The earth, the world. Monde.
Thế giới như được biết đến trong thời Môi-se là nhỏ (Sáng 10:1-). Ở phía Nam, lan rộng từ các núi ở phía Đông vịnh Ba-tư cho đến sông Ni-lơ, và ở phía Bắc từ biển Lý-hải (Caspienne) cho đến các đảo Hy-lạp: nói cách khác, là đo được chừng 2250 cây số từ Đông sang Tây, và 1350, hoặc gồm cả phía Nam A-ra-bi chừng 2250 cây số từ Bắc chí Nam. Diện tích là chừng 5.850.000 cây số vuông; song phần lớn của mặt đất được bao phủ bởi biển. Lịch sử chép trong Kinh Thánh và những biến động lớn trong sử ký thế giới đều xảy ra trong phía Bắc.
Trong thời kỳ Cựu Ước, hết thảy những giới hạn nầy không có thay đổi, mặc dầu chân trời địa dư có mở rộng chút ít. Mê-đi và Ba-tư đã đạt tới một địa vị rất quan trọng trước khi mãn thời kỳ nầy, và giữ địa vị thứ nhứt giữa các nước. Ấn-độ trở nên một giới hạn (Êxơ 1:1). Đã biết rằng có xứ Si-ni (Ês 49:12). Ở phía Tây Phi-châu đã có đoàn tàu của Pha-ra-ôn Nê-cô đi vòng quanh song không thêm sự hiểu biết về mặt địa dư. Những người thủy thủ không hoàn thành ý nghĩa công việc mình. Họ đã mất hơn hai năm, và đối với họ điều đáng chú ý nhứt dường như là mặt trời mọc lên phía tay trái họ khi đi thuyền xuống phía Nam từ Ai-cập, và mọc lên từ phía tay mặt trước khi họ trở về. Tại Ý-đại-lợi và trên bờ đối ngang Phi-châu, dân cư được thêm lên và nền văn minh được mở mang từ từ; những điều này được người phương Đông biết đến chỉ là theo lời thuật lại của các con buôn. Gần cuối thời Cựu Ước, nước Hy-lạp mới xuất hiện từ bóng tối, chống cự mãnh liệt với người Ba-tư.
Alexandre le Grand chinh phục cả thế giới. Người mở rộng địa giới ở phía Đông và có thêm nhiều sự hiểu biết về địa dư, người kéo binh qua Oxus mà tới xứ Tân-cương ngày nay, ở phía Đông bên kia giới hạn của Afghanistan, và phía Nam ở Bắc bộ Ấn-độ. Người La-mã tiếp theo hoàng đế Alexandre. Vào thời Đấng Christ, người ta tưởng thế giới lan rộng từ Tây-ban-nha và Anh-cát-lợi cho đến cao nguyên Iran và Ấn-độ, và từ sa mạc Sahara, ở phía Nam các rừng của nước Đức là những đồng hoang vu của Nga-la-tư và Tiểu Á-tế-á ở phía Bắc. Người ta cũng biết có dân cư ở ngoài các giới hạn đó, song ít khi chú ý và giao tiếp với phần ngoài thế gian đó, và ý tưởng về địa dư lúc bấy giờ rất là lộn xộn.
Nguyên văn có bốn chữ quan hệ nhứt về thế gian:
- Tçbhçl.– Trong Cựu Ước chữ nầy có ý gần như “địa cầu” của ta, chỉ về nơi vật chất mà loài người ở, không gợi ý gì về đạo đức, có chép 35 lần: 15 lần trong Thi-thiên và 9 lần trong Ê-sai.
- Aiôn.– Tức là thời đại và gợi ý về sự mở rộng hơn là hạn chế đến nỗi có các thành ngữ chỉ về sự rộng rãi, nếu không phải là mở rộng vô cùng tận. Trong nhiều chỗ, nhứt là trong Ma-thi-ơ, chỉ về các “thời đại” Cứu chuộc, “thời đại” ân điển hiện nay, và đặc biệt về “thời đại” tiếp sau đó, — “đời sau và sự sống lại” (Lu 20:35). Kế đến về tài liệu đạo đức của địa vị các vật hiện tại, thế gian cũng chỉ về lực lượng và những ảnh hưởng có ý chống trả với đức tin và sự thánh khiết; hãy xem Rô 12:2, “Đừng làm theo đời nầy, ” và IICôr 4:4, “chúa đời nầy đã làm mù lòng họ.”
- Kosmos.– Tức trật tự với ý tốt đẹp, vậy chỉ về vũ trụ vật chất vì làm mẫu về trật tự đó; chỉ về vũ trụ đạo đức gồm mọi sinh vật với thiên sứ (ICôr 4:9); sau cũng chỉ về loài người phạm tội và nghịch cùng Đức Chúa Trời. Xem Giăng 1:10 tại đó “thế gian” dường như lần đầu chỉ về trái đất và người như là sự dựng nên của “Ngôi Lời, ” và sau đó loài người vì phạm tội lìa xa Đức Chúa Trời. Bởi vậy, ta không lấy làm lạ mà đọc một bên, “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian” (Giăng 3:16), và một bên tín đồ “chớ yêu thế gian” (I Giăng 1:15).
- Oikoumenç.– Có khi chỉ về đế quốc La-mã là miền có rất nhiều người ở (so Lu 2:1; Công 11:28 và Khải 3:10). Trong Hê-bơ-rơ dùng một cách mầu nhiệm về đế quốc của Đấng Mê-si (Khải 1:6; 2:5).
Tiến sĩ Scofield chú thích về thế gian như sau nầy:
Mat 4:8.– Tiếng Hy-lạp là Kosmos có nghĩa là “trật tự, ” “sự sắp đặt” và như vậy đối với người Hy-lạp, có nghĩa “tốt đẹp;” vì trật tự và sự sắp đặt là nghĩa sâu nhiệm của người Hy-lạp về sự tốt đẹp.
Khải 13:8.– Kosmos theo nghĩa về hệ thống thế gian hiện nay, là ý nghĩa xấu về luân lý của chữ, là chỉ về “trật tự, ” “sự sắp đặt” mà Sa-tan đã tổ chức thế gian của loài người vô tín trên các nguyên lý thế gian của sức lực, tham lam, ích kỷ, dục vọng và chơi bời (Mat 4:8, 9; Giăng 12:31; 14:30; 18:36; Êph 2:2; 6:12; IGiăng 2:15-17). Hệ thống thế gian nầy là vĩ đại và có quyền lực, nhờ các đạo binh và hạm đội; có khi bề ngoài là đạo đức, khoa học, văn hóa, và tốt đẹp; nhưng bên trong thì sôi nổi những sự ganh đua về tham vọng quốc gia và thương mại; và chỉ được nâng đỡ trong cuộc biến động lớn bởi lực lượng của đạo quân và được cai trị bởi những nguyên lý của quỉ Sa-tan.
Lu 2:1.– Tiếng Hy-lạp Oikoumene, tức “đất có người ở”. Khúc nầy đáng chú ý vì chỉ định lối thường dùng chữ Oikoumene trong Tân Ước thuộc phạm vi của đế quốc La-mã cai trị lúc rất rộng, tức là thuộc cường quốc quân chủ ngoại bang lớn nhứt (Đa 2:1-; 7:1-). Bởi đó, phần đất ấy của thế gian là đặc biệt của phạm vi lời tiên tri.
Khải 13:1.– Xem bài Khải Huyền, phần Scofield.
Khải 13:2.– Xem bài Khải Huyền, phần Scofield.
Đa 4:1.– Nê-bu-cát-nết-sa, người thứ nhứt trong các vua của cường quốc ngoại bang, trong thời kỳ của các dân ngoại (Lu 21:24; Khải 16:14) là người khởi đầu, hoàn toàn hiểu biết sự phổ thông của quyền cai trị đã giao cho vua (Đa 2:37, 38); Si-ru cũng như vậy (Exơ 1:2). Thật ra, các vua này đã không bắt phục được cả thế gian ở dưới quyền cai trị mình; song họ có thể làm được. Thế gian nằm ở trong tay các vua ngoại bang đó.
Đa 2:31.– Xem bài Nê-bu-cát-nết-sa, phần Scofield.
Đa 2:41.– Xem bài La-mã, đế quốc.
Ês 14:26.– Sự bày tỏ nầy là quan trọng và không phải chỉ nói đến một sự phán xét gần trên A-sy-ri, song nghĩa còn rộng hơn về sự tan vỡ cuối cùng của tổ chức thế gian hiện nay lúc hết thời đại nầy (Xem bài “Dân ngoại, các thời kỳ” Lu 21:24; Khải 16:14; Đa 2:44, 45 và bài “Ha-ma-ghê-đôn” Khải 16:14; 19:17). Không có biến động nào khác tai hại như vậy trên các dân tộc được chép trong Kinh Thánh.