Viết

Writing. Écriture.

I. Lịch sử sự viết.– Trong Kinh Thánh không chép nguồn gốc của sự viết. Suốt cả sách Sáng thế ký, không có lần nào ngụ ý trực tiếp hoặc gián tiếp nói đến sự tập viết hay làm sao có chữ viết. Trong thời Giô-suê có những bằng chứng cho thấy là người Ai-cập đã có chữ viết, song không có chứng cớ nào tỏ ra hồi đó người Hê-bơ-rơ biết viết. Tuy vậy, cũng không thể nói rằng người Hê-bơ-rơ không biết viết.

Lần đầu Kinh Thánh nói rõ về sự viết là trong Xuất 17:14, và thượng hạ văn tỏ ra đó không phải là lần thứ nhứt Môi-se viết, nhưng việc viết đã quen rồi đến nỗi có thể dùng để “chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm, ” tức là Chúa truyền Môi-se phải chép để giữ kỷ niệm sự chiến thắng dân A-ma-léc. Hai bảng chứng được nói là “bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra” (Xuất 31:18) trên cả hai mặt, và “chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng” (Xuất 32:16). Sự khắc các viên ngọc trên bảng đeo ngực thầy tế lễ thượng phẩm với những tên của con cái Y-sơ-ra-ên (Xuất 28:11), và chữ khắc trên thẻ thánh cột vào mũ (Xuất 39:30) thật ra là nghề của người thợ khắc hơn là nghề người viết, song cả hai đều tỏ ra có các chữ trong vần chữ cái. Thầy tế lễ phải viết “trong một cuốn sách” những lời rủa sả nghịch cùng người nữ phạm tội bất chánh, và bôi đi bằng nước đắng (Dân 5:23).

Kinh Thánh chưa nói gì về sự dùng chữ trong các việc thuộc đời sống hằng ngày, hay là thường dân biết viết. Những Kinh Thánh đã cho biết là Môi-se và thầy tế lễ biết viết mà thôi. Song theo Phục 24:1, 3, dường như những người khác cũng biết viết. Không cần phải tin rằng mỗi người Hê-bơ-rơ đều biết viết, dầu ở đây không nói đến người thứ ba viết “tờ để” đó. Nhưng chắc việc viết tờ để đó là công việc các thầy thông giáo chuyên làm. Một trong các phận sự của vua khi vừa lên ngôi là phải chép một bản luật pháp riêng cho mình (Phục 17:18). Nếu xem xét các lần nói về sự viết có liên quan với cá nhân, ta thấy lần nào người viết cũng là người có địa vị khá cao. Theo Ês 29:11, 12, thật có sự phân biệt rõ giữa người biết đọc và không biết, nên dường như có thể nói rằng việc đọc và viết không được truyền bá giữa dân sự, chỉ thuộc về một số người trong giới quí phái, cao trọng và có giáo dục, như các vua, thầy tế lễ, tiên tri và thầy thông giáo.

Trong tên Ki-ri-át Sê-phe (nghĩa là Thành có Sách, Giô 15:15), tỏ ra người Phê-ni-xi có biết viết. Vậy, những người Hê-bơ-rơ thời bấy giờ là một nhánh của dòng dõi Sem lớn, theo lịch sử riêng của dòng dõi mình, vào một thời rất cổ, có biết nghệ thuật viết. Việc nầy sanh ra hai vấn đề: họ dùng chữ nào để viết, và ai đã tạo ra chữ viết? Các nhà khảo cổ đã tìm được loại chữ Hê-bơ-rơ vuông không phải là cổ lắm, nhưng theo họ nhận xét thì loại chữ nầy bắt nguồn từ một loại chữ khác có sớm hơn. Vậy, chữ làm mẫu sớm hơn đó là gì? Dường như chắc từ chữ Phê-ni-xi. Pliny thì cho rằng chữ có nguồn gốc từ A-sy-ri. Diodorus Siculus nói người Sy-ri mới là người sáng tạo ra chữ viết, người Phê-ni-xi học từ đó và truyền cho người Hy-lạp. Theo Tacitus, người ta tin rằng dân Phê-ni-xi được biết chữ viết từ xứ Ai-cập. Bất luận cách nào, thì lời truyền khẩu cũng trao vinh hạnh sáng lập chữ viết cho người Phê-ni-xi, vì họ là những người thủy thủ can đảm, phiêu lưu, và là những người đi chinh phục của cựu Thế giới. Chữ viết ra từ nguồn gốc Araméen hay Ai-cập chỉ là một vấn đề luận thuyết thôi.

Tuy nhiên, cũng có lý khi nói người Hê-bơ-rơ xưa được biết, hoặc dự phần tạo lập chữ viết và dùng chung với người Phê-ni-xi. Tên các chữ cái Hê-bơ-rơ tỏ ra là do sự sáng tạo của dân tộc Sem, và có thể cho biết họ cũng là một dân có nghề chăn nuôi. Gesenius chủ trương thuyết nguồn gốc chữ cái phát xuất từ người Phê-ni-xi, phản đối với thuyết lý là từ Ba-by-lôn hay Araméen, theo mấy cớ sau đây: (1) Tên các chữ là thuộc Phê-ni-xi chớ không phải Sy-ri. (2) Nếu các chữ Phê-ni-xi như hình vẽ, như có lý mà tin; thì giữa các chữ viết Ba-by-lôn thời cổ mới tìm được, có thể làm mẫu. Người Phê-ni-xi có phải là người sáng kiến chữ cái Sem hay không? Không còn nghi ngờ gì cả, vì chính người Phê-ni-xi là người đầu tiên chủ xướng chữ viết đó. Khi hiểu vậy, ta có thể nhận gia phổ các chữ cái mà Gesenius trình bày trong bản sau: Các vần chữ cái Sem cổ có thể chia làm hai loại: (1) Thuộc Phê-ni-xi như còn lưu lại trong các bảng khắc tại cù lao Chíp-rơ, Man-tơ, Carpentras và trên các đồng tiền Phê-ni-xi và các thuộc địa. Từ đó sanh ra chữ Sa-ma-ri và chữ Hy-lạp. (2) Thuộc Hê-bơ-rơ Canh-đê, gồm có loại chữ vuông Hê-bơ-rơ Palmyrene tỏ ra từ chữ thảo; Estrangelo hoặc Sy-ri cổ; và tiếng A-rạp cổ hoặc Cufic. Có lẽ độ một hoặc hai thế kỷ S.C., chữ vuông Hê-bơ-rơ mới có như hiện nay.

II. Vần chữ cái.– Chứng cớ rất cổ về vần chữ cái Hê-bơ-rơ là qua các Thi-thiên và bài ca theo trật tự vần chữ cái: Thi 25:1-; 34:1-; 37:1-; 111:1-; 112:1-; 119:1-; 145:1-; Châm 31:10-31; Ca 1:1–4:1-. Từ đó, ta biết chắc số vần chữ cái là 22 như ngày nay. Vần chữ cái A-rạp vốn cũng bằng số đó. Có nhiều người cho rằng vần chữ cái Phê-ni-xi đầu tiên chỉ có 16 chữ cái. Theo Pliny có chuyện hoang đường về ý đó như sau: Cadmus đem theo với mình sang Hy-lạp 16 chữ, vào hồi chiến tranh Trojan, Palmedes thêm 4 chữ khác, và Simonides ở Melos thêm 4 chữ nữa.

III. Phần chia các lời.– Tiếng Hê-bơ-rơ giống phần nhiều thứ tiếng cổ khác không chia ra từng lời. Các bảng khắc cổ Phê-ni-xi cũng vậy. Bản Septante cho thấy, lúc dịch, trong bản Hê-bơ-rơ mà dịch giả dùng, các lời viết cứ liên tiếp nhau. Các cuốn sách nhà hội Do-thái-giáo hiện tại và các bản thảo của ngũ kinh Sa-ma-ri không có dấu chỉ về nguyên âm, nhưng có chia ra từng lời, và về mặt nầy, tiếng Sa-ma-ri hơi khác tiếng Hê-bơ-rơ.

IV, Đồ dùng để viết.– Những bản thảo rất cổ có ghi chữ viết của dòng Sem có lẽ là các viên gạch ở Ni-ni-ve và Ba-by-lôn, trên đó có in bảng chữ hình chêm A-sy-ri. Tuy nhiên, không có chứng cớ người Hê-bơ-rơ đã dùng như thế. Có khi người Hê-bơ-rơ viết lên trên gỗ (Dân 17:3). Trong Gióp 19:24 nói đến “chì” có người nghĩ rằng người ta nung chì cho chảy rồi đổ vào các lỗ trên đá khắc các chữ viết để lưu lại mãi mãi. Rất có lý khi cho rằng vật liệu rất cổ và rất thông dụng mà người Hê-bơ-rơ dùng để viết ở trên là thứ da thuộc. Ta thấy người Hê-bơ-rơ biết nghề thuộc da (Xuất 25:5; Lê 13:48), và có thể học nghề đó giữa người Ai-cập, vì tại đó người thợ thuộc da ở giai cấp thứ ba, nhưng ý đó cũng không có chứng cớ chắc chắn. Trong Kinh Thánh chỉ một lần nói đến cây papyrus là IIGiăng 1:12. Hérodote sau khi đã nói người Ionien học cách viết từ người Phê-ni-xi, lại thêm rằng họ gọi các sách là da và sách làm bằng da chiên và da dê khi thiếu giấy. Trong đời Josèphe, người ta dùng da chiên mà chép bản thảo của Ngũ kinh, và chữ membranae (chữ a và e dính nhau) trong IITi 4:13 chỉ về da làm giấy đó. Đó là một trong các sự được ghi trong sách Talmud: là Luật pháp phải được viết trên da thú tinh sạch, hoặc da súc vật hoặc thú dữ, hoặc cả loài chim sạch. Những da khi viết ở trên được quấn thành từng cuốn (m#gillôth, Thi 40:8; so Ês 34:4; Giê 36:14; Êxê 2:9; Xa 5:1). Da đó được quấn trên hai cây gậy và buộc bằng một sợi dây, hai đầu thì đóng ấn (Ês 29:11; Đa 12:4; Khải 5:1, v.v.). Những cuốn sách thường chỉ viết trên một mặt, trừ trong Êxê 2:9; Khải 5:1. Các sách đó chia thành từng cột (Giê 36:23, dịch là hàng); phía trên để trống, kể từ trên xuống rộng khoảng 6 cm, phía dưới cũng để trống, rộng khoảng 8 cm kể từ dưới lên; giữa hai cột thì để cách một khoảng rộng độ 4 cm. Ngoài việc dùng da thuộc để viết, người ta còn dùng những thẻ bằng gỗ phủ lớp sáp (Lu 1:63) dùng vào việc hằng ngày. Các thẻ này nếu có nhiều thì buộc lại với nhau mà làm thành sách. Những thẻ đó được viết bằng đầu nhọn (Gióp 19:24), có khi bằng sắt (Thi 45:2; Giê 8:8; 17:1). Muốn viết trên các thứ vật liệu cứng hơn phải dùng thợ khắc (Xuất 32:4; Ês 8:1). Khi viết trên da chiên hoặc da thú, người ta dùng cây sậy (III Giăng 13). Mực (Giê 36:18) nghĩa văn tự là “đen, ” giống tiếng Hy-lạp là mélan (IICôr 3:3; IIGiăng 1:12; IIIGiăng 1:13) là một thứ khói ám hòa với giấm. Mực đựng trong một ve nhỏ đeo ở dây lưng như cách người phương Đông ngày nay thường làm (Êxê 9:2, 3). Có ngụ ý đến các thầy thông giáo là các văn sĩ trong Thi 45:1; Exơ 7:6.

Lên đầu trang