Ti-mô-thê I, Thơ

The first epistle to Timothy. Première Ép#tre à Timothée.

I Ti-mô-thê thuộc Thơ tín Mục hội.– Ba thơ tín của Phao-lô: I Ti-mô-thê, IITi-mô-thê, và Tít, được gọi là Thơ tín Mục hội, bởi vì gởi cho hai mục sư và khuyên dạy về phận sự chức vụ đó.

  1. Chứng cớ thơ Mục hội là thật.– Irénée trích lại ITi 1:4, 9; 6:20; IITi 4:9-11, 21; Tít 3:10. Clément ở Alecxandrie trích lại từ ba bức thơ nầy; và Tertullien cũng vậy. Eusèbe nói về ba bức thơ nầy: là “thuộc Sách thánh công nhận phổ thông.” Theophilus ở An-ti-ốt trích lại từ ba thơ; và Caius công nhận là thật. Clément ở La-mã trưng dẫn ITi 2:8. Ignace và Polycarpe trong thế kỷ thứ II cũng nói đến hai thơ Ti-mô-thê, và hết thế kỷ đó, Hégésippe và Athenagorus cũng vậy.
  2. Những tà giáo, luận đến trong thơ Mục hội.– Trong ba bức thơ Mục hội, một mặt luận đến sự khắc khổ và sự dạy luật pháp của tín đồ phe Do-thái (ITi 1:7; Tít 1:10, 14; 3:9), và mặt khác luận đến Trí-huệ-giáo mới khởi xướng (ITi 1:4). Thuyết lý của Trí-huệ-giáo có hai điều cốt yếu: tức từ thuở ban đầu, có điều thiện điều ác, ấy mới nẩy mầm trong ITi 4:3; v.v.. Trong 6:20, có danh từ “tri thức ngụy xưng là tri thức.” Một điều sai lầm của Trí-huệ-giáo là về “sự sống lại đã đến rồi” (IITi 2:17, 18 cũng nói đến; so ICôr 15:12, 32, 33). Tà giáo phe Do-thái bị phản đối trong ba thơ nầy không phải tà giáo trong các thơ trước, tức là liên lạc Luật pháp với đức tin đến Đấng Christ để được xưng công bình. Bước ở giữa là tỏ ra trong Cô 2:1-, tức chỉ nhờ ý muốn và khắc khổ để thờ, và sự thờ lạy các thiên sứ cũng được thêm vào tà giáo theo phe Do-thái đó. Trong thơ Phil 3:2, 18, 19, chép một bước nữa, những việc làm trái với đạo đức cùng đi đôi với tà giáo về sự sống lại. Các thơ Mục hội tỏ ra sự vô đạo đã tiến triển theo sau sự dị đoan, như sự dị đoan đã theo sau sự dạy tín đồ giữ Luật pháp. Vì không biết dùng đúng “Luật pháp” (ITi 1:7, 8), các giáo sư giả “đã chối bỏ lương tâm” và “bội đạo” nữa (1:19; 4:2), nói “những lời cải lẽ hư không của kẻ có lòng hư xấu, thiếu mất lẽ thật, coi sự tin kính như là nguồn lợi vậy, ” (6:5; Tít 1:1); “phá đổ đức tin” bởi các tà giáo “như chùm bao ăn lan, nói rằng sự sống lại đã đến rồi, ” và “quyến dụ lòng những người đàn bà mang tội lỗi… vẫn học luôn mà không hề thông biết lẽ thật được… cũng chống trả lẽ thật” (IITi 2:6-8). Những giáo sư giả đó “dơ dáy và chẳng tin, xưng mình biết Đức Chúa Trời, nhưng theo những việc làm thì đều chối Ngài, thật là đáng chết, trái nghịch, và không thể làm một việc lành nào hết” (Tít 1:15, 16). Các thơ tín chung của Giăng (I Giăng 2:18-23; 4:1, 3; IIGiăng 1:7, 11; IIIGiăng 1:9, 10), của Giu-đe và Phi-e-rơ (IIPhi 2:1-22), và thơ gởi cho người Hê-bơ-rơ (6:4-8) cũng mô tả như vậy. Điều đó chứng rằng các thơ Mục hội của Phao-lô chép về sau. Trí-huệ-giáo bị phản đối ở đây không phải là phe Trí-huệ sau chống Do-thái-giáo, khi sự thờ phượng nơi Đền thờ Giê-ru-sa-lem không còn nữa (70 S.C.), nhưng xuất hiện sớm hơn, và lẫn lộn với Do-thái-giáo Đông phương và các thuyết Hy-lạp.
  3. Những điều thơ Mục hội dạy các mục sư và chấp sự.– Phao-lô viết những thơ này để chỉ dạy Ti-mô-thê, chủ tọa Hội Thánh Ê-phê-sô bấy giờ, và Tít tại Cơ-rết, về “giám mục kiêm trưởng lão và chấp sự” để giữ vững việc cai trị Hội Thánh lúc có các tà giáo xướng lên, và khi biết mình sắp qua đời. Trước kia, Phao-lô cũng tỏ sự lo ngại đó với các trưởng lão ở thành Ê-phê-sô (Công 20:21-30). Chức trưởng lão và chấp sự đã có từ lâu rồi (Công 6:3; 11:30; 14:23). Các lời chỉ dạy của Phao-lô không phải để lập hai chức đó nhưng bày tỏ về sự phong chức theo đúng lẽ và các đức hạnh của trưởng lão, chấp sự phải như thế nào, tùy theo các chỗ khuyết trong hai ban đó. Ti-mô-thê và Tít hành động cùng một quyền trong sự phong chức trưởng lão lại Ê-phê-sô và Cơ-rết như Phao-lô đã làm chung trong khắp cả các Hội Thánh Dân ngoại (IICôr 11:28).
  4. Những lời và lối suy tưởng đặc biệt trong thơ Mục hội.Điều đó được thấy rõ khi ta nhớ rằng mục đích của thơ và tình cảnh của hai người nhận thơ Mục hội là khác với những người nhận các thơ trước của Phao-lô. Những điều đặc biệt đó cũng thấy một phần trong thơ Ga-la-ti, vì trong thơ đó cũng như thơ này, Phao-lô lấy lòng nóng nảy biện luận với những kẻ làm hư lẽ thật, như chép: ITi 2:6; Tít 2:4 “Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người” với Ga 1:4; ITi 1:17; IITi 4:18, “muôn đời không cùng” với Ga 1:5; ITi 5:21; 6:13; IITi 2:14; 6:1, “trước mặt” với Ga 1:20; ITi 3:15; “trụ” với Ga 2:9. “Đấng Trung bảo, ” ITi 2:5 với Ga 3:20; ITi 2:6; 6:15; Tít 1:3, “tới kỳ, ” với Ga 6:9. Độ 50 câu lạ chép, như: “lời nói chắc chắn” (ITi 1:15; 4:9; Tít 3:8); “lương tâm lì” và “đạo lành” (ITi 4:2; 1:10; IITi 4:2; 1:10; IITi 4:3; Tít 1:9); “chuyện bịa các bà già” và “ham ăn mà làm biếng” (ITi 4:7; Tít 1:12). Chính tay Phao-lô, chứ không phải nhờ thư ký chép ba thơ Mục hội, điều đó giải thích lý do vì sao đột ngột câu văn trong thơ trở nên ngắn và nặng nề hơn.
  5. Chứng cớ thơ I Ti-mô-thê là thật.– Hết thảy Hội Thánh đầu tiên đều công nhận rằng thơ I Ti-mô-thê thật sự được viết bởi Phao-lô, và được công nhận là có quyền bởi sự soi dẫn, (chỉ trừ giáo sư Trí-huệ-giáo Marcion). I Ti-mô-thê và IITi-mô-thê được thấy trong bản Peshito Syriaque vào thế kỷ thứ II S.C.. Bản liệt kê của Muratori về sách thánh vào thế kỷ đó cũng công nhận. Polycarpe, chết năm 167 S.C. giải nghĩa ITi 6:7, 10 thật là chứng cớ không thể chối được.

III. Niên hiệu viết thơ I Ti-mô-thê.– Có lẽ trong khoảng Phao-lô bị tù tại La-mã lần thứ nhứt và thứ nhì. Ấy là ít lâu sau khi Phao-lô lìa thành Ê-phê-sô sang xứ Ma-xê-đoan (ITi 1:3). Phao-lô để Ti-mô-thê ở lại Ê-phê-sô mục đích là ngăn trở các giáo sư giả (1:3), không phải là để tổ chức Hội Thánh. Theo 5:3-16 ta thấy có một số người đàn bà góa dường như đã được tổ chức rồi. Có gương xấu đã xảy ra trong Hội Thánh sau khi thiết lập, tỏ ra cần phải có sự chỉ dạy rõ ràng về chức vụ hiện có. Vì lối văn, đề mục và địa vị Hội Thánh trong hai thơ I và IITi-mô-thê giống nhau, điều đó chứng tỏ rằng I Ti-mô-thê được viết ít lâu trước IITi-mô-thê (là thơ được viết trước khi Phao-lô qua đời). Dầu cho trong thơ ITi 4:12 viết Ti-mô-thê “trẻ tuổi, ” nhưng điều đó không trái với niên hiệu muộn hơn, vì Ti-mô-thê thật trẻ tuổi khi so với “Phao-lô đã già rồi” (Philm 9) và so với mấy trưởng lão mà Ti-mô-thê phải cai quản. Có lẽ bấy giờ Ti-mô-thê độ 35 tuổi (so ITi 5:1). Về Công 20:25, Phao-lô nói với các trưởng lão Ê-phê-sô được gọi đến Mi-lê “chẳng có một ai sẽ thấy mặt tôi nữa”; Phao-lô biết điều đó bởi sự soi dẫn của Chúa; nhưng lời đó cũng hợp lý với Phao-lô khi đến thăm Ê-phê-sô lần nữa (ITi 1:3; IITi 1:18; 4:20). Vì ở tại Mi-lê gần Ê-phê-sô, nên sau khi được thả khỏi ngục La-mã lần đầu, Phao-lô chắc sang thăm thành Ê-phê-sô. Trong ITi 3:14, Phao-lô chép: “Ta mong mau mau đến thăm con”, nhưng nhằm lúc sớm hơn, khi Phao-lô từ Ê-phê-sô sang xứ Ma-xê-đoan, thì đã lập chương trình qua mùa Hạ tại Ma-xê-đoan và mùa Đông tạICôr (ICôr 16:6). Lúc đó, Phao-lô không lìa Ti-mô-thê như lần nầy tại Ê-phê-sô (ITi 1:3), nhưng sai Ti-mô-thê qua Ma-xê-đoan (Công 19:22). Trong bài giảng cho những trưởng lão Ê-phê-sô (20:29, 30), Phao-lô nói trước sẽ có các giáo sư giả dấy lên: trong thơ gởi cho Hội Thánh Ê-phê-sô từ La-mã khi lần đầu bị tù, Phao-lô chưa nói đến những sự sai lầm của phe Trí-huệ và đảng Do-thái; nhưng trong I Ti-mô-thê thì tỏ ra lúc bấy giờ cả hai phái đó đang thịnh hành. Vậy, có thể quyết định Phao-lô viết I Ti-mô-thê năm 64 hay 65 S.C..

  1. Nơi viết thơ I Ti-mô-thê.– Vì Phao-lô viết “khi ta đi sang xứ Ma-xê-đoan” (1:3), điều đó chứng tỏ rằng Sứ đồ không ở đó khi viết thơ nầy. Phao-lô ở nơi nào cũng không biết chắc, và ông ở lại bao lâu trước khi tới Ê-phê-sô thăm Ti-mô-thê (3:14, 15). Có lẽ thơ này được viết tạICô-rinh-tô, vì giữa thành nầy và Ê-phê-sô có sự giao thông dễ dàng; và hành trình trước của Phao-lô là xứ Ma-xê-đoan đến Cô-rinh-tô (Công 17:1-; 18:1-). Có sự tương hiệp giữa ITi 2:11-14 và ICôr 14:34 về việc các người đàn bà phải yên lặng trong Hội Thánh; giữa ITi 5:17, 18 và ICôr 9:8-10 về sự cung cấp cho mục sư và dùng Châm Ngôn luật pháp” chớ khớp miệng con bò đương đạp lúa” và giữa ITi 5:19, 20 và IICôr 13:1-4 về đơn kiện trưởng lão trước các người chứng. Trong chính nơi đã dạy dỗ như thế, thì Phao-lô tự nhiên chép lại trong I Ti-mô-thê.
  2. Mục đích.– (1) Để chỉ dạy Ti-mô-thê ngăn trở các giáo sư giả khỏi dạy một đạo khác với Tin lành (ITi 1:3, 20; Khải 2:1-6). (2) Để dạy về phép cử hành sự thờ phượng có trật tự, những đức hạnh của các trưởng lão và chấp sự, và sự lựa chọn các đàn bà góa sống bởi sự cung cấp của Hội Thánh (ITi 2:1–6:2). (3) Để cảnh cáo chống sự tham lam, là một tội thường thấy ở Ê-phê-sô, và thúc giục làm việc lành (6:3-19).

Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho I Ti-mô-thê:

Tác giả. Sứ đồ Phao-lô (1:1).

Niên hiệu.– Niên hiệu viết thơ nầy là căn cứ vào thời gian Phao-lô bị cầm tù hai lần ở La-mã. Nếu là hai lần (xem Công 28:30, lời chua Scofield trong bài Phao-lô), thì rõ ràng thơ I Ti-mô-thê được viết trong khoảng giữa hai lần đó. Nếu Phao-lô chỉ bị cầm tù một lần tại La-mã, thì thơ I Ti-mô-thê được viết ít lâu trước khi Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng.

Đại đề.– Khi số các Hội Thánh Đấng Christ thêm lên, thì những vấn đề về trật tự của Hội Thánh, về đạo lành, và về qui củ trở nên quan trọng. Trước hết, các Sứ đồ đã sắp đặt những việc đó cách trực tiếp, nhưng vì gần mãn kỳ của các Sứ đồ, nên cần một sự khải thị rõ ràng để dẫn dắt các Hội Thánh. Sự Khải thị đó là ở I Ti-mô-thê và Tít. Câu chìa khóa của thơ nầy là: “… Biết làm thế nào trong nhà Đức Chúa Trời.” Nếu các Hội Thánh đã không thêm bớt trật tự Ngài thì ắt phước lắm thay!

Thơ chia làm năm phần: (I) Lời quở trách sự dạy giữ luật pháp và lẽ đạo giả, 1:1-20. (II) Khuyên về sự cầu nguyện và thứ tự về người nam, người nữ, 2:1-15. (III) Các đức hạnh của trưởng lão và chấp sự, 3:1-16. (IV) Cách bước đi của “kẻ giúp việc ngay lành của Chúa Jêsus Christ, ” 4:1-16. (V) Công việc của người “giúp việc ngay lành, ” 5:1-6:21.

Lên đầu trang