Triết học

Philosophy. Philosophie.

Mục đích bài nầy là luận về: (1) Sự mở mang tư tưởng của người Do-thái đối với khoa triết học Tây phương. (2) Sự công nhận triết học Hy-lạp liên quan thế nào với đạo Đấng Christ. (3) Sự tiến bộ theo trật tự của triết học Hy-lạp thành một khối hoàn toàn. (4) Sự tiếp xúc của đạo Đấng Christ với triết học.

  1. Triết học qui phạm của người Do-thái.–Triết lý, nếu hạn chế ý nghĩa của danh từ cách nghiêm nhặt để mô tả sự học biết tự do của tri thức, lấy lẽ thật làm mục đích hoàn toàn, là cốt yếu lớn ở Tây-phương. Tại Đông-phương, lối tìm kiếm sự khôn ngoan bao giờ cũng liên quan với sự thực hành. Lịch sử dân Do-thái không có gì phản đối ý đó, vì thật không có triết học chính thức của người Do-thái. Phương pháp triết học Hy-lạp là từ sự sinh hoạt đến Đức Chúa Trời; phương pháp triết học Y-sơ-ra-ên có thể nói là từ Đức Chúa Trời đến sự sinh hoạt. Những định lý của phương pháp nầy là kết luận của phương pháp kia. Một bên thì dẫn đến sự từ bỏ lần lượt các phạm vi khoa học rất cao mà con người vốn xưng là của mình, đến nỗi chỉ có những hệ thống hơi đạo đức còn lại thôi (Hy-lạp); bên kia, khi kỳ hạn đã trọn, Đức Chúa Trời đã sửa soạn nhiều người hoan nghênh Đấng Christ, tiếp nhận chân lý (Y-sơ-ra-ên).

Triết học người Do-thái, theo nghĩa rộng, thật ra là tìm trong sự tiến bộ của những sinh hoạt của dân tộc Y-sơ-ra-ên hơn là trong các sách đặc biệt. Từng bước, ý nghĩa của gia đình trở nên ý nghĩa của dân sự; và nước trở nên nền tảng của các lời hứa rộng hơn bao gồm tất cả các dân tộc hợp nhau trong một nước trên trời. Những sự liên quan của con người về xã hội, chính trị, và vũ trụ dần dần được tỏ ra là có liên quan với Đức Chúa Trời. Vậy, triết lý của người Do-thái cốt yếu là triết lý đạo đức, căn cứ trên sự quan hệ nhứt định với Đức Chúa Trời. Những lẽ đạo về cuộc Tạo thành và Thiên cơ, về một Ngôi vị Đức Chúa Trời vô hạn, và về ý muốn cứu rỗi loài người, –trong các triết học ngoại đạo thì đó là mục đích cuối cùng của sự tìm tòi, — nhưng trong triết học của người Do-thái thì đã được công nhận ngay từ ban đầu. Các Thi-thiên tỏ ra rằng người ta rất cần hiểu biết sâu nhiệm ve#ẽ thật, bất cứ nơi nào cũng đã bày tỏ ra quyền cao cả tuyệt đối của Đức Chúa Trời trên thế giới vật chất và đạo đức.

Một trong những người được phân biệt giữa vòng người Do-thái là “người khôn ngoan.” Các sách của Sa-lô môn là những bài bình phẩm về khoa triết học (ICác 4:30-33). Bài học về phận sự con người phải thực hành, sự tuyên ngôn đầy đủ từ một “lòng rộng rãi, ” sự suy cứu cẩn thận những vật thọ tạo của Đức Chúa Trời: ấy là tất cả của sự khôn ngoan. Thật ra chính mục đích thực hành của triết học nầy dẫn đến sự khải thị lẽ thật rất sâu nhiệm. Dần dần sự khôn ngoan được cảm biết là một Ngôi-vị, mà Đức Chúa Trời đặt lên ngôi, và bàn luận với loài người (Châm 8:1-). Ta thấy sự khôn ngoan đứng đối nghịch công khai với “đàn bà ngoại bang” là người lấy những sự tư dục mà cám dỗ: vậy có một bước mới dẫn đến lẽ đạo trung tâm của Đấng Christ, –Ngôi Lời trở nên xác thịt. Hai sách của Kinh Thánh, Gióp và Truyền đạo, dạy rõ hơn các sách khác về khoa triết học. Song trong cả hai sách này vấn đề luận đến là đạo đức, không phải là siêu hình học. Sách Gióp luận về những sự dữ làm khốn khổ cho “người trọn vẹn và ngay thẳng, “sách Truyền đạo luận về sự hư không của những khoái lạc thế gian.

Cuộc phu tù đã có một ảnh hưởng sâu nhiệm trên tư tưởng người Do-thái. Dường như sự học tại Ba-tư có cung cấp những phần tử quan trọng trong sự giáo dục của tuyển dân. Tuy nhiên, vì sự tiếp xúc của dân Do-thái với dân Ba-tư sanh ra những lời truyền khẩu về huyền bí giáo. Dân Do-thái đã tiếp xúc với người Hy-lạp nên cũng sanh ra các phái phân biệt hẳn nhau. Trong thế kỷ thứ III T.C., Antigonus ở Socho, nhà bác học trứ danh, ấy là một người Hy-lạp (có người cho rằng ông là giáo sư của Xa-đốc) và Boethus, là hai người khởi xướng thuần lý học Do-thái. Mặc dầu, ta có thể đặt niên hiệu từ thời nầy mà chia hai phe người Do-thái về thuần lý học. Phe Sa-đu-sê dường như là nhóm binh vực sự tự do rất rộng rãi của Antigonus; còn phe Pha-ri-si thì binh vực phái triết học Sto#cisme. Về sau, lại có sự phản công tự nhiên phái Essenes lập một thuyết Cấm dục huyền bí giáo.

  1. Triết học Hy-lạp liên quan với đạo Đấng Christ. Cách Đức Chúa Trời sửa dạy dân Do-thái cốt yếu là đạo đức. Những sự Chúa Jêsus dạy dỗ có liên quan với gia đình và dân tộc. Nhưng những sự dạy dỗ ấy không phải tự nó đầy đủ để sửa đổi bản tánh con người, vì lý trí (không kém ý muốn và sự thương yêu) cũng dự phần trong việc sửa soạn cho một người tiếp nhận Đấng Christ. Cách làm và kết quả trong cả hai trường hợp thì khác nhau xa, song cũng có nghĩa phụ thuộc cho nhau. Triết học làm giáo sư về sự thuộc linh thất bại (Rô 1:21, 22), song có làm chứng cách cao trọng về một luật bề trong (Rô 2:14, 15). Triết học trong các hình thức trong sạch và vĩ đại nhứt, là “giáo sư đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ” (Ga 3:24). Nhiệm vụ của triết học xưa nay vẫn được các giáo phụ trứ danh công nhận. Tuy nhiên, cách các văn sĩ ngoại đạo dùng triết học để phát triển những tư tưởng của người vô đạo là một nguyên nhân chính khiến các giáo phụ khinh triết học của họ. Trong sự biện luận cực điểm, không thể tránh khỏi sự phán đoán khác nhau. Nhưng khi mọi sự tranh luận đã qua rồi, sự quan trọng đầy đủ của triết học cổ lần đầu tiên mới được bày tỏ, và mới có thể biết giá trị thật của nó là thế nào, tức bao giờ cũng không bằng sự khải thị của Chúa.

III. Sự phát triển của triết học Hy-lạp.– Nhiều lần người ta thử lập triết học Tây phương từ nguồn Đông phương, nhưng không được. Dầu triết học Hy-lạp chịu ảnh hưởng thật từ Đông phương song không làm mất căn nguyên của các giáo sư danh tiếng Hy-lạp. Giá trị chính của triết học đó là kết quả về lý trí của một cá nhân, không phải từ nguồn sự khải thị của Đức Chúa Trời. Cách đơn giản nhứt để sắp đặt các trường học triết lý Hy-lạp là chia lịch sử triết học đó làm ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhứt cho tới kỷ nguyên của phái Sophiste, thời kỳ thứ nhì cho tới Aristote chết, thời kỳ thứ ba cho tới kỷ nguyên của Đạo Đấng Christ.– Trong thời kỳ thứ nhứt: thế gian là trung tâm của sự suy cứu;–Thời kỳ thứ nhì: những “ý niệm” về mọi vật, lẽ thật, và sinh mạng; –Thời kỳ thứ ba: khoa triết học trở ngược lại suy cứu cách cư xử thông thường của đời sống. Sau kỷ nguyên của đạo Đấng Christ, triết học giảm bớt sự sinh hoạt tại xứ Hy-lạp, nhưng vẫn cứ tiếp tục tại Alecxandrie và La-mã.

  1. Những trường học trước thời Socrate. Khởi đầu triết học của người Hy-lạp dường như chỉ thử theo tư tưởng về các căn nguyên huyền bí của các nhà thi sĩ thời trước. “Phần tử vẫn còn lại của mọi sự đang thay đổi là gì?” Ấy là câu hỏi đầu tiên mà trường Ionienne hết sức tìm cách trả lời. –Thalès (chừng 639-643 T.C.), nói rằng ẩm ướt (nước) là nguồn duy nhứt, và nuôi dưỡng sự sống.– Anaximène (chừng 520-480 T.C.) lấy không khí thế cho nước. Rồi sau, Diogène ở Apollonie (độ 450 T.C.), cho rằng phần tử đơn sơ nầy, “không khí, ” dường như có tri thức.
  2. Những trường của Socrate.– Vào thời kỳ thứ hai của triết học Hy-lạp, quang-cảnh và đầu-đề cả hai đều thay đổi. Một triết học của các “ý-niệm, ” theo nghĩa rất rộng, thay thế một triết học của cõi thiên nhiên trải qua ba đời, sự suy cứu của người Hy-lạp đạt tới điểm rất vinh quang của mình trong sự dạy dỗ của Socrate, Platon, và Aristote. Câu rất danh tiếng của Aristote chỉ rõ đặc điểm trong sự dạy dỗ của Socrate (468-399 T.C.) tỏ ra địa vị về khoa học của nhà triết học đó, rõ ràng Aristote nói có hai điều về sự Socrate dạy: luân lý theo qui nạp pháp (inductive), và sự định nghĩa chung. Bởi phương pháp trước (qui nạp pháp), Socrate thử tìm phần tử vẫn còn lại của những sự thay đổi bề ngoài và những quan niệm khác nhau; bởi phương pháp thứ hai (định nghĩa chung), Socrate tỏ ra lẽ thật mình đã tìm như thế. Ngoài hai điều đó, Socrate còn làm một việc tỏ ra lẽ thật là gì. Trong việc nghiên cứu của Socrate, Luân lý chiếm chỗ đầu nhứt của Vật lý. Mục đích lớn của qui nạp pháp là thiết lập quyền cao cả của Đức hạnh. Socrate chứng quyết có một luật phổ thông của điều phải và điều quấy, ông đã liên hệ triết học với hành động, cả chi tiết và tổng thể. Một bên thì nâng giữ quyền cao cả của Lương tâm, và một bên là sự hành động của Thiên cơ.
  3. Các trường sau đời Socrate.– Sau Aristote, triết học đi một đường mới. Sự nghiên cứu chỉ chuyên về cá nhân. Épicure (352-270 T.C.) định nghĩa mục đích của triết học là sự dẫn đến một đời sống vui sướng. Sự nghiên cứu về lẽ thật vì chính lẽ thật, thì ông coi như là thừa. Épicure chối bỏ những biện chứng pháp vì nói là vô ích, và nhận ngũ quan (năm bộ phận trong thân thể con người) theo nghĩa rất rộng, là mẫu mực để xét lẽ thật. Song Épicure khác nhau xa với phái Cyrénaique về phương diện vui sướng. Épicure dạy sự vui sướng mà người khôn ngoan nhắm làm mục đích cần phải tìm không phải ở trong sự thỏa nguyện tạm thời, song trong sự vui sướng trường thọ. Hết thảy mọi sự đều coi như là may mắn xảy ra, rồi lại qua đi như thế. Épicure cho rằng cá nhân làm chủ đời sống mình. Trong khi Épicure quyết định về một phần bản tánh người trong sự cư xử mình như thế, thì Zénon ở Citium (280 T.C.), cũng binh vực một nền đạo đức thuộc linh (tức tri thức). Hai nhà triết học tương phản nhau hoàn toàn. Một bên, thế gian vô hạn được dựng nên một cách may mắn chống với bên kia, tức một thế gian điều hòa. Một bên có các phần không chú ý đến cõi vật chất, bên kia có một Đấng làm cho cả cuộc Tạo thành được dồi dào và linh hoạt. Sự khác nhau đó cần thiết được tỏ ra trong phái Luân lý.
  4. Đạo Đấng Christ liên quan thế nào với triết học.– Chỉ có một chỗ chép trực tiếp trong Tân Ước về sự tiếp xúc của đạo Đấng Christ với triết học Tây phương, là khi Phao-lô thăm viếng thành A-thên (Công 17:18). Trong các thơ tín Sứ đồ, không có gì tỏ ra triết học có ảnh hưởng quan trọng trên Hội Thánh đầu tiên (so ICôr 1:22-24). Song về sự nghiên cứu triết học Đông phương thì khác, vì đã thâm nhập vào trong suốt cả quần chúng. Tín đồ Cô-lô-se được cảnh cáo về “triết học” (Cô 2:8), dường như chắc là từ Đông phương cùng những phần tử giống với những điều tìm thấy trong phái Trí-huệ-giáo, là tư kỷ cấm dục, và sự cung kính dị đoan đối với các thiên sứ (Cô 2:16-23). Trong hai thơ gởi cho Ti-mô-thê tại Ê-phê-sô, là thành mà Phao-lô nói trước sẽ có tà giáo dấy lên (Công 20:30), có hai phe sai lầm phân biệt rõ, với sự dạy theo Do-thái-giáo nữa, cũng vì chịu ảnh hưởng ít hay nhiều của triết học. Những bản viết sau thời các Sứ đồ, trừ ra truyện danh tiếng của Justin Martyr, không tỏ ra sự tiếp xúc gì giữa đạo Đấng Christ và triết học. Nói về triết học đạo Đấng Christ, theo một nghĩa, là trái với danh từ đó, vì đạo Đấng Christ thật lấy những nguyên lý thứ nhứt từ sự khải thị, không phải chỉ riêng từ lý trí. Song thật ra có một Triết lý thật của đạo Đấng Christ, mục đích của triết lý này tỏ ra cách nào đạo Đấng Christ có thể làm thỏa mãn những tâm hồn và những sự khao khát trong con người của mọi thời đại. Giải nghĩa một triết học như thế là công việc đáng để dành cho một nhà triết học hiện tại có tài như Origène thời xưa.

Lên đầu trang