Psalms. Les Psaumes.
- Nghĩa tên.– Tên Hê-bơ-rơ của sách là Tehill#m, “những bài ngợi khen.” Song thật ra những nhan đề ở trên các Thi-thiên, chữ Tehillâh, chỉ có một thôi. Thi 145:1-, quả thật là một bài ca ngợi khen. Bản Septante đặt nhan đề là psalmoi, hoặc Thi-thiên. Hội Thánh Đấng Christ rõ ràng nhận sách nầy từ người Do-thái, Thi-thiên chẳng những chỉ là một phần trong Kinh Thánh, song cũng là những bài thánh ca mà Do-thái-giáo đã dùng trong Đền thờ.
- Được công nhận.– Các Thi-thiên là thuộc phần thứ ba trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ. Chẳng hề có ai phản đối việc công nhận sách Thi-thiên vào Kinh Thánh. Có lẽ tín đồ Đấng Christ quí sách Thi-thiên hơn người Do-thái. Nếu các tín đồ được phép chỉ giữ một sách trong Cựu Ước, thì chắc chắn họ sẽ chọn Thi-thiên. Gần 100 T.C., và có lẽ vào một niên hiệu sớm hơn, các Thi-thiên được gồm lại trọn bộ và được công nhận là phần của Hagiographa, phần thứ ba của Kinh Thánh Hê-bơ-rơ.
III. Các đầu đề.– Các đầu đề Thi-thiên rất là cổ xưa. Không những chỉ có khi người ta dịch bản Septante, song đã có từ lâu rồi, vì các danh từ âm nhạc và các danh từ khác, dịch giả cũng không hiểu rõ.
Các danh từ nguyên văn dùng là Neginah một nhạc khí bằng dây, số nhiều là Neginoth; và Nehiloth, nhạc khí gió (4:1-; 5:1-; 61:1-). Những danh từ có lẽ thuộc âm nhạc: A-la-mốt, các gái trẻ, hoặc chỉ về tiếng hát gái trẻ (46:1-; ISử 15:20); Ghi-tít, là một thứ đờn bằng dây của Gát, hoặc hát lúc lính canh người Gát bước đi (Thi 8:1-; 81:1-; 84:1-); Sê-la, một chỗ âm nhạc nghỉ, hoặc đổi giọng từ nhỏ lên to (3:2); Sê-mi-nít, thứ tám (6:1-; 12:1-; ISử 15:21). Những danh từ chỉ về tánh cách của Thi-thiên như: Maschil, bài thi ca dạy dỗ và suy gẫm (32:1- và mười hai thiên khác); Michtam, có lẽ là thơ than vãn (16:1-; 56:1–60:1-); Mizmor, thơ cầu nguyện, thường dịch là Thi-thiên (3:1-); Shiggaion, có lẽ là một bài thơ chúc tụng (7:1-; Ha 3:1). còn các danh từ khác là chỉ về những điệu hát quen biết như: Aijeleth hash-Shahar, “nai cái rạng đông” (22:1-); Giô-nát Ê-lem Rô-hô-kim, “chim bồ câu yên lặng của người ở phương xa” (56:1-); Ma-ha-lát, nặng nề (53:1-; 88:1-); Mút-la-bên (9:1-); Sô-san-nim và Sô-san-nim Eduth, và Su-san Eduth, “bông huệ chứng cớ” (45:1-; 60:1-; 80:1-). Những điệu hát hoặc bài ca “đi lên từ bậc” có lẽ dành cho người đi viếng nơi thánh tới Giê-ru-sa-lem (120:1–134:1-).
- Cách chia sách.– Sách có 150 Thi-thiên, và có thể chia làm năm phần lớn. Có người cho rằng việc chia như vậy hiệp với lối chia Ngũ kinh Môi-se như trong bản Septante. Những Thi-thiên có lẽ trước tác vào các thời điểm khác nhau, cho nên có sự khác nhau giữa mấy phần sách về lối dùng danh Giê-hô-va và Ê-lô-him để chỉ về Đức Chúa Trời Toàn năng. Trong quyển I (1:1–41:1-), danh Giê-hô-va dùng nhiều hơn: thấy trong nguyên văn 272 lần, còn Ê-lô-him chỉ 15 lần. Trong quyển II (42:1–72:1-) thấy Ê-lô-him chép gấp năm lần nhiều hơn Giê-hô-va. Trong quyển III (73:1–89:1-), cách dùng Ê-lô-him ngang với Giê-hô-va. Trong quyển IV (90:1–106:1-) chỉ dùng nguyên danh Giê-hô-va thôi, và quyển V (107:1–150:1-) cũng vậy. Vì chỉ thấy hai khúc dùng Ê-lô-him trích từ các Thi-thiên đầu.
Năm quyển phân biệt với nhau, một phần lớn là bởi những đầu đề ở trên các thiên. Quyển I., theo các đầu đề ở trên, hoàn toàn thuộc Đa-vít, ngoài ra không có dấu tích nào bởi trước giả khác. Có thể tin rằng soạn giả quyển I. cũng là Đa-vít. Quyển II. tỏ ra niên hiệu bởi Thi-thiên (46:1-) được soạn trong đời vua Ê-xê-chia. Quyển nầy gồm co: thứ nhứt, hầu hết các Thi-thiên trước thời đó thuộc sự thờ phượng theo sách Lê-vi; và thứ hai, các Thi-thiên của Đa-vít chưa sưu tập. Sau khi soạn giả đã thêm chỉ một Thi-thiên của Sa-lô-môn, thì cho biết: “Chung các bài cầu nguyện của Đa-vít, con trai Y-sai” (72:20). Theo nguyên văn các đầu đề, số Thi-thiên thật của Đa-vít là 73 (so Hêb 4:7), nhưng trong quyển III., IV., V., còn Thi-thiên có tên Đa-vít nữa. Tại sao vậy? Trong mấy phần Kinh Thánh khác, sau sự chết của Đa-vít, tên Đa-vít dùng để tỏ ra người đứng đầu của nhà đó; và như vậy, trong tiên tri, cũng tỏ ra Đấng Mê-si của dòng dõi Đa-vít, là Đấng ngồi trên ngôi Đa-vít (ICác 12:16; Ôs 3:5; Ês 55:3; Giê 30:9; Êxê 34:23, 24). Bởi thế, ta có thể giải nghĩa các đầu đề Thi-thiên sau có tên Đa-vít. Các Thi-thiên có tên Đa-vít như thế là bởi Ê-xê-chia, Giô-si-a, Xô-rô-ba-bên và các dòng dõi khác của Đa-vít đã soạn ra. Điều đó cất hết thảy mọi sự khó hiểu về lịch sử của các quyển sau trong sách nầy. Quyển III phần nhiều thuộc đời Ê-xê-chia, lan rộng bởi hai Thi-thiên chót cho đến đời Ma-na-se, và có lẽ được góp lại trong đời Giô-si-a. Quyển IV gồm có phần còn lại của các Thi-thiên cho đến ngày Y-sơ-ra-ên bị phu tù. Quyển V, gồm có các Thi-thiên hồi từ phu tù về. Hai quyển chót nầy có lẽ thâu góp trong thời kỳ của Nê-hê-mi.
- Thi-thiên liên quan với lịch sử Y-sơ-ra-ên.Thi 90:1- của Môi-se là Thi-thiên sớm nhứt, phản chiếu cách trung tín những cuộc hành trình lâu dài và mỏi mệt, những việc dân Y-sơ-ra-ên làm Chúa buồn lòng, và những sự hình phạt của Ngài đối với dân sự ở trong đồng vắng. Dầu vậy, có thể quyết rằng các Thi-thiên Y-sơ-ra-ên bắt đầu thật bởi Đa-vít. Tài gảy đờn cầm đã dọn đường trước cho Đa-vít, nên khi chịu xức dầu bởISa và nhận Thần Chúa, Đa-vít đầy ơn Chúa soạn và hát các Thi-thiên cách đặc biệt. Sau đó, trong cung điện, Đa-vít dùng tài đó để an ủi về sự buồn bã, kinh hãi của Sau-lơ; ở nơi chiến trường Đa-vít chiến thắng Gô-li-át, lực sĩ khoe khoang của cơ binh Phi-li-tin, Đa-vít hát thế nào “Chúa do miệng trẻ thơ và những con đương bú, mà lập nên năng lực Ngài” (Thi 8:2). Các Thi-thiên sau của Đa-vít có tính cách khác hẳn. Sự bắt bớ bởi tay Sau-lơ đã bắt đầu. Khi Đa-vít đã khởi sự trị vì cũng còn có những biến động rất đau buồn trong lịch sử của người, mà các Thi-thiên sau mô tả. Không thể quyết rằng có Thi-thiên nào chép lúc Đa-vít trị vì tại Hếp-rôn. Song sau khi chiếm lấy thành Giê-ru-sa-lem, Đa-vít bắt đầu soạn Thi-thiên lần nữa lúc thỉnh hòm giao ước lên núi Si-ôn. Trong các Thi 24:1–29:1- hiệp ý với nhau, ta thấy ý định Đa-vít để soạn và sắp đặt các Thi-thiên cho công chúng dùng và hát. Cả đến những Thi-thiên không hiệp với biến động nào, nhưng cũng phản chiếu cảnh ngộ chung của lịch sử thời đó. Vậy Thi 9:1- là bài tạ ơn vì Chúa đã giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi sự áp chế của dân ngoại. Thi 10:1- là bài cầu nguyện vì đã được giải cứu khỏi sự ức hiếp bởi người từ bên trong. Những Thi-thiên tiếp nối cũng ở cùng một đại đề đó, tức những hành vi ngoại đạo xảy ra ở trong giáo hội Do-thái. Chỉ có mấy thiên như 15:1–17:1-; 19:1-; 32:1- (với bài ca chung phụ vào 33:1-): và 37:1- mà không có thể liên lạc với một truyện nào trong lịch sử. Gần cuối đời, Đa-vít có một thời gian nghỉ ngơi, chịu cảm động soạn những bài tạ ơn riêng vì đã được giải cứu nhiều lần trong đời sống mình (Thi 18:1-). Điều đó chúng ta được biết bởi những bài Thi-thiên xen vào trong lịch sử (IISa 22:1-). Có lẽ vào thời đó, Đa-vít lần cuối cùng sắp đặt sự thờ phượng tại nơi thánh, nên có các Thi-thiên nay hợp thành quyển I.
Khi đời Đa-vít chưa chấm dứt, vua đã triệu tập hội chúng trọng thể để làm lễ dâng các vật liệu xây Đền thờ về sau (ISử 28:1-; 29:1-), chắc Đa-vít chịu cảm động cố hết sức soạn các Thi-thiên để làm sáng danh Đức Chúa Trời. Vậy, vào dịp đó, có mấy bài ca lớn (Thi 65:1–67:1-; 68:1-) bao gồm sự ôn lại lịch sử quá khứ, địa vị hiện tại, và những sự vinh hiển tương lai của tuyển dân. Những sự nài xin, chép ở Thi 69:1- rất phù hợp với những cơn khốn khổ của Đa-vít, gây ra bởi sự phản bội của A-đô-ni-gia. Thi 71:1-, với 70:1-, là phần của một Thi-thiên trước làm tiểu dẫn, là bài từ giã của Đa-vít. Nhưng để tránh khỏi ý nghĩ rằng các Thi-thiên của Y-sơ-ra-ên dường như chấm dứt trong đời Đa-vít, nên Sa-lô-môn soạn ra Thi 72:1- nói về những sự vinh hiển tương lai. Tạm thời chỉ có Thi-thiên đó thêm vào thôi. Tuy nhiên, để làm phục hưng sự hát Thi-thiên, đến kỳ nhóm họp lớn của vua A-sa (IISử 15:1-) dường như đã soạn Thi 50:1-, vì phù hợp với dịp đó. Thi 45:1-, với đại đề tiên tri, thuận hiệp với những sự sang trọng đời Giô-sa-phát trị vì. Sau đó, trong thời kỳ khó khăn, cũng có Thi 49:1-, tỏ ra sự tin cậy trong khi lo lắng. Thi 42:1–44:1-; và 74:1- hiệp với đời vua A-háp. Đời vua Ê-xê-chia rất giàu về Thi-thiên: Thi 46:1-; 73:1-; 75:1-; 76:1- liên quan với hồi Chúa hủy diệt đạo binh A-sy-ri.
Loại các Thi-thiên đặc biệt (80:1–83:1-), vì quan hệ đến lịch sử chính trị và tôn giáo của mười chi phái riêng. Niên hiệu thật khi soạn các Thi-thiên nầy là trước thời vua Ê-xê-chia. Thi 80:1- có lẽ là sớm hơn hết, là bài nài xin cho dân Y-sơ-ra-ên lúc bị Sy-ri ức hiếp. Trong đầu đề loại Thi-thiên đó nói đến các người Lê-vi ca hát, và bởi thế chứng tỏ rằng người Lê-vi thử làm cho hai nhánh Y-sơ-ra-ên hòa thuận nhau. Vua Ma-na-se bị bắt chỉ là tạm thời, nhưng sự phạt tội dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên phải cứ thi hành, nên ngăn trở cái hy vọng Đức Chúa Trời giải cứu dân cho đến khi sự đoán phạt chấm dứt. Bởi thế, đời đó phải chịu đau đớn và buồn bực; dầu là thỉnh thoảng thấy ánh sáng của sự thương xót Ngài, nhưng sự vinh hiển mới được tỏ ra cho dòng dõi đời đó mà thôi. Các Thi-thiên trong quyển IV, phần nhiều tỏ ra tình cảm nầy.
Trong quyển V., Thi 107 là Thi-thiên chép từ lúc đi phu tù về, có lẽ được hát khi giữ lễ Lều tạm thứ nhứt ngay sau đó (Exơ 3:1-). Các Thi-thiên sau có tên Đa-vít có lẽ là của Xô-rô-ba-bên soạn ra. Ở đây không luận đến Thi 119:1- (khởi đầu mỗi khúc theo trật tự từng chữ cái Hê-bơ-rơ); song về Thi 120:1–134:1- có tính cách lịch sử và gọi là các “Bài ca đi lên từ bậc.” Trong các Thi-thiên đó, có chứng cớ là thuộc khoảng thời gian người Do-thái dưới thời Nê-hê-mi, họ phải đối đầu với kẻ thù, đương tu bổ các vách thành Giê-ru-sa-lem, nên đầu đề có thể đổi là “bài ca đi lên trên các vách tường, ” những bài Thi-thiên nầy ngắn và tiện cho người làm công và canh gác hát lúc làm phận sự. Có lẽ Thi 137:1- là sớm hơn, và mấy Thi-thiên có tên Đa-vít sau cũng thế. Về các Thi-thiên đó, 139:1- là Thi-thiên của Y-sơ-ra-ên tái sanh, tức từ lòng dạ phu tù Ba-by-lôn được trở lại một sự sống công bình. Thi 140:1–143:1- là một bức tranh tả vẽ những sự thử rèn mà các người phu tù về còn phải chịu từ người ngoại bang. Từ đó trở đi, đến gần hết sách, giọng hát càng thêm lên trong sự vui vẻ; và các Thi 147:1–150:1- đáng dùng để kết thúc sách vì có lẽ hát lúc có đám rước tạ ơn (thuật trong Nê 12:1-) là sau khi đã xây sửa lại vách thành Giê-ru-sa-lem rồi.
- Đặc sắc đạo đức của Thi-thiên.– Trong các đặc sắc đó, điều thứ nhứt là sự cần thiết được giao thông với Đức Chúa Trời. Liên quan với điều đó, là trước giả sống trong đức tin nơi Đức Chúa Trời hơn là nơi mình. Để có được đức tin như thế thì trước giả phải thấy những sự trọn lành của Đức Chúa Trời cách chơn thật và rõ ràng. Vậy, các trước giả Thi-thiên mô tả Đức Chúa Trời thật như Ngài có, nên các Thi-thiên chiếu sáng bởi những lời làm chứng về quyền năng và sự săn sóc của Ngài, sự yêu thương và trung tín, sự thánh khiết và công bình của Ngài. Các Thi-thiên chẳng những bày tỏ những sự trọn lành của Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời cũng tuyên bố bổn phận con người phải thờ phượng Ngài, qua việc công nhận và khen ngợi những sự trọn lành của Ngài. Các Thi-thiên giục lòng ta dùng mọi lễ nghi bề ngoài và mọi phương pháp bề trong để thờ phượng Ngài. Trong những phương pháp đó, các Thi-thiên nhận biết mạng lịnh dâng của lễ như cách bày tỏ người thờ phượng dâng mình cho Chúa để hầu việc Ngài. Song các Thi-thiên cũng chối bỏ những lễ nghi bề ngoài khi mà bề trong cách xa điều mà lễ nghi đó có ý tỏ ra. Cũng vậy, các Thi-thiên lấy tội lỗi người làm gớm ghiếc. Về luật pháp, các Thi-thiên dầu nhận biết là tốt, nhưng biết rằng luật pháp không thể dẫn dắt người tự mình khỏi phạm tội (Thi 19:1-). Các Thi-thiên vẫn làm chứng về nghĩa vụ dạy người khác đi con đường thánh khiết (Thi 32:1-; 34:1-; 51:1-). Cuối cùng, chúng ta nhận thấy đức tin của các trước giả Thi-thiên thấy rằng Chúa báo ứng mọi người cách công bình là tùy theo việc làm (Thi 37:1-, v.v.).
VII. Đặc sắc tiên tri của Thi-thiên.– Sự đua tranh đạo đức giữa sự tin kính và vô đạo mô tả rất linh động trong các Thi-thiên như thế, tóm kết trong Kinh Thánh, trong đời sống của Con Đức Chúa Trời thành nhục thể trên thế gian. Chỉ còn cần tỏ ra chính các Thi-thiên trông đợi rất rõ sự tóm kết đó. Trong sách Thi-thiên, ít nhứt có ba Thi-thiên rất chú trọng về một người ngoài tác giả, ấy là Đấng Mê-si. Đó là Thi 2:1-; 45:1-; 110:1- và có lẽ thêm Thi 72:1-. Nếu chỉ có những Thi-thiên nầy, theo ý nghĩa tiên tri, đứng đặc biệt riêng ra, thì thật lạ lắm. Bởi thế, nên không thể coi các Thi-thiên chung với nhau, bất cứ thuộc về lịch sử thời nào, như chỉ là sự mộ đạo quá khứ của Đa-vít hay Y-sơ-ra-ên. Các bài quốc ca của Y-sơ-ra-ên cũng trông về hướng tương lai; song xét chung, các Thi-thiên tỏ trước những sự đua ganh và đắc thắng của Hội Thánh Đấng Christ hơn là chính Đấng Christ.
Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho sách Thi-thiên như sau:
Lời mô tả đơn sơ nhứt của năm quyển Thi-thiên là: sách nầy là sách cầu nguyện và ngợi khen của Y-sơ-ra-ên được soi dẫn bởi Đức Chúa Trời. Các quyển đó là những sự khải thị của lẽ thật, không phải trừu tượng song bằng những danh từ của sự từng trải. Lẽ thật bày tỏ được hành động trong những cảm tình, ước ao, và đau khổ của dân Đức Chúa Trời bởi những cảnh ngộ mà họ gặp. Song những cảnh ngộ đó đều tỏ trước những sự tương tự Đấng Christ trong sự thành nhục thể, và dân sót Do-thái trong cơn đại nạn, cũng phải từng trải (Ês 10:21); đến nỗi có nhiều Thi-thiên dự ngôn về những sự đau đớn, đức tin, và sự đắc thắng của cả hai. Thi 22:1- và 60:1- là như vậy. Thi 22:1-, tức nơi Chí thánh của Kinh Thánh, tỏ ra mọi sự trong tâm trí Đấng Christ khi Ngài kêu tiếng thảm thiết: “Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi.” Thi 60:1- dự ngôn về những điều sẽ ở trong lòng Y-sơ-ra-ên khi quay lại cùng Đức Giê-hô-va lần nữa (Phục 30:1, 2). Có Thi-thiên khác nói tiên tri trực tiếp về “Đấng Christ chịu thương khó, mới được vào sự vinh hiển mình” (Lu 24:25-27, 44). Thi 2:1- rất rõ như thế, vì bày tỏ Đấng xức dầu của Đức Giê-hô-va bị chối bỏ và đóng đinh (câu 1-3; Công 4:24-28), song sau được tôn làm vua tại Si-ôn.
Những đại đề của Thi-thiên là: Đấng Christ, Đức Giê-hô-va, Luật pháp, Cuộc Tạo thành, Tương lai Y-sơ-ra-ên, và những hành động của tấm lòng đổi mới trong cơn đau đớn, vui vẻ, bối rối. Những lời hứa trong Thi-thiên thứ nhứt là cho người Do-thái và phù hợp với một dân ở dưới Luật pháp, song về phần thuộc linh cũng thật có trong sự từng trải tín đồ Đấng Christ, theo nghĩa các Thi-thiên bày tỏ tâm trí Đức Chúa Trời và những sự hành động của lòng Ngài đối với những người bối rối, đau khổ, hoặc ngã lòng. Những Thi-thiên nguyền rủa là tiếng kêu của những kẻ bị ức hiếp trong Y-sơ-ra-ên xin sự công bình, — một tiếng xứng hiệp và phải lẽ của dân Đức Chúa Trời trên đất, và nhờ lời hứa rõ ràng trong giao ước với Áp-ra-ham (Sáng 15:18); song “nguyền rủa” là một tiếng không xứng hiệp với Hội Thánh, là một dân thuộc về trời, chung phần với Đấng Christ bị chối bỏ và đóng đinh (Lu 9:52-55).
Các Thi-thiên chia làm năm quyển, mỗi quyển tận cùng với lời chúc phước: I. Thi 1:1–41:1-. II. Thi 42:1–72:1-. III. Thi 73:1–89:1-. IV Thi 90:1–106:1-. V. Thi 107:1–150:1-.
Những Thi-thiên chỉ về Đấng Mê-si là:
Thi 40:1Thi 40 nói về Đấng Mê-si, Tôi tớ của Giê-hô-va, vâng phục cho đến chết. Thi-thiên khởi sự nói về sự vui vẻ của Đấng Christ trong sự sống lại (câu 1, 2). Ngài đã ở trong hố ghê gớm của mồ mả, song đã được đem lên. Câu 3-5 là chứng cớ sự sống lại của Ngài, “bài ca mới” của Ngài. Câu 6 và 7 là sự đoái trông lại. Khi của hy sinh và của lễ đã trở nên gớm ghiếc vì cớ sự gian ác của dân sự (Ês 1:10-15), thì Tôi tớ vâng phục đã đến để làm của lễ tinh sạch (câu 7-17; Hêb 10:5-17). Xem Thi 41:1- là Thi-thiên sau theo trật tự các Thi-thiên về Đấng Mê-si.
Thi 41:9.Thi 41:1- dự ngôn về Con Người bị phản bội, như chính Chúa Jêsus dạy (Giăng 13:18, 19).
Thi 45:1.Thi-thiên lớn nầy về Vua, cùng với các Thi 46:1–47:1- rõ ràng trông đợi sự Chúa tái lâm vinh hiển. Lời trưng dẫn trong Hêb 1:8, 9 không phải chỉ về việc xức dầu như là một biến động (Mat 3:16, 17), nhưng như là chỉ về địa vị vĩnh viễn của Vua. So Ês 11:1, 2. Những phần chia ra là: (1) sự tốt đẹp cực điểm của Vua (câu 1, 2). (2) Vua đến trong sự vinh hiển (câu 3-5; so Khải 19:11-21). (3) Thần tánh của Vua và tính cách sự trị vì của Ngài (câu 6, 7; Hêb 1:8, 9; Ês 11:1-5).
(4) Vì liên quan với Ngài trong sự cai trị thế gian, thì hoàng hậu được bày tỏ (câu 9-13), và trong sự liên quan đó, Vua không gọi là Ê-lô-him (Sáng 1:1, lời chua), như trong câu 6, song Adonai, tên giống đực của Thần (Sáng 15:2, lời chua). (5) Những bạn đồng trinh của hoàng hậu dường như là dân Do-thái sót lại (Rô 11:5; lời chua; Khải 14:1-4), được thấy sau đó (câu 14, 15). (6) Thi-thiên tận cùng với một lời trưng dẫn về danh tiếng của Vua ở trên đất (câu 16, 17). Xem Thi 68:1-, theo trật tự các Thi-thiên về Đấng Mê-si.
Thi 68:1.– Trọn Thi-thiên nầy có sự vui vẻ của Y-sơ-ra-ên trong suốt cả nước, song có một trật tự rõ rệt hơn của những biến động, khởi đầu với câu 18. Thi-thiên nầy được trích (Êph 4:7-16) để nói về chức vụ của Đấng Christ. Câu 21-23 chỉ về sự thâu họp Y-sơ-ra-ên lại, và sự hủy diệt “Con Thú” và các đạo binh nó. Xem bài “Con Thú.” Đa 7:8; Khải 19:20; bài “Ha-ma-ghê-đôn, ” (Khải 16:16; 19:17, lời chua). Câu 24-35 tả cảnh phước lành trọn vẹn của Nước Đức Chúa Trời. (Xem “Nước” (Cựu Ước), Sáng 1:26; Xa 12:8). Xem Thi 69:1- sau, theo trật tự các Thi-thiên về Đấng Mê-si.
Thi 69:1.– Những lời trích của Tân Ước về Thi-thiên nầy đều bày tỏ Đấng Christ với một hình ảnh mờ nhạt. Ấy là Thi-thiên của sự hạ mình và sự chối bỏ của Ngài (Câu 4, 7, 8, 10-12). Câu 14-20 có thể mô tả rõ ràng những hành động của linh hồn thánh Ngài tại Ghết-sê-ma-nê (Mat 26:36-45); còn câu 21 chỉ trực tiếp về thập tự (Mat 27:34, 48; Giăng 19:28). Những câu nguyền rủa (22-28) có liên quan (Rô 11:9, 10) với sự đui mù về tư pháp hiện thời của Y-sơ-ra-ên, câu 25 có chỉ đặc biệt về Giu-đa (Công 1:20), là người làm hình bóng của thế gian hư xấu, thế gian này dự phần trong tội lỗi người đó (xem Thi 72:1- sau theo trật tự của các Thi-thiên về Đấng Mê-si).
Thi 72:1.– Toàn thể Thi-thiên nầy họp thành sự hiện thấy trọn vẹn về nước Đấng Mê-si tùy theo sự khải thị Cựu Ước tỏ rộng ra. Hết cả những lời cầu nguyện của Đa-vít sẽ thấy sự ứng nghiệm trong nước đời đời (câu 20:1-; IISa 23:1-4). Câu 1 chỉ về sự phong chức Con Vua với nước vinh hiển được mô tả đúng luật trong Đa 7:13, 14; Khải 5:5-10. Câu 2-7, 12-14 tỏ tính cách của nước đó (so Ês 11:3-9). Điều đáng chú trọng ở đây đó là sự công bình. Bài giảng trên núi mô tả sự công bình của nước Chúa cai trị. Câu 8-11 nói về sự phổ thông của nước đo. Câu 16 gợi ý về cách nào đem phước lành đến cho tất cả mọi người. Y-sơ-ra-ên trở lại sẽ là: nắm lúa mì (Am 9:9), như chính vua trong sự chết và sự sống lại là một “hột giống lúa mì” (Giăng 12:24). “Trước là người Do-thái” là trật tự của cả Hội Thánh và nước đời đời (Rô 1:16; Công 13:46; 15:16, 17). Bởi Y-sơ-ra-ên được lập lại mà nước Chúa sẽ được lan tràn trên trái đất (Xa 8:13, 20-23). Xem Thi 89:1- sau, theo trật tự của các Thi-thiên về Đấng Mê-si.
Thi 102:1.– Những lời trưng dẫn câu 25-27 là về Đấng Christ (Hêb 1:11, 12), nói chắc cho ta rằng trong những câu trên của Thi 102:1- ta thấy về phần tiên tri, những hành động của linh hồn thánh Ngài trong những ngày Ngài bị hạ xuống và chối bỏ. Xem Thi 110:1- sau, theo trật tự của các Thi-thiên về Đấng Christ.
Thi 110:1.– Sự quan trọng của Thi 110:1- được làm chứng bởi chỗ rất đáng chú ý trong Tân Ước. (1) Thi-thiên nầy chứng quyết thần tánh của Chúa Jêsus, bởi thế trả lời những người chối ý nghĩa đầy đủ thần tánh của danh hiệu Ngài trong Tân Ước là “Chúa” (câu 1; Mat 22:41-45; Mác 12:35-37; Lu 22:41-44; Công 2:34, 35; Hêb 1:13; 10:12, 13). (2) Thi-thiên nầy báo cho biết chức tế lễ vĩnh viễn của Đấng Mê-si, tức một trong những câu rất quan trọng của Kinh Thánh (câu 4; Sáng 14-18, lời chua; Hêb 6:20; 7:1-28, lời chua; ITi 2:5, 6; Giăng 14:6). (3) Về mặt lịch sử, Thi-thiên nầy bắt đầu với sự thăng thiên của Đấng Christ (câu 1:1- Giăng 20:17; Công 7:56; Khải 3:21). (4) Về mặt tiên tri, Thi-thiên nầy hướng về: a) Thời Đấng Christ sẽ hiện ra như là cây Roi của sức mạnh Đức Giê-hô-va; là Đấng giải cứu từ Si-ôn ra (Rô 11:25-27), và sự trở lại đạo của Y-sơ-ra-ên (Câu 3; Giô 2:27; Xa 13:9. Xem Phục 30:1-9, lời chua). b) Sự đoán xét các cường quốc ngoại bang có trước sự lập nước đời đời (câu 5, 6; Giô 3:9-17; Xa 14:1-4; Khải 19:11-21). Xem bài “Ha-ma-ghê-đôn” (Khải 16:14; 19:17, lời chua); “Y-sơ-ra-ên” (Sáng 12:2, 3; Rô 11:26, lời chua); “Nước” (Xa 12:8, lời chua; ICôr 15:28, lời chua). Xem Thi 2:1- lời chua trước nhứt, và Thi 118:1- sau hết, theo trật tự các thiên về Đấng Mê-si.
Thi 118:29.– Tóm tắt những Thi-thiên về Đấng Mê-si. Xem bài Đấng Mê-si.