Sy-ri

Sy-ri Syria. Syrie.

I.– Là một tên gọi tắt của A-si-ri bắt đầu dùng từ đời Alexandre le Grand, là dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ Aram, và từ tiếng Hy-lạp Zuria. Dường như Sy-ri vốn chỉ về Tsyria miền xung quanh Tsur, hay Ty-rơ, là một trong các thành Sy-ri thứ nhứt mà người Hy-lạp biết đến.

II. Địa dư.– Giới hạn của xứ Sy-ri khó định lắm. Giới hạn xứ Aram bằng tiếng Hê-bơ-rơ và những phần đất chia ra có nói đến trong bài A-ram. Xứ Sy-ri phía Bắc giáp núi Amanus và Taurus. Đông giáp sông Ơ-phơ-rát và đồng vắng A-ra-bi, Nam giáp xứ Pha-lê-tin, Tây giáp Địa trung hải gần cửa sông Orontes, và sau đến xứ Phê-ni-xi. Dãi đất nầy dài từ Bắc chí Nam độ 480 cây số, và rộng từ 80 đến 240 cây số, và diện tích là 78000 cây số vuông. Hình thái chung của dãi đất nầy là nhiều núi, như tên Hê-bơ-rơ Aram (từ một gốc nghĩa là “cao”) đủ tỏ như vậy. Dãi đất phì nhiêu và giá trị của Sy-ri là trũng dài ở xen vào giữa núi Li-ban và An-ti-Li-ban. So với các núi khác của Sy-ri, thì dãy Li-ban có giá trị rất lớn. Núi đó ăn rộng từ sông Litany đến Arka, một khoảng chừng 160 cây số. An-ti-Li-ban, như tên tỏ ra, ở đối ngang Li-ban, chạy theo cùng một hướng, từ Bắc chí Nam và cùng lan rộng dài như vậy. Những sông chính của Sy-ri là Litany và Orontes. Sông Litany phát nguyên từ một hồ nhỏ ở giữa trũng Coele-Sy-ri chừng 10 cây số ở phía Tây nam Baalbek. Sông đó chảy vào biển chừng 8 cây số phía Bắc Ty-rơ. Nguồn của sông Orontes chỉ cách xa nguồn của Litany độ 24 cây số. Ngày nay gọi là Nahr-el-Asi, hoặc “dòng nước loạn nghịch”, gọi như vậy vì có nhiều khúc sông chảy rất mạnh và dữ tợn. Trong số 20 thành chính, Samosta, Zeugma, Thapsacus, đều ở trên sông Ơ-phơ-rát; các thành Sê-lơ-xi, Lao-đi-xê Poseideum, và Heraclea, ở trên bờ biển; các thành An-ti-ốt, Apamea, Epiphania, và Emesa (Hems) ở trên sông Orontes; các thành Héliopolis, Lao-đi-xê gần Libanum, ở trong trũng Coele-Sy-ri; Hériapolis. Các thành Chalybon, Cyrrhus, Chalcis và Gindarus ở các cao nguyên miền Bắc, còn thành Đa-mách ở trên giới hạn, và Palmyre ở trung tâm, của sa mạc phía Đông núi An-ti-Ly-ban.

III. Lịch sử.– Dòng dõi Cham là dân cư ở tại Sy-ri trước nhứt. Những dân tộc xứ Ca-na-an, người Hê-tít, người Giê-bu-sít, người A-mô-rít, v.v.. trong Kinh Thánh có liên quan với Ai-cập và Ê-thi-ô-pi, Cúc và Mích-ra-im (Sáng 10:6 và 15-18). Trong đời thái cổ, những dân tộc nầy chẳng những ở xứ Pha-lê-tin thôi, song cũng ở miền Hạ-lưu Sy-ri, vì Sáng 10-18 gồm lại họ Ha-ma-tít. Về sau, dường như những dân đó cũng ở Thượng lưu Sy-ri nữa. Những dân nầy đến bây giờ vẫn là dân du mục, tiếp tới có dòng dõi Sem, có lẽ đến từ phía Đông nam. Chỉ một thành của Sy-ri, là Đa-mách, hồi đó được chép đến (Sáng 14:15; 15:2), dường như lúc đó đã là một thành quan trọng rồi. Sau Đa-mách thì đến Ha-mát (Dân 13:21; 34:8). Lúc đó và trong mấy thế kỷ theo sau, Sy-ri bị phân chia thành một số nước nhỏ. Lần thứ nhứt người Do thái đánh nhau với dân Sy-ri chép bằng tên đó, là trong đời Đa-vít. Đa-vít đòi lấy sông Ơ-phơ-rát làm giới hạn nước mình như Chúa đã hứa với Áp-ra-ham (Sáng 15:18), nên đánh Ha-đa-đê-xe, vua của Xô-ba (IISa 8:3, 4, 13). Dân Sy-ri ở thành Đa-mách đến tiếp trợ Ha-đa-đê-xe cũng bị giết hại nhiều (câu 5). Dầu vậy, Xô-ba chưa chịu hàng phục. Mấy năm sau, khi dân Am-môn quyết định chiến trận với Đa-vít và xin người Sy-ri giúp đỡ, thì Xô-ba với Bết-Rê-hốt, phái 20.000 lính bộ, và hai nước khác trong Sy-ri giúp 13.000 người (IISa 10:6). Khi đạo binh nầy hoàn toàn thất trận bởi Giô-áp thì Ha-đa-đê-xe lại được xứ Mê-sô-bô-ta-mi giúp (câu 16), và thử giao chiến một lần thứ ba, song cũng bị thất bại, nên kết cuộc Sy-ri phải phục Đa-vít, vua Do thái. Như vậy, việc hàng phục cứ tiếp tục đến đời Sa-lô-môn trị vì ((ICác 4:21). Dường như Sa-lô-môn chỉ mất một phần Sy-ri là thành Đa-mách; tại đó Rê-xôn, người sanh trưởng ở Xô-ba, dựng một nước độc lập (ICác 11:23-25). Khi nước Y-sơ-ra-ên chia làm hai, sau khi Rô-bô-am lên ngôi, thì phần Sy-ri còn lại không chịu phục nữa. Đa-mách bấy giờ trở nên một thành đứng đầu, Ha-mát đứng thứ nhì, và người Hê-tít, có kinh đô là Cạt-kê-mít, gần Bambuk, là thứ ba. Xem bài Đa-mách.

Sy-ri trở nên một phần của đế quốc A-sy-ri lớn, sau thuộc đế quốc Ba-by-lôn, rồi thuộc đế quốc Ba-tư. Năm 333 T.C. Sy-ri hàng phục Alexandre, mặc dù Alexandre không đánh trận nào. Khi Alexandre qua đời, Sy-ri lần thứ nhứt làm đầu một nước lớn. Khi chia các tỉnh giữa các quan tướng Alexandre (321 T.C.), Seleucus Nicator được Mê-sô-bô-ta-mi và Sy-ri. Thành An-ti-ốt bắt đầu xây năm 300 T.C., và khi hoàn thành thì trở nên kinh đô của nước Seleucus. Sy-ri trở nên giàu có vì là thương trường của các nước bốn phương. Song dưới quyền của vua kế vị Nicator, nước Sy-ri dần dần suy đồi và bị chia ra. Trong các vua đó đáng chú ý nhứt là Antiochus IV (Épiphanes), có lẽ là người chinh phục Ai-cập song bị La-mã ngăn trở (168 T.C.). Antiochus cướp phá Đền thờ Do thái, làm sỉ nhục nơi Chí thánh, bởi thế xui giục dân Do thái nổi loạn khiến cho nước mình suy yếu hơn. Người Bạt-thê dưới quyền Mithridates I xông vào các tỉnh phía Đông Sy-ri, năm 164 T.C.. Sy-ri, năm 83 T.C., phục Tigranes, vua Arménie, và cuối cùng năm 64 T.C., khi Pompey thắng Mithridates và đồng minh là Tigranes, thì Sy-ri phục đế quốc La-mã.

IV. Đời Tân Ước. — Sy-ri giữ một địa vị quan trọng không những trong Cựu Ước, song cũng ở trong Tân Ước nữa. Khi Sy-ri trở nên một tỉnh La-mã năm 64 T.C. dưới quyền các quan tổng đốc La-mã, trước là quan tòa kho bạc, kế đến quan trấn thủ, và cuối cùng là quan khâm sai cai trị từ thành An-ti-ốt. Trong việc cai trị, trước nhứt có một số “thành được tự do” không ở dưới quyền trực tiếp của quan trấn thủ, song cứ tự trị, chỉ phải nộp thuế tùy theo luật của đế quốc La mã ban hành. Thứ nhì, một số thửa đất đã chia cho các quan trưởng nhỏ, thường là thổ dân, để cai trị theo ý riêng họ, song cũng nộp thuế như các thành tự do trên. Năm 27 T.C. khi Au-gút-tơ và Nghị viện chia các tỉnh, Sy-ri vì cớ ở xa thì được cai trị bởi quan khâm sai, hành chức chấp chính quan. Xứ Giu-đê đứng trong một địa vị đặc biệt, vậy có quan trấn thủ được cử đến để cai trị, song dưới quyền của quan tổng đốc Sy-ri, dầu trong tỉnh mình có quyền khâm sai. Từ năm trục xuất người Bạt-thê (38 T.C.) cho đến năm xứ Giu-đê loạn nghịch cùng La mã 66 S.C., thì xứ Sy-ri cứ bình yên. Trong năm 44-47 S.C. có cơn đói kém lớn. Năm 70 S.C., La mã lập Giu-đê làm một tỉnh hoàn toàn dưới quyền quan khâm sai của hoàng đế. Trước đó ít lâu, đạo Đấng Christ đã bắt đầu tràn ra xứ Sy-ri một phần bởi những người bị tan lạc lúc Ê-tiên tử vì đạo (Công 11:19), và một phần bởi chức vụ của Sứ đồ Phao-lô (Ga 1:21). Hội Thánh An-ti-ốt tại Sy-ri dần dần lớn lên và trở thành một trong các Hội Thánh rất quan trọng (Công 13:1; 15:23, 35, 41).

Lên đầu trang