Mediator. Médiateur.
Trong Tân Ước, mỗi khi nói đến danh từ Trung bảo đều chỉ về Đức Chúa Jêsus, như ITi 2:5; Hêb 8:6; 9:15; 12:24. Duy có một chỗ nói Môi-se là người trung bảo của luật pháp, như Ga 3:19, 20. Nhưng; tiếng Trung bảo mà Kinh Thánh thường dùng có ba phương diện:
- Thay mặt cho người khác để cầu xin Chúa cũng là ý trung bảo, như Áp-ra-ham cầu nguyện thay cho dân thành Sô-đôm (Sáng 18:23-33). Môi-se, Sa-mu-ên cầu nguyện thay cho dân Y-sơ-ra-ên (Xuất 32:30-34; ISa 7:8-12; xem Giê 15:1). Còn Giăng 17:1- thì chép Chúa Jêsus là Đấng Đại Trung bảo, cầu nguyện thay cho Hội Thánh, sau khi lên trời, Ngài ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, vẫn cầu nguyện thay cho người ta (Rô 8:34; Hêb 7:25; IGiăng 2:1).
2.Khi lập giao ước, có người đứng trung bảo. Lúc Đức Chúa Trời lập giao ước với Áp-ra-ham (Sáng 15:18), không có người ở giữa làm trung bảo. Nhưng xem Ga 3:15-18 thì dường như Chúa tự làm Trung bảo. Về sau Chúa lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên thì có Môi-se làm trung bảo (Xuất 19:10-25; 20:18-21). Khi Chúa Jêsus đến thế gian, Ngài phó mình chuộc tội, được làm chức Trung bảo của Tân Ước ở giữa Đức Chúa Trời và loài người.
- Thầy tế lễ dâng của lễ trung bảo. Dân sự muốn đến trước mặt Đức Chúa Trời, tất phải nhờ thầy tế lễ thuộc ban A-rôn làm trung bảo. Mà người trung bảo cần yếu hơn hết tức là thầy tế lễ thượng phẩm. Thơ Hê-bơ-rơ luận kỹ càng về Đấng Christ làm Đấng Trung bảo.