Confession. Confession.
Nguyên gốc homologéô có nghĩa là “sự công nhận, ” “thú nhận” cũng gồm có sự thay đổi ý kiến, hành vi, về phần người chủ động. Trong ITi 6:12, “làm chứng tốt lành;” Hêb 3:1; 4:14 chú trọng về sự công khai của việc xưng nhận. Về hai tiếng Hy-lạp, cùng một gốc trong Tân Ước, tiếng phức hợp có ek đứng đầu thấy trong nguyên văn Mat 3:6; Công 19:18; Rô 14:11; Phil 2:11, tỏ rằng sự xưng nhận đó là một sự thúc giục từ bên trong, tức là sự tỏ ra ý kiến của lòng mình. Điều ấy được trưng dẫn về Chúa như Ngài có tình cảm của người trong Gióp 40:9, tại đó Đức Giê-hô-va phán cùng Gióp cách chế giễu rằng: “Bây giờ ta cũng sẽ khen ngợi (bản Anh, xưng tội với) ngươi, ” và trong Khải 3:5, tại đó có nghĩa là “nhận” hoặc “nhận biết.”
Khi nói về người xưng nhận hoặc xưng ra, thì tài liệu của bài xưng nhận phân biệt khác nhau. Dầu vậy, có thể thâu góp lại dưới hai đầu đề: xưng nhận đức tin và xưng tội. Xưng nhận đức tin là những sự công nhận công khai về sự thành tín của Đức Chúa Trời, và về lẽ thật mà bởi đó Đức Chúa Trời được tỏ ra, như ICác 8:33. Ấy là sự bày tỏ về lòng tin cậy trong Đấng Christ và về sự dâng mình hầu việc Ngài; Mat 10:32 “Ai… xưng ta ra trước mặt thiên hạ.” Song trong Phil 2:11, sự xưng nhận gồm chung cả người tình nguyện lẫn không tình nguyện, công nhận quyền cao cả của Chúa Jêsus Christ. Xưng nhận cũng nói mọi sự gồm có trong tôn giáo Đấng Christ — “đức tin, ” dùng về nghĩa chủ quan và rộng nhứt trong Hêb 3:1; 4:14. Trong cả những khúc nầy lời trưng dẫn là thuộc Tân Ước. “Thầy tế lễ thượng phẩm mà ta tin theo (xưng nhận), ” là Thầy tế lễ thượng phẩm mà ta học và ta giao thông trong sự khải thị mới, trong thơ đó so với sự khải thị xưa.
Xưng tội cũng chia làm nhiều hạng khác nhau: (1) xưng tội với Đức Chúa Trời thôi. Nơi nào có sự ăn năn thật về tội, người ăn năn tự do xưng tội lỗi mình với Đức Chúa Trời về những điều mình đã phạm. Điều ấy được mô tả trong Thi 32:3-6; so IGiăng 1:9; Châm 28:13. Sự xưng tội như thế có thể hoặc thầm kín, hoặc tỏ ra bằng lời nói như Đa 9:19; nhưng bình thường thì như Thi 51:1-, có khi tội được nhận biết, cũng có khi tội không được lộ ra song tin là có vì sự hư hoại bên trong được công nhận (Thi 19:12; Rô 7:18). (2) Xưng tội với người lân cận, khi mình lầm lỗi (Lu 17:4). “Dầu trong một ngày họ phạm lỗi cùng ngươi bảy lần, và bảy lần trở lại cùng ngươi mà nói rằng: Tôi ăn năn, thì hãy tha tội cho họ.” Chính Gia 5:16 cũng chỉ về sự xưng tội đó, “hãy xưng tội cùng nhau;” so Mat 5:23. (3) Xưng tội với người khuyên dạy thuộc linh hoặc người giảng Tin lành, như sự xưng tội của Đa-vít với Na-than (IISa 12:13), của đoàn dân đến cùng Giăng trong đồng vắng (Mat 3:6), và của người Ê-phê-sô với Phao-lô (Công 19:18). Sự xưng tội nầy là sự công nhận chung về tội lỗi, và chỉ kê khai tiểu tiết khi nào lương tâm bị cắn rứt đặc biệt.
(4) Xưng tội với cả Hội Thánh, tại đó một tội ác nào đã gây sự vấp phạm công khai. “Như tội giấu kín thì phải quở trách cách kín đáo, còn tội công khai thì quở trách trước công chúng, ” trong đời các Sứ đồ, tại đó có sự ăn năn thật vì về tội phạm trước nhiều người, sự công nhận tội đó cũng công khai như chính việc lầm lỗi đó. Có sự minh chứng về điều nầy trong việc của ngườICôr (so ICôr 5:3 với IICôr 2:6).
Về sự xưng tội với các cố đạo theo ý nghĩa đời Trung cổ và giáo hội La-mã, thì việc ấy Kinh Thánh không dạy, mà chỉ dựa vào tục lệ xưa khi xem xét những tội nhân sắp xưng công khai về một tội nặng và người có chức thánh khuyên người đó nên xưng một số tội của mình trước công chúng, là một cách làm để khỏi làm hại người đó nếu xưng ra những tiểu tiết. Khi quen làm như vậy rồi, thì lần lần hình thức xưng tội đó thịnh hành khắp cả. Giáo hội La-mã lập sự xưng tội riêng với cố đạo và coi đó là điều kiện để được xóa tội, và lấy sự ăn năn chia ra làm thống hối, xưng tội, và bồi thường.