoàng phái ở cuối mỗi danh sách và chi phái tế lễ Lê-vi (chương 6) ở giữa (xem chú giải ở IISu 7:6-11). Rồi chương 9 lại bắt đầu viết nhiều về chi phái Lê-vi (1b-34) và một phân đoạn viết về Bên-gia-min (35-44), tức là một chi phái làm vua chúa và một chi phái làm chức tế lễ, để đưa chúng ta vào phần chính tiếp theo của sách. Hoặc là chúng ta có thể coi chương 4-7 là bản khảo sát các chi phái, còn chương 8:1-9:34 viết về chi phái Bên-gia-min (hoàng tộc) và Lê-vi (chức tế lễ) là chương chuẩn bị cho những phần kế tiếp, còn 9:35-44 là đoạn lặp lại phần thích hợp trong bảng danh sách của chi phái Bên-gia-min để dẫn chúng ta vào chuyện Sau-lơ.
(ISu 8:1-40) Dòng dõi Bên-gia-min: chuẩn bị ngai vua Tầm bao quát của bảng danh sách trong câu 1-28 có thể sánh với tầm bao quát của bảng danh sách về chi phái Giu-đa và Lê-vi. Nhưng lại hoàn toàn khác với các danh sách khác về Bên-gia-min (thí dụ như 7:6-11 Dan 26:38-41) và các phân đoạn có vẻ rời rạc. Ở đây cũng như ở những chỗ khác, có lẽ vì cớ từ liệu ‘con trai’ có thể nghĩa là con cháu, tức là có thể là một hậu duệ ra đời ở một nơi khác trong một thời điểm khác. Dầu vậy chúng ta vẫn thấy họ liên kết với nhau bởi mối tương quan trong chi phái.
Dòng họ đặc biệt trong chi phái này là dòng họ Sau-lơ từ câu 29-40. Tác giả nhắc lại dòng họ này trong IISu 9:34-44 dẫn nhập thẳng vào lịch sử vương quốc. Tuy nhiên, cũng như đối với Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi-se và Sa-mu-ên, tác giả không viết nhiều về Sau-lơ ở đây, ông cũng không đả động đến các biến cố trọng đại trong thời đó. Tác giả sách Sử Ký luôn luôn quan tâm đến dòng lịch sử đang tiếp diễn hơn là các biến động.
Ga-ba-ôn là một địa điểm (29) giống như Giê-ru-sa-lem (4:1-23). Bản NIV thêm tên Nê-rơ vào c.30 (9:36) ngụ ý là ông có người em trai và một người con trai cùng tên là Kích, khiến cho những mối liên hệ máu mủ được mạch lạc và phù hợp với ISa 9:1, đồng thời cũng thừa nhận cả hai sách lịch sử đều không thấy cần là phải liệt kê đầy đủ gia phả. Dầu vậy nếu bảng liệt kê của dòng họ này đầy đủ thì dòng họ này chấm dứt vào khoảng thời gian lưu đày nếu chưa đầy đủ thì dòng dõi này còn nhiều thế hệ nữa, dù kể từ các biến cố trong IISu 10:6, thì họ không còn là một hoàng tộc.
(ISu 9:1-34) Dòng dõi Lê-vi: bảo quản đền thờ Nếu các chương 4-8 tạo thành một tiết chuyện, thì 9:1 kết luận tiết chuyện này cách tốt đẹp, còn 9:1-2 dẫn nhập với một câu nhận định quá sơ sài về thời kỳ lưu đày: Tác giả sách Sử Ký chỉ viết một câu ngắn về cuộc lưu đày, rồi chuyển thẳng vào bảng liệt kê danh sách dân sự thời hậu lưu đày. Các bảng liệt kê này tương đương với Nê-hê-mi 11, phần lớn là danh sách người Lê-vi, dầu rằng trong nhóm thứ nhất của bốn nhóm dân (thường dân Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, người Lê-vi và những người phục dịch, câu 2) có bao gồm chi phái Ép-ra-im, Ma-na-se cũng như dân Giu-đa và Bên-gia-min (3-9). Tác giả sách Sử Ký không bao giờ từ bỏ lý tưởng của mình về ‘toàn thể Y-sơ-ra-ên’, tức là miền bắc phục hồi và thống nhất với miền nam. Các thầy tế lễ (10-13) thuộc gia tộc A-rôn, dâng các của-lễ theo tôn giáo Y-sơ-ra-ên người Lê-vi (14-16) đảm nhận các công tác khác trong tôn giáo còn các phục dịch trong đền thờ, hoặc những người gác cửa (17-34) phụ trách các việc đủ loại.
Nếu chương 8:1-9:34 tạo thành một tiết chuyện thì hai phần trong tiết chuyện này đóng khung cho thời kỳ sách quan tâm, phần viết về Bên-gia-min dẫn chúng ta đến chế độ quân chủ, còn phần viết về Lê-vi dẫn chúng ta từ cuộc lưu đày trở đi, như vậy tác giả nhấn mạnh vào tính liên tục trong quá trình của lịch sử.
2. ĐA-VÍT (ISu 9:35-29:30)
Lịch sử của Đa-vít hầu như chiếm hai mươi chương, chứng tỏ Đa-vít là mối quan tâm hàng đầu của tác giả trong mọi sự toan tính sắp xếp của mình. Tuy nhiên vì tác giả tường thuật lịch sử của con chồng lồng vào phần cuối của lịch sử của cha nên chuyện của Sa-lô-môn (đầu tiên được giới thiệu trong chương 22) chiếm gần hết các chương này, do đó chúng ta nên coi hai vua này hỗ trợ cho nhau vì họ có chung một lý tưởng. Vì hai chủ đề lớn của sách là vương quyền và chức tế lễ, chúng ta có thể nói Đa-vít xây dựng vương quyền còn Sa-lô-môn xây dựng đền thờ. Một người tiêu biểu cho chiến tranh, còn người kia tiêu biểu cho hoà bình. Dù vậy, cả hai chủ đề (vương triều và đền thờ) đều tiềm tàng trong cả hai thời trị vì.
Thời trị vì của Đa-vít và của Sa-lô-môn được xem là lý tưởng, cho nên ở đây bức tranh mô tả hai vua này khác với hình ảnh trình bày trong sách Sa-mu-ên và sách Các Vua. Trong hai sách này họ là những con người có thể sai lầm và có nhiều khuyết điểm, còn ở đây chính thức trương lên hình ảnh hai vị quốc vương cao trọng. Tác giả sách Sử Ký không tô điểm vẽ vời thêm vì không ai là không biết tội lỗi và sự ngu dại của hai vua này. Ông chỉ làm công việc gạn lọc, tuyển lựa các sự kiện để làm sáng tỏ các nguyên tắc tiềm ẩn dưới vẻ cao trọng của họ.
1. Vua và dân sự (ISu 9:35-12:40)
Trong bối cảnh thất bại của vị tiền nhiệm là Sau-lơ, vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, ngôi nước được trao qua cho Đa-vít. Lập tức vua trở thành tụ điểm của một đất nước thống nhất. Dù ông đã qua đời từ lâu (đối với tác giả và độc giả thời xưa cũng như đối với chúng ta) nhưng ông đã biểu hiện được các nguyên tắc có giá trị dài lâu là nguyên tắc đã định hình cho đời sống của dân sự.
(ISu 9:35-44) Gia phả của vị vua đầu tiên Từ đầu cho đến đây, sách Sử Ký chuyên chép gia phả và liệt kê danh sách các nhân vật. Nhưng từ đây trở đi, sách chú trọng vào những chuyện khác - tức là những phần tường thuật, lịch sử vương quốc Y-sơ-ra-ên - tác giả dùng một bảng gia phả cuối cùng để giới thiệu vị vua đầu tiên. Đây là bản gia phả có chép trong ISu 8:29-38.
(ISu 10:1-14). Sự thất bại của vị vua đầu tiên Sách ISa-mu-ên dành hai mươi ba chương viết về thời trị vì của Sau-lơ (9-31), tác giả sách Sử Ký cắt bỏ hết hai mươi hai chương. Tác giả chỉ đơn giản tường thuật việc Sau-lơ qua đời và thêm vào hai câu riêng của ông (13-14). Đối với ông, vấn đề quan trọng không phải là sự nghiệp của Sau-lơ đang dần dà suy thoái, cũng chẳng phải là gia đình Sau-lơ suy sụp sau khi Sau-lơ qua đời (IISa 1:1-4:12), vì nếu xét về mặt vương quốc thì nhà Sau-lơ chấm dứt trên đồi Ghinh-bô-a (6). Sự bất trung của vua Sau-lơ đối với Đức Chúa Trời (13-14) là quan trọng trong nhiều phương diện. Lòng bất trung của Sau-lơ làm nổi bật lòng trung thành của Đa-vít. Trái ngược với Sau-lơ, Đa-vít là người làm theo lòng Đức Chúa Trời (ISa 13:14, tác giả sách Sử Ký không trích dẫn trọn câu này, vì toàn thể bức tranh mà ông mô tả về Đa-vít sẽ minh hoạ điều này). Chỉ nhờ vào tấm lòng vâng phục mà Đa-vít đã đảo ngược những ảnh hưởng sâu xa trên Y-sơ-ra-ên do lòng không vâng phục của Sau-lơ gây ra như vậy. Nếu các kinh nghiệm mới đây (đối với độc giả đương thời của sách Sử Ký thì đó là sự lưu đày) tương đương với những kinh nghiệm trong thời trị vì của Sau-lơ (7 ISu 5:25-26 9:1b) thì họ phải học phương cách khôi phục từ thời trị vì của Đa-vít (IISu 33:8)
(ISu 11:1-3). Dân sự của vị vua mới Tác giả dùng IISa 5:1-3 làm tư liệu cho phân đoạn này. Dân sự một lòng thần phục và tập họp chung quanh vị vua xuất thân từ chi phái Giu-đa, như vậy họ làm ứng nghiệm một lời tiên tri cổ xưa chép trong Sa 49:10. Như để báo trước cho hậu duệ vĩ đại nhất là Giê-xu, Đa-vít được coi như người cùng xác thịt, cùng dòng máu với dân sự mình. Đức Chúa Trời bổ nhiệm ông làm vị cứu tinh hiển hách của họ và là người lập một giao ước mà họ đã tiếp nhận (3, bản RSV, thay vì từ thoả thuận).
(ISu 11:4-9). Đế đô của tân vương Giê-ru-sa-lem sẽ là nơi đặt ngai vàng, chỗ vua ngự. Quyền cai trị đầy thế lực của Đa-vít trên dân sự của ông nhắm mục tiêu ca ngợi, hoà bình và thịnh vượng (so sánh Thi 122:1-9). Đó là ý nghĩa của sự cai trị của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại (He 12:22). Thành phố này sẽ là nơi con trai ông xây đền thờ ngay trong thời đại của ông (ISu 17:12 22:1) và nhanh chóng trở thành nơi đặt hòm giao ước, trung tâm thờ phượng của dân Đức Chúa Trời (15:3-28). Nhưng trước khi trở thành trung tâm thờ phượng, thì thành này là nơi Đức Giê-hô-va Toàn năng (9) cai trị dân Ngài qua phó vương của Ngài là Đa-vít.
(ISu 11:10-47). Các chiến sĩ của tân vương (ISu 11:10-12:22) Các bảng danh sách này có sau bảng danh sách trong IISa-mu-ên (IISa 23:8-39) và tác giả giới thiệu ở đây để cho chúng ta biết ngay từ đầu ‘hết thảy Y-sơ-ra-ên’ thuộc đủ mọi thành phần và tầng lớp trong dân đều tập hợp quanh vị vua chính nghĩa này. Tương tự như khi tác giả vận dụng các bảng liệt kê để xây dựng chương 1-9, ở đây ông sử dụng các bảng liệt kê thuộc nhiều thời kỳ để trình bày vấn đề có hiệu quả hơn.
Trong vòng đám người hùng của Đa-vít, nổi bật nhất là nhóm ‘Ba Người’ (ISu 11:11-14), IISa 23:8-12 cũng gọi họ như vậy và tường thuật đầy đủ (sách Sử Ký bỏ một vài điều). Kế đó là nhóm Ba Mươi, trong nhóm này có ba người để lại cho chúng ta nhiều kỷ niệm khó quên và rất quí báu đối với tác giả (ISu 11:15-19). Người thứ nhất xuất hiện ngay từ buổi đầu sự nghiệp của Đa-vít (ISa 22:1). Còn A-bi-sai và Bê-na-gia (ISu 11:20-25) có vẻ ngang tài ngang sức với nhóm Ba Người, các thành tích của Bê-na-gia cũng đặc biệt đáng ghi nhớ.
Cũng như nhiều nhân vật khác trong 1:1-9:44, hầu hết những tay anh hùng trong 11:26-47 đều là những tên riêng không hơn không kém đối với chúng ta. Không rõ họ liên quan đến nhóm Ba Mươi Người như thế nào. Và bản danh sách của IISa 23:1-39 đã được bổ sung với nhiều người nữa. Nghịch lý thay, sự kiện không ghi lại một chuyện gì ngoài ra tên của nhân vật (ngoại trừ thỉnh thoảng có ghi vài chi tiết nhỏ, ISu 11:32,39,42) lại làm cho họ trở nên những nhân vật có thực với nhiều dáng vẻ khác nhau.
Bây giờ, tác giả viết về bốn nhóm gia nhập lực lượng của Đa-vít trong thời trị vì của Sau-lơ, lúc ông còn ở Xiếc-lác (ISa 27:6) hoặc ở những nơi hiểm hóc trong đồng vắng (23:14). (Xin chú ý đến cách bố trí bắt chéo nhau: Xiếc-lác, đồng vắng hiểm hóc, đồng vắng hiểm hóc, Xiếc-lác, xem lại ISu 2:42-55). Nhóm đầu tiên thuộc về chi phái Bên-gia-min (12:1-7): Đa-vít được ‘hết thảy Y-sơ-ra-ên’ tôn phong, kể cả chi phái của Sau-lơ. Những người này đến từ thành và các chi tộc của Sau-lơ. Có lẽ nhờ có cái nhìn tinh tường nổi tiếng (12:2 Cac 20:16) cùng với sự sâu sắc về mặt thuộc linh và chính trị mà họ ủng hộ Đa-vít, thay vì lẽ ra họ phải về phe với Sau-lơ đúng theo tinh thần trung thành với chi phái. Trong những lời nhận định cuối về nhóm người thuộc chi phái Gát (ISu 12:8-15) có thể tác giả ngụ ý nói về con số ‘trên một trăm/ một ngàn’ (bản RSV) và chính con sông Giô-đanh ngập nước đuổi dân cư trong các thung lũng, chớ không phải họ. Dầu vậy, cả hai câu 14, 15 trong bản NIV phù hợp với ý của tác giả là nhấn mạnh lòng dũng cảm của những người ủng hộ Đa-vít. Một nhóm người Bên-gia-min lẫn Giu-đa sớm kéo nhau đến ủng hộ Đa-vít (12:16-18), nhưng không rõ vì sao Đa-vít đâm nghi ngờ mục đích của họ. Có lẽ ông nhớ lại chuyện Đô-ê phản bội (ISa 21:1-22:51). Chẳng có gì làm cho ông an tâm hơn câu trả lời do Thánh Linh của Đức Chúa Trời ban cho A-ma-sa (ISu 12:18 Cac 6:34 IISu 24:20). Một lần nữa qua ông này Ngài xác định rằng là Ngài sẽ ban phước cho vị vua do Ngài chọn và ban phước cho những người liên kết với ông. Sau khi thời trị vì của Sau-lơ chấm dứt (ISa 29:1-31:13) nhóm thứ tư kéo đến (ISu 12:19-22). Đám người Ma-na-se khôn ngoan này chờ cho đến khi coi như chắc chắn Sau-lơ bị diệt vong rồi mới đến với Đa-vít. Dầu vậy họ vẫn được hoan nghinh.
(ISu 12:1-22) xem giải nghĩa 11:10-47
(ISu 12:23-40) Đại hội tại Hếp-rôn Sự kiện này nhằm xức dầu cho Đa-vít làm vua trước khi ông xây dựng thủ đô tại Giê-ru-sa-lem (11:1-9). Tác giả nêu đích danh một số người (27-28). Binh đội của từng chi phái được kể ra. Lần này số các chi phái không bị giới hạn trong con số mười hai (trong toàn lãnh thổ từ nam chí bắc, từ đông sang tây bao gồm các chi phái Lê-vi, cả hai chi phái Giô-sép và hai lãnh thổ Ma-na-se, tổng cộng là 14 - quả thật là ‘hết thảy Y-sơ-ra-ên’!). Tác giả không chỉ nhấn mạnh đến tính đa dạng mà còn nhấn mạnh đến sự thống nhất của Y-sơ-ra-ên (38), hoàn toàn trái ngược với sự chia rẽ trong thời kỳ các quan xét. Sau khi họ hợp nhất dưới quyền cai trị của một người được Đức Chúa Trời chọn, dân sự Đức Chúa Trời có lý do chính đáng để vui mừng (39-40).
2. Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem (ISu 13:1-14:17)
Thời trị vì của Sau-lơ và của Đa-vít tại Hếp-rôn (đề cập sơ qua 12:23,38) chỉ là giai đoạn mở đầu cho lịch sử của vương quốc đúng nghĩa. Trước hết là hòm giao ước, tượng trưng cho giao ước ân điển của Đức Chúa Trời, phải được đặt tại thủ đô mới của Đa-vít (13:1-14), rồi ‘từ nơi thánh của Ngài’ (Thi 60:6-8) Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho nhà Đa-vít (ISu 14:1-7) và các nước biết danh tiếng ông (14:8-17). Ở đây có cái nhìn lại trường hợp tương phản của Sau-lơ và cái nhìn hướng tới chủ đề hai mặt được triển khai suốt qua sách. Đó là sự thờ phượng/ đền thờ/ chức tế lễ/ với chính quyền/ ngôi nước/ vương quyền.
(ISu 13:1-14) Rước hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem Phần lớn trong chương này (6-14) trích từ IISa 6:2-11, còn chương kế tiếp trích từ 5:11-25 như phần dẫn nhập cho biết hòm giao ước chiếm vị trí hết sức quan trọng (1-4). Chúng ta đã biết phần lịch sử mới nhất (ISa 4:1-7:17) và hình dáng (Xu 25:1-29 37:1-28) của hòm giao ước. Vấn đề quan trọng ở đây là trong suốt thời trị vì của Sau-lơ, dân Y-sơ-ra-ên không cầu hỏi hòm giao ước (3 hoặc ‘cầu hỏi Ngài’ hòm giao ước hoặc Đức Chúa Trời của hòm giao ước, ISu 10:14). Nhưng ngược lại Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên đồng lòng cầu hỏi hòm giao ước.
Tác giả nhấn mạnh thêm cụm từ ‘hết thảy Y-sơ-ra-ên’ vì trong câu 5 ông viết lại IISa 6:1, và xác định phạm vi từ nam chí bắc dài hơn cụm từ thường dùng là ‘từ Bê-e-sê-ba đến Đan’ (ISu 21:2). Lần hội họp thứ nhất cả hội chúng quyết định, nhưng lần hội họp thứ hai hội chúng hành động rước hòm giao ước vào trung tâm sinh hoạt của đất nước.
Cả hai kinh nghiệm xảy ra cho U-xa và Ô-bết-Ê-đôm đều minh hoạ về ‘phước lành’ của hòm giao ước. Phước hạnh thật lớn lao. Hòm giao ước ở trong nhà U-xa đến hai mươi năm (ISa 7:2 IISa 6:3), vì thế chúng ta có thể hiểu được là ông quá quen với hòm giao ước, nhưng sự quá quen thuộc đó dẫn đến hậu quả tai hại. Nơi nào tôn trọng hòm giao ước, thì hòm giao ước sẽ đem phước lành tốt đẹp đến cho nơi đó.
(ISu 14:1-7). Đa-vít vững lập tại Giê-ru-sa-lem Sau khi hòm giao ước được rước về thủ đô của Đa-vít (chương kế sẽ viết tiếp những phần còn lại của IISa 6:1-23). Giờ đây sách Sử Ký quay trở lại IISa 5:11-25 để nhấn mạnh thêm về một điểm tương phản rõ rệt. Trước hết, các câu này viết về ‘hoàng cung’ của Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem với nhiều ý nghĩa, trong khi đó Sau-lơ tử trận ở núi Ghinh-bô-a và ‘cả nhà người đồng chết với nhau’ (ISu 10:6).
(ISu 13:8-17). Đa-vít nổi danh ở nước ngoài. Sự tương phản tiếp tục trong các thắng lợi quân sự so với cảnh của đoạn 10. Cả hai vua đều phải chạm trán với dân Phi-li-tin, vua Sau-lơ thua trận, còn Đa-vít chiến thắng trường hợp thứ nhất các thần ngoại bang được tôn trọng (10:10), còn trường hợp thứ hai thì các thần này bị hạ nhục (14:12). Sau-lơ không tìm kiếm cũng chẳng vâng phục Đức Giê-hô-va (10:13-14) còn Đa-vít vừa tìm kiếm vừa vâng phục Ngài (14:10-11,14-16). Trong cả hai lần, sự trả lời của Đức Chúa Trời đều đáng ghi nhớ. Từ liệu ‘phá vỡ’ ở đây ám chỉ sự ngợi khen (14:11, trái với 13:11), còn tiếng bước đi bí hiểm trên ngọn cây ngụ ý là Đức Chúa Trời tiến công còn Đa-vít nối gót theo sau (so sánh Cac 5:4 Thi 68:8).
3. Hòm giao ước (ISu 15:1-17:27)
Hòm tượng trưng cho giao ước ân điển, nghĩa là Đức Chúa Trời chủ động biến Y-sơ-ra-ên thành dân của Ngài mãi mãi. Còn họ hưởng ứng như thế nào trong phương diện niềm tin và sự thờ phượng đối với ân điển đó lại là một trong những chủ đề chính của tác giả sách Sử Ký. Đương nhiên ông rất quan tâm đến đền thờ, ông còn lặp lại nhiều lần (ISu 13:1-14 15:1-17:27 23:1-28:21 IISu 3:1-7:22 29:1-31:27 35:1-26) vấn đề tôn trọng đúng mức hòm giao ước, đặt hòm giao ước ở nới xứng đáng, ai chịu trách nhiệm trong việc này, những điểm yêu cầu trong việc này và sẽ thực hiện quanh hòm giao ước. Đây là cách thức ông vận dụng IISa 6:11-12. Giữa hai câu này có một khoảng thời gian ba tháng, tác giả đặt vào đây hai việc. Đó là việc xây dựng vương quốc Đa-vít (chương 14) và việc tổ chức buổi lễ thỉnh hòm giao ước vào nơi ngự xứng đáng (ISu 15:1-24). Bài ca do Đa-vít soạn cũng nằm trong phạm vi buổi lễ này (chương 16) còn lời tiên tri và lời cầu nguyện ở chương 17 cho biết sự tương quan giữa những điều Đức Chúa Trời làm cho Đa-vít và những điều Đa-vít làm cho Đức Chúa Trời.
(ISu 15:1-15). Buổi lễ chính thức Cuộc thỉnh hòm giao ước bắt đầu trở lại trong một bầu không khí không kém phần vui mừng, nhưng lần này kỹ lưỡng và chu đáo hơn lần trước. Người Lê-vi lãnh trách nhiệm khiêng hòm giao ước, chớ không chở bằng xe nữa (2, diễn ý IISa 6:13. Dĩ nhiên ISu 15:1-24 là phần bổ túc cho bài tường thuật trớc đây). Một lần nữa, khác với Sau-lơ, Đa-vít ‘cầu hỏi’ Đức Chúa Trời. Và Đức Chúa Trời trả lời ông qua luật pháp Môi-se (13,15 Phu 10:8) chớ không phải qua những hình thức huyền bí. Tôn trọng hòm giao ước không có nghĩa là có những cảm nghĩ tôn trọng mà là hành động trong thực tế đúng theo Lời Đức Chúa Trời.
Một lần nữa các đại diện của toàn thể Y-sơ-ra-ên đều tham gia (3), ngoài ba chi họ Lê-vi thường trực ra, còn có thêm ba chi họ khác nữa cũng thuộc chi phái Lê-vi (4-10 Xu 6:16,18,22). Các thầy tế lễ và các vị lãnh đạo khác trong chi phái Lê-vi phải thực hiện nghi thức ‘dọn mình cho thánh sạch’ chắc là theo những quy định chép trong 19:10-15, nhưng điều quan trọng không nằm trong các nghi thức mà là trong tấm lòng bày tỏ mối liên hệ của họ đối với Đức Chúa Trời thể hiện qua các nghi thức đó.
(ISu 15:16-29). Sự ca ngợi đích thực (15:16-16:3) Việc Đa-vít đưa âm nhạc vào đám rước phản ánh chính mối quan tâm đặc biệt của ông đối với âm nhạc vì ông là ‘người hát xướng trong Y-sơ-ra-ên’ (IISa 23:1) và khiến chúng ta nghĩ về danh sách các nhạc sĩ chính trong ba chi họ lớn của chi phái Lê-vi, mỗi chi họ cử ra một người, như đã chép trong ISu 6:31-47, đồng thời khiến chúng ta thấy vị trí của âm nhạc trong đền thờ. Chúng ta không rõ trong 15:17-18 có bao nhiêu người Lê-vi gác cổng và bao nhiêu người làm nhạc sĩ, mặc dù chắc Ô-bết-Ê-đôm là một trong đám này chúng ta cũng không dám chắc Ô-bết-Ê-đôm đây là chính người đã rước hòm giao ước vào nhà mình hay là một người khác (15:25 26:4-8). Tuy vậy đám này là một ban hợp xướng và một dàn nhạc tổ chức tốt (15:19-24). (Từ liệu Alamoth và Sheminith có thể nghĩa là các giọng cao và giọng trầm những từ liệu này xuất hiện trong lời tựa của một số Thi Thiên).
Trong IISa 6:13, tác giả cho biết thêm rằng Đức Chúa Trời rất hài lòng (ISu 15:26) vì Đa-vít có ‘cầu hỏi’ và vâng lời, nhưng ông rút ngắn trận cãi nhau giữa vợ chồng Đa-vít (IISa 6:20-23), chỉ ghi có một câu là bà khinh bỉ ông (ISu 15:29). Đa-vít hoà hợp với Đức Chúa Trời còn người đại diện cho gia đình Sau-lơ thì không.
(ISu 16:1-3) xem giải nghĩa 15:16-29
(ISu 16:4-36) Thi Thiên tạ ơn của Đa-vít. Bài Thi Thiên được soạn cho đoàn A-sáp hát, đặc biệt phù hợp cho giờ thờ phượng vì họ hát Thi Thiên này trước hòm giao ước của Đức Chúa Trời, hát cho Đức Chúa Trời (4), giờ đây hòm giao ước đã được thỉnh về ngự giữa sự sinh hoạt của Y-sơ-ra-ên. Đây là bối cảnh và chủ đề của bài ca (4-6,37). Thi Thiên này là tổng hợp của nhiều phần từ các Thi 96:1-13 105:1-45 106:1-48. Phần thứ nhất (105:1-15) định nghĩa sự ca ngợi Đức Chúa Trời (8-13) và lý do ca ngợi, ấy là vì giao ước của Ngài (14-18). Đây là giao ước ân điển - nghĩa là bởi tình yêu vô điều kiện Ngài chọn và cứu rỗi dân Ngài trong khi họ không thể tự cứu (19-22). Phần thứ hai (96:1-13) ca ngợi Ngài là Đức Chúa Trời cai trị trên các dân tộc, và như vậy là cũng có quyền trên các thần của họ (so sánh ISu 10:10 14:12) và Ngài thực sự có quyền hành trên toàn thể địa cầu (23-33). Những câu cuối cùng (Thi 106:1,47-48) kêu gọi toàn thể dân sự của Ngài hợp với người Lê-vi ca ngợi Ngài (34-36): Đây là tiếng kêu với Đức Chúa Trời là Cứu Chúa, vì ‘Hô-sa-na’ nghĩa là ‘Hãy cứu chúng tôi’ - điều đặc biệt là đám đông vây quanh vị vua cuối cùng của dòng dõi Đa-vít đã đồng thanh kêu ‘Hô-sa-na’ khi Ngài tiến đến đền thờ trong vinh quang (Mac 11:9-10).
(ISu 16:37-43) Hòm giao ước và bàn thờ Chỉ có đoàn A-sáp ở lại Giê-ru-sa-lem, còn đoàn Hê-man và Giê-đu-thun được cử đến Ga-ba-ôn (có lẽ Giê-đu-thun là tên khác của Đa-than, ISu 6:44).
(ISu 17:1-27) Nơi đặt hòm giao ước Nói chung, chương này nhắc lại phần tường thuật trước. Nhưng sự thay đổi trong IISa 7:11,14 là rất đáng chú ý. Ở câu 10 trong chương này, tác giả dùng từ khiến phục thay vì cụm từ ‘ban bình an’, bởi vì đối với tác giả, thì thời trị vì của Sa-lô-môn mới đặc biệt gọi là bình an, chớ không phải thời trị vì của Đa-vít, và khi thời kỳ chinh chiến của Đa-vít qua rồi, thì Sa-lô-môn có đặc ân xây dựng đền thờ. Cũng thế, trong câu 13, tác giả bỏ qua câu giả định về việc Sa-lô-môn có thể phạm tội (dù sau này ông thực sự có phạm tội). Theo quan điểm của tác giả thì Sa-lô-môn và Đa-vít đồng sáng lập vương quốc, là các nhân vật lý tưởng của thời đại hoàng kim.
Rõ ràng là Đa-vít có dự định xây một ngôi đền cho hòm giao ước, và Na-than, người của Đức Chúa Trời cũng trả lời rõ ràng rằng tự thân niềm ao ước đó không có gì sai lầm cả. Đức Chúa Trời chưa bao giờ đòi hỏi phải có một ngôi nhà cố định cho hòm giao ước (4-6) thực ra, Ngài muốn hòm giao ước di chuyển đó đây (Xu 25:14). Những việc Đức Chúa Trời làm cho Đa-vít vượt trổi hơn mọi điều Đa-vít làm cho Đức Chúa Trời (7-10). Chú ý từ ‘Ta’ được lập lại nhiều lần trong câu này. Tuy nhiên trong thời trị vì của Đa-vít và Sa-lô-môn, Ngài sẽ lập lên một hoàng tộc và một vương quốc (11-14), dù là của họ, nhưng cũng sẽ là của Ngài, tức là cho đến đời đời. Như vậy còn có một điều gì đó quan trọng hơn là một vương quốc chính trị sẽ bị sụp đổ sau đó bốn thế kỷ (tương tự như 16:34-36, đây là lời tiên báo về vương quốc Đấng Christ thời Tân Ước). Như vậy, từ chủ đề ‘hòm giao ước’ (1), tác giả triển khai thành hai chủ đề khác là ‘đền thờ’ và ‘vương quốc’ (12).
Đáp lại Đa-vít cầu nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va (16 có lẽ trước hòm giao ước), đây là một bài cầu nguyện rất chuẩn. Trước hết (16-22) ông ca ngợi Đức Chúa Trời đã ban phước cho dân của Ngài trong quá khứ (nhất là tạo dựng dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai-cập) lẫn tương lai. Rồi ông cầu xin (23-27) Đức Chúa Trời thực hiện lời Ngài đã nói (12), lời cầu nguyện bởi đức tin đặt trên nền tảng chắc chắn bảo đảm là sẽ được trả lời.
4. Dân Y-sơ-ra-ên giữa các dân tộc (ISu 18:1-20:8)
Ba chương này cô đọng ít nhất là mười bốn chương lịch sử trong sách Sa-mu-ên (IISa 8:1-21:22). Tác giả sách Sử Ký bỏ qua chuyện kể về những người còn sống sót trong gia đình Sau-lơ (9:1-13 ISu 10:6) và bỏ chuyện Đa-vít phạm tội tà dâm (bỏ gần hết (IISa 13-21 ISu 3:1-9). Thời Đa-vít vẫn còn chiến tranh, và chiến tranh rất khốc liệt. Điều lạ là tác giả không muốn viết về một Đa-vít nặng mùi dục vọng mà lại vui lòng viết về một Đa-vít khát máu. Bởi vì tác giả xem chiến thắng quân sự là dấu hiệu chắc chắn của phước hạnh (18:6,13), những cuộc chiến tranh đó là cần thiết để chuẩn bị cho thời kỳ ‘hoà bình’ khi đền thờ được xây dựng lên.
Sách Sử Ký bỏ bối cảnh dẫn đến xung đột giữa Đa-vít đối với dân Am-môn và dân Phi-li-tin, cụ thể như Na-hách (19:2) vốn là một thù địch của Sau-lơ trong ISa 11:1-15, và Gô-li-át (ISu 20:5) bị Đa-vít giết trong ISa 17:1-58. Những bối cảnh tác giả mô tả là những sự thành công trong nước và ngoại quốc, đối với các nước láng giềng thân thiện cũng như các nước thù địch. Nổi bật trên bối cảnh này là các chiến công trong ISu 18:1-20:8.
(ISu 18:1-13). Đối ngoại Dân Phi-li-tin, kẻ thù của Đa-vít từ chương 14, mở đầu chương này và kết thúc ba chương kế tiếp (18:1 20:4-8). Chương 18 nhắc sơ qua về các kẻ thù truyền kiếp của Y-sơ-ra-ên ở bên phía đông sông Giô-đanh là Mô-áp và Ê-đôm (2,12-13). Tuy nhiên chương này hầu như viết về các nước phía bắc Y-sơ-ra-ên, trong khu vực Sy-ri và Li-ban hiện nay. Hầu hết các nước này đều là thù địch, chỉ một dân tộc thân thiện thôi (Ha-mát, như Ty-rơ trong 14:1). Đa-vít nổi danh giữa vòng các nước thù địch cũng như các nước thân thiện, và các thắng lợi của ông chuẩn bị cho giai đoạn hoà bình khi Sa-lô-môn xây dựng đền thờ. Như vậy, cả hai dân tộc thân thiện lẫn thù địch đều đóng góp vào kho tàng quí giá mà Đa-vít dâng vào nhà Đức Chúa Trời (7-11). Trong một ý nghĩa nào đó thì Đa-vít ‘không hội đủ điều kiện’ để xây dựng đền thờ vì ông là một chiến binh (22:8-9), nhưng không phải đó là dấu hiệu Đức Chúa Trời không hài lòng về ông. Thí dụ A-bi-sai được tuyên dương trong chiến dịch chống lại dân Ê-đôm (trái với IISa 8:13) bởi vì rõ ràng Đức Chúa Trời ban chiến thắng này cho Đa-vít (12-13).
(ISu 18:14-17). Đối nội Tiếp theo là sự tổ chức cai trị của Đa-vít như trong IISa 8:15-18. Tác giả có đề cập đến gia đình Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem trong ISu 14:1-7. Đội cận vệ của Đa-vít gồm các chiến sĩ ngoại bang chi tộc Kê-rê-thít và Phê-lê-thít từ Cơ-rết và Phi-li-tin.
(ISu 19:1-19) Chiến dịch chống dân A-môn Am-môn là một dân tộc nằm về phía đông sông Giô-đanh (18:2,12-13). Gợi ý duy nhất về tình bạn cũ giữa Na-hách và Đa-vít (19:2) là sự thù địch giữa Na-hách và Sau-lơ trong ISa 11:1-15, từ thời Đa-vít chưa được biết đến. Căn cứ trên ý kiến của dân Am-môn đối với Đa-vít (ISu 19:3) chúng ta biết dù các nước láng giềng ủng hộ hoặc chống đối, ông luôn luôn là một lực lượng đáng nể. Khi chiến tranh bùng nổ, quân đội A-ram liên kết với quân đội trong 18:5 bị lôi kéo vào cuộc xung đột. Anh em Giô-áp và A-bi-sai là cháu của Đa-vít (2:13-17), sát cánh bên nhau chỉ huy quân đội (có thể sự kiện này gợi ý cho tựa đề của Thi 60:1-12, có liên quan đến ISu 18:12). Khối liên minh A-ram bị đánh bạt trong cả hai trận (19:14-18, nhưng số liệu trong IISa 10:18 lại khác xem phần dẫn nhập). Cuối cùng dân A-ram đại bại trong ISu 20:1-3. Tác giả không viết về chuyện Đa-vít phạm tội tà dâm với Bát-sê-ba và chuyện ông mưu sát chồng bà (IISa 11:2-12:25). Ở đây, trung tâm chú ý của tác giả là thắng lợi của Đa-vít chớ không phải tội lỗi.
(IISu 20:1-3) xem giải nghĩa ISu 19:1-19
(IISu 20:4-8)Chiến dịch chống dân Phi-li-tin Sau khi viết về ‘dân Y-sơ-ra-ên giữa các dân tộc’, trong phân đoạn này tác giả vòng lại vấn đề đầu tiên là vụ chiến thắng quân Phi-li-tin một lần nữa (4, so sánh 18:1). Cho đến lúc này, tác giả vẫn cẩn thận không viết rằng Đa-vít được ‘yên nghỉ’ (17:10 IISa 7:11). Vì chỉ Sa-lô-môn mới có đặc quyền ấy. Về em của Gô-li-át (5), xin xem IISa 21:19.
5. Nhà Đức Chúa Trời (ISu 21:1-22:19)
Hầu như tác giả dùng toàn bộ tư liệu trong IISa-mu-ên để viết chương 21, còn chương 22 là của riêng ông. Trong IISa 24:1-25, chỉ tường thuật có một phần về cuộc kiểm kê dân số và nạn dịch mà Đức Chúa Trời dùng để phạt Đa-vít vì đã cho tiến hành cuộc kiểm kê. Đối với tác giả sách Sử Ký thì chương 24 đó chưa đả động đến phần quan trọng. Chi tiết tối quan trọng là nơi nạn dịch ngưng không hoành hành nữa: là địa điểm dự trù xây dựng đền thờ. Cụm từ Đây là đền của Giê-hô-va Đức Chúa Trời (ISu 22:1) là điểm mấu chốt của phân đoạn này. Chương 21 dẫn đến câu này, còn chương 22 phát xuất từ câu này. Giờ đây kể như giai đoạn chuẩn bị cho việc xây dựng đền thờ đã xong-ý khởi xướng, Đức Chúa Trời chấp thuận, hòm giao ước đã được rước về, kho vật liệu đã bắt đầu hình thành và giờ đây đã có địa điểm - vì vậy chương 22 giới thiệu Sa-lô-môn là thợ xây tương lai. Cho đến khi thời trị vì đầy binh biến của Đa-vít nhường lại cho thời hoà bình của Sa-lô-môn, lúc bấy giờ công trình xây dựng mới bắt đầu. Tác giả dành phần còn lại của ISử Ký để viết chi tiết về guồng máy hành chính (23:1-29:30).
(ISu 21:1-17). Cuộc điều tra dân số và nạn dịch Đây là lần duy nhất tác giả sách Sử Ký viết về tội của Đa-vít. Từ đầu ông chủ trương trình bày Đa-vít là một vị vua lý tưởng. Nay ông làm một việc ngoại lệ này là vì dù việc làm của Đa-vít không đẹp lòng Đức Chúa Trời (7) nhưng lại dẫn đến việc xác định địa điểm xây đền thờ. Vì cớ tội lỗi nào đó trước đây của dân sự mà Đa-vít bị thôi thúc thực hiện một việc dẫn đến hình phạt (IISa 24:1). Có lẽ tác giả nghĩ đến một nguyên tắc tương tự như trong Gia 1:13, nên tác giả đột ngột đề cập đến nhân vật Sa-tan ở đây (1). Theo Giop 2:3 thì Sa-tan chính là tác nhân gây ra phiền muộn, mặc dù chỉ trong giới hạn Đức Chúa Trời cho phép.
Chúng ta không rõ vì sao điều tra dân số là sai lầm. Luật pháp cho phép việc đó kèm với vài điều khoản (Xu 30:11-16). Nhờ kiểm kê dân số mà Dân Số Ký mới có tên Dân Số, và các chương đầu của ISử Ký cũng có những bản danh sách tương tự. Có lẽ đây là một cuộc kiểm kê quân số (5), Đa-vít làm với những động cơ không trong sáng. Sách Sử Ký thường nhấn mạnh rằng dân Y-sơ-ra-ên được an ổn thật sự là nhờ tin cậy Đức Chúa Trời, chớ không phải trông cậy vào sức mạnh quân sự (cụ thể như IISu 14:11 16:8). Đến đây tác giả mô tả Giô-áp, chớ không phải là Đa-vít, là một nhân vật tốt, mặc dù trước đây Giô-áp không phải là một nhân vật khả ái (IVua 2:5-6). Giô-áp miễn cưỡng thực hiện cuộc kiểm kê, nhưng ông không kiểm kê người Lê-vi và Bên-gia-min, có lẽ vì Dan 1:47-50 (có thể hai chi phái này được xem là người canh giữ lều tạm trong lãnh thổ Bên-gia-min ISu 16:39). Số liệu ở đây khác với số liệu trong IISa 24:9, xin xem phần dẫn nhập.
Vị thiên sứ tay cầm gươm hiện ra ở đây cũng là vị thiên sứ hiện ra với Ba-la-am (Dan 22:31) và Giô-suê (Gios 5:13-15), và nơi thiên sứ hiện ra được gọi là nơi thánh. Ở đây vị thiên sứ là tác nhân gây ra nạn dịch (11). Có lẽ trong lúc Đa-vít và các trưởng lão ra khỏi Giê-ru-sa-lem đi về phía bắc, có lẽ ông đi đến Ga-ba-ôn để dâng của-lễ sám hối (29-30) thì thấy vị thiên sứ này (c.17 trong bảng NEB) có phần thấm thía hơn. 'Và tôi là người chăn' (thay vì và phạm điều ác).
(ISu 21:18-21). Nơi nạn dịch dừng lại A-rau-na (tác giả sách Sử Ký gọi ông là ‘Ọt-nan’) là một người gốc Ca-na-an sinh sống tại Giê-ru-sa-lem (ISu 11:4-5) nhưng rõ ràng ông đã nhận biết thiên sứ của Đức Giê-hô-va và vị vua xức dầu của Ngài (21:20-21). Đa-vít nhận thấy rằng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời càng tăng thêm qua những vụ việc này, chớ không giảm nên ông vui lòng nài nỉ mua lại sân đạp lúa của người ngoại bang này để lập bàn thờ và xây đền thờ.
Giá cả ghi ở đây (21:25) có thể là giá cả của toàn thể lô đất dùng để xây đền thờ, so với giá trong IISa 24:24 thì giá trong IISa-mu-ên nhỏ hơn nhiều, có lẽ đây chỉ là giá của miếng đất lập bàn thờ. Đức Giê-hô-va cho lửa từ trời xuống để xác định rằng hành động của ông như vậy là đúng (ISu 21:26) cũng như thiên sứ đã xác định sự kêu gọi của Ghê-đê-ôn (Cac 6:20-24). Một chi tiết tương tự có ý nghĩa hơn nữa đó là sau khi dựng đền tạm lần đầu tiên (Le 9:24) và cuối cùng khi dâng hiến đền thờ, thì có lửa giáng xuống bàn thờ trong cả hai lần này (IISu 7:1). Trong sự ‘trả lời’ của Đức Giê-hô-va (ISu 21:26,28), cho biết Ngài có kế hoạch ban phước cho dân Ngài. Đây vừa là nhà, tức là nơi đặt hòm giao ước, tượng trưng cho ân điển của Đức Chúa Trời, vừa là bàn thờ, tượng trưng cho hành động đáp ứng của con người (22:1). Cũng như trong trường hợp của Gióp, chủ tâm độc ác của Sa-tan đã đem lại phước hạnh lớn lao (Giop 42:12).
(ISu 22:2-5). Vật liệu xây đền thờ Phân đoạn này, đúng ra là phần còn lại của sách Sử Ký, không có phần tương ứng trong sách Sa-mu-ên và sách Các Vua. Vì Sa-lô-môn xuất hiện ở đây, còn Đa-vít vẫn còn cho đến cuối sách. Tám chương kế tiếp ràng thời trị vì của hai đời vua với nhau làm nền móng kép cho 400 năm sắp tới của chế độ quân chủ. Đồng thời các chương này viết về đền thờ, nhấn mạnh thêm về chủ đề kép của tác giả là chức tế lễ và vương quyền. Đa-vít đặc biệt sắm nhiều vật liệu nhiều để xây đền thờ, trong đó có nhiều vật liệu do các nước ngoài Y-sơ-ra-ên cung cấp (ISu 21:20-21), nhờ đó danh tiếng Đức Giê-hô-va đồn đại khắp nơi. Mọi khía cạnh này đều nhấn mạnh vào tầm quan trọng của công trình xây dựng đền thờ.
(ISu 22:6-19). Hướng dẫn công trình xây dựng nhà của Đức Chúa Trời Đa-vít bàn bạc nhiều với Sa-lô-môn về công tác xây dựng đền thờ, còn ông nói ngắn gọn với các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên (17). Chương 28 là bài nói chuyện của Đa-vít với dân chúng về cùng một vấn đề, phần cuối ông nói với Sa-lô-môn, tương tự như khi Môi-se giao quyền bính lại cho Giô-suê trước đây. Trong hai đoạn có nhiều điểm giống nhau, mệnh lệnh ‘khá vững lòng bền chí’ được lặp lại nguyên bản (13 Gios 1:9). Môi-se đã dẫn dắt dân sự của Đức Chúa Trời qua giai đoạn đầy xáo trộn và đổi thay để trở thành một dân tộc còn Giô-suê dẫn họ vào xứ yên nghỉ (1:12-15). Cũng thế, Đa-vít là người của thời chiến (8 ISu 28:3 bản RV), nhưng ông không bị khiển trách về những cuộc chiến đó, còn Sa-lô-môn là người của thời bình (9), nhưng đây chỉ là một sự xác nhận theo sự kiện. Thực ra cụm từ người của thời bình trong bản NIV có thể gây hiểu lầm. Nên đọc theo bản RV là ‘người yên nghỉ’, tức là yên nghỉ khỏi mọi kẻ thù, dù sau khi ông lên ngôi, Đức Chúa Trời cũng ban ‘hoà bình’ cho Y-sơ-ra-ên (Ĩ~lôm, giống như tên của Sa-lô-môn) và ‘yên tịnh’ (một từ được dùng trong Gios 11:23 14:15 Phu 12:10, từ này cũng có nghĩa tương tự như vậy). Đúng là các cuộc chiến tranh đẫm máu của Đa-vít khiến cho ông không được tham gia trực tiếp vào công trình xây dựng đền thờ, vì ông không đạt đủ tiêu chuẩn trong phương diện nghi thức tôn giáo (8b), nhưng điều quan trọng là công tác của ông chuẩn bị cho cuộc xây dựng đền thơ (14), không những ông chỉ cung ứng vật liệu xây dựng, mà ông còn xây dựng được một thời bình nhờ vào những thắng lợi trên chiến trường, còn phần công tác của Sa-lô-môn là xây dựng đền thơ (19). Bài nói chuyện của Đa-vít với các nhà lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên trong câu 17-19 tóm gọn sự hỗ tương giữa hai triều vua.
6. Cấu trúc đền thờ và vương quốc (ISu 23:1-27:34)
Dù đọc những chương này qua loa hoặc kỹ lưỡng thì độc giả cũng bối rối vì thấy toàn bộ danh sách có vẻ vô nghĩa như danh sách trong các chương 1-9 ngoài ra, khi xem kỹ còn thấy nhiều điểm lủng củng nữa. Thực ra, đây là bảng liệt kê danh sách các gia tộc trong chi phái Lê-vi, cộng thêm một số các thông tin khác về sự phục vụ của người Lê-vi tại đền thờ. Đa số những chi tiết trong phân đoạn này không liên hệ nhiều đến thời trị vì của Đa-vít, thậm chí có vài điểm liên quan đến thời đại của tác giả nữa. Nhưng người ta cứ gộp chung tất cả vào thời trị vì của Đa-vít như trường hợp qui tất cả luật pháp trong Cựu Ước cho Môi-se, còn sự khôn ngoan trong thời Cựu Ước thì qui cho Sa-lô-môn. Trong khi Đa-vít là người chuẩn bị vật liệu xây dựng đền thờ, thì cũng thế Y-sơ-ra-ên là một dân tộc được sửa soạn để phụng sự Đức Chúa Trời.
(ISu 23:1-6). Triệu tập các nhà lãnh đạo Nên coi câu 1 là tựa đề chung cho các đoạn còn lại của sách ISử Ký (chớ không nên coi đây là nghi lễ thứ nhất trong hai nghi lễ mà ISu 29:22 ngụ ý). Câu này mở ngoặc và 29:28 đóng ngoặc cho bảy chương còn lại này và bảy chương này đưa triều đại Đa-vít đến đỉnh cao huy hoàng nhất. Cựu Ước luôn luôn dùng cụm từ đã già, cao tuổi khi viết về những vĩ nhân đáng được tôn trọng, thí dụ như Áp-ra-ham và Gióp. Tác giả không viết về tội lỗi và các vấn đề rắc rối của Đa-vít, bởi vì tội lỗi và các rắc rối này làm méo mó bức tranh đẹp đẽ mô tả Đa-vít là vị vua. Chúng ta có cảm tưởng là có hai buổi hội đồng cũng như hai buổi lễ ‘đăng quang’, cũng có thể đúng từ ngữ nhóm (2) không trang trọng bằng từ ‘hội hiệp’ trong chương sau (28:1).
Trong phần sau của đoạn này, tác giả viết về chuyện trong chi phái Lê-vi các thầy tế lễ và những người Lê-vi (khác) (2). Còn chương này và bốn chương kế tiếp được viết trên căn bản người Lê-vi được chia thành bốn nhóm (4-5). Mức tuổi thấp nhất của người Lê-vi ở đây là 30 tuổi (3) và ở chỗ khác là 20 tuổi (24,27). Sự bất nhất này là bằng chứng cho biết tác giả vận dụng tư liệu về Y-sơ-ra-ên thuộc nhiều thời kỳ, tương tự như tác giả đã làm trong các chương đầu của sách này.
(ISu 23:7-32). Nhân sự trong đền thờ Bảng liệt kê các gia tộc người Lê-vi (23:7-23 24:20-31) đóng khung hai phân đoạn quan trọng, viết về nhiệm vụ của người Lê-vi (23:24-32) và việc phân bố nhiệm vụ cho các thầy tế lễ (24:1-19).
Ba con trai Lê-vi đứng đầu các bản danh sách thứ nhất (23:7-23), có thể coi 23:6 là tựa đề cho phân đoạn này. Có thể người Ghẹt-sôn trong 23:7 thuộc các thế hệ về sau so với người Ghẹt-sôn trong 6:17, cho nên việc xác định niên đại của các nhân vật trong 23:9 có thể khác nữa. Sách Sử-ký phân biệt nhiệm vụ của các thầy tế lễ khác với nhiệm vụ của những người khác trong chi phái Lê-vi (23:13).
Tác giả viết về công tác của người Lê-vi trong 23:24-32. Dĩ nhiên công tác của họ có thay đổi trong vài phương diện, một khi đền thờ cố định thay thế cho đền tạm (23:25-26), và dường như tất cả người Lê-vi đều làm những công việc này (nghĩa là hết thảy các nhóm đề cập trong 23:4-5). Về số liệu hai mươi (23:24,27) xin xem 23:3.
(ISu 24:1-31) Trong chi phái Lê-vi còn thành phần thầy tế lễ nữa (24:1-19). Tác giả nhắc lại cái chết của hai con trai lớn của A-rôn (24:2) dù ông không kể nguyên nhân dẫn đến cái chết (Le 10:1-2). Cụm từ khác lạ các viên chức của Đức Chúa Trời (ISu 24:5) có thể là một lối nói khác về những người làm việc trong đền thờ, hoặc cả hai cụm từ này đều có ý nói rằng họ là những nhà lãnh đạo ‘thánh khiết’ và ‘lỗi lạc’. Đọc tới nữa, chúng ta thấy trong hai mươi bốn gia trưởng có một số người xuất hiện trong những lần sau, cụ thể là Giê-hô-gia-ríp (24:7) trong IMacc 2:1, Ha-cốt (24:10) trong Exo 2:61 và Ne 7:63, và A-bi-gia (ISu 24:10) trong Lu 1:5.
Danh sách cuối cùng về người Lê-vi trong ISu 24:20-31 tương tự như danh sách trong 23:12-23, nhưng thêm một thế hệ nữa. Một lần nữa chúng ta thấy bức tranh của tác giả về Y-sơ-ra-ên được ráp nối tư liệu của nhiều thời đại.
(ISu 25:1-31) Các nhạc sĩ Sau bản danh sách về các nhân sự làm việc tại đền thờ đến thành phần thứ hai của người Lê-vi, là các nhạc sĩ. Thành phần này được phân ban thứ theo hai cách, cách thứ nhất là theo ba gia tộc là A-sáp, Giê-đu-thun và Hê-man (1-6). Cách thứ hai là theo hai mươi bốn ‘ban’, đứng đầu ban là các con trai của họ (7-31). Ở đây Hê-man được gọi là đấng tiên kiến của vua (5), trong các đoạn khác A-sáp và Giê-đu-thun cũng được gọi tương tự như vậy (IISu 29:30 35:15). Rõ ràng giữa việc nói tiên tri và sử dụng âm nhạc có tương quan với nhau, mặc dù từ liệu cai quản cũng như từ liệu ‘nói tiên tri’ được đề cập ba lần trong câu 1-3 cho biết rằng trong thời Kinh Thánh (so sánh với ICo 14:26-33) có sự linh cảm trên những lời nói, trên những bài hát, dù rằng không nhất thiết đương sự phải xuất thần hoặc mê mẩn đi.
Tác giả nêu tên năm người con trai đầu của Hê-man (4), rồi kế đó ông liệt kê chín người con khác có tên khác thường. Trong tiếng Hi-bá-lai, các tên riêng này có âm điệu như những câu thơ trong Thi Thiên: Ha-na-nia, Ha-na-ni = ‘Xin hãy tỏ lòng nhân từ đối với tôi, Đức Chúa Trời ơi, xin Ngài tỏ lòng nhân từ đối với tôi’. Có lẽ Hê-man đặt tên con ông theo các Thi Thiên ông ưa thích!
Số ban hát là hai mươi bốn ban như ban tế lễ trong ISu 24:7-18. Theo ý củacâu 8 (so sánh 24:31 26:13) thì nét đặc thù của tác giả là trong mỗi trường hợp ông đều đưa ra bản danh sách đầy đủ, và ông tin rằng theo kế hoạch của Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ liên kết dân của Ngài lại với nhau.
(ISu 26:1-19). Những người canh cửa Phần chính của các bản danh sách này là các câu 1-3, 9-11 và 19. Trong ba chi họ lớn của người Lê-vi (6:1) chỉ có họ Kê-hát (1, theo 6:22 Cô-rê là họ Kê-hát) và họ Mê-ra-ri (10) là có mặt ở đây. Trừ Ê-bi-a-sáp trong 9:19 ra thì A-sáp trong câu 1 là người Ghẹt-sôn (6:39-43) không phải là nhân vật nổi danh trong 25:1. Bất cứ chỗ nào trong danh sách những người giữ cửa thuộc họ Ghẹt-sôn, chúng ta đều thấy có gia đình Ô-bết-Ê-đôm (4-8). Nhân vật xuất sắc này không phải là dòng dõi Lê-vi, nhưng nếu tất cả các tư liệu đều chỉ về một người, thì ông chính là người Lê-vi trong 15:18, vì thế ông có tên trong danh sách này và xứng đáng nhận được phước hạnh của câu 5 và 13:14 (15:17-25).
Mặc dù dòng dõi Ô-bết-Ê-đôm giữ nhiệm vụ canh cổng trong thời Đa-vít, từ lâu trước khi đền thờ được xây cất (15:17-18) nhưng ở đây cũng có tên ông (15) sau khi xây dựng xong đền thờ, như vậy ít nhất là ông sống cho đến đời Sa-lô-môn còn 9:17-32 (phân đoạn này cho chúng ta biết về một số công việc trong thực tế của người giữ cửa) liệt kê cùng một số tên sau khi đền thờ được tái thiết lại sau đó bốn thế kỷ. Đây là cách tác giả tổng hợp dữ liệu trong nhiều thời đại khác nhau để cho chúng ta một cái nhìn toàn diện vào nếp sinh hoạt và sự thờ phượng của dân sự Đức Chúa Trời. Việc đề cập đến tên một người gác cửa nổi danh là mưu sĩ khôn ngoan (14) và kho lương thực (?) nơi làm việc của những người khác (chúng ta chưa hiểu rõ nghĩa của từ liệu ‘bạt-ba’ trong câu 18 bản RSV) gợi ý về mức độ chính xác và thực tế của các dữ kiện, dầu tác giả tổng hợp lại một cách tài tình.
(ISu 26:20-32). Các quan trưởng Tác giả li ệt kê bốn chi họ Lê-vi theo thứ tự lớn bé. Còn bảng danh sách chi tiết theo một trật tự khác, tức là từ trong toả ra ngoài - ban nhân sự trong đền thờ, đoàn nhạc sĩ, toán gác cửa và giờ đây các viên chức khác, có người công tác ở xa đền thơ (26:29), đúng vậy, họ công tác ở mọi miền trong đất nước, trong lãnh vực thế tục lẫn lãnh vực tôn giáo (26:30,32). Bảng danh sách trong chương 27 liệt kê luôn cả những người ngoài chi phái Lê-vi.
Phân đoạn 26:20-32 viết về các viên chức có nhiệm vụ trông coi kho tàng hoặc nhà kho (20, cùng một từ với 27:25). Có người (26:21-22) lãnh nhiệm vụ quản lý ‘các đồ vật trong nơi thánh’ như trong 9:28-32 còn những người khác (26:24-28) quản lý các vật quý giá, cụ thể là các chiến lợi phẩm. Một số người khác lãnh việc xét xử (26:29) hoặc quản lý tài chánh (nếu 26:30,32 ngụ ý về thuế má trong tôn giáo hoặc ngoài đời). Một lần nữa, tác giả tổng hợp dữ kiện từ nhiều thời kỳ để cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về đất nước: biên cương mở rộng như mô tả trong 26:30-32 thuộc về thời kỳ đầu. Còn người Lê-vi tham gia vào việc cai trị thuộc thời kỳ sau này (IISu 19:8-11). Chỉ có thể hiểu lịch sử Y-sơ-ra-ên sau khi xem xét toàn bộ, nên chúng ta chỉ có thể hiểu được đặc điểm của lịch sử ấy khi tổng hợp tất cả các nhân vật quan trọng lại, kể cả Sau-lơ (ISu 26:28).
Phân đoạn 26:29-32 chuyển từ lãnh vực tôn giáo sang lãnh vực thế tục đem chúng ta đến lãnh vực quân đội, một vấn đề hoàn toàn bên ngoài chi phái Lê-vi (27:1-15). Ở đây cũng vậy, tác giả mô tả về Y-sơ-ra-ên rất đầy đủ. Tướng tá là mẫu người chỉ huy ưu tú nhất mà lịch sử có thể dẫn chứng, tức là mười hai người mạnh dạn của Đa-vít trong 11:10-31, và có lẽ quân số lý tưởng của họ gồm mười hai sư đoàn, mỗi sư đoàn có hai mươi bốn ‘ngàn’ quân, sự kiện này nhắc chúng ta nhớ lại hai mươi bốn ban tế lễ và nhất là hai mươi bốn ban cùng với mười hai nhạc sĩ trong mỗi chi họ (24:7-18 25:6-31). Vì thế, dù A-sa-ên qua đời trước khi Đa-vít làm vua trên toàn thể Y-sơ-ra-ên, nhưng tên ông đứng đầu một sư đoàn (27:7 IISa 2:18-23), nhưng quân đội lại tổ chức theo đường lối của Sa-lô-môn nhiều hơn.
(ISu 27:1-34) Phân đoạn ISu 27:16-24 liệt kê các quan trưởng, có lẽ những người này liên quan đến cuộc kiểm kê dân số ở 27:23-24. Mười hai chi phái được nhắc đến, nếu kể Ma-na-se là một chi phái, dù vậy bản danh sách này rất lủng củng, chẳng hiểu vì sao tác giả bỏ Gát và A-se mà thêm A-rôn vào. Có thể đây là cuộc kiểm kê dân số trong 21:1-8. Bảng tường thuật đó không mâu thuẫn với bảng tường thuật này như một số người nghĩ.
Phân đoạn 27:25-31 liệt kê danh sách mười hai người khác, lần này là các quản gia của hoàng gia, đứng đầu guồng máy cai trị dân sự. Một lần nữa tác giả vui lòng nêu danh những người ngoài Y-sơ-ra-ên đã tham gia vào công việc phục sự Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (Ô-binh, Gia-xít, 27:30-31).
Cuối cùng là ban tham mưu của Đa-vít (27:32-34) có vài nhân vật cho chúng ta biết rõ, thí dụ như ‘cậu’ của Đa-vít là Giô-na-than, và nhiều nhân vật quen thuộc chúng ta đã gặp trong những chỗ khác trong Kinh Thánh (18:14-17 IISa 15:1-17:29). Căn cứ vào danh tánh và sự sắp xếp khéo léo trong bản danh sách này, chúng ta biết rằng tác giả cống hiến cho chúng ta một bức tranh lý tưởng về dân Đức Chúa Trời. Nhất là chương 23-27 trình bày Đa-vít là con người khuôn mẫu trong việc tổ chức đền thờ Giê-ru-sa-lem và vương quốc Y-sơ-ra-ên, đúng theo tiêu chuẩn tổ chức của một vị vua được Đức Chúa Trời chọn để còn truyền lại cho các thế hệ nối tiếp.
7. Kế vị ngai vàng (ISu 28:1-29:30)
Hai chương cuối cùng này nhìn lại ISu 23:1 (‘Đa-vít lập con trai mình là Sa-lô-môn lên làm vua’) là câu làm tựa đề cho toàn thể phân đoạn dài (23:1 29:30) kết thúc sách thứ nhất. Theo 23:2 có một cuộc triệu tập các cấp lãnh đạo Y-sơ-ra-ên. Theo 28:1 có cuộc triệu tập thứ hai trang trọng và đông đúc hơn với mục đích làm lễ đăng quang cho Sa-lô-môn (29:22-24). Hai chương này cũng nhìn lại chương 22, vì những lời Đa-vít nói với Sa-lô-môn một cách riêng tư trong đoạn 22 được lặp lại và triển khai trước công chúng một cách long trọng ở đây. Điều quan tâm đặc biệt ở đây là Đa-vít, vị vua lý tưởng của Y-sơ-ra-ên trong nhiều lãnh vực, sắp sửa nghỉ hưu và dân sự của Đức Chúa Trời trong các thế hệ nối tiếp cần biết cách bảo tồn và duy trì lý tưởng Đa-vít dù ông không còn nữa. Do đó những lời ông răn dạy Sa-lô-môn và Y-sơ-ra-ên có tầm ảnh hưởng lâu dài.
(ISu 28:1-10). Chỉ thị của Đức Chúa Trời Bài diễn văn long trọng nổi bật những lời chỉ dẫn nhưng nội dung vẫn tương tự như nội dung những cuộc trò chuyện trong vòng thân mật trong chương 22. Bài diễn văn này cũng nhắc lại lời của Môi-se khi ông trao nhiệm vụ cho Giô-suê ‘trước mặt cả Y-sơ-ra-ên’, ‘hãy vững lòng bền chí’ (Phu 31:7 so sánh với câu 8,10,20 ở đây).
So với mối quan tâm của tác giả sách Sử Ký về nơi đặt hòm (2) thì kế hoạch nhân từ của Đức Chúa Trời đối với dân của Ngài thậm chí còn quan trọng hơn nữa (hòm giao ước bày tỏ lòng nhân từ này). Theo kế hoạch đó thì Đa-vít là người của thời chiến còn Sa-lô-môn là người của thời bình (3, ISu 22:9). Từ trong Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đã chọn hai cha con ông để ngự trên ngai vàng và xây dựng đền thờ của Ngài (4-6). Theo một ý nghĩa thì lời hứa về một vương quốc đời đời vô điều kiện (17:12-14), nhưng về mặt khác thì lời hứa này còn tuỳ thuộc vào tấm lòng vâng phục của con người (7). ‘Di sản’ mà Đa-vít để lại cho con cháu mình là nguyên tắc đề ra trong câu 9 - ‘Nếu con tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ cho con gặp. Nhưng nếu con lìa bỏ Ngài, Ngài sẽ từ bỏ con’. Đây là một lời xác định cụ thể về ‘giáo lý thưởng phạt nhãn tiền’ của tác giả sách Sử Ký, và giáo lý này thường được nhắc lại trong IISử Ký.
(ISu 28:11-21). Phương án xây dựng đền thờ Mọi điều Đa-vít nói trong câu 1-10 đều mạnh mẽ xác nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng chủ xướng và chủ động. Còn bây giờ Sa-lô-môn thực hiện công tác. Những điều này có liên hệ với những điều Đức Chúa Trời bảo Môi-se phải làm khi dựng đền tạm đầu tiên - từ liệu dự án (11) tương tự như từ liệu ‘kiểu mẫu’ trong Xu 25:9,40 - và những điều này bao quát hơn cả con người lẫn đồ vật có liên quan đến công tác phục vụ trong nhà Đức Chúa Trời (13). Như vậy, phương án Đức Chúa Trời đã giao cho Môi-se thì nay Ngài giao lại cho Đa-vít (19) và cũng giao lại cho Sa-lô-môn nữa (20-21). Đức Chúa Trời muốn Sa-lô-môn tích cực hợp tác, còn Sa-lô-môn không thấy phương án của Đức Chúa Trời là tẻ nhạt hoặc gò bó. Câu 20 đi sát với những lời khích lệ ở Phu 31:6-8 Gios 1:5-7 hơn là câu 8 và 10, và được nhắc lại trong He 13:5-6.
(ISu 29:1-9). Kêu gọi hứa nguyện Đa-vít dạy dân sự về tấm lòng vâng phục Đức Chúa Trời là cần thiết (28:8), bây giờ ông kêu gọi họ rộng rãi và hết lòng đóng góp. Ông hành động trước nêu gương cho họ thấy (2-5a), còn họ đáp ứng lại lời kêu gọi đó (5b-9). Số của cải liệt kê ở đây rất là lớn (xem phần dẫn nhập). Sự đóng góp rộng rãi vào lúc này, cũng tương tự như vào lúc dựng đền tạm (Xu 35:20-36:7) và lúc các tiên tri kêu gọi người ta xây dựng đền thờ thứ hai, không lâu trước thời tác giả (Ag 1:3-4 Ma 3:8-10). Sự đóng góp này cũng tương tự như sự đóng góp lúc hình thành dạng ‘đền thờ’ mới trong thời Tân Ước (ICo 3:16 IICo 8:1-9:15 Cong 11:27-30). Độc giả thời của tác giả hẳn đã cảm thấy gần gũi với những sự kiện trong sách vì tác giả dùng từ đa-riếc (7), đa-riếc là một đồng tiền phổ biến trong thời của họ chớ không có trong thời Đa-vít. Tác giả không đến nỗi lạnh lùng thờ ơ như một số người tưởng, ở đây cũng như ở chỗ khác ông viết về niềm vui mừng, lòng rộng rãi và ủng hộ hết lòng của dân chúng khi họ hưởng ứng lời kêu gọi của Đa-vít (9).
(ISu 29:10-20). Đại lễ tạ ơn Có lẽ những người sống trong thời đại của tác giả không có hi vọng được dự một lễ trọng đại như thế này, vì thế ông nhằm đưa ra một nguyên tắc căn bản, đó là: Đức Chúa Trời thực hữu trong mọi thời đại (10,18) và mọi vật đều thuộc về Ngài (11,14). Như vậy điều hiển nhiên là khi đếm các ơn phước (16) thì thế hệ nào cũng nhìn nhận rằng mọi của cải dư dật này cũng đến từ Đức Chúa Trời. Một lần nữa, lẽ thật này khơi nguồn cho lòng rộng rãi và niềm vui mừng (17,19).
Kể từ đó, vài phần trong lời cầu nguyện đáng ghi nhớ này đã trở thành lời cầu nguyện riêng của dân sự Đức Chúa Trời. Nghịch lý thay, ngay cả các lời lẽ trang trọng trong câu 15 cũng khơi dậy niềm tin tưởng rằng: thời đại hoàng kim của Đa-vít không trường tồn hơn bất cứ thời đại nào khác. Cho nên thời đại đó cũng như bao thời đại khác chỉ có thể đặt niềm hi vọng vào Đức Chúa Trời không hề thất bại của vua Đa-vít.
(ISu 29:21-30). Sa-lô-môn lên làm vua Ngày hôm sau, là ngày vừa dâng lễ vật, vừa ăn tiệc (ai dâng hiến cho Đức Chúa Trời thì cũng nhận được từ nơi Ngài) cũng là ngày Sa-lô-môn chính thức đăng quang. Đây là lần đăng quang thứ hai (22) tác giả cho là độc giả biết lần đăng quang trước được tổ chức cấp tốc để ngăn chận mưu đồ cướp ngôi của một người anh trai (IVua 1:1-53). Vì tác giả cho rằng độc giả am tường phần lịch sử trước đây, nên ông chủ tâm phác hoạ một bức tranh khác về hai nhân vật quan trọng: tác giả bỏ qua câu chuyện dẹp loạn của Sa-lô-môn trước khi hết thảy Y-sơ-ra-ên thần phục ông (23), ông cũng bỏ qua những vấn đề rắc rối Đa-vít gặp phải trước khi ông băng hà lúc tuổi cao (28), bởi vì trong sách Sử Ký thì hai nhân vật này tượng trưng cho vương quyền lý tưởng. Sự lộng lẫy của Sa-lô-môn được coi như ngang hàng với sự vĩ đại của cha ông, và bao trùm cả hai nhân vật này là vương quyền đời đời của Đức Chúa Trời (ISu 28:5 29:11), ngai vàng và vương quốc là hai điều không thể lay chuyển được, vì đó là ngôi và nước của Đức Chúa Trời (23).