RU-TƠ

MỤC LỤC

Ru-tơ

Giới thiệu

Nhận định giá trị của sách ngắn ngủi này không mấy khó. Xét về mặt hình thức câu chuyện mà thôi cũng đủ cho sách có giá trị ngoại hạng rồi vì cấu trúc cân đối, nhân vật sống động sâu sắc, nhưng trên hết sách còn chứa đựng một sứ điệp. Khi cuộc đời của Na-ô-mi trở nên trống vắng vô nghĩa, thì Ru-tơ quyết định ở bên cạnh mẹ chồng, chứ không bỏ rơi người mẹ già nua, goá bụa một mình đối diện với cuộc hành trình vào tương lai. Chuyện bi thảm tại Mô-áp dẫn đến đoạn kết hạnh phúc tại Bết-lê-hem, và sự hy sinh trung nghĩa được đền đáp. Đức Chúa Trời tể trị mọi diễn biến để những người tin cậy Ngài được hưởng tình yêu thương và cuộc đời an ổn. Đồng thời Ngài cũng đan dệt cuộc đời của họ vào mục đích của Ngài dành cho thế giới này. Đức Chúa Trời vẫn ẩn mình, tuy nhiên Ngài vẫn hành động qua những sinh hoạt đời thường để làm trọn lời Ngài hứa với dân sự của Ngài.

Nhiều người thử xếp sách Ru-tơ vào văn chương Châu Au hiện đại. Do đó nhiều người coi sách này là một quyển tiểu thuyết, hoặc là một câu chuyện tình thơ mộng nơi thôn dã, hoặc một tiểu thuyết có tính cách lịch sử, tất cả đều ngụ ý sách nặng phần tưởng tượng. Còn các học giả khác thử xếp sách vào loại văn chương trong vùng Cận Đông. Họ cho rằng sách này bắt nguồn từ niềm tin hoang đường trong tín ngưỡng, nhưng họ không đưa ra được bằng chứng vững chắc nào cả. Tự cuốn sách này hàm ý rằng đây là cuốn sách lịch sử ghi chép các biến cố xác thực khi mở đầu bằng câu: “Trong đời các quan xét” và kết luận bằng bản gia phả cho đến đời vua Đa-vít. Thật vậy, sách này đề cập đến một gia đình dân giả bình thường, chứ không đề cập các chiến công hiển hách. Chắc chắn mối liên hệ giữa Ru-tơ, một phụ nữ Mô-áp và vua Đa-vít không phải là chuyện bịa đặt, vì sách này không đề cao địa vị của vua trong Y-sơ-ra-ên. Mặc dù tác giả cố gắng tô điểm cho sách của mình thành một tác phẩm nghệ thuật, nhưng rõ ràng ông muốn mọi người coi đây là cuốn sách lịch sử. Đây là một chuyện thật, khéo kể theo dạng những chuyện trong thời các tổ phụ, có cùng một số tình tiết, thí dụ như nạn đói, cảnh tha hương rồi hồi hương, và cảnh đơn chiếc không có con cái. Qua các biến cố này Đức Chúa Trời tự bày tỏ Ngài cho chúng ta.

Tác giả và niên đại

Trong sách không có một chi tiết nào giúp xác định tác giả của sách này. Kinh Ta-mút (khoảng 200 năm S.C.) cho tác giả sách này là Sa-mu-ên, nhưng Sa-mu-ên qua đời trước khi Đa-vít lên làm vua (ISa 28:3), mà sách ngụ ý rằng Đa-vít làm vua là chuyện ai ai cũng biết cả. Tác giả viết về thời kỳ các quan xét như là một kỷ nguyên đã qua, và thấy cần phải giải thích nghi thức cởi giày trong 4:7 chứng tỏ rằng một thời gian dài đã trôi qua trước khi những chuyện này được ghi chép lại. Có thể một văn sĩ trong triều Sa-lô-môn được phép đọc văn khố hoàng gia đúng lúc văn chương và nghệ thuật đang thời hoàng kim nên viên ngọc nghệ thuật này thành hình. Nhiều học giả hiện nay đã nhận thấy sách có tầm nhìn của phái nữ nên cho rằng tác giả của sách này là một phụ nữ. Trong một xã hội do đàn ông ngự trị, mà sách lại viết về hai người phụ nữ giữ vai trò chủ động, và đức tin của họ được tưởng thưởng đích đáng thì thật có ý nghĩa đặc biệt. Theo sự quan phòng phù trợ của Đức Chúa Trời, đời sống của họ còn góp phần vào việc chuẩn bị cho sự ra đời của Cứu Chúa (Mat 1:5; Lu 3:32). Dù tác giả là ai đi nữa, người cầm bút viết sách này đã nắm bắt được mục đích mà Đức Chúa Trời đã khải thị là “mọi dân tộc trên thế giới sẽ được phước” (Sa 12:3). Ngoài ra, tác giả cũng sống đủ lâu năm để nhận biết sự vận hành của Đức Chúa Trời trong đời sống con người. Hiếm người có thể viết về cái thiện một cách hấp dẫn đến thế.

Cũng khó lòng xác định niên đại của sách này. Có thể sách được viết vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian kéo từ sự trị vì của vua Đa-vít (khoảng 100 TC.) tới ngày sách được liệt vào hàng kinh điển trong thế kỷ thứ II TC. Khả dĩ nhất là thời kỳ hậu lưu đày, đặc biệt là thế kỷ thứ V hoặc thế kỷ thứ IV TC., có thể đó là lúc sách được viết ra để phản kháng lại phong trào chủng tộc hạn hẹp của E-xơ-ra và Nê-hê-mi. Có một số từ trong tiếng A-ram được dùng xen lẫn trong bản văn tiếng Hi-bá-lai khiến cho có người chủ trương rằng sách được thành hình vào thời muộn màng hơn. Nhưng nhiều cuộc nghiên cứu mới đây đã làm lung lay lập luận này. Không có chi tiết nào trong sách chứng tỏ sách thuộc loại “văn chương đối kháng”. Còn khoa nghiên cứu ngôn ngữ cũng đã chứng minh rằng sách được viết theo tiếng Hi-bá-lai cổ thời tiền lưu đày (muộn nhất là vào thế kỷ thứ VII). Có thể sau khi viết lại các chuyện này, tác giả sống khá thọ nên có đủ thời gian chứng kiến chiều hướng tiến triển của các chuyện đó, có lẽ ông sống tới tận thời trị vì của Sa-lô-môn. Có người thử đưa ra kết luận rằng tiên tri Na-than là tác giả. Ông biên chép lịch sử cai trị của vua Đa-vít (ISu 29:29), can đảm phê bình hành vi của vua (IISa 12:1-12), rồi về sau ông cũng sẵn lòng ủng hộ Bát-sê-ba (IVua 1:11-53)

Vị trí trong kinh điển

Người Do Thái và các Cơ-đốc nhân đều quí trọng sách Ru-tơ với vị thế là một sách trong Kinh Thánh. Trong thế kỷ thứ II SC. khi Hội Thánh khởi sự lập kinh điển thì sách này cũng được công nhận là kinh điển. Sự kiện các sách Phúc Âm có trưng dẫn sách Ru-tơ (Mat 1:5; Lu 3:32) chứng tỏ rằng vào thời các sách Phúc Âm được viết ra thì giá trị và thẩm quyền của sách Ru-tơ đã được công nhận.

Trong các bản Kinh Thánh tiếng Anh, sách Ru-tơ đi tiếp theo sách Các Quan Xét như trong bản Bảy Mươi và bản Vulgate. Tuy nhiên các bản in của Kinh Thánh tiếng Hi-bá-lai loại chữ in, thì sách Ru-tơ nằm trong phần thứ ba Các Tác Phẩm. Trong phần này, sách Ru-tơ là cuộn thứ hai trong năm cuộn sách được sử dụng trong nghi thức thờ phượng tại nhà hội vào thế kỷ thứ VI SC. Sách Nhã Ca là cuộn sách thứ nhất vì được sử dụng vào dịp lễ Vượt Qua, sách Ru-tơ là cuộn thứ hai được sử dụng vào dịp lễ Ngũ Tuần. Trong bản Talmud ở Ba-by-lôn có trước thế kỷ thứ VI, sách Ru-tơ được xếp đứng đầu phần Các Tác Phẩm, kế đến là Thi Thiên. Các bản cổ khác xếp sách Ru-tơ là cuộn đứng đầu trong năm cuộn sách bởi vì theo thứ tự thời gian sách Ru-tơ được viết ra trước. Như vậy, rõ ràng thoạt đầu sách Ru-tơ được xếp trong phần Các Tác Phẩm, nhưng về sau được xếp xen giữa sách Các Quan Xét và Sa-mu-ên theo phương diện lịch sử.

Chủ đề

Nạn đói khiến cho một gia đình người Y-sơ-ra-ên phải di cư đến xứ Mô-áp xa lạ. Nạn đói là chuyện thường xảy ra trong đời các tổ phụ, khiến cho Gia-cốp và các con trai ông phải di dời đến Ê-díp-tô. Rồi họ được Đức Chúa Trời giải phóng khỏi cảnh nô lệ và áp bức. Kể từ đó hàng năm họ kỷ niệm biến cố này với lễ Vượt Qua (Xu 12:1-29). Trong sách Ru-tơ, cũng chính Đức Chúa Trời đã cứu giúp hai thiếu phụ nghèo nàn, bày tỏ quyền năng của Ngài để biến buồn rầu thành hạnh phúc và biến chết chóc thành sự sống.

Một trọng điểm khác nữa của sách là hôn nhân. Hôn nhân là vấn đề chính trong tâm trí của Na-ô-mi. Bà cho là bà quá già không tái giá được, nhưng đối với các con dâu, thì bà lại cho rằng đây là vấn đề ưu tiên nên bà thúc giục họ phải đeo đuổi (1:9). Một đứa cháu trai ra đời chắc sẽ đem lại cho bà niềm vui sống, và nếu nhờ ơn quan phòng phù trợ của Đức Chúa Trời, nếu đứa cháu của bà được công nhận là người kế tự hợp pháp của Ê-li-mê-léc thì niềm vui của bà chắc sẽ trọn vẹn. Ru-tơ, một góa phụ trẻ người Mô-áp đã cùng chia bùi sẻ ngọt với mẹ chồng, đã tiếp nhận tín ngưỡng của người Y-sơ-ra-ên, cũng nhận thấy rằng việc tái giá không những là chính đáng mà còn là bổn phận cấp bách của bà nữa. Muốn chu cấp đầy đủ cho bà Na-ô-mi, nàng Ru-tơ cần kết hôn với một người có thể tiếp nhận bà Na-ô-mi là một thành viên trong gia đình. Chính vì lý do này mà chuyện hôn nhân của nàng phải là chuyện hôn nhân vì tình yêu kèm thêm một điểm khác biệt, nhưng với sự lèo lái của bà Na-ô-mi, sự việc hóa ra còn hãn hữu hơn nữa. Nàng có thể chọn một người cùng trang lứa, nhưng làm như thế thì không giải quyết được vấn đề tài sản của gia đình bà Na-ô-mi, cũng không phục hồi lại quyền thừa kế cho Ê-li-mê-léc. Nhờ lấy một người trong gia tộc người chồng quá cố của mình mà Ru-tơ bảo đảm được cuộc sống của bà Na-ô-mi cũng như của chính mình. Tình yêu thương đến mức quên mình của nàng phản chiếu lại tình yêu thương của Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên mà nàng tin cậy.

Hai người đàn bà chi phối cả câu chuyện, nhưng Bô-ô, người bà con gần của Ê-li-mê-léc, cũng cần có tinh thần sẵn sàng gánh chịu trách nhiệm mới. Bà Na-ô-mi không chỉ mong Bô-ô cưới cô vợ goá của Mạc-lôn, một người bà con của ông đã qua đời tại Mô-áp, mà bà còn muốn ông chuộc lại sở đất mà rất có thể sau này không thuộc về ông. Một điều khoản trong luật pháp dành ưu quyền cho gia đình của goá phụ. Luật pháp bảo đảm rằng đứa con đầu tiên sinh ra do cuộc tái giá nối dõi cho Ê-li-mê-léc và được quyền thừa kế tài sản của ông. Do đó, khi Bô-ô đề nghị thì người bà con gần hơn ông đã từ chối với lý do là việc này phương hại đến sản nghiệp riêng của ông (4:6). Dù phải trả giá cao nhưng Bô-ô sẵn lòng gánh nhận trách nhiệm gia đình với sự đồng ý vô điều kiện của các trưởng lão và dân cư Bết-lê-hem, là những người cầu xin Đức Chúa Trời ban phước dồi dào cho địa vị của ông trong xã hội và khiến cho nàng Ru-tơ sanh con cái.

Đến cuối chuyện, những lời cầu xin này được đáp ứng quá sức tưởng tượng của mọi người trong cuộc. Sau khi Sau-lơ qua đời, dân Y-sơ-ra-ên cần một vị vua kế vị. Nhu cầu này đã được đáp ứng qua Đa-vít, cháu nội của Ô-bết, Ô-bết là con trai của Ru-tơ và Bô-ô. Dù Đa-vít phạm nhiều lỗi lầm, song ông đã thiết lập vương quốc, xây dựng Giê-ru-sa-lem và là khởi hứng cho những sự tiên kiến về một vị vua lý tưởng trong tương lai. Đức Chúa Trời lấy tình yêu thương và lòng vâng phục của Na-ô-mi, Ru-tơ và Bô-ô đan dệt vào mục đích đời đời của Ngài, ấy là bày tỏ “tình yêu thương đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Ta và giữ các điều răn Ta” (Phu 5:10). Quả thật, Đấng Mê-si đã ra đời trong chính gia tộc này (Mat 1:5-6, 16; Lu 3:23-31).

Một chủ đề khác nữa hàm ẩn trong câu chuyện ấy là Đức Chúa Trời quan phòng phù trợ sắp đặt đời sống con người. Tác giả sách Ru-tơ có thể chứng kiến một phần mục đích của Đức Chúa Trời đối với lịch sử con người được thành tựu trong Đa-vít, còn Cơ-đốc nhân khi đọc sách này đều có thể ráp đặt phần đơn lẻ này vào khung cảnh toàn bộ. Vì Đức Chúa Trời thực hiện chương trình cứu chuộc nhân loại qua người con trai của Đa-vít nhưng vĩ đại hơn Đa-vít. Tác giả sách Ru-tơ cũng nhận thức rằng có Đức Chúa Trời vận hành trên các hoàn cảnh riêng tư của từng gia đình và từng cá nhân. Ông khích lệ họ nhìn lại các biến cố đã qua và tìm hiểu sự vận hành mầu nhiệm của Đức Chúa Trời trong đời sống của họ để nhận thấy Ngài đã đối xử với họ một cách hết sức nhân từ. Mỗi một sự việc lớn nhỏ đều làm chứng về điều đó. Đức Chúa Trời đang thực hiện mục đích tốt đẹp của Ngài trong đời sống của cá nhân con người và trong lịch sử.

Tài liệu đọc thêm

(Xem bản liệt kê tài liệu về sách Các Quan Xét )

D. Atkinson, Sứ Điệp Sách Ru-, BST (IVP, 1983)

R.L. Hubbard, Sách Ru-, NICOT (Eerdmans, 1988)

M.D. Gow, Sách Ru-, (Apollos, 1992)

D.A. Leggett, Quy Chế Tục Huyền Chuộc Sản Nghiệp Trong Cựu Ước (Mack, 1974)

Bố cục

1:1-22         Trở Về Bết-lê-hem

                   1:1-7           Định vị bối cảnh

                   1:8-18         Những quyết định có ảnh hưởng sâu rộng

                   1:19-22       Hồi hương

2:1-23         Ru-tơ Nhận Được Ân Huệ

                   2:1-3           Liên hệ gia đình

                   2:4-17         Lòng nhân từ không tưởng

                   2:18-23       Chia sẻ đức tin và lương thực

3:1-18         Đức Tin, Quyết Chí Hành Động

                   3:1-6           Kế hoạch của Na-ô-mi

                   3:7-15         Cuộc hội ngộ giữa đêm

                   3:16-18       Thêm phần khích lệ cho Na-ô-mi

4:1-22         Hôn Nhân và Kết Quả

                   4:1-12         Dàn xếp một cuộc hôn nhân

                   4:13-17       Một người con trai cho Na-ô-mi

                   4:18-22       Gia phả kết luận

1. TRỞ VỀ BẾT-LÊ-HEM (Ru 1:1-22)

(Ru 1:1-7).  Định vị bối cảnh Lời mở đầu định vị bối cảnh vào thời kỳ lịch sử được mô tả trong sách Các Quan Xét (khoảng năm 1250-1050 TC.)  Sách này kết thúc bằng câu: “Đương lúc đó, không có vua trong Y-sơ-ra-ên, ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (Cac 21:25).  Còn sách Ru-tơ kết thúc bằng câu: “Y-sai sanh Đa-vít”, và khi dân Y-sơ-ra-ên cảm thấy họ cần có một vua cai trị đất nước thì Đa-vít là người đáp ứng đúng nhu cầu đó.  Bết-lê-hem ở trong xứ Giu-đa, khác với Bết-lê-hem ở Sa-bu-lôn (Gios 19:15).  Sa 35:19 gọi Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa là Ê-phơ-rát, tên riêng này còn được sử dụng để nói về gốc gác của người (2).  Bết-lê-hem nghĩa là “Nhà Bánh” và tên này gợi cho chúng ta nghĩ đến những cánh đồng phì nhiêu và vườn cây trái xum xuê.  Dầu vậy, nạn đói đã giáng trên dân chúng tại Bết-lê-hem khiến cho một gia đình phải di trú đến Mô-áp trong một thời gian.  Từ Bết-lê-hem nhìn qua Biển Chết, người ta có thể thấy đồi núi xứ Mô-áp ở chân trời phía Đông.  Dù sát nách nhau nhưng đây không phải là vùng đất thân thiện.  Dân Mô-áp là dòng dõi của Lót (19:27) nên họ là bà con xa của dân Y-sơ-ra-ên.  Tuy nhiên họ tỏ vẻ thù địch khi dân Y-sơ-ra-ên từ Ê-díp-tô đến (Dan 21:29).  Ngay từ đầu thời kỳ các quan xét, Éc-lôn, vua Mô-áp đã xâm chiếm xứ và đô hộ dân Y-sơ-ra-ên suốt 18 năm (Cac 3:14).

Ê-li-mê-léc quyết định đi đến xứ Mô-áp.  Hậu quả là thảm họa cho vợ của ông là Na-ô-mi.  Trước nhất, bà mất chồng, kế đến là mất hai người con trai.  Thời gian tạm trú của họ tại Mô-áp kéo dài 10 năm, đến cuối thời gian này bà Na-ô-mi mất cả nguồn sinh sống lẫn hy vọng tương lai.

Thời điểm quyết định đã đến khi bà nghe rằng Đức Giê-hô-va đã cung cấp lương thực giúp đỡ dân Ngài.  Bà chuẩn bị trở về, động từ này được lập lại nhiều lần trong chương này.  Trong tiếng Hi-bá-lai, động từ này cũng dùng để chỉ về lòng “ăn năn”, cho nên khi trở về quê nhà, bà Na-ô-mi chứng minh rằng bà đã đổi ý, tức là bà đã “ăn năn”.  Các nàng dâu của bà là Ru-tơ và Ọt-ba cùng ra đi với bà vì tình nghĩa gia đình ràng buộc họ với bà.  Cung cách ứng xử quen thuộc của các tổ phụ thời xưa được tái diễn nơi đây.  Áp-ra-ham và Y-sác cũng đã ra đi khi gặp trận đói, để rồi sau này lại trở về khi có lương thực.

(Ru 1:8-18). Những quyết định ảnh hưởng sâu rộng Người kể chuyện định vị bối cảnh xong, từ điểm này trở đi các nhân vật tự bộc lộ.  Bà Na-ô-mi không mặc nhiên tin tưởng một chuyện nào cả, bà thúc giục hai nàng dâu trở về về với cha mẹ ruột ở xứ Mô-áp.  Có thể họ ở lứa tuổi từ mười chín đến hai mươi. Với tư cách là phụ huynh, bà Na-ô-mi quan tâm tìm kiếm điều tốt đẹp nhất cho họ.  Cả hai nàng dâu đều là những người vợ biết yêu thương chồng, và Na-ô-mi cảm kích trước tình thương hai nàng dâu dành cho bà, do đó bà cầu nguyện xin Đức Giê-hô-va tỏ lòng thương xót hai con.  Bà mong rằng Ngài sẽ phù hộ đưa hai nàng dâu đến cuộc hôn nhân mới.  Lòng nhân tư của Đức Chúa Trời ràng buộc dân Y-sơ-ra-ên với Ngài trong một mối liên hệ đặc biệt (xem ghi chú cuối chương), tuy nhiên bà Na-ô-mi đã không ngần ngại cầu xin Ngài mở rộng mối liên hệ này cho hai cô gái xứ Mô-áp.  Có thể bà nhớ lời Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham rằng mọi dân tộc trên đất sẽ nhờ ông mà được phước (Sa 12:3).  Tình yêu, sự an ổn và mái ấm gia đình là các phước hạnh Đức Chúa Trời ban cho.  Lời bà Na-ô-mi khuyên: Hỡi hai con gái ta, hãy trở về là đúng theo lẽ phải thông thường (11-13) mặc dù không có lợi cho bản thân bà.  Lời nói tay của Đức Giê-hô-va đã giơ ra hại mẹ nói lên quan niệm của bà về những chuyện đã xảy ra.

Bà Na-ô-mi coi trận đói dẫn đến cuộc di cư qua xứ Mô-áp rồi chết chóc, trước tiên là chồng chết, kế đến là hai người con trai, là dấu hiệu về cơn thạnh nộ thiên thượng trút lên bản thân bà.  Chính vì thế mà từng trải này quá ư là cay đắng.  Phải chi bà tin rằng số mệnh định đoạt cuộc đời của bà như thế đó thì chắc bà đã miễn cưỡng cam chịu.  Thế nhưng bà đã nói một câu đổ tội cho Đức Chúa Trời, câu này tỏ ra bà tin rằng chính Ngài là Đấng tể trị hoàn cảnh.  Như vậy Ngài cũng là Đấng sẵn sàng ban phước, bà Na-ô-mi đã tìm được hy vọng trong cơn tuyệt vọng.

Ọt-ba ra đi và chẳng còn ai nghe nói về nàng nữa, nhưng Ru-tơ cứ ở với Na-ô-mi.  Động từ này cũng giống như động từ nói về hôn nhân trong 2:24 “Cho nên người nam ... gắn bó với vợ mình” (RV).  Với tấm lòng tận tuỵ nàng Ru-tơ đặt vấn đề chăm sóc Na-ô-mi lên trên quyền lợi riêng của mình.  Tình yêu “chẳng kiếm tư lợi” (ICo 13:4).  Độc giả bị câu chuyện lôi cuốn, muốn biết sự việc sẽ xoay diễn ra sao khi mà Ru-tơ liều thân theo mẹ chồng như thế. 

Bà Na-ô-mi phản đối quyết định của Ru-tơ.  Thông thường tình cảm của song thân và nề nếp tín ngưỡng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, thế nhưng lời phản đối của bà Na-ô-mi gây ra một sự đáp ứng hết sức cao thượng.  Nàng Ru-tơ đã quyết định mẹ đi đâu con đi đó.  Hạnh phúc của bà Na-ô-mi là mối quan tâm trên hết của nàng, dù nàng phải rời khỏi quê hương, bỏ lại cha mẹ ruột còn sống (Ru 2:11) và đi đến ở giữa những người xa lạ.  Kể từ đây, dân sự của Na-ô-mi cũng là dân sự của nàng, dù Ru-tơ không rõ họ có thừa nhận nàng hay không.  Ý nghĩa hơn hết là việc Ru-tơ tuyên xưng Đức Chúa Trời của Na-ô-mi là Đức Chúa Trời của mình.  Nàng đã quyết định dứt khoát suốt đời, thậm chí cho đến khi qua đời, xác quyết bằng lời thề trong Danh của Đức Chúa Trời mà nàng mới tiếp nhận.  Lời tuyên xưng của Ru-tơ là đỉnh cao của chương này.  Chắc hẳn tác giả mong rằng độc giả sẽ noi theo gương nàng.

(Ru 1:19-22). Hồi hương Na-ô-mi về đến Bết-lê-hem đã khuấy lên một làn sóng xôn xao, phấn khởi, nhất là trong giới phụ nữ.  Câu hỏi của họ ngụ ý rằng bà đã thay đổi nhiều quá nên họ không nhận ra bà, và cũng ngụ ý rằng họ rất sung sướng khi gặp lại bà.  Na-ô-mi vội cắt ngang mọi sự nô nức bằng cách thố lộ nỗi tuyệt vọng của mình.  Ký ức về niềm hạnh phúc đã mất tràn ngập lòng bà đến nỗi bà không chịu cho người ta gọi mình là Na-ô-mi nữa (nghĩa là “ngọt ngào” hay “dễ thương”).  Theo ý nghĩ của bà, thì bà là Ma-ra mới đúng (nghĩa là “cay đắng”).  Bà đổ lỗi cho Đấng Toàn Năng (Shaddai) về những từng trải đắng cay.  Chính Ngài là Đấng hứa ban cho Áp-ra-ham một tương lai vinh quang (Sa 17:1).  Ngài cai trị vũ trụ (Giop 34:12-13) do đó tất nhiên là Ngài phải chịu trách nhiệm về những thảm họa xảy ra cho bà.  Tôi ra đi đầy đủ, gia đình hạnh phúc, được hai con trai, nhưng Đức Giê-hô-va đem tôi về tay không, mất nguồn hạnh phúc.  Chính Đức Chúa Trời, Đấng ban cho và bản tính của Ngài là ban cho, nhưng không hiểu sao lại cất người thân của bà đi.  Hơn nữa, theo bà hiểu thì hành động của Ngài là dấu hiệu của sự bất mãn, vì câu nói Đức Giê-hô-va đã làm tôi sầu khổ có nghĩa là “làm chứng nghịch lại tôi” (xem phần ghi chú ngoài lề bản NIV) như thể một người làm chứng tại toà án.

Chúng ta cần bàn thêm đôi điều về cách thức dùng từ trong ba câu cuối.  Cách dùng danh xưng của Đức Chúa Trời theo trình tự: Đấng Toàn Năng ... Đức Giê-hô-va ... Đức Giê-hô-va ... Đấng Toàn Năng nhấn mạnh vào quyền cai trị tối cao của Đức Chúa Trời trên các vấn đề của con người.  Dầu vậy Ngài cũng là Đấng khải thị những mục đích đầy tình yêu thương của Ngài cho Áp-ra-ham.  Một khi Ngài kiểm soát tức là có một niềm hy vọng tiềm ẩn, có một dấu hiệu cho một tương lai tốt đẹp hơn.  Người kể chuyện kết thúc phần thứ nhất bằng lời tóm tắt khiến chúng ta vừa nhìn lại quá khứ vừa hướng về phía tương lai.  Cụm từ Na-ô-mi trở về muốn chúng ta nhìn lại bằng cách sử dụng động từ chính trong chương này, trong khi đó con dâu của bà được nhắc đến là để báo trước rằng Ru-tơ sẽ là nhân vật chính trong cảnh kế tiếp.  Cụm từ cuối cùng nhằm đầu mùa gặt lúa mạch không chỉ báo trước phần kế tiếp mà còn là một chi tiết đảo ngược đối với thời gian ghi trong Ru 1:1.  Do đó cụm từ này coi như một ngoặc đơn đóng khung chương thứ nhất của sách này.

Chú giải  8  Từ nhân từ dùng nơi đây với ý sâu sắc hơn thường tình, được dịch từ tiếng Hi-bá-lai hesed trong 1:8  2:20  3:10.  Quan trọng nhất, đây là nét đặc trưng trong cách Đức Chúa Trời đối xứ với dân của Ngài.  Đôi khi (Xu 15:13) từ này được dịch là “tình yêu thương không suy giảm” và nói lên sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với lời hứa trong giao ước (Phu 7:9).  Những người đã nếm biết hesed của Đức Chúa Trời cần bày tỏ tình yêu thương nhân từ như thế trong mối liên hệ với người khác.  Ru-tơ, một phụ nữ Mô-áp đã thể hiện được điều đó (Ru 3:10) bởi lòng trung thành bất vị kỷ đối với Na-ô-mi, và nhờ tuyên xưng Đức Chúa Trời của Na-ô-mi là Đức Chúa Trời của mình nên nàng được hưởng phước của Ngài.  Cũng bởi cách đó mà dân ngoại bang có thể nếm biết hesed của Đức Chúa Trời, vì Ngài “giàu lòng nhân từ ... sự từ bi Ngài giáng trên muôn vật Ngài dựng nên” (Thi 145:8-9).  Trên hết tình yêu thương vững bền đó được khải thị trong Đấng Christ và là nền tảng vững chãi bảo đảm cho niềm tin của Cơ-đốc nhân ngày nay khi họ tin cậy Đức Chúa Trời của Na-ô-mi và Ru-tơ.

2. RU-TƠ NHẬN ĐƯỢC ÂN HUỆ (Ru 2:1-23)

(Ru 2:1-3). Liên hệ gia đình Đến đây tác giả khéo léo đưa vào chuyện sự kiện một người bà con của Ê-li-mê-léc vẫn còn sống tại Bết-lê-hem.  Na-ô-mi biết về ông, nhưng bà quyết định không nhờ ông giúp đỡ, dù ông là người có địa vị, có thể giúp đỡ bà.  Nhu cầu trước mắt là thực phẩm.  Thật là nhục nhã khi bị rơi vào tình cảnh nghèo đói đến mức đó.  Nhưng đang lúc mùa gặt nên bà có thể tự kiếm sống.  Luật pháp của Đức Chúa Trời qui định rằng chủ ruộng không được gặt tới các góc ruộng, nhưng chừa lúa lại cho người nghèo mót (Le 19:9  23:22).  Phước hạnh đặc biệt sẽ đến sau nghĩa cử đầy lòng nhân ái (Phu 24:19).  Ru-tơ quyết định tận dụng luật lệ này.  Dầu vậy nàng dư biết không phải chủ ruộng nào cũng cho phép người lạ lùng sục ruộng của họ, nhất là người ngoại quốc.  Nàng mong ước vào đúng thửa ruộng mà chủ nhân sẽ làm ơn cho nàng.  Dù nàng không biết gì về các bà con gần thuộc gia đình bên chồng, nàng đã tình cờ quyết định đi vào mót lúa trong ruộng của Bô-ô, là người trong họ hàng của Ê-li-mê-léc.  Cụm từ này được nhắc lại để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự việc.  Chuyện nàng chọn trúng ruộng của Bô-ô không phải là do ngẫu nhiên nhưng do Đức Chúa Trời là Đấng vô hình đã dẫn dắt nàng.  Những biến chuyển kế tiếp đã chứng minh.

(Ru 2:4-17). Lòng nhân từ không tưởng Chủ nhân đến ruộng và chào hỏi đám công nhân bằng những lời lẽ thích hợp với bầu không khí trong nhà thờ hơn là ở chỗ lao động.  Nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi là câu nói quen thuộc với nhiều Cơ-đốc nhân, được dùng nguyên câu ở đây.  Bình thường người ta chỉ chào nhau với tiếng bình an (salôm).  Bô-ô và các công nhân của ông nhìn nhận là họ phải lệ thuộc vào Đức Chúa Trời mới được mùa thu hoạch tốt.  Ông hỏi xem người mới đến là ai và viên đốc công đã làm chứng tốt cho thiếu phụ Mô-áp này.  Nàng có ba điểm tốt khiến cho người ta tôn trọng nàng.  Nàng đã đến xứ này với Na-ô-mi, nàng xin phép được mót số lúa do các con gặt để lại và nàng bền bỉ làm việc mặc dù công việc thật đáng nản vì chẳng bỏ công.

Bô-ô nhìn Ru-tơ với vẻ thán phục, bảo nàng cứ ở lại trong ruộng của ông, nhất là hứa binh vực nàng.  Ông gộp nàng chung với đám đầy tớ gái, ra lệnh cho các chàng trai trẻ phải tôn trọng nàng, và cho phép nàng uống nước trong bình dành cho thợ gặt.  Đặc biệt là những bình nước nầy do những người làm phái nam đổ đầy.  Dường như nông trại này được điều hành theo một chiều hướng đặc biệt khác.  Thay vì bị soi mói nghi ngờ, Ru-tơ lại được mọi người công nhận.  Nàng không coi đây là chuyện đương nhiên, nhưng sấp mình xuống bày tỏ lòng biết ơn đối với Bô-ô. Vì sao chủ ruộng lại tử tế với nàng như thế?  Câu trả lời là danh tiếng của nàng đã lan xa trước nàng. Dân cư Bết-lê-hem nhận biết lòng nhân hậu của nàng qua những việc nàng làm và khen ngợi sự can đảm của nàng khi đi theo Na-ô-mi.  Với câu nói nguyện Đức Giê-hô-va báo đáp cho con, Bô-ô gói ghém nhiều tình ý chứ không phải chỉ là một câu chúc của một người sùng đạo.  Cảm nhận được lòng hy sinh của Ru-tơ, Bô-ô muốn nàng được tưởng thưởng xứng đáng để đức tin của nàng thêm vững vàng khi nhìn thấy mọi nhu cầu của nàng được đáp ứng.  Đó là lời hứa dành cho những người có lòng tin cậy nơi Lời của Đức Chúa Trời (Phu 5:10).  Dân sự của Đức Chúa Trời thích ví sánh sự chăm sóc bảo vệ của Đức Chúa Trời với chim mẹ xoè cánh mình che phủ bầy chim con (so sánh Thi 17:8  36:7), Chúa Giê-xu dùng hình ảnh ví sánh đó để củng cố thêm ý nghĩa này (Mat 23:37).  Ru-tơ đáp lại với tấm lòng biết ơn sâu xa, nhưng nàng giữ thái độ cách biệt bằng cách gọi Bô-ô là chúa tôi (ông) và để bày tỏ địa vị thấp kém của mình, nàng tự nhận mình là đầy tớ.

Trong bữa ăn, Bô-ô lại chú ý đến nàng một lần nữa.  Ông mời nàng dùng thức ăn dành cho thợ gặt.  Ông còn tiếp cho nàng hột lúa mạch rang, Ru-tơ để dành lại một phần đem về cho Na-ô-mi.  Khi nàng đứng dậy đi làm, Bô-ô cho phép nàng mót giữa các bó lúa (theo nguyên tắc, người ta không cho phép người mót lúa đến gần các bó lúa) ông bảo các thợ gặt cố tình làm rơi lúa để cho nàng lượm.  Kết quả là Ru-tơ mót được nhiều quá mức ao ước.  Có người ước tính là số lúa đó tương đương với ít nhất là nửa tháng lương.

(Ru 2:18-23). Chia sẻ đức tin thực phẩm Nhìn đống lúa mạch của Ru-tơ, bà Na-ô-mi chợt hiểu rằng mọi việc đều tốt đẹp.  Chắc có người đã rộng lượng, do đó bà vui mừng thăm hỏi và cầu chúc cho ân nhân của Ru-tơ được phước hạnh.  Trong hai câu, bà Na-ô-mi được nhắc là mẹ chồng của Ru-tơ ba lần, dường như muốn nói mối liên hệ này rất quan trọng.  Ru-tơ nhắc đến tên Bô-ô khiến Na-ô-mi nhớ ra họ có bà con với nhau, và trong câu chuyện tiếp theo giữa Na-ô-mi và Ru-tơ, mối liên hệ gia đình con gái, mẹ chồng tiếp tục được nhắc tới.  Lúc này lời cầu nguyện của Na-ô-mi trở nên cụ thể hơn.  Lập tức bà mường tượng trước những chuyện có thể xảy ra.  Câu nói: Ngài không dứt làm ơn có thể chỉ về Bô-ô, nhưng Na-ô-mi cho rằng Đức Chúa Trời đã quan phòng dẫn dắt Ru-tơ đến ruộng của Bô-ô.  Đây là bằng chứng về tình yêu thương trong giao ước của Đức Chúa Trời (hesed) đối với kẻ chết là Ê-li-mê-léc và hai con trai của ông dành cho những người vợ goá bụa của họ.  Dù có liên hệ với nhau bởi hôn nhân, chớ không phải bởi huyết thống, song họ được kể là người trong gia đình.  Chưa hết, mối liên hệ còn mật thiết hơn nữa.  Bô-ô không chỉ là người bà con gần, nhưng ông cũng là một trong những người bà con cứu chuộc của chúng ta (xem chú giải bên dưới).

Luật gia đình của dân Y-sơ-ra-ên chu đáo dự phòng cho các thành viên trong chi tộc khi thất cơ lỡ vận, với mục đích bảo tồn dòng họ.  Bô-ô là một trong những người mà bà Na-ô-mi có quyền nhờ cậy giúp đỡ.  Có nhiều cách giúp đỡ nhưng bà Na-ô-mi không tiết lộ cách bà đang nghĩ đến.  Hai mẹ con càng vui mừng hơn khi Ru-tơ tiết lộ rằng Bô-ô bảo nàng cứ theo chân đám thợ gặt của ông mà mót lúa cho đến khi hết mùa gặt, tức là trong vòng hai tháng nữa.  Họ không còn phải lo lắng cho tương lai trước mắt và qua mùa thu hoạch này chắc hẳn Ru-tơ sẽ trở thành phần tử trong cộng đồng xứ Bết-lê-hem.

Chương này có nhiều chi tiết quan trọng.  Tâm tánh nhân hậu của Ru-tơ được viên đốc công đề cao (7) và được Bô-ô luận bàn thêm (11).  Bô-ô kể nàng vào đám công nhân của mình và sắp xếp cho nàng có nhiều lương thực đem về nhà.  Ru-tơ cảm thấy mình thuộc về nông trại này và tiếp nhận tất cả những sự ưu ái với tấm lòng biết ơn.  Cả ban cho lẫn đón nhận đều là những khía cạnh của một tình thân đang nảy nở, và của sự nhận biết càng hơn về đường lối của Đức Chúa Trời.  Khi gọi Ru-tơ là con gái mình, Na-ô-mi muốn bày tỏ sự thân thiết giữa hai người.  Ru-tơ bám sát đám đầy tớ gái (23).  Động từ dùng trong câu này và trong câu 8,21 (ở cùng) cũng là động từ trong Sa 2:24 chỉ về sự ràng buộc trong hôn nhân (Bản AV, RV và RSV dịch là gắn bó).  Động từ này được dùng trong Ru 1:14 liên quan đến tấm lòng tận tuỵ của Ru-tơ đối với Na-ô-mi.  Tác giả dùng động từ này để nêu lên bí quyết của tình đoàn kết, của lòng trung thành dẫn đến sự keo sơn gắn bó trong gia đình và trong xã hội.  Dân của Đức Chúa Trời phải có nét đặc trưng này.

(Ru 2:20). Người con cứu chuộc.  Dân Y-sơ-ra-ên có mối tương quan gia đình chặt chẽ nên động từ cứu chuộc hóa ra thông dụng.  Từ này nằm trong phạm vi luật gia đình.  Mỗi một thành viên trong gia đình hoặc chi tộc có bổn phận bảo vệ và cung ứng cho những thành viên đang sa cơ lỡ bước hoặc là nạn nhân của sự bất công.  Người chuộc tài sản phải chuộc lại thửa đất mà người thân đã bán trong lúc cần tiền (Le 25:25).  Nhờ đó thửa đất tiếp tục thuộc về gia tộc.  Nếu có người phải bán mình làm nô lệ, thì người bà con gần nhất phải chuộc lại sự tự do cho người ấy (25:47-55).  Người cứu chuộc cũng có nhiệm vụ báo thù kẻ sát nhân (Dan 35:19  Phu 19:6).  Sách Ru-tơ mở rộng nhiệm vụ của ông là phải cung ứng một người nối dõi cho người bà con phái nam qua đời mà chưa có con cái.  Thông thường nhiệm vụ này thuộc về người em trai (25:5-10), nhưng Ru-tơ không có em chồng, nên một người bà con xa hơn có bổn phận cưới nàng, theo như bà Na-ô-mi đã tiết lộ (chương 3).

Khi Cựu Ước khẳng định rằng Đức Giê-hô-va là Đấng cứu chuộc Y-sơ-ra-ên thì các biến cố trong cuộc xuất Ai-cập nổi bật nhất: ‘Ta sẽ giơ thẳng tay ra mà chuộc các ngươi.’ (Xu 6:6), ‘Ngài lấy lòng thương xót dẫn dắt dân mà Ngài đã chuộc’ (15:13).  Đức Giê-hô-va tuyên bố chính Ngài là người bà con Thiên thượng của dân Y-sơ-ra-ên, Ngài sẵn sàng giải phóng và cứu giúp họ (Es 41:14).  Sách Ru-tơ đặc biệt cho biết chỉ có người bà con gần có quyền chuộc lại, nhưng không bị bắt buộc phải chuộc.  Bô-ô có tinh thần sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm nặng nề báo trước một Đấng cứu chuộc lớn hơn sẽ ra từ ông.

3. ĐỨC TIN, QUYẾT CHÍ VÀ HÀNH ĐỘNG (RU 3:1-18)

(Ru 3:1-6). Kế hoạch của Na-ô-mi Trong thời Cựu Ước, hôn nhân là do cha mẹ sắp đặt, cho nên bà Na-ô-mi lo tiến hành từng bước tìm mái ấm gia đình và sự an ổn cho Ru-tơ là đúng.  Vài tuần lễ trôi qua, khi công việc gặt lúa đã xong và chỉ còn lại công việc đập lúa, bà Na-ô-mi cân nhắc kỹ cách thức tốt nhất để đánh tiếng với ông Bô-ô trong tư cách là người bà con gần của ông.  Bà hi vọng rằng ông sẽ nhận trách nhiệm làm người bà con cứu chuộc của bà và sẽ cưới Ru-tơ.  Nhưng dù tử tế đến mức độ đó, Bô-ô nhất mực không đả động gì đến chuyện hôn nhân.  Do đó, bà Na-ô-mi quyết định thúc bách ông.  Kế hoạch của bà đòi hỏi nơi Ru-tơ lòng can đảm tột bực.

Ru-tơ tắm rửa phục sức kỹ lưỡng và đẹp đẽ nhất cho buổi tối quan trọng này.  Khi màn đêm buông xuống không còn thấy y phục thì mùi thơm trở nên quyến rũ.  Thường thường sân đập lúa nằm trên một ụ đất cao để hứng làn gió nhẹ, nhưng đôi khi ở những nơi thấp cũng có gió lùa đủ dùng cho công việc.  Ru-tơ phải lẩn tránh để không ai nhìn thấy nàng, đồng thời cũng phải quan sát để biết rõ chỗ Bô-ô nằm ngủ.  Khi mọi sự trở nên yên tĩnh, nàng phải mon men đến gần, rón rén giở mền phủ chân Bô-ô và nằm gần chân của ông.  Khi Bô-ô thức dậy, nàng phải trình bày tự sự.  Bất chấp nguy cơ bị cự tuyệt và ruồng rẫy, Ru-tơ lo thực thi theo chương trình của mẹ chồng.

(Ru 3:7-15). Cuộc hội ngộ nửa đêm Sau bữa tiệc ở sân đập lúa theo tập tục, Bô-ô đi ngủ với tấm lòng phấn khởi.  Thật may mắn, ông quyết định chọn chỗ ngủ trên đống lúa, mé xa nhất, là phía có đôi chút riêng tư.  Mé xa nhất cũng hàm ý đây là con đường kẻ trộm có thể xâm nhập và Bô-ô tự đặt mình làm người canh kẻ trộm.  Khi Bô-ô ngủ say, nàng Ru-tơ đến nằm gần chân Bô-ô, là vị trí của tấm lòng dầu phục và chờ đợi.  Đến nửa đêm, Bô-ô thức dậy, và đến đây thì câu chuyện trở nên hấp dẫn.  Hai người mẫu mực sẽ xử sự ra sao trong một tình huống dễ phương hại cho họ?  Bô-ô biết có một người phụ nữ, nhưng ông không nhận ra nàng.  Do đó, đương nhiên ông hỏi một câu cộc lốc.  Còn Ru-tơ, dù vẫn tôn trọng ông, nhưng giọng điệu trả lời của Ru-tơ không còn cung kính như trong Ru 2:10,13.  Nàng lấy tư cách cá nhân nói chuyện với Bô-ô và can đảm yêu cầu Bô-ô đứng ra làm người bà con cứu chuộc và cưới nàng.  Đó là ý nghĩa của câu nói Xin hãy đắp một góc mền của ông trên tôi.  Chữ góc này là cùng chữ với ‘cánh’ trong 2:12.  Nàng Ru-tơ nhắc Bô-ô nhớ lại lời ông đã nói và yêu cầu ông thể hiện lời cầu chúc của ông.  Phủ áo lên trên là cách diễn tả sống động một hành động bảo vệ thân tình và bằng hữu.  Thành ngữ này diễn tả rất hay về hôn nhân.  Câu trả lời của Bô-ô cho thấy ông không ngần ngại chút nào cả.  Giờ đây nàng Ru-tơ có thể quên đi sự lo sợ vì ông không chê trách chi cả.  Hơn nữa, nàng nhận được phước hạnh và được gọi là con gái trong gia đình.  Nàng không còn là người xa lạ hoặc người ngoại bang nữa.  Bô-ô nhận biết rằng chủ đích của Ru-tơ là mưu cầu an ổn cho tương lai của bà Na-ô-mi.  Lẽ ra nàng tìm một người chồng trạc tuổi mình, chớ không lấy một người chồng đủ tuổi làm cha mình.  Ông để ý đến tính tình kín đáo dè dặt của nàng và tôn trọng nàng.  Ông có thể làm mọi điều nàng cầu xin mà không sợ ai quở trách bởi vì toàn thể dân chúng đều cảm kích tấm chân tình của nàng.  Nhưng trước nhất, ông phải gặp người bà con có quyền ưu tiên làm người bà con cứu chuộc.  Vì sao trước đây không ai nhắc đến người này?  Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán thôi.  Nếu bà Na-ô-mi biết người này thì chắc bà thấy rằng bà không hi vọng ông này sẽ chịu nhận thêm trách nhiệm.  Bô-ô phải tìm hiểu cho ra sự thật.  Trong khi đó nàng Ru-tơ vẫn nằm dưới chân ông cho đến sáng, bất chấp nguy cơ xoi mói của người khác.  Bô-ô không có gì phải giấu giếm và chỉ trong vài giờ phiên họp công khai xét vụ này sẽ kết thúc và vấn đề sẽ sáng tỏ.

Tuy nhiên, khi trời vừa sáng đủ để thấy lối đi thì Ru-tơ ra về.  Một lần nữa Bô-ô cho nàng nhiều thực phẩm đựng trong tấm khăn quàng của nàng.  Chúng ta không thể biết khối lượng chính xác của sáu đấu này.  Chắc chắn là Bô-ô đã cho Ru-tơ tuỳ theo sức nàng có thể mang vác.

(Ru 3:16-18). Thêm nhiều khích lệ cho Na-ô-mi Đang náo nức trông đợi Ru-tơ, bà Na-ô-mi vừa nhìn thấy mớ lúa nàng mang về, bà biết rằng Ru-tơ có tin vui.  Bô-ô đã không ngớt bày tỏ tấm lòng rộng lượng đối với Na-ô-mi, bà gia của Ru-tơ.  Mối liên hệ gia đình vẫn được nhấn mạnh và ràng buộc các chi tiết trong câu chuyện diễn tiến cho đến câu 18: Hỡi con gái ta, hãy đợi.  Vẫn còn một thời gian căng thẳng hồi hộp trước khi câu chuyện kết thúc.  May thay, các thủ tục hành chính có thể tiến hành ngay và người ta biết kết quả trước khi hết ngày.

4. HON NHAN VA KẾT QUẢ (Ru 4:1-22)

(Ru 4:1-12).  Dàn xếp một cuộc hôn nhân Cổng chính của thành được dùng làm toà án địa phương.  Đó là một khoảng đất trống chung quanh kê ghế ngồi dưới bóng tường thành cao.  Địa điểm này có lợi thế là ai cũng có thể đến dự và chứng kiến công lý được tôn trọng.  Bô-ô biết người bà con của mình chắc chắn sẽ đi ngang qua cổng thành để đi làm, và người bà con chưa biết tên này sẽ sẵn sàng giải quyết công việc quan trọng khi được mời.  Mười trưởng lão trong thành được chọn một cách tình cờ, những người này tương đương với bồi thẩm đoàn trong toà án nước Anh.  Những công dân biết trách nhiệm được mọi người tin là đủ khả năng phân biệt điều phải trái.  Tại Bết-lê-hem, các vị trưởng lão này đại diện cho dân chúng thi hành các quyết định theo luật pháp.  Sự chuẩn y của họ là thiết yếu.  Và cử toạ gồm mười hai người lập thành một toà án.

Trước hết Bô-ô đưa ra vấn đề bất động sản. Ê-li-mê-léc vốn là sở hữu chủ và nếu con trai ông còn sống thì họ được thừa kế.  Hẳn là bà quả phụ Na-ô-mi không có quyền thừa kế, nhưng bà có thể thay mặt cho các con trai bán đất.  Trong thời gian gia đình vắng mặt và sinh sống tại Mô-áp, chắc có người đã chịu trách nhiệm trông coi bất động sản này.  Nhưng nay mùa gặt vừa xong và đến lúc bà Na-ô-mi có thể sắp xếp với hi vọng đạt kết quả tốt đẹp nhất.  Cụ thể là bà Na-ô-mi muốn giữ đất lại trong gia đình Ê-li-mê-léc, do đó bà phải cầu cạnh người bà con.  Bô-ô hiểu tường tận mọi vấn đề liên quan, nên ông trình bày tự sự rõ ràng cho người bà con gần hơn để ông này quyết định.  Ông tuyên bố rằng nếu người ấy không chuộc lại đất thì ông sẽ chuộc lại.  Đến khi người đó trả lời là sẽ chuộc đất ông mới đưa ra vấn đề hóc búa hơn.

Ê-li-mê-léc được quyền có một người nối dõi.  Ru-tơ, phụ nữ người Mô-áp, con dâu của ông vẫn còn sống, và người mua ruộng có bổn phận lấy nàng và sinh ra một người con nối dõi cho ông.  Nếu một người con trai ra đời, thì đất đó sẽ được giao lại cho người con trai ấy và tài sản của Ê-li-mê-léc vẫn còn thuộc về gia đình của ông.  Khi ấy người bà con gần vừa mất đất mình đã mua vừa phải nuôi nấng một gia đình nữa, vì vậy người bà con kia trả lời: Tôi không thể chuộc được.  Giá phải chuộc cao quá.  Còn tấm lòng rộng lượng của Bô-ô càng nổi bật qua việc chấp nhận thiệt hại tài chánh này.

Tác giả không cần giải thích luật cứu chuộc vì có lẽ luật này vẫn còn thông dụng trong thời gian ông viết sách này.  Tuy nhiên, ông cần giải thích một tục lệ khác đã phôi phai (7).  Thoả thuận giao quyền chuộc lại cả hai lãnh vực được biểu thị và kết thúc bằng cử chỉ trao giày là biểu tượng cho tài sản (so sánh Gios 1:3).  Các trưởng lão là những nhân chứng chính thức cho việc Bô-ô có quyền hưởng tài sản của Ê-li-mê-léc, Ki-li-ôn và Mạc-lôn, và chứng nhận rằng vợ của Mạc-lôn sẽ là vợ của ông.  Người con trai đầu lòng của Ru-tơ chính thức được coi là con trai của Ê-li-mê-léc, nhờ vậy tên của kẻ chết được lưu truyền mãi mãi.  Người con trai này cũng là người thừa kế tài sản của Ê-li-mê-léc, như vậy tên tuổi và tài sản của gia đình được tồn tại.  Cụm từ mất khỏi dân sự của thành (10) là cách dịch thoát ý (so sánh: bàn RV dịch ‘mất khỏi cổng thành’ thì sát với nghĩa đen hơn).  Theo quan điểm luật pháp, thì chữ cổng nghĩa là biên bản pháp lý được truyền miệng hoặc ghi thành văn.

Những người qua lại tụ tập thành đám đông trước cổng thành cùng với các trưởng lão làm chứng cho cuộc hôn nhân của Bô-ô và Ru-tơ là hợp pháp, dù đích thân nàng không có mặt để tỏ ý ưng thuận.  Giống như sự hiện diện của các vị khách được mời đến tiệc cưới thời buổi này, sự tán thành của dân chúng Bết-lê-hem củng cố cho sự bền chặt của cuộc hôn nhân, cũng là cớ để tổ chức tiệc cưới linh đình.  Những lời cầu chúc tốt đẹp đã được diễn đạt bằng lời cầu nguyện nhắc cho họ nhớ lại lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên trong quá khứ.  Ra-chên và Lê-a cùng với các nàng hầu sinh ra cho Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên) mười hai người con trai, là cha của mười hai chi phái (Xu 1:1-5).  Nếu Ru-tơ sanh cho Bô-ô nhiều con trai, cộng với danh vọng và tiền của, thì kể như Bô-ô được ban thưởng.  Đến đây thì lời cầu chúc chuyển sang câu chuyện của Giu-đa và nàng Ta-ma (Sa 38:1-30).  Tác giả có nhiều lý do chính đáng khi đề cập đến sự việc đáng hổ thẹn trong đời sống của Giu-đa.  Lý do thứ nhất liên quan đến tục lệ hôn nhân được đề cập trong chương này là em trai của người chết phải cưới chị dâu của mình, do đó mới có từ tái giá với em chồng (tiếng La-tinh Levir, nghĩa là em chồng).  Trong khi Giu-đa làm ngơ quyền lợi của Ta-ma, thì Bô-ô lại làm tròn bổn phận của mình.  Lý do thứ hai là mối quan tâm lý thú tại địa phương.  Phê-rết, do Ta-ma sanh ra nhờ mưu kế của chính bà là tổ phụ của Bô-ô (18) và là một trong ba vị tổ phụ của toàn thể chi phái Giu-đa.  Có lẽ đa số dân địa phương là con cháu của ông.  Điều Đức Chúa Trời đã làm cho Giu-đa, dù Giu-đa không quan tâm đến nàng Ta-ma, liệu Ngài có làm cho Bô-ô không?  Liệu Ngài có ban cho ông một gia đình nhiều con trai để làm phần thưởng cho lòng nhân từ của ông không?  Lý do thứ ba, Ta-ma cũng chủ động giống như Ru-tơ.

(Ru 4:13-17). Một người con trai cho Na-ô-mi Đúng theo lời đã hứa, Bô-ô cưới Ru-tơ.  Cụm từ Đức Giê-hô-va làm cho nàng thọ thai có thể ám chỉ rằng qua cuộc hôn nhân lần trước Ru-tơ không sinh được mụn con nào.  Ngoài ra, Kinh Thánh không bao giờ coi việc thụ thai là chuyện đương nhiên, nhưng coi mỗi người là công việc tạo dựng đặc biệt của Đức Chúa Trời (Thi 139:13).  Đối với đám phụ nữ trong làng thì việc một cậu bé chào đời đúng là niềm vui sướng tột độ khiến họ reo lên, Ngợi khen Đức Giê-hô-va! Và bày tỏ niềm sung sướng đối với Na-ô-mi thay vì đối với Ru-tơ.  Những người lớn tuổi được tôn trọng và những người biết Na-ô-mi trước khi bà đi đến Mô-áp rất sung sướng khi thấy Đức Chúa Trời chu cấp cho tương lai của bà.  Họ cầu nguyện cho em được nổi danh trong khắp Y-sơ-ra-ên.  Gia phả của Đa-vít trả lời cho điều này (17).  Bà Na-ô-mi, nhân vật chính trong chương mở đầu câu chuyện, cũng là nhân vật chính trong phần kết của câu chuyện.  Tình trạng hụt hẩng của cảnh tang tóc nay được thay thế bằng sự đầy đủ, niềm vui mừng thay thế đắng cay (Ru 1:21). Vì cớ em bé được coi như là cháu nội của Ê-li-mê-léc và Na-ô-mi nên chồng bà vẫn được lưu danh và gia tài của ông có người thừa kế.  Hơn nữa, lúc về già, bà Na-ô-mi có người chăm sóc, bên cạnh đó còn có nàng dâu khả ái của bà tốt hơn bảy người con.  Sự khen ngợi của giới phụ nữ ở Bết-lê-hem dành cho Ru-tơ đạt tột đỉnh với nhận xét đó.

Sự đầy đủ của Na-ô-mi xoay quanh cháu của bà công việc chăm sóc cháu như khi chăm sóc con của mình đem lại cho bà niềm vui sống mới.  Tên Ô-bết (viết tắt của tên Ô-ba-đia) ngụ ý rằng ông là đầy tớ của Đức Giê-hô-va và gợi lên niềm hi vọng của mọi người đặt vào cậu bé này.  Kế đó, tác giả nhảy qua hai thế hệ để tỏ cho chúng ta biết Ô-bết rất quan trọng vì là ông nội của vua Đa-vít.  Chúng ta có thể tìm hiểu mục đích tối cao của Đức Chúa Trời xuyên qua các thế hệ.  Kể từ Phê-rết, người được nêu danh trong lời cầu chúc cho một cuộc hôn nhân đầy phước hạnh (12), và hàng trăm năm sau đó cho đến đời Đa-vít.  Sự quyết tâm của Ru-tơ nhằm chung chịu số phận với Na-ô-mi đã để lại kết quả có ảnh hưởng sâu rộng vượt quá sức tưởng tượng của nàng.  Thiếu phụ người Mô-áp này có hậu duệ nổi danh nhất vì tất cả các vua trị vì trên Giu-đa đều thuộc triều đại Đa-vít.  Ông Bô-ô từng cầu xin Đức Chúa Trời ban thưởng xứng đáng cho nàng.  Lời cầu nguyện đó đã được trả lời rất diệu kỳ.

Gia đình của Ru-tơ

(Ru 4:18-22). Phần gia phả kết luận Khi so sánh với ISu 2:1-55, chúng ta thấy một số thế hệ đã bị loại khỏi bản gia phả gồm mười thế hệ từ Phê-rết cho đến Đa-vít.  Nhưng bản gia phả này đủ phù hợp cho phần kết của sách Ru-tơ.  Sách mở đầu với nạn đói, tha phương cầu thực và chết chóc, còn phần cuối sách thì hướng về tương lai đầy hi vọng.  Bản liệt kê danh tính các thế hệ từ thời các tổ phụ cho đến Đa-vít, nhắc độc giả nhớ rằng những việc xảy ra cho Na-ô-mi và Ru-tơ là một phần trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời đang diễn tiến suốt qua các thế kỷ.  Đời sống có ý nghĩa vì Đức Chúa Trời là Đấng đã phán hứa rõ ràng với Áp-ra-ham vẫn hoạt động tích cực trong mỗi thế hệ, nhằm khải thị bản tánh của Ngài, nhằm thực hiện lời Ngài hứa và nhằm hoàn thành mục đích của Ngài.  Đây là yếu tố vô hình tạo nên viễn cảnh lịch sử trong Y-sơ-ra-ên, và là lịch sử độc đáo trong thời thượng cổ.  Nhưng lịch sử Y-sơ-ra-ên không chỉ quan tâm đến những con người vĩ đại trong xứ.  Ru-tơ, Na-ô-mi và Bô-ô là những thí dụ cụ thể về tâm tánh cao thượng đích thực phản chiếu bản tính của Đức Chúa Trời Hằng Sống.  Chính tình yêu thương vững bền của Đức Chúa Trời làm cho những người tin Ngài phản chiếu lại tình yêu thương của Ngài.

Lên đầu trang