Tiên tri

Prophet. Prophète.

  1. Định nghĩa.– Trong Cựu Ước nguyên văn Hê-bơ-rơ là nâbi, bởi động từ naba nghĩa là “sôi sùng sục” như nước trong suối, giống Thi 45:1 chép “Lòng tôi đầy tràn những lời tốt, ” tức được soi dẫn bởi Đức Thánh Linh (IIPhi 1:19, 21; Gióp 32:8, 18, 19, 20). Trong Tân Ước nguyên văn Hy-lạp là prophetes, theo nghĩa giáo khoa Hy-lạp là một người nói thế cho người khác, nhứt là người nói thế cho một vị thần và cho người ta biết ý muốn của vị thần đó. Vậy, ý nghĩa cốt yếu của từ này là: “người thông ngôn.” Theo Locke, những ý nghĩa khác nhau mà dùng danh từ tiên tri trong Kinh Thánh là như sau nầy: dự ngôn, nói ra bởi sự soi dẫn Đức Thánh Linh, hiểu biết và giải nghĩa lẽ mầu nhiệm giấu kín trong Kinh Thánh bởi sự soi sáng và hành động của Đức Thánh Linh (so Dân 12:6-8).
  2. Lịch sử chức tiên tri.– Từ thế kỷ thứ VIII đến thứ IV T.C., trong khoảng 400 năm đó, các tiên tri được người Hê-bơ-rơ tôn trọng, kính nể, nên rất có quyền thế và năng lực. Trước A-mốt và Ô-sê, đã có các tiên tri khác lo liệu sửa soạn rồi. Sau khi đời các tiên tri đó qua đi, lại có một lớp tiên tri khác lên nối chức, nhưng không thạnh bằng đời xưa. Lịch sử chức tiên tri chia làm ba thời kỳ.
  3. Từ Sa-mu-ên trở về trước.– Là thời đại khai sáng ban đầu của các tiên tri. Những việc trong thời kỳ nầy rất khó biết chắc. Vì việc xếp đặt các ban tiên tri là do người sau, chớ không phải người hồi thời bấy giờ. Sáng 20:7 xưng Áp-ra-ham là tiên tri. Xuất 7:1 xưng A-rôn là tiên tri. Thi 105:15 giữa tổ tiên người Y-sơ-ra-ên có tiên tri; Dân 22:1–24:1- chép việc Ba-la-am thì biết người ngoại bang cũng có tiên tri. Dân 12:5-8 và Phục 18:15 xưng Môi-se là tiên tri cao quí hơn hết, vì ông hằng đối mặt và hầu chuyện Đức Chúa Trời. Quan 6:8, dân Y-sơ-ra-ên bị người Ma-đi-an ngược đãi, Đức Chúa Trời sai một tiên tri — không biết tên — đến cùng họ. Ngoài ra, như Sam-sôn làm Na-xi-rê, dầu không phải là tiên tri, song từ bé Sam-sôn đã được Đức Thánh Linh cảm động, được quyền phép lớn. Trong đời các Quan-xét, chức vị tế lễ sa vào một địa vị suy tàn, và dân sự không còn chú ý đến các lễ nghi và sự dạy dỗ của thầy tế lễ. Vậy, Đức Chúa Trời lập một ban mới gọi là ban thứ tiên tri. Sa-mu-ên là một người tiên tri về dòng Kê-hát (ISử 6:28), và dầu chỉ là một thầy tế lễ, nhưng ông cũng được Đức Chúa Trời dùng để sửa đổi một ban thầy tế lễ cho tốt hơn (ISử 9:22) và tạo cho các tiên tri một địa vị mà trước họ chứa từng có. Nên chú ý, Sa-mu-ên không sáng lập ban thứ tiên tri, vì mầm cả chức tiên tri và chức vua sẵn có trong Luật pháp Môi-se ban cho dân Y-sơ-ra-ên (Phục 13:1; 18:20; 17:18), song không được mở mang. Trước khISa được khải thị, đã có người của Đức Chúa Trời đến nhà Hê-li nói tiên tri về tai vạ người sẽ gặp. Bởi vậy, chúng ta biết rằng trong thời kỳ nầy, Đức Chúa Trời có dùng sự hiện thấy, hoặc dùng chiêm bao, hoặc dùng sứ giả để bày tỏ ý Ngài, nhưng lúc bấy giờ ít dùng đến danh tiên tri thôi.
  4. Từ Sa-mu-ên đến A-mốt.– Là thời đại mở mang của chức tiên tri. Đọc ISa 3:1 nói ở đời Hê-li, Đức Chúa Trời ít dùng lời để ngỏ cùng người ta, và không thường tỏ sự hiện thấy. Điều đó có thể khiến ta biết rằng kể từ đờISa-mu-ên, điều cần thiết lúc bấy giờ là sự khải thị cần được rõ ràng hơn. Trong đờISa-mu-ên, có vài nơi đã lập trường thần học để dạy các tiên tri như Ra-ma (ISa 19:19, 20), Bê-tên (IICác 2:3), Giê-ri-cô (câu 5), Ghinh-ganh (4:38; 6:1). Xem bàISa về các trường tiên tri. Sa-mu-ên làm giám đốc trong các trường đó, về sau Ê-li-sê cũng có quyền đó. Công việc của các trường đó là bảo tồn văn hóa nước Y-sơ-ra-ên. Các tác phẩm về lịch sử của nước cũng phát nguyên từ đó mà ra. Đời vua Đa-vít, sự quan hệ giữa vua chúa và các tiên tri rất là mật thiết. Về sau cũng vậy, mãi đến khi người Y-sơ-ra-ên bị bắt làm phu tù mới thôi. Hai tiên tri Na-than và Gát thường sửa chữa điều lầm lỗi cho vua Đa-vít (IISa 12:1; 24:11), và giúp đỡ vua về việc lập lễ thờ phượng Đức Chúa Trời (IISử 29:25). Đọc IISử 9:29 nói Na-than, A-hi-gia, và Giê-đô đều là những người giữ phép tắc và lịch sử của quốc gia. Đời Sa-lô-môn, rất ít tiên tri, song về sau, vua và tiên tri quan hệ với nhau rất nhiều. Tiên tri thường trách vua, khuyên vua, và cũng giúp đỡ việc chính trị cho nước. Khi A-háp làm vua, dân thờ lạy hình tượng; tiên tri Ê-li có quở trách vua. Tiên tri Ê-li-sê báo trước Giê-hu sẽ trừ diệt được các người trong nhà A-háp (IICác 9:1-). Hai tiên tri đó là thực hành, chớ không phải là trước thuật.
  5. Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ IV T.C. là thời đại làm sách của các tiên tri. Trong khoảng đó, phải kể A-mốt đứng đầu, là thời kỳ rất thiﮨ trong việc làm sách của người Hê-bơ-rơ. Tiên tri lớn hơn hết là Ê-sai. Xét kỹ sách tiên tri: khi A-sy-ri là nước thù nghịch, trong vòng dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên có sáu tiên tri cả thảy. Phương Bắc có A-mốt, Ô-sê, chừng vào giữa thế kỷ thứ VIII T.C.. Phương Nam có Ê-sai và Mi-chê; tiếp tục sau đó có Sô-phô-ni và Na-hum, chừng ở vào đầu thế kỷ thứ VII. Khi Canh-đê là nước thù nghịch, có Giê-rê-mi, Ha-ba-cúc làm tiên tri trước khi người Giu-đa bị bắt làm phu tù, chừng hồi đầu thế kỷ thứ VI. Ê-xê-chi-ên làm tiên tri rồi người Giu-đa bắt đầu đến Ba-by-lôn. Sách Đa-ni-ên giảng giải về sự hiện thấy nhiều lắm, nên thật có thể là một thứ sách Khải thị. Sau khi người Giu-đa trở về nước cũ, có A-ghê và Xa-cha-ri (Xa 1:1–8). Khoảng thế kỷ thứ V T.C., thì có Ma-la-chi. Còn các tiên tri Giô-ên, Giô-na, Áp-đia và Xa 9:1–14:1-; làm sách vào hồi nào, nay cũng còn chưa rõ, nhưng nhiều người cho rằng làm vào sau thời kỳ được tha từ Ba-by-lôn về. Sau đó Giăng Báp Tít ra đời. Có thể gọi là một tiên tri sau chót trong Cựu Ước. Giăng Báp Tít có tâm thần và quyền phép Ê-li. và dọn đường cho Đấng Mê-si khiến người Do-thái tiếp nhận Chúa.

III. Các tiên tri được soi dẫn.– Luận tới việc các tiên tri chịu cảm động có nhiều vấn đề nảy ra:

  1. Bởi đâu các tiên tri biết được ý chỉ của Đức Chúa Trời? Chúng ta đọc Kinh Thánh mà biết lịch sử lời tiên tri của các tiên tri. Ấy là một cuốn lịch sử tiến hóa. Các tiên tri được biết ý Chúa, qua chiêm bao mà được sự khải thị, hoặc nhân lúc tỉnh táo mà nhận được sự hiện thấy. Người làm tiên tri không cứ phải được Chúa kêu gọi ngầm một cách chính thức, rồi mới được nhận chức đâu. Song có nhiều người được học tập ở trường, nhưng không phải hết thảy tiên tri đều được hưởng giáo dục ở trường học đâu. Ví dụ như A-mốt không hề học tập ở một trường học nào cũng được làm tiên tri (Am 7:14, 15). Còn các tiên tri khác, có người thình lình được Thánh linh cảm động, có người hằng được cảm động luôn. Điều quan trọng là: sau khi người đó được cảm động tất phải tự cảm biết mình đã đầy dẫy đức tin mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va phán như vầy…”
  2. Các tiên tri chịu cảm động ra sao? Trạng thái họ bấy giờ sánh với lúc bình thường thể nào? Xét Kinh Thánh, biết Đức Chúa Trời cảm động các tiên tri theo nhiều phương pháp (ISa 10:6, 10; ICác 18:46; Ês 6:5-8; Êxê 1:3; Quan 6:34; IISử 24:20; Mi 3:8; Giê 15:16; 20:9). Dầu chịu cảm động như vậy, song không thể bảo rằng linh giác của các tiên tri hoàn toàn mất quyền tự chủ, nhất mực vâng theo ý Chúa sai khiến đâu. Trước kia, Môi-se đã cự lại tiếng kêu gọi của Chúa (Xuất 4:13), và lại hay căn vặn Ngài nữa (Xuất 32:11). A-mốt có thể thay đổi ý chỉ Đức Chúa Trời (Am 7:2, 3). Vậy đủ chứng tỏ rằng khi chịu cảm động, các tiên tri vẫn còn tự chủ được.
  3. Các tiên tri có thể tự hiểu những lời mình rao truyền không? Đáp: Chắc có, song chỉ e họ không biết rõ tương lai ứng nghiệm ra sao thôi. Vì lời tiên tri họ không mập mờ khó hiểu như những lời tà thần Hy-lạp, đến nỗi cả kẻ nói lẫn người nghe đều không lường biết ý nghĩa ra sao đâu. Lời tiên tri của họ cốt muốn khiến cho ai nấy biết rõ ý thánh của Đức Chúa Trời (Am 3:7) nên những điều họ nói ai cũng biết.
  4. Việc Chúa thực sự hiển hiện để chỉ bảo so với ảo tưởng của người ta thì làm thế nào mà phân biệt được? — Trong Kinh Thánh chép tiên tri giả nhiều lắm, bọn đó hằng lừa gạt người ta và dụ dỗ làm điều dữ. Những người đó có phải được Thần linh cảm động chăng? Theo Phục 13; ICác 22:22; Êxê 13 đã chép, thì dường như bọn đó sai khiến được, song e rằng ấy chỉ là tư tưởng đời bấy giờ nghĩ như vậy, chớ không phải là điều đáng tin. Các tiên tri giả giảng đạo giả dối là vì lòng họ không ngay thẳng, chỉ biết làm lợi cho mình thôi. Làm tiên tri mà không có lòng thanh sạch thì ắt không được Đức Chúa Trời cảm động.
  5. Chức vụ và sự dạy dỗ của các tiên tri.– Chức vụ của các tiên tri nhiều lắm. Đời xưa, nhân dân cũng đem những việc bình thường xảy ra trong đời sống đến hỏi họ, như đầy tớ của Sau-lơ đến hỏi tiên trISa về việc mất lừa (ISa 9:6). Con của Giê-rô-bô-am bị đau, sai vợ đến hỏi lành dữ nơi tiên tri A-hi-gia (IICác 8:8). Các tiên tri lại thường chép công việc nước nhà mà làm thành quốc sử (ISử 29:29). Họ hằng nói tiên tri để cảnh cáo vua và dân, nên người đời sau cho việc nói tiên tri là chức vụ lớn nhất của tiên tri. Nhưng thật ra chức vụ lớn nhất của họ là khuyên dạy nhân dân vâng theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời (IICác 17:13; Giê 25:13). Còn sự dạy dỗ quan hệ về phần đạo đức? Các tiên tri không hề cắt nghĩa luật pháp vì ấy là chức phận của các thầy tế lễ. Các tiên tri không coi trọng những lễ nghi dâng của lễ thuộc phần hình thức, song chú trọng về phẩm hạnh, đạo đức thuộc phần thực tế. Đại ý họ cho rằng một nước thiﮨ hay suy là tùy theo đạo đức của nhân dân nước đó có tốt hay không. Họ cũng có thể quở trách vua chúa, như trách các vua: Đa-vít, Giê-rô-bô-am và A-háp (IISa 12:7-12; ICác 13:1-5; 21:17-26). Các tiên tri cũng có quyền lực can thiệp vào việc chính trị trong nước và vua cũng vui lòng nghe theo. Khi Vua San-chê-ríp đến đánh Giu-đa, Ê-sai khuyên cố sức chống cự (IICác 19:1-). Khi Ai-cập chiến tranh với A-sy-ri, người khuyên cố giữ trung lập (Ês 30). Giê-rê-mi biết ý Đức Chúa Trời muốn cho nước Ba-by-lôn dấy lên nên khuyên vua chịu phục. Nếu trong nước có những tiên tri thường khuyên răn vua và dân chú trọng về đạo đức như thế, thật có ích lợi cho nước nhà lắm. Những lời dạy dỗ về đạo đức của họ có quan hệ đến phần tôn giáo. Nhân dân bấy giờ rất sa ngã về phần đạo đức, quên mất sự Khải thị của Đức Chúa Trời, nên các tiên tri lại nêu lên nghĩa vụ họ phải làm trọn đối với Đức Chúa Trời. Tiên tri Ô-sê và A-mốt đều khuyên nhân dân dốc lòng thành thực hướng về Đức Giê-hô-va là Đấng Chí thánh có một không hai mà thờ phượng Ngài. Hai tiên tri đó cho sự lìa bỏ Chúa, thờ hình tượng, là tội lớn hơn hết, khác nào người đàn bà tà dâm bội nghịch lìa bỏ chồng mình. Lời tiên tri của các tiên tri Do-thái không dối trá như hạng người chuyên làm công việc coi tướng số, bói khoa đâu. Lời tiên tri của họ đều liên quan đến việc nước nhà, chẳng những họ nói tiên tri về kết cuộc của nước mình, nhưng cũng nói về kết cuộc cả nước láng giềng nữa. Xét lịch sử thế giới thì biết: trong lịch sử các quốc gia khác không thấy ai được như những tiên tri đó cả. Họ hằng nói tiên tri khiến người ta biết rằng nước nhà được thịnh vượng hay phải diệt vong là tùy theo vua và dân có hết lòng thờ phượng Đức Chúa Trời hay không vậy.
  6. Các lời nói tiên tri về Đấng Mê-si được ứng nghiệm.– Các tiên tri Cựu Ước thường đem đến cho người ta có sự hy vọng, hy vọng về sau nước nhà sẽ được vinh hiển. Mỗi tiên tri giảng dạy một cách riêng. Có người nói: Đến kỳ sẽ có một Vua khôn ngoan, tài năng và công bình ra mà trị nước. Người khác lại nói: Khi kỳ đã đến, thì nước sẽ thịnh vượng, dân sẽ yên, thóc lúa sẽ tốt. Hoặc nói: Đến kỳ nước Y-sơ-ra-ên sẽ cai trị các nước láng giềng xung quanh. Hoặc lại bảo: Tới kỳ, muôn dân thiên hạ sẽ đem nhau đến thờ lạy Đức Chúa Trời của Do-thái. Tới đầu thế kỷ thứ V T.C. mới chép đến danh Đấng Mê-si (Đa 9:25, 26), nghĩa là Đấng Chịu xức dầu. Si-ru, vua nước Ba-tư, được xưng là “người xức dầu của Ngài” (Ês 45:1). Ý của tiên tri có lẽ không nghĩ tới Si-ru làm hình bóng về Đấng Mê-si, chẳng qua tưởng rằng sẽ có một vua ra đời, làm cho nước Do-thái phục hưng đó thôi. Vậy, nên có thể nói: các tiên tri về Đấng Mê-si được ứng nghiệm. Sau khi Chúa Jêsus giáng thế, tín đồ Ngài tra xét lời tiên tri trong Cựu Ước thật thấy chỉ về Đấng Christ khi ở thế gian: Ngài làm việc, Ngài chịu nạn, Ngài sống lại, Ngài lập nước thiên đàng, đều hiệp đúng với lời tiên tri của Đấng tiên tri. Còn nhiều lời các tiên tri chưa được ứng nghiệm trọn vẹn, song có thể hy vọng rằng tương lai sẽ được ứng nghiệm hết.
  7. Các tiên tri trong Tân Ước.– Về phần dự ngôn, các tiên tri thời Cựu Ước dự ngôn về tiên tri thời Tân Ước nơi Sứ đồ Giăng là người chép sách Khải thị; nhưng về phần tính cách chung, người được soi dẫn giải nghĩa ý muốn Đức Chúa Trời, thì có một Tiên tri Lớn là Chúa Jêsus, và người dọn đường cho Ngài là Giăng Báp Tít. Có thể gọi Giăng Báp Tít, với Xa-cha-ri, Si-mê-ôn và nữ tiên tri An-ne (Lu 1:67; 2:25, 36) đều là tiên tri thuộc Cựu Ước. Chẳng những người Do-thái nhận Giăng Báp Tít là bâđại tiên tri (Mat 14:5; 21:26; Mác 11:32; Lu 20:6), mà ngay Chúa Jêsus cũng xưng là “đấng trọng hơn tiên tri” (Mat 11:9; Lu 7:26). Cũng có tiên tri Tân Ước là những người đặc biệt lãnh các ân tứ Đức Thánh Linh trong đời các Sứ đồ, là người nói tiếng lạ và thông giải, người nói dự ngôn, phân biệt các thần, các giáo sư, và người làm phép lạ (ICôr 12:10, 28). Xem bài “NÓI TIÊN TRI.” Trong số những người đó có Giu-đe, Si-la (Công 15:32), A-ga-bút (11:27; 21:10), bốn con gái của Phi-líp (21:8, 9), và nhiều người khác nữa. Phàm nơi nào có Hội Thánh, ắt có tiên tri. Trong các thơ tín, Phao-lô thường nói đến tiên tri (ICôr 12:28; 14:1-; Êph 2:20; 3:5; 4:11). Trong mấy câu đó thấy Đức Chúa Trời lập Hội Thánh: trước có Sứ đồ, sau đến tiên tri. Các tiên tri trong Cựu ước đều làm chứng cho Đấng Christ (Lu 24:27, 44; Công 10:43; IIPhi 1:10, 11). Đức Chúa Trời lập Đấng Christ làm tiên tri đời đời (Phục 18:15-19; Công 3:22-24). Đấng Christ là đầu Hội Thánh. Vậy, phàm các giáo hữu đều có thể ước ao sự ban cho nói tiên tri (ICôr 14:1); song chính Chúa cảnh cáo về tiên tri giả, và trong thời các Sứ đồ thì có lời khuyên: “hãy thử cho biết các thần có phải đến từ Đức Chúa Trời chăng” (I Giăng 4:1; ICôr 12:10; 14:29).

Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho các sách tiên tri như sau nầy:

Các tiên tri là những người Đức Chúa Trời dấy lên trong thời kỳ suy đồi và bội đạo của Y-sơ-ra-ên. Trước hết, họ là những người phấn hưng và ái quốc, họ được Đức Chúa Trời dùng để nói thế cho Ngài. Các sứ mạng tiên tri có hai tính cách: trước nhứt, là thuộc địa phương và nhằm vào thời điểm của tiên tri đang sống; thứ nhì, là dự ngôn về ý định Đức Chúa Trời trong tương lai. Có khi lời dự ngôn ra trực tiếp từ hoàn cảnh của địa phương (xem Êph 7:1-11 với câu 12-14).

Cũng phải nhớ rằng tiên tri có tính cách của một người Y-sơ-ra-ên. Thường thường những lời tiên tri dự ngôn có tính cách trực tiếp chứ không phải để dạy dỗ và trừu tượng, nhưng vẫn có ý nói về sự kết ước của dân sự, tội lỗi và thất bại, cũng như về vinh hiển tương lai của họ. Dân ngoại được nói đến như là đồ dùng để sửa phạt Y-sơ-ra-ên, như thể họ phải bị đoán xét như vậy, dân ngoại cũng được dự phần ân điển về điều còn phải được tỏ ra đối với Y-sơ-ra-ên. Về Hội Thánh, về đoàn thể thì không có trong sự hiện thấy của tiên tri Cựu Ước (Êph 3:1-6). Phước hạnh tương lai của Y-sơ-ra-ên như một dân tộc được lập trên nền giao ước Pha-lê-tin về sự lập lại và trở lại cùng Chúa (Phục 30:1-9), và giao ước với Đa-vít về chức vị Vua của Đấng Mê-si. Con vua Đa-vít (IISa 7:8-17), và khiến lời dự ngôn có tính cách về Đấng Mê-si. Sự tôn cao Y-sơ-ra-ên được ở trong nước, và nước lấy quyền để chúc phước từ Ngôi vị của Vua, Con Đa-vít, cũng là “Em-ma-nu-ên.”

Song vì Vua cũng là Con của Áp-ra-ham (Mat 1:1); Đấng Cứu chuộc đã hứa, và vì sự cứu chuộc chỉ bởi tế lễ của Đấng Christ, vậy lời tiên tri của Đấng Mê-si cần bày tỏ Đấng Christ trong hai tính cách: Đấng Mê-si đau khổ (xem Ês 53:1-) và Đấng Mê-si trị vì (xem Ês 11:1-). Hai tính cách đó, đau thương và vinh hiển, yếu đuối và quyền phép, là một lẽ mầu nhiệm đã khiến các tiên tri khó hiểu (IIPhi 1:10-12; Lu 24:26, 27).

Lời giải lẽ mầu nhiệm đó, như Tân Ước chỉ rõ, là ở trong hai lần giáng lâm của Chúa, — lần thứ nhứt để cứu chuộc bởi sự đau thương; lần thứ hai để lập nước trong sự vinh hiển, khi các lời hứa riêng cho dân tộc Y-sơ-ra-ên sẽ được ứng nghiệm (Mat 1:21-23; Lu 2:28-35; 24:46-48, với Lu 1:31-33, 68-75; Mat 2:2, 6; 19:27, 28; Công 2:30-32; 15:14-16). Các tiên tri thật đã mô tả hai sự giáng lâm bằng hai hình thức không thể đồng thời với nhau (xem Xa 9:9, trái với 14:1-9); song đối với họ, không được tỏ rằng giữa sự giáng lâm để chịu thương khó và sự giáng lâm để được vinh hiển sẽ được ứng nghiệm mấy “lẽ mầu nhiệm về nước” (Mat 13:11-16); cũng không được tỏ rằng kết quả sự chối bỏ Đấng Mê-si, là Hội Thánh Tân Ước sẽ được gọi ra. Những điều đó, đối với họ là “lẽ mầu nhiệm đã giấu kín trong Đức Chúa Trời” (Êph 3:1-10).

Bởi vậy, nói rộng nghĩa, lời tiên tri dự ngôn có trong sự ứng nghiệm của hai giao ước với Pha-lê-tin và với Đa-vít; giao ước với Áp-ra-ham cũng có dự phần nữa.

Các cường quốc ngoại bang được nói đến như có liên quan với Y-sơ-ra-ên, nhưng các lời tiên tri (trừ trong Đa-ni-ên, Áp-đia, Giô-na và Na-hum) cũng không chú trọng đến lịch sử thế giới ngoại bang. Sách Đa-ni-ên nói đến thế giới ngoại bang nhưng có một tính cách riêng biệt.

Những lời dự ngôn về sự lập lại quốc gia Y-sơ-ra-ên từ sau thời gian 70 năm bị phu tù tại Ba-by-lôn, phải được phân biệt với những lời dự ngôn về sự lập lại quốc gia từ sự tản lạc dân Do-thái khắp thế gian ngày nay. Thượng hạ văn rất rõ ràng. Giao ước với Pha-lê-tin (Phục 28:1-30:9) là khuôn của lời tiên tri dự ngôn trong một nghĩa rộng hơn, — sự không vâng phục của quốc dân, tan lạc khắp thế gian, ăn năn, Chúa tái lâm, nhóm họp Y-sơ-ra-ên lại và lập lại nước, sự trở lại đạo và ơn phước của Y-sơ-ra-ên và sự đoán xét những kẻ hà hiếp Y-sơ-ra-ên.

Có sự phân chia của các tiên tri là: –Trước phu tù, tức trong Giu-đa: Ê-sai, Giê-rê-mi (đến tận trong hồi phu tù), Giô-ên, Áp-đia, Mi-chê, Na-hum, Ha-ba-cúc, và Sô-phô-ni. Trong Y-sơ-ra-ên: Ô-sê, A-mốt, Giô-na. Trong kỳ phu tù, Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên, cả hai thuộc nước Giu-đa, song nói tiên tri cho cả dân tộc. Sau kỳ phu tù, thuộc cả Giu-đa: A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi. Sự phân chia thành các đại tiên tri và tiểu tiên tri là tùy theo sách dài hay ngắn, chớ không theo lịch sử và niên biểu.

Những chìa khóa mở ý nghĩa tiên tri là: hai sự giáng lâm của Đấng Mê-si, lần đến để chịu đau thương (Sáng 3:15; Công 1:9), và lần đến để cai trị (Phục 30:3; Công 1:9-11); lẽ đạo về Dân sót (Ês 10:21); lẽ đạo về ngày của Chúa (Ês 2:10-22; Khải 19:11-21), và lẽ đạo về Nước (Cựu Ước, Sáng 1:26-28; Xa 12:8; lời chua; Tân Ước, Lu 1:31-33; ICôr 15:28, lời chua). Các đoạn trung tâm, xét chung cả toàn thể lời tiên tri, là Phục 28:1-; 29:1-; 30:1-; Thi 2:1-; Đa 2:1-; 7:1-.

Phải nhờ toàn thể lời tiên tri để quyết định ý nghĩa của một khúc riêng (IIPhi 1:20). Bởi đó, điều quan trọng là trước hết phải học biết toàn thể các đại đề kể trên; và muốn học như vậy, phải tìm suốt toàn thể các sách tiên tri, những đề mục, nói đến trong khúc trước. Về đề mục, “thời cuối cùng” mà mọi lời tiên tri dẫn đến, người học sẽ được hiểu rõ hơn nếu thêm vào đề mục đó có vấn đề “Con Thú” (Đa 7:8; Khải 19:20), và “Ha-ma-ghê-đôn” (Khải 16:14; 19:17, lời chua).

ICôr 12:10.– Ơn nói tiên tri. Xem bài “Nói tiên tri.”

Mat 2:15.– Giải nghĩa tiên tri. Xem bài “Nói tiên tri.”

ICôr 14:1.– Sự ban cho nói tiên tri. Xem bài “Ơn ban cho thuộc linh.”

Lên đầu trang