Tàu Ship. Vaisseau.
I. Đời Cựu Ước.– Bờ cõi nước Y-sơ-ra-ên có bờ biển dài lắm, nhưng từ núi Cạt-mên trở xuống phía Nam, không có vịnh hoặc cửa biển hay cửa sông để cho tàu trú ẩn khỏi bão, và làm cảng cho tàu đậu. Bởi vậy, người Y-sơ-ra-ên thường làm nghề nông, và không am hiểu nghề hàng hải bao nhiêu. Về sự giao thông bằng đường thủy trong nước, ngoài các thuyền đánh cá trên biển Ga-li-lê thuộc riêng đời Tân Ước, chỉ một lần nói đến chiếc đò ở trên sông Giô-đanh (IISa 19:18), nhưng ý nghĩa không rõ, có lẽ chỉ về một chỗ cạn của sông Giô-đanh lội qua được. Chỉ có các chi phái phía Bắc như Đan và A-se sống và hoạt động trên mặt biển (Quan 5:17), nhưng các thuyền chỉ dùng để đánh cá và vận tải ven mé biển chớ không thể vượt Biển Lớn được. Nơi người Phê-ni-si thông thương sớm hơn hết tại Pha-lê-tin là Si-đôn, sau họ dùng Sa-bu-lôn để làm nơi tàu đậu. Theo hai bài chúc phước của Gia-cốp và Môi-se, chi phái Y-sa-ca được cùng với Sa-bu-lôn đồng hưởng mối lợi dư dật về hải sản (Sáng 49:13; Phục 33:19). Trong lời tiên tri của Ba-la-am nói “sẽ có những tàu từ gành Kít-tim Chíp-rơ, (so Đa 11:30) đến” hủy diệt A-sy-ri (Dân 24:24).
Vào đời quân chủ, Đa-vít mở mang việc giao thông về thương mại giữa Y-sơ-ra-ên và Ty-rơ (IISa 5:11). Đến đời vua Sa-lô-môn, nhờ sự cộng tác của vua Hi-ram cứ tiếp nối nghề hàng hải lâu nay tương đối đã thạo, vua sai người đến Li-ban đốn cây bá hương và đẽo đá, chở đến Gia-phô rồi từ Gia-phô chở đến Giê-ru-sa-lem (ICác 5:9; IISử 2:3-18). Vua lại sắm sửa một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be để vượt biển chở vào nước những đồ vàng bạc, chim quí và vật báu (ICác 9:11, 12). Sau khi Sa-lô-môn qua đời, việc thông thương với nước ngoài lần lần suy kém. Đến đời Giô-sa-phát lại muốn chấn hưng nghề hàng hải. Vua đóng tàu để đi Ô-phia chở vàng, song vì vua kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên, là người ăn ở gian ác nên Đức Giê-hô-va hủy diệt công việc vua, và những tàu bị vỡ nát không thể đi đến đó được (ICác 22:49; IISử 20:36, 36 so Thi 48:7). Vào đời Giô-xia và Giô-tham, hai vua đó chấn hưng nghề hàng hải của Ta-rê-si và các tàu mà Ê-sai kể vào hàng các vật vĩ đại có quyền lực và vinh hiển mà sự kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ đến trên nó (Ês 2:16). Dân A-sy-ri và Ba-by-lôn là hai dân phần nhiều ở nội địa, nhưng nhờ có các sông giúp đỡ họ nhiều trong nghề hàng hải. Ê-sai mô tả Đức Giê-hô-va là Đấng bảo hộ Giu-đa hơn là các sông ngòi của A-sy-ri và Ai-cập (Ês 33:21, 23). Xem những câu này thì biết tàu buôn và tàu trận bấy giờ không dễ phân biệt được. Đến đời họ Macchabées, Simon dùng Gia-phô làm hải cảng để đậu tàu; ấy là “hải cảng đầu tiên và duy nhứt của người Do-thái.”
Trong vòng các dân ngoại bang, có dân Phê-ni-xi giỏi nghề hàng hải hơn hết. Địa phận nước đó ở hẻo lánh nơi mé biển, có nhiều hải cảng để cho tàu buồm đậu. Bến tàu có tiếng nhứt là Ta-rê-si, một thuộc địa của Phê-ni-xi trên bờ Tartessus, cũng gọi là Baetis. Theo lời chú thích của Davidson về Êxê 27:1-, mô tả các bộ phận của chiếc tàu Ty-rơ đời thái cổ như sau: Những thợ đóng tàu đã làm tàu rất đẹp bằng ván của cây tùng, cột buồm bằng cây bách, chèo bằng cây dẻ của Ba-san, ván lợp bằng cây hoàng dương, cẩn ngà voi, buồm làm bằng vải gai mịn có thêu của Ai-cập, màn cháng bằng vải sắc tía, sắc xanh, v.v.. Thuyền nước A-sy-ri làm bằng gỗ, ngoài bọc da, có thể phồng lên hay xẹp xuống được. Có khi họ dùng nhành liễu đan thành thứ thuyền nhỏ, rồi sơn dầu. Người Ba-by-lôn từ xưa đã có danh từ “chở thuyền.” Năm 700 T.C., họ thông thương với nước Ấn-độ. Thuyền của Ai-cập thì làm bằng lau (cây papyrus như chép trong Ês 18:2). Về thuật giương buồm, tàu của người Phê-ni-xi, trong đời Ê-xê-chi-ên và theo các hình vẽ của A-sy-ri, chỉ có một buồm với một cột cho một buồm vuông. Cột buồm làm bằng gỗ bá hương, hoặc cây thông, còn vải làm buồm thì bằng tơ cây papyrus lẫn với cây gai. Buồm cũng dùng làm bảng hiệu nữa (Êxê 27:5, 7 so Ês 33:23). Người Y-sơ-ra-ên dầu chưa quen với nghề hàng hải, nhưng họ cũng đã biết tới công dụng của tàu và thuyền rồi, như chép trong Ês 33:23; Êxê 27:4-9; Thi 104:26; 107:23-27.
Trong sách Châm Ngôn đã so sánh người đàn bà lý tưởng đem vật thực từ xa về như “chiếc tàu buôn bán” (34:14). Cũng trong sách đó, kẻ say rượu giống như “người nằm giữa đáy biển, khác nào kẻ nằm trên chót cột buồm vậy” (23:24); và trong số các việc diệu kỳ gồm có “lằn tàu chạy giữa biển” (30:19). Gióp 9:26 so các ngày mình “xớt qua như thuyền nan.”
II. Đời Tân Ước.– Sê-sa-rê vào đời Tân Ước là một nơi dành cho tàu đậu, và có một hải cảng mà sử gia Josèphe nói là lớn hơn Piraeus, nhưng thật ra nó thuộc riêng của nhà Hê-rốt, người Hy-lạp và La-mã hơn là của người Do-thái; phần nhiều người Hy-lạp ở đó. Thuyền bè ở trên biển Ga-li-lê ban đầu dùng để đánh cá và thông tin cho hàng xóm, là những người sống dựa theo mé biển. Trong các Sứ đồ, có bốn người vốn làm nghề đánh cá, sau đó bỏ nghề mà theo Chúa Jêsus (Mat 4:18-22). Chúa Jêsus đã từng xuống thuyền dạy dỗ mọi người (Mat 13:1; Mác 4:1). Ở trên thuyền Ngài làm phép lạ, quở sóng gió im lặng (Mat 8:23-27), khiến môn đồ đánh được nhiều cá (Lu 5:4). Phao-lô đi giảng đạo, thường đi tàu; cũng nhiều phen gặp nguy hiểm. (IICôr 11:25, 26). Xét: Công 27:1- và 28:1- thì biết tàu bè bấy giờ đóng lớn lắm và đi lại chậm chạp. Những nguy hiểm thường gặp trong khi đi biển thời đó chẳng những do sóng gió mà cũng tại mưa dầm, mây ám, hoặc sương mù nữa. Vì lúc bấy giờ địa bàn chưa có, chỉ nhờ mặt trời, hoặc ngôi sao để định phương hướng thôi.
Tân Ước thường dùng việc hàng hải để thí dụ về đạo: Trong Chúa, hy vọng của Tin lành được so sánh như “cái neo… vững vàng và bền chặt, thấu vào phía trong màn” (Hêb 6:19). Gia-cơ cũng tỏ quyền lực của cái lưỡi được ví như bánh lái, giữa cơn sóng gió dập dồi, một vật nhỏ như bánh lái cũng đủ điều khiển một chiếc tàu lớn đến đâu (Gia 3:4). Trong Khải Huyền cũng mô tả sự sụp đổ của Ba-by-lôn bằng ngôn ngữ nhắc đến sự suy tàn của Ty-rơ (Êxê 27:1-) tại đó có những bài ca thương nổi lên từ các con buôn ở trên đất không thể mua hàng hóa của thành đó nữa, và các lái tàu, cùng người đi biển đều kinh hãi và sầu não vì thấy khói của sự cháy thành bay lên (Khải 18:12-18).