Tóc

Hair. Cheveux.

Tóc người Đông phương trong thời Kinh Thánh để nhiều kiểu khác nhau, và ngay trong một dân cũng không giống nhau trải qua các đời. Nhờ các bia kỷ niệm của người Ai-cập và các văn sĩ Hy-lạp, nhứt là Hérodote, chúng ta biết rằng những người ở trên sông Ni-lơ cạo nhẵn đầu lúc thơ ấu, chỉ để một mái tóc, cho đến khi thành nhơn thì dấu hiệu thời ấu trĩ đó mới cất đi. Các thầy tế lễ và chiến sĩ cũng cạo nhẵn tóc trên đầu. Trái lại, về phần người Hê-bơ-rơ và Ba-by-lôn ở lân cận thường để tóc dài và chăm lo rất cẩn thận, lấy những lọn tóc quăn làm biểu hiệu cho vẻ đẹp trai tráng. Có nhiều chứng cớ trong Kinh Thánh và các chỗ khác tỏ ra: như tóc Sam-sôn (Quan 16:13, 19) và Áp-sa-lôm (IISa 14:26) dài, mướt, và bài ca của người nữ Su-la-mít về lọn tóc của lương nhơn nàng “quăn (rậm) và đen như quạ” (Nhã 5:11). Về bảy mé tóc của Sam-sôn (Quan 16:19) có lẽ chỉ về các bím tóc được tết lại như của những người chiến sĩ Bédouins ngày nay.

Giữa vòng các dân ngoại xung quanh Y-sơ-ra-ên, tóc của trẻ thơ và thiếu niên được cạo và dâng cho thần tượng để trong các hộp đựng vật thánh. Đó là sự gớm ghiếc ở trước mặt người Y-sơ-ra-ên (Lê 19:27; Giê 9:26; 25:23; 49:32). Có lẽ giữa vòng người Do-thái, như người Hồi giáo ngày nay, kỳ hớt tóc, khi họ thấy nặng nề bất tiện, có liên quan với mấy lễ nhỏ, và người ta cân cho đúng lượng tóc là bao nhiêu, rồi lấy bấy nhiêu lượng bạc mà bố thí cho kẻ nghèo. Chắc sự cân tóc của Áp-sa-lôm (IISa 14:26) cũng nói đến một thói tục như thế. Cũng xem Êxê 5:1.

Luật pháp dạy khi nào ngày của người Na-xi-rê đã mãn thì phải dâng tế lễ, và “tại hội mạc, phải cạo đầu” (Dân 6:1-21), điều đó chỉ về việc bắt đầu một đời sống mới. Tóc để dài không đụng đến, được coi là biểu hiệu việc dâng cả sức mạnh của thân thể cho Đức Chúa Trời. Như vậy, cũng dễ hiểu rằng tóc là trung tâm sức mạnh Sam-sôn (Quan 16:17, 20). Đức Chúa Trời đã đếm hết tóc trên đầu của chúng ta (Mat 10:30; Lu 12:7), theo tác giả Thi-thiên có ý là vô số không đếm được (Thi 40:12; 69:4). Điều Chúa đã đếm, Ngài cũng có thể che chở, đến nỗi “một sợi tóc trên đầu không mất, ” tức rơi xuống đất. Những câu nầy chứng tỏ việc được bảo vệ an ổn trọn vẹn: ISa 14:45; IISa 14:11; ICác 1:52; Lu 21:18; Công 27:34.

Trong thời Tân Ước, nhất là trong thời kỳ bị tản lạc thì dân Do-thái học theo kiểu người La-mã hớt tóc ngắn (ICôr 11:14), vì sợ rằng nếu để tóc dài lại giống dân ngoại mà dâng tóc cho hình tượng, song vì Lê 21:5 cấm, nên cứ để tóc mai mọc dài.

Đàn bà Hê-bơ-rơ còn chú ý đến tóc hơn người đàn ông nhiều. Những lọn tóc dài đen là sự vinh hạnh của phụ nữ (Nhã 7:5; Giăng 11:2; ICôr 11:5, 6, 15). Lọn tóc trong Nhã 7:5 chỉ về các sợi tóc mỏng manh như mạng nhện của khung cửi (so Ês 38:12), bởi đó chỉ về tóc để dài thướt tha. Sự tết và chải tóc đàn bà có chép trong IICác 9:30. Đời Tân Ước, có lời cảnh cáo nữ tín đồ chớ theo lối những người thế gian mà “dóc tóc” (ITi 2:9; IIPhi 3:3).

Nhiều chỗ nói đến việc làm đẹp và xức dầu cho tóc (Truyền 9:8; Mat 6:17; có lẽ Lu 3:3), nhưng dầu có khi dùng vào việc thánh, thì cấm không được dùng cách hoang phí theo thế gian (Xuất 30:32; Thi 133:2). Josèphe nói rằng Hê-rốt Lớn, lúc cao tuổi, nhuộm tóc đen, dầu vậy, tục lệ đó cũng như tục phiếu trắng tóc mà người Hy-lạp và La-mã thường làm không phải đặc biệt cho dân Do-thái. Chắc Mat 5:36 ngụ ý đến tục lệ chung đó trong đời Chúa. Theo sử gia Josèphe các thanh niên trong đội thị vệ của Sa-lô-môn có thói quen, trong các yến tiệc, rắc trên tóc dài mình những bụi vàng.

Đối với người Do-thái, xức dầu trên đầu là đồng nghĩa với sự vui mừng và thạnh vượng (so Thi 23:5; 92:10; Hêb 1:9; xem “dầu vui mừng, ” Ês 61:3, và “dầu vui vẻ, ” (Thi 45:7). Như rửa chơn, xức dầu cho tóc cũng là dấu bày tỏ sự tiếp đãi khách (Thi 23:5; Lu 7:46). Trái lại, khi gặp sự buồn bã và tang chế thì không ai xức dầu, tóc để rối bù, và phủ tro bụi lên (IISa 14:2; Giô 7:6; Gióp 2:12); hoặc bứt hay cắt ngắn tóc (Exơ 9:3; Nê 13:25; Giê 7:29).

Tóc hoa râm và bạc của tuổi già được người Do-thái rất tôn trọng (Châm 16:31; 20:29). Có khi tóc là biểu hiệu sự hiện diện vinh hiển, nếu không là của Chúa (Đa 9:7; Khải 1:14). Tai vạ giáng trên “kẻ tóc bạc” thì coi như nặng nề gấp đôi (Sáng 42:38; 44:29). “Lông tóc của thịt tôi bèn xửng lên” (Gióp 4:15) chỉ sự kinh hãi thình lình giáng trên ai. “Đầu cùng lông chơn” trong Ês 7:20 đồng nghĩa với người “hèn yếu” và kẻ “mạnh dạn” trong dân sự.

Lên đầu trang